Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 19 Tháng Tư, 2019, 03:30:54 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)  (Đọc 67586 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8328


Lính của PTL


« Trả lời #140 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2014, 09:10:29 PM »

Ở Kiến Phong, tỉnh đã thành lập thêm Tiểu đoàn 502B và 1 đại đội chủ lực. Mỗi huyện đều có từ 2 trung đội đến 1 đại đội. Thị xã Cao Lãnh có 1 trung đội đặc công. Mục tiêu tiến công chủ yếu là thị xã Cao Lãnh. Tại đây, địch có 1 tiểu đoàn bộ binh của Sư đoàn 9 ngụy và các đơn vị bảo an, an ninh, cảnh sát, pháo binh, thiết giáp,…

Đêm 29 tháng 1 năm 1968, các đơn vị hành quân chiếm lĩnh vị trí tập kết theo kế hoạch đã định. Hướng chủ yếu gồm có: Tiểu đoàn 502, Đại đội đặc công, Trung đội thị xã tập kết ở Nhị Mỹ, cách thị xã 5 kilômét về hướng đông bắc. Riêng Đại đội đặc công có 1 tổ tiếp cận sở chỉ huy tiểu khu của địch. Hướng thứ yếu gồm có: Tiểu đoàn 2 và 1 trung đội đặc công và thông tin tập kết tại xã Mỹ Ngãi, cách thị xã 5 kilômét về hướng tây bắc.

Sáng ngày 30 tháng 1 năm 1968, tỉnh nhận được điện của khu điều Tiểu đoàn 502 tới khu vực gần lộ 4 để làm lực lượng dự bị cho Khu. Đây là một điều bất ngờ đối với Kiến Phong. Tỉnh một mặt điện cho Khu, xin để Tiểu đoàn 502 lại; mặt khác, ra lệnh cho Tiểu đoàn lùi ra, tạm trú quân tại kênh số 1 Bình Hàng Trung (Kiến Văn) chờ lệnh, để dù làm lực lượng dự bị cho Khu hay ở lại tỉnh đều có thể kịp thời làm nhiệm vụ. Tiểu đoàn 502 lùi ra thì Đại đội đặc công cũng phải ra theo. Khi tỉnh được Khu đồng ý cho Tiểu đoàn 502 ở lại thì đêm 31 tháng 1 năm 1968, tiểu đoàn hành quân trở lại vị trí tập kết lại bị lạc. Đến 8 giờ sáng ngày 1 tháng 2 năm 1968, tiểu đoàn mới đến Cái Vừng - Nhị Mỹ nên không thể tấn công địch đúng ngày N giờ G; kéo theo cánh thứ yếu không nổ súng hợp đồng tấn công vào thị xã theo tiếng súng của cánh chủ yếu. Tỉnh phải chỉ đạo bộ đội vây ép và pháo kích nhiều vào thị xã, đồng thời phát động quần chúng nổi dậy giải phóng các xã vùng ven. Nhưng đạn pháo lại không chuyển đến kịp. Đến sáng ngày 1 tháng 2 năm 1968, ta chỉ diệt được đồn Cái Vừng, giải phóng xã Nhị Mỹ và bao vây thị xã. Đêm 1 tháng 2 năm 1968, ta mới tiến công vào thị xã.

Ở hướng chủ yếu, Tiểu đoàn 502 đánh vào khám đường và trụ sở quận Hòa An nhưng không chiếm được mà trụ lại xã Hòa An hỗ trợ quần chúng nổi dậy tiêu diệt bức rút các đồn bốt, giải phóng các xã vùng tổng An Tịnh.

Ở hướng thứ yếu, Tiểu đoàn 2 đánh chiếm trụ sở USOM (United States Operation Mission), diệt 4 tên Mỹ và diệt Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 16 Sư đoàn 9 ngụy. Địch dùng đạn hóa học ngăn chặn, ta không tiến được đến mục tiêu hậu cần và căn cứ thuyền bay.

Ngày 2 và 3 tháng 2 năm 1968, cả hai hướng chủ yếu và thứ yếu đều không vào được nội ô mà đứng chân trên địa bàn đã chiếm được, hỗ trợ quần chúng nổi dậy. Ta diệt đồn An Bình, bức rút đồn Bình Trị, giải phóng 2 xã An Bình và Mỹ Ngãi.

Đêm 3 rạng ngày 4 tháng 3 năm 1968, ở hướng chủ yếu, Tiểu đoàn 502 đột nhập nội ô, chiếm khu vực Cao Đài, bức rút đồn xóm Bún, xã Mỹ Trà, hỗ trợ quần chúng truy lùng ác ôn một số khu phố. Ở hướng thứ yếu, Tiểu đoàn 2 chiếm khu phố Chợ Mới phường 11, khu hậu cần, bức rút đồn và phá sập cầu kênh Cụt.

Bọn địch ở thị xã cố thủ, chờ chi viện, ta không tiến sâu hơn nữa, bám trụ tại chỗ, vây ép thị xã trong các ngày 4, 5, 6 tháng 2 năm 1968. Được dược bổ sung kém, nhất là đạn và mìn chống tăng. Sáng ngày 7 tháng 2 năm 1986, trực thăng đổ Tiểu đoàn 41 biệt động quân xuống xóm Bún, xã Mỹ Trà, đụng đầu với Tiểu đoàn 502 của ta. Địch bị diệt 90 tên. Tiểu đoàn 502 chuyển sang tổng An Tịnh cùng Tiểu đoàn 2 bố trí trận địa đánh phản kích ở 2 xã Hòa An và Tân Thuận Tây.

Sáng ngày 8 tháng 2 năm 1968, địch tập trung Liên đội bảo an tiểu khu, Tiểu đoàn 41 biệt động quân, tàn quân Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 16 Sư đoàn 9, 1 chi đoàn xe M113 đánh vào tổng An Tịnh. Ta chặn đánh suốt ngày, loại khỏi vòng chiến đấu 150 tên, bắn hỏng và cháy 4 xe M113. Ta cũng bị thương vong, phải rút về phía bắc thị xã Cao Lãnh. Cao điểm 1 kết thúc.

Trong cao điểm 1 ta diệt 29 đồn bốt, bức hàng 2 đồn, bức rút 21 đồn bốt, thu được 105 khẩu súng, diệt 600 tên địch, bắt sống 13 tên, giải phóng 6 xã: Nhị Mỹ, An Bình, Mỹ Ngãi, Hòa An, Tân Thuận Tây, Tịnh Thới. Nhưng qua 9 ngày chiến đấu, mức thương vong của bộ đội ta khá cao.



Đồn và công sở Tân Thuận Đông - Cao Lãnh - Đồng Tháp bị ta đánh chiếm ngày 21/2/1968

Ở các nơi khác trong tỉnh như Hồng Ngự, Thanh Bình, Kiến Văn, Mỹ An, Chợ Mới đúng ngày N giờ G ta nổ súng đồng loạt tiến công vào các quận lỵ (trừ Chợ Mới) nhưng không nơi nào chiếm được mục tiêu. Ở nông thôn, bọn địch một số nơi rút chạy. Ta làm chủ lộ 30, cắt đứt giao thông từ thị xã đi Thanh Bình, Hồng Ngự, Kiến Văn. Tên quận trưởng Mỹ An chuẩn bị chạy, quận trưởng Kiến Văn chạy qua Cồn Trọi xã Bình Thạnh, quận trưởng Thanh Bình chạy qua cồn Ông Cha giữa sông Tiền. Nói chung, hệ thống đồn bốt ở nông thôn lay chuyển mạnh, nhưng thực lực tại chỗ của ta không còn đủ sức để dứt điểm vì lực lượng tỉnh, huyện đang tập trung vào thị xã, thị trấn.
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Ba, 2017, 09:52:03 PM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8328


Lính của PTL


« Trả lời #141 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2014, 09:11:36 PM »

Ở An Giang, tỉnh An Giang của ta theo cách phân chia địa lý hành chính của chính quyền ngụy là 2 tỉnh Châu Đốc và An Giang.

Ở Châu Đốc, địch có 20.000 quân; ở An Giang chúng có 10.000 quân, với hệ thống đồn bốt, cứ điểm dày đặc. Riêng trong thị xã Châu Đốc địch có trên 2.000 quân, nhiều xe bọc thép, giang thuyền và cụm pháo bố trí ở núi Sam, Đồng Ky, sân bay,…

Trong tổng công kích - tổng khởi nghĩa ở tỉnh An Giang ta xác định mục tiêu chính là thị xã Châu Đốc, mục tiêu phụ là thị xã Long Xuyên; Tri Tôn, Tân Châu là diện căng kéo địch.

Lực lượng tiến công vào thị xã Châu Đốc của ta từ Núi Dài Lớn (Tịnh Biên) và căn cứ Ban An (Tân Phú) hành quân về thị xã Châu Đốc. Tối ngày 31 tháng 1 năm 1968, 2 cánh quân gặp nhau.



Lực lượng vũ trang An Giang trên đường tiến công vào thị xã Châu Đốc Xuân 1968

Hai giờ sáng ngày 31 tháng 1 năm 1968, ta nổ súng tiến công vào thị xã Châu Đốc. Sau vài giờ chiến đấu, ta gần như làm chủ hoàn toàn thị xã, chiếm tiểu khu, loại Đại đội 810 hành chính tiếp vận khỏi vòng chiến đấu, tiếp tục tấn công trại giam và dinh tỉnh trưởng. Bệnh viện tỉnh cũng lọt vào tay quân giải phóng. Địch trong dinh tỉnh trưởng được tàu và xe bọc thép yểm trợ, kháng cự mãnh liệt, ta phải dừng lại củng cố. Cánh quân thứ ha của ta làm chủ hoàn toàn đường núi, diệt đồn quân cảnh, rạp Tân Việt, trụ sở cảnh sát dã chiến, tấn công trụ sở USOM. Một bộ phận đánh vào khu vực nhà tên phó tỉnh trưởng. Một bộ phận định đánh ra bến đò nhưng bị địch chặn lại. Cánh quân thứ ba chiếm khu vực cầu sắt An Biên - Thủ Khoa Nghĩa, bao vây địch trong nhà Phủ Vị, vũ trang tuyên truyền lên đến khu vực Đất Thánh Tây. Một bộ phận làm chủ tiệm rượu Vĩnh Phong Long, bao vây thành PC, tổ chức trận đánh tàu ven sông Cồn Tiên, Đa phước.

Đến 6 giờ sáng ngày 31 tháng 1 năm 1968, địch chỉ còn lại dinh tỉnh trưởng, nhà Phủ Vị, thành PC. Địch hoàn toàn bị động trước cuộc tấn công. Tên tỉnh trưởng, tiểu khu trưởng đi ra ngoài không về được dinh. Tên tiểu khu phó liều chết chạy vào dinh tỉnh trưởng cố thủ. Tên đại úy, quyền tham mưu trưởng tiểu khu bị kẹt trong thánh thất Cao Đài. Các cụm pháo Núi Sam, An Phú im tiếng vì không chuẩn bị sẵn tọa độ trong nội ô. Suốt đêm mồng 1 rạng ngày mồng 2 Tết, địch không tổ chức phản kích được, chỉ có 1 chiếc Dakota thả pháo sáng.

Qua ngày 31 tháng 1 năm 1968, ta củng cố các vị trí đã chiếm được. Trại Thượng Đăng Lễ (tiểu khu) cùng 2 lô cốt cuối cùng ở giáp dinh tỉnh trưởng và liền bờ tường trại giam chống cự. Nếu dùng bộc phá đánh hủy diệt, thì gây thương vong cho tù nhân nên ta đắn đo. Phía bờ sông bọn giang thuyền ngụy dùng hỏa lực tối đa kiềm chế không cho ta vòng qua toàn nhà tòa án để tiến công dinh tỉnh trưởng.

Đến trưa ngày 31 tháng 1 năm 1968, Ban chỉ huy chiến dịch nhận được tin tức các nơi trên toàn miền Nam. Tình hình chung diễn biến phức tạp. Quân giải phóng chưa chiếm được các thành phố Mỹ Tho và Cần Thơ. Các trọng điểm Sài Gòn, Huế vẫn đang giằng co. Ở những nơi đó, địch đang ráo riết phản kích. Ở Châu Đốc cũng có khả năng chúng sẽ đưa lực lượng đến cứu viện. Ở mặt trận Châu Thành - Long Xuyên, địch chặn ta ở cánh đồng Năm Xã, bịt kín các ngả đường vào nội ô thị xã Long Xuyên. Mũi vũ trang trong nội ô chỉ phá được phà Vàm Cống, ném lựu đạn vào ấp Đông Thịnh B. Cánh quân ta ở Châu Phú chiếm khu vực phía dưới chùa Chà Châu Giang, định vượt sông sang Châu Đốc nhưng bị địch chặn lại. Tại Hòa Lạc, cán bộ ta phát động quần chúng nổi dậy nhưng bị địch đàn áp dữ dội. Cánh quân ta chiếm vùng Cây Dương xã Vĩnh Hậu bị địch chặn, không triển khai được qua Cồn Tiên - Đa Phước dù đã bắn cháy 2 tàu, đánh lui 3 chiếc khác. Ở Tri Tôn, đại đội địa phương đánh vào thị trấn và cầu kênh 14-15 cắt lộ tả Tri Tôn - Long Xuyên, chiếm trụ sở cảnh sát, diệt 1 trung đội bảo an. Địch còn giữ được chi khu và dinh quận. Ta làm chủ quận lỵ suốt ngày 31 tháng 1 năm 1968. Du kích các xã Núi Tô hỗ trợ 3.000 quần chúng tiến ra quận lỵ nhưng địch đàn áp mạnh nên phải rút.

Chiều ngày 31 tháng 1 năm 1968, tại thị xã Châu Đốc, địch đưa lực lượng của Sư đoàn 21 ngụy đến tiếp viện. Máy bay địch bắn phá vào khu vực ta đặt sở chỉ huy chiến dịch. Trực thăng đổ 1 tiểu đoàn xuống sân bay, 1 đại đội xuống ngoài đồng hướng cuối kênh Lò Heo. Một tiểu đội từ núi Đất Tịnh Biên đã ra tới Núi Sam. Trong nội ô, địch trong sở chỉ huy tiểu khu Châu Đốc (thành PC) và nhà Phủ Vị đang nống ra. Pháo địch ở An Phú, khu vực sân bay và Núi Sam bắn dồn dập.

Đêm 31 tháng 1 năm 1968, thấy tình thế diễn biến bất lợi, Ban chỉ huy chiến dịch lệnh cho rút lui. Phía Tri Tôn, ta cũng rút. Trên đường về, ta diệt đồn Sóc Suối và đánh thiệt hại nặng đồn Sóc Thiết. Riêng tiểu đội chốt giữ cầu kênh 13 do không nhận được lệnh rút nên vẫn bám trụ. Sáng ngày 1 tháng 2 năm 1968, địch phản kích, tiểu đội chiến đấu dũng cảm, chỉ còn 1 chiến sĩ sống sót.

Ở Châu Thành, Huệ Đức, ta và địch tiếp tục kịch chiến trên cánh đồng Năm Xã trong 45 ngày đêm. Nhiều lần, ta đánh thọc ra Vĩnh Hanh, cắt giao thông trên lộ tẻ, đánh vào Cái Chiên xã Bình Đức, vũ trang tuyên truyền ở Phú Hòa, bao vây chi khu Huệ Đức, cắt lộ Ba Thê - Núi Sập. Địch bị diệt trên 400 tên, bị bắn cháy 2 tàu. Nhiều đồn bốt bị gỡ. Cuối cùng, chúng tập trung lực lượng, máy bay, pháo, xe bọc thép chà xát cánh đồng Năm Xã. Ta phải rút về Đồng Tràm - Huệ Đức để củng cố.
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Ba, 2017, 09:53:08 PM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8328


Lính của PTL


« Trả lời #142 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2014, 09:12:03 PM »

Tháng 3 năm 1968, tiếp tục đợt 1, theo chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam, Khu ủy chỉ thị cho An Giang phải mở cuộc hành quân vũ trang tuyên truyền lớn vào vùng Chữ O (thuộc huyện Tân Châu), nơi có nhiều đồng bào theo đạo Hòa Hảo, và có trụ sở của Trung ương Hòa Hảo (phái Lương Trọng Tường). Đây là vùng mà địch và những tên cầm đầu phản động làm tay sai cho địch lợi dụng lòng yêu nước và lòng trọng đạo của đồng bào để kích động, gây chia rẽ, kìm kẹp, khống chế, lôi kéo một bộ phận tín đồ chống lại cách mạng, hòng biến vùng này thành nơi dự trữ sức người, sức của cho chúng để đánh phá cách mạng. Từ sau khi bộ đội ta đi tập kết (năm 1954), lực lượng cách mạng chưa thâm nhập được vào vùng này. Vì vậy, lần này ta chủ trương đưa 3 tiểu đoàn tỉnh An Giang, tron đó có Tiểu đoàn 3 mang danh nghĩa bộ đội ông Mười Trí là cán bộ quân sự Bình Xuyên theo cách mạng, được giáo chủ đạo Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ đặt cho là Sư Thúc. Ông tập kết ra Bắc năm 1954 đến năm 1968 được Trung ương đưa về Khu VIII vận động đồng bào Hòa Hảo. Yêu cầu của đợt hoạt động này là phát huy thế cách mạng vào nơi địch coi là an toàn nhất; tuyên truyền chính sách đoàn kết dân tộc, chính sách tôn giáo của Mặt trận dân tộc giải phóng, cổ vũ lòng yêu nước, vận động đồng bào theo đạo Hòa Hảo từng bước tách khỏi sự kìm kẹp của Mỹ - ngụy, trở về với cách mạng, với dân tộc. Cùng đi với bộ đội, có cán bộ vận động Hòa Hảo của tỉnh và huyện. Để thực hiện nhiệm vụ này, Khu ủy và Quân khu ủy chỉ đạo Tỉnh ủy, Tỉnh đội An Giang chuẩn bị cho bộ đội ngoài phương thức tác chiến, phải chú ý công tác vũ trang tuyên truyền, học tập nắm vững chính sách tôn giáo, phong tục tập quán, các nghi lễ của đồng bào theo đạo Hòa Hảo, giữ nghiêm kỷ luật dân vận.

Theo kế hoạch đã chuẩn bị, đêm 23 rạng ngày 24 tháng 3 năm 1968, các đồng chí Mười Đức - Phó bí thư Tỉnh ủy, Võ Ngọc Cẩn (Năm Sương) - Tỉnh đội trưởng, Nguyễn Văn Hơn (Sáu Sên) - Chính trị viên tỉnh đội, lãnh đạo và chỉ huy 3 tiểu đoàn mở cuộc hành quân tiến vào vùng Chữ O. Bộ đội tỉnh từ căn cứ B1, băng qua đồng trồng, vượt qua kênh xáng Tân An, kênh Cũ về tập kết tại xã Long Sơn. Từ đây bộ đội tỉnh chia làm 2 cánh: Cánh thứ nhất có Tiểu đoàn 1 và một bộ phận của Tiểu đoàn 3, tiến xuống xã Phú Lâm và xã Hòa Hảo (là trung tâm thánh địa). Cánh thứ hai có Tiểu đoàn 2 và bộ phận còn lại của Tiểu đoàn 3, tiến vào các xã Hiệp Xương và Bình Thạnh Đông. Phía sông Hậu, 1 đại đội của tỉnh và bộ đội huyện Châu Phú bố trí trên địa bàn xã Hòa Khánh để ngăn chặn địch từ Long Xuyên lên phản kích.

Hoạt động của các cánh quân như sau:

- Tiểu đoàn 1 của tỉnh bố trí một trận địa dài 2 kilômét (từ kilômét 14 đến kilômét 16) thuộc hai xã Long Sơn và Phú Lâm, tiến hành vũ trang tuyên truyền, bao vây, bức hàng đồn Tân Phú nhưng do địch chống trả nên ta phải dùng hỏa lực diệt đồn này. Một bộ phận khác của Tiểu đoàn 1 đã áp sát hai xã Hòa Hảo và Hưng Nhơn, tiến hành vũ trang tuyên truyền. Một đại đội của Tiểu đoàn 3 chặn đánh một lực lượng địch từ Hiệp Xương. Ta đã chiến đấu quyết liệt, bắn chết tên thiếu úy ngụy và nhiều tên khác, đẩy lùi mũi phản kích của địch.

Trên địa bàn xã Khánh Hòa, bộ đội tỉnh bố trí chặn và cắt đứt đường từ Long Xuyên đi Châu Đốc. Địch sử dụng Liên đoàn biệt động quân từ Bảy Nùi, lực lượng Sư đoàn 9 ngụy có 1 chi đoàn xe M113 và số tàu chiến ở căn cứ Vịnh Tre - Cái Dầu… đến phản kích ta tại xã Khánh Hòa. Bộ đội chặn đánh các mũi phản kích của chúng, diệt 9 xe quân sự, bắn cháy 3 xe M113 và tiêu hao, tiêu diệt một số địch, thu 30 khẩu súng.

Bị đánh thiệt hại nặng địch sử dụng một tiểu đoàn bộ binh của Sư đoàn 9 ngụy, có tàu chiến, pháo binh và 45 xe M113 yểm trợ, tiến quân đánh vào lực lượng ta ở hai xã Long Sơn và Phú Lâm. Bộ đội ta chặn đánh địch suốt ngày, bắn cháy một tàu chiến, 1 xe M113, tiêu diệt và làm bị thương một số tên địch. Tại các xã: Phú Lâm, Hòa Hảo, Hiệp Xương, Bình Thạnh Đông, Long Sơn,… bộ đội ta ngoài việc chặn đánh lực lượng phản kích của địch, còn tiến hành vũ trang tuyên truyền, rải truyền đơn, vận động đồng bào theo đạo Hòa Hảo nổi dậy diệt tề, trừ gian, giúp đỡ bộ đội.

Về phần đồng bào theo đạo Hòa Hảo, do sự tuyên truyền xuyên tạc của địch, khi bộ đội ta tiến vào đồng bào bỏ nhà, lần tránh, nhưng thấy sự tàn ác của địch và thấy sự chiến đấu dũng cảm và ý thức chấp hành nghiêm kỷ luật dân vận của cán bộ, chiến sĩ ta, đồng bào đã lần lượt trở về tiếp tế lương thực, thực phẩm cho bộ đội, cứu chữa và vận chuyển thương binh, nhiều đồng bào đã trực diện đấu tranh với địch, ngăn chặn pháo địch không cho bắn vào xóm làng - nơi có bộ đội ta bố trí chiến đấu, nhiều người tay không vẫn dũng cảm xông ra chặn đầu xe M113 không cho chúng càn, phá ruộng vườn.

Cuộc hành quân vũ trang tuyên truyền vào vùng Hòa Hảo (Chữ O) đã giành được thắng lợi, có ý nghĩa lớn về chính trị, bước đầu tạo được sự chuyển biến lớn và tích cực, đồng bào theo đạo Hòa Hảo đã thấy rõ thanh thế của cách mạng, hình ảnh anh bộ đội giải phóng, bước đầu tin tưởng cách mạng và đã có hành động dũng cảm đấu tranh với địch, giúp đỡ, bảo vệ bộ đội và cán bộ ta. Cuộc hành quân vũ trang tuyên truyền này đã tạo thuận lợi cho việc vận động cách mạng và xây dựng cơ sở Đảng trong vùng Hòa Hảo và từng bước làm chuyển biến tình hình ở vùng này có lợi cho cách mạng.

Phía Tri Tôn, ngày 5 tháng 5 năm 1968, bộ đội huyện bao vây đồn Cây Cầy - An Tức, đồn này do một trung đội dân vệ đóng giữ để kiểm soát toàn bộ khu vực đông, tây lộ An Tức. Phía tây chi khu Tri Tôn, có đồn Băng Trạo bảo vệ. Bị ta bao vây, địch cho 2 đại đội bảo an 816, 819 vào tiếp viện. Chúng lọt vào trận địa phục kích của ta. Bộ đội ta chặn đánh tiêu diệt và làm bị thương 82 tên địch.

Ngày 20 tháng 5 năm 1968, ta tiến công khu chợ Ba Thế thuộc huyện Huệ Đức nhưng không kết quả.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8328


Lính của PTL


« Trả lời #143 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2014, 09:12:35 PM »

Trên chiến trường Sài Gòn:

Trước khi vào chiến dịch Xuân 1968, tỉnh Long An tách khỏi Khu VIII, trực thuộc Miền và chia thành 2 phân khu: Phân khu 2 ở phía tây, Phân khu 3 ở phía nam, để nổ súng tiến công vào thành phố Sài Gòn.

Phân khu 2, gồm các huyện phía bắc lộ 4 (nay là lộ 1) như: Đức Hòa, Đức Huệ, Bến Lức, Thủ Thừa được nối liền với các quận, huyện nội, ngoại thành phía tây Sài Gòn là Tân Bình, Bình Chánh, quận 5, quận 6, quận 3, quận 2. Nhiệm vụ của Phân khu 2 là hiệp đồng chiến đấu với 4 phân khu bạn, đánh chiếm các mục tiêu quan trọng là sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ tổng tham mưu ngụy, Biệt khu Sài Gòn, phát triển và hội quân ở Dinh Độc Lập.

Phân khu 2 do đồng chí Võ Trần Chí làm Bí thư Phân khu ủy và đồng chí Hai Sang (sau đó là đồng chí Lê Văn Nhỏ, tức Hai Lâm), làm Tư lệnh Phân khu lãnh đạo và chỉ huy. Phân khu đã sử dụng các Tiểu đoàn bộ binh 267, 269, 6, 16, Tiểu đoàn 12 đặc công và Tiểu đoàn pháo binh mang vác. Cán bộ, chiến sĩ các tiểu đoàn đã dũng cảm tiến đánh các mục tiêu được giao, có một bộ phận đánh chiếm được một góc sân bay Tân Sơn Nhất, đã bám lại được ở khu Vinatexco và đường Trần Quốc Toản (đoạn trường đua Phú Thọ). Trong đợt 2 Trung đoàn 2 của Phân khu đã đánh chiếm được khu vực Cầu Tre, Bình Thới, vây và tiêu diệt Tiểu đoàn 33 biệt động quân. Phát triển đánh chiếm Cây Gõ ở đường Hậu Giang rồi trụ lại ở khu vực Trang Tử cho đến ngày 10 tháng 5 năm 1968 thì lui dần.

Phân khu 3 gồm các huyện phía nam lộ 4 của tỉnh Long An như: Châu Thành, Tân Trụ, Cần Đước, Cần Giuộc nối với các quận huyện nội, ngoại thành phía nam Sài Gòn là Bình Chánh, Nhà Bè, quận 4, quận 7, quận 8, quận 1; do các đồng chí Nguyễn Văn Chính (Chín Cần) làm Bí thư Phân khu ủy, đồng chí Huỳnh Văn Mến (Tư Thân làm Tư lệnh Phân Khu… lãnh đạo và chỉ huy. Nhiệm vụ của Phân khu 3 là đánh chiếm các mục tiêu phía nam Sài Gòn, trong đó có các mục tiêu quan trọng như: Tổng nha cảnh sát, Dinh Độc Lập, Bộ tư lệnh Hải quân.

Phân khu đã sử dụng 7 tiểu đoàn; Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 của Long An, Tiểu đoàn của Nhà Bè, Tiểu đoàn Đồng Nai, Tiểu đoàn Phú Lợi, Tiểu đoàn đặc công và Tiểu đoàn pháo binh tiến công vào các mục tiêu. Kết quả là: Tiểu đoàn 2 Long An thọc sâu vào Phú Định, đánh bật Tiểu đoàn 33 biệt động quân ra Phú Lâm; Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn Phú Lợi thọc vào quận 8 phát triển về hướng Tổng nha cảnh sát nhưng bị địch chặn lại ở cầu Nhị Thiên Đường. Trong đợt 2, Tiểu đoàn 1 Long An đánh chiếm cầu Chữ Y và bám trụ đánh quân Mỹ phản kích suốt 1 tuần, tiêu hao, tiêu diệt nhiêu lính Mỹ. Trong hai đợt tiến công vào Sài Gòn, cán bộ, chiến sĩ Phân khu 2 và Phân khu 3 đã chiến đấu rất kiên cường và dũng cảm.

Trong đợt 1 tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, Đảng bộ, nhân dân và các lực lượng vũ trang, lực lượng chính trị và binh vận Khu VIII - Trung Nam Bộ đã nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh của Trung ương, vượt qua mọi gian khổ, hy sinh chiến đấu dũng cảm, kiên cường, với khí thế Đồng Khởi, hợp đồng chặt chẽ với các chiến trường toàn Miền, đã đồng loạt tiến công và nổi dậy ở hầu hết các thị xã, thị trấn và vùng nông thôn rộng lớn, thành phố, thị xã quan trọng như: thành phố Mỹ Tho, thị xã Bến Tre, thị xã Châu Đốc…, kiên cường đánh phản kích của địch trong thành phố, thị xã, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh ngay trên các đường phố. Quần chúng trong nội ô đã nổi dậy diệt ác, phá kìm, giành quyền làm chủ nhiều khu phố, đường phố. Ở vùng nông thôn, đồng bào đã tiến công và nổi dậy mạnh mẽ, giải phóng hoàn toàn 30 xã và giành quyền làm chủ nhiều nơi. Ta giành được thắng lợi lớn và đưa chiến tranh vào tận hang ổ, vào các cơ quan đầu não, hậu cứ của Mỹ - ngụy, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, diệt, bức hàng, bức rút nhiều đồn bốt địch, giải phóng và giành quyền làm chủ nhiều vùng nông thôn quan trọng. Tuy nhiên, ta cũng chưa dứt điểm và giải phóng được các thị xã và thị trấn.

Thắng lợi của chiến trường Khu VIII - Trung Nam Bộ trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân đã góp phần quan trọng cùng toàn Miền “giáng đòn sấm sét” vào đầu bọn xâm lược Mỹ, làm choáng váng cả nước Mỹ và chấn động dư luận thế giới. Chính quyền Giônxơn bị đứng trước nguy cơ lần đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ, quân đội Mỹ có khả năng bị đánh bại trong chiến tranh.

Sau một tháng, tướng Oétmôlen, tổng chỉ huy quân Mỹ ở miền Nam bị cách chức. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mác Namara từ chức. Sau 2 tháng, ngày 31 tháng 3 năm 1968, Tổng thống Mỹ Giônxơn phải tuyên bố đơn phương ba điểm:

- Đơn phương ngừng đánh phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra.

- Nhận đàm phán với ta tại Pari.

- Không ra tranh cử Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ thứ hai.

Đây là sự thừa nhận đầu tiên nhưng đầy đủ nhất về sự phá sản của chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ, một chiến lược chiến tranh được nước Mỹ chuẩn bị rất công phu. Đến tháng 5 năm 1968, Mỹ phải bắt đầu đàm phán với ta về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Rõ ràng, cuộc tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của ta đã làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, đã tạo một bước ngoặt quan trọng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, khởi đầu một quá trình đi xuống về chiến lược trong chiến tranh xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8328


Lính của PTL


« Trả lời #144 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2014, 08:57:22 PM »

3. Tổng tiến công và nổi dậy đợt 2

Ngày 24 tháng 4 năm 1968, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp và nhận định bước đầu thực hiện cuộc tổng tiến công và nổi dậy, ta đã thu thắng lợi to lớn và toàn diện, tạo nên bước ngoặt mới tiến lên giành thắng lợi quyết định cho cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam. Bộ Chính trị đề ra phương hướng nỗ lực động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phát huy thế chiến thắng, tiếp tục phát triển tiến công toàn diện, đẩy địch vào thế thất bại liên tiếp.

Bước vào đợt 2, đồng chí Phạm Hùng - Bí thư Trung ương Cục miền Nam, Chính ủy Bộ tư lệnh Miền và đồng chí Hoàng Văn Thái - Tư lệnh Quân giải phóng Miền giao nhiệm vụ cho Khu VIII là: Ngoài nhiệm vụ đánh vào trọng điểm là thành phố Mỹ Tho và các thị xã trong đợt 1, trong đợt 2 phải đưa Trung đoàn 1 sang Long An, đánh chiếm sân bay Cần Đốt, đánh sập cầu Tân An và cắt lộ 4. Đây là nhiệm vụ mới, rất khó khăn vì chưa được chuẩn bị. Lực lượng bị tiêu hao trong đợt 1 chưa được bổ sung, nếu đưa Trung đoàn 1 sang Long An, chỉ còn lại Trung đoàn 2 và không đủ sức tiếp tục tiến công vào thành phố Mỹ Tho.

Thường vụ Khu ủy và Quân khu ủy đã họp quán triệt nhiệm vụ của đợt 2 và bàn biện pháp thực hiện. Hội nghị do đồng chí Sáu Đường - Bí thư Khu ủy kiêm Bí thư Quân khu ủy chủ trì. Hội nghị đã đi sâu phân tích, đánh giá tình hình trong Khu như sau: Trong đợt, toàn Khu đã không giành được thắng lợi thắng lợi theo khả năng 1 như dự kiến, chưa dứt điểm được các thị xã, thị trấn… Theo chỉ thị của Miền, bộ đội đã bám trụ ở vùng ven để tiếp tục tiến công vào thị xã, thị trấn. Khi bám trụ ở vùng ven, bộ đội phải liên tục đánh địch phản kích rất ác liệt nên lực lượng tiếp tục bị tổn thất.

Lúc này trên chiến trường miền Nam, từ tháng 3, tháng 4 năm 1968, địch tập trung lực lượng liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét, thực hiện thủ đoạn “quét và giữ” quy mô lớn nhằm giải tỏa các đô thị, các căn cứ bị ta tấn công, đẩy lực lượng ta ra xa, khôi phục các tuyến giao thông chiến lược bị ta cắt, tăng cường đàn áp, khủng bố quyết liệt các cơ sở cách mạng, ráo riết tiến hành “bình định” nhằm giành giật lại vùng nông thôn đồng bằng, đặc biệt là ở các vùng vừa bị mất trong đợt tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân.

Trên chiến trường Khu VIII, Sư đoàn 7 ngụy, Lữ đoàn 3 Sư đoàn 9 Mỹ, có phi pháo yểm trợ mạnh, kể cả pháo đài bay B52, liên tục mở những đợt hành quân càn quét lớn vào vùng ven thành phố Mỹ Tho, nam bắc lộ 4 ở Mỹ Tho, Bến Tre. Vùng Bảy Núi An Giang và Gò Công.

Hằng ngày, hằng giờ, pháo binh, máy bay, kể cả máy bay B52 của địch ném bom, bắn phá ác liệt vào các nơi đóng quân, vào căn cứ và hành lang vận chuyển của ta, gây nhiều thương vong cho cán bộ, bộ đội, du kích và nhân dân.

Trước tình hình trên Trung ương Cục và Bộ tư lệnh Miền đã cử đồng chí Trần Độ (Chín Vinh) - Phó chính ủy Quân giải phóng Miền xuống chỉ đạo Khu VIII tiếp tục đánh vào thành phố, thị xã. Khu ủy và Quân khu ủy đã nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh cấp trên, động viên cán bộ, chiến sĩ vượt mọi khó khăn, gian khổ, tiếp tục tiến công địch, thực hiện nhiệm vụ của đợt 2 của cuộc tổng tiến công.

Vào đợt 2, Miền quyết định cho Khu chuyển các chiến đoàn sang trung đoàn. Đối với Trung đoàn 1 sang Long An do đồng chí Bùi Thanh Khiết (Hai Thanh) - Phó chính ủy và đồng chí Tăng Thiên Kim (Tư Chương) - Tham mưu quân khu trực tiếp chỉ huy.

Trước khi vào đợt 2, Trung đoàn 2 chủ lực của Khu đánh một trận tập kích vào cụm cơ giới Mỹ đóng dã ngoại tại Quẹo Nhị Bình (trên lộ 4), phá hủy 30 xe quân sự. Mỹ chết và bị thương 100 tên. Sau trận đánh dũng cảm, táo bạo và thắng lớn của ta, toàn bộ đồn bốt quân ngụy từ Long Định đến Hưng Môn đều rút chạy. Quần chúng các xã ven thành phố Mỹ Tho cùng du kích nổi dậy phá banh 15 “ấp tân sinh”.

Đêm mồng 4 rạng ngày 5 tháng 5 năm 1968, quân và dân toàn Khu cùng toàn Miền bước vào đợt 2 tổng công kích - tổng khởi nghĩa.

Trên hướng Long An, Trung đoàn 1 nổ súng tiến công địch, diệt được một số mục tiêu xung quanh sân bay Cần Đốt và phía đông thị xã Tân An. Địch ngăn chặn quyết liệt và tăng cường phòng thủ. Trung đoàn 1 phải rút khỏi thị xã Tân An, trụ lại ở các xã An Lục Long - Tân Hóa Thành thuộc huyện Châu Thành tỉnh Long An. Địch tập trung bộ binh, xe M113, pháo, máy bay đánh liên tục vào đội hình ta. Trong điều kiện khó khăn do địch đánh phá mạnh, đạn dược, lương thực, thuốc men và cả nước uống đều thiếu (do nước bị phèn), cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 1 vẫn kiên cường bám trụ, đánh địch liên tục suốt 15 ngày đêm liền, đẩy lùi nhiều đợt phản kích, tiêu hao, tiêu diệt nhiều địch. Đến ngày 18 tháng 5 năm 1968, Bộ Tư lệnh Miền cho Trung đoàn 1 rút khỏi Long An về bám ở các xã thuộc huyện Chợ Gạo, Mỹ Tho để vừa đánh địch vừa củng cố lực lượng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8328


Lính của PTL


« Trả lời #145 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2014, 09:00:02 PM »

Tại thành phố Mỹ Tho (trọng điểm 1), lực lượng chủ lực của Khu chỉ còn Trung đoàn 2. Ngoài đánh một số mục tiêu ở vùng ven, đánh địch phản kích, đánh giao thông, trong đợt này ta còn đánh một số mục tiêu trong thành phố bằng hình thức đột kích: Tiểu đoàn 263B, 2 đại đội đặc công 312, 314 và biệt động thành phố chọn ra 100 cán bộ, chiến sĩ, trang bị tốt, tổ chức cuộc đột kích vào Trung tâm huấn luyện Hùng Vương của địch ở tây nam thành phố. Trong trung tâm, ta có 3 nội tuyến và đội trưởng trinh sát của Tiểu đoàn 263B vào trước hỗ trợ. Ta đánh chiếm các lô cốt chung quanh, đột nhập vào trong thành chiếm được một phần khu ngoài, sau đó phát triển sang khu tân binh nhưng địch chống cự mạnh nên đành phải rút. Địch bị thương vong nặng và tan rã lớn… Biệt động thành phố đánh chiếm cư xá Mỹ, đồn cảnh sát, căn cứ thiết đoàn 6. Công binh cắt lộ 4 trong 2 ngày, từ ngày 5 đến ngày 7 tháng 5 năm 1968. Du kích các xã Bình Trưng, Long Hưng, Song Thuận bắn rơi trực thăng. Du kích vành đai Bình Đức diệt một đơn vị Mỹ. Tiểu đoàn 514C đứng chân ở bắc Cái Bè, diệt một số đồn ở Hội Cư, Hậu Mỹ, Mỹ Thiện.



Quân Mỹ đốt phá ở Mỹ Tho, tháng 5-1968

Ở Gò Công, Tiểu đoàn 514B diệt đồn Sơn Quy và các đoàn bình định, đánh phản kích ở Bình Lạc, Bình Phú, Bình Nhị, Đồng Thọ. Ngày 10 tháng 3 năm 1968, Tiểu đoàn đánh địch càn tại ấp Nam Tân, Bình Điền.

Trong đợt 2, Mỹ Tho - Gò Công loại khỏi vòng chiến đấu 2.263 tên địch, trong đó có 389 tên Mỹ, phá hủy 70 xe quân sự và 4 pháo. Nhưng địch đã chuyển sang phản kích mạnh, đẩy chủ lực ta ra xa thành phố và ráo riết triển khai kế hoạch bình định nhằm vào các vùng nông thôn giải phóng.

Đầu tháng 6 năm 1968, quân Mỹ bung ra đóng chốt trên lộ 4 ở Nhị Bình, căn cứ 23, 33 và căn cứ Bà Lâm. Mỗi nơi chúng bố trí một đại đội pháo 155 và một đại đội bộ binh. Riêng tại căn cứ 33 chúng bố trí một tiểu đoàn. Từ những chốt này, với chiến thuật “cóc nhảy” có pháo binh, máy bay, kể cả B52 yểm trợ, chúng đánh sâu vào vùng căn cứ và các tuyến hành lang vận chuyển của ta. Quân ngụy cũng tăng cường đánh phá vùng ven, các trục giao thông, thị trấn, thành phố, thực hiện “bình định cấp tốc”. Chúng tập trung bình định các huyện Gò Công, Chợ Gạo, các xã ven thành phố Mỹ Tho, dọc lộ 4, ven sông Tiền. trên sông Tiền và trên các con kênh Nguyễn Tấn Thành, kênh 28… tàu, xuồng máy của chúng liên tục tuần tra, kiểm soát chặt chẽ.

Để đối phó lại các cuộc hành quân phản kích của địch và thực hiện được nhiệm vụ đứng chân bám sát thành phố, ta chủ trương xây dựng các lõm căn cứ, lõm chiến đấu ở các xã vùng ven.
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Ba, 2017, 09:54:10 PM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8328


Lính của PTL


« Trả lời #146 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2014, 09:00:27 PM »

Ở Bến Tre, ngày 5 tháng 3 năm 1968, Khu điều Tiểu đoàn 3 của tỉnh về Miền. Tỉnh cho lực lượng khởi nghĩa của quần chúng về địa phương, giải thể Tiểu đoàn 4, tổ chức thành 3 đơn vị mũi nhọn đứng chân ở vành đai vây ép thị xã.

Tiểu đoàn 516, Tiểu đoàn 2 và các đại đội binh chủng tổ chức thành chiến đoàn nhẹ làm quả đấm của tính bám trụ tại các xã Hữu Định, Phước Thạnh, Song Phước, Phú An Hòa, Quới Sơn, sẵn sàng đánh trả các cuộc phản kích của địch, giữ vững thế tổ chức tạo điều kiện bước vào đợt 2.

Cuối tháng 3 năm 1968, quân Mỹ rút khỏi Bến Tre. Quân ngụy trong thị xã thường bung ra thăm dò. Bộ đội đặc công Châu Thành, biệt động thị xã, du kích vành đai đánh địch, diệt hàng chục tên. Cũng trong tháng 3 năm 1968, Trung đoàn 10 Sư đoàn 7 ngụy yểm trợ cho bọn công binh phát quang, mở đường cho dân vệ chi khu Trúc Giang chiếm lại các đồn công sở 2, 3, khai thông liên tỉnh lộ 6A Bến Tre - Mỹ Tho. Tiểu đoàn 16, Tiểu đoàn 2 và quân địa phương Châu Thành chặn đánh tiêu hao nặng tiểu đoàn công binh, bọn dân vệ bỏ chạy khỏi 2 đồn mới đóng, giao thông địch lại bị tắc.

Đêm 4 tháng 5 năm 1968, ta đánh đồn Phú Hưng với ý định kéo Trung đoàn 10 Sư đoàn 7 ngụy ra cứu viện nhưng chúng đề phòng nên không ra.

Bảy giờ sáng ngày 7 tháng 5 năm 1968, 2 tiểu đoàn của Trung đoàn 10 Sư đoàn 7 và đại đội trinh sát chia thành 2 cánh, tiến qua cánh đồng Phú Hưng - Hữu Định bao vây đại đội quân địa phương Châu Thành đóng ở gần đó. Cánh ở lộ Phú Điền, lộ Giữa, gồm Tiểu đoàn 3 và Đại đội trinh sát của Trung đoàn 10 của địch rơi vào tuyến phòng ngự của Tiểu đoàn 516. Cánh Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 10 của địch hành quân theo kênh Chẹt Sậy đánh vào đại đội quân địa phương Châu Thành. Trên toàn mặt trận, ta đồng loạt nổ súng đánh bật địch ra đồng. Đại đội quân địa phương chống trả quyết liệt với tiểu đoàn địch, ta bị tiêu hao một tiểu đội, trận địa bị chọc thủng. hai trung đội dự bị của Tiểu đoàn 516 được lệnh hợp đồng cùng đại đội địa phương chiếm lại vị trí đã mất. Ngay đợt đầu tiên, địch bị diệt 70 tên. Địch cho máy bay ném bom, pháo bắn hàng ngàn quả xuống mặt trận. Trong lúc đang tác chiến, qua tin trinh sát kỹ thuật, ta biết địch không còn lực lượng chi viện, định rút. Ta vẫn bám và kìm, chúng không dám rút và rất hoang mang. Ban chỉ huy mặt trận lệnh cho Tiểu đoàn 516 chia cắt địch, Tiểu đoàn 2 lợi dụng địa hình, bí mật đánh vào sau lưng địch. Tiểu đoàn 516 xuất kích, địch chạy tán loạn. Trên mặt trận dài 3 kilômét, ta tiến công mãnh liệt. Tiểu đoàn 516 đánh trúng sở chỉ huy Trung đoàn 10, tên trung đoàn phó và tên đại úy pháo binh bị diệt, tên trung đoàn trưởng bỏ chạy thục mạng. Địch bị diệt 400 tên. Đây là trận đánh tiêu diệt quy mô lớn trong đợt 2 trên chiến trường Bến Tre.

Trước tình hình như vậy, quân Mỹ lại phải nhảy vào cứu nguy cho quân ngụy. Ngày 8 tháng 5 năm 1968, 14 chiếc tàu chở 1 tiểu đoàn quân Mỹ từ vàm An Hóa vào sông Ba Lai, lọt vào trận địa phục kích của quân ta. Ta nổ súng bắn chìm và cháy 12 chiếc. Tiểu đoàn Mỹ bị thiệt hại nặng. Cùng lúc, trực thăng đổ 1 tiểu đoàn Mỹ xuống cánh đồn Sơn Phước, Giao Long Hòa. Tiểu đoàn 2 bố trí đánh địch diệt một số tên.

Đêm 8 tháng 5 năm 1968, các lực lượng ta chuyển về đóng quân tại xã An Khánh để chuẩn bị vào đợt 2. Địch phát hiện, 1 tiểu đoàn Mỹ từ xã Giao Long Hòa lên lộ 6A, chia làm nhiều mũi đánh vào. Chúng ném bom, bắn pháo dữ dội vào mặt trận. Ta chiến đấu suốt 14 giờ liền, diệt 100 tên Mỹ. Đêm 11 tháng 5 năm 1968, ta đánh vào thị xã. Đại đội đặc công diệt 2 đồn ở xã Bình Phú. Sáng 12 tháng 5 năm 1968, 1 đại đội bảo an, 1 chi đội xe M113 phản kích. Ta diệt gần 100 tên. Chúng cho máy bay B52 ném bom xuống xã Phước Thạnh ở ven thị xã. Như vậy, trong 6 ngày đêm bám trụ đánh địch phản kích, bộ đội tỉnh, huyện đã đánh 4 trận lớn, diệt 2 tiểu đoàn chủ lực ngụy, 1 đại đội bảo an, tiêu hao nặng 1 tiểu đoàn, 1 đại đội Mỹ, bắn chìm 12 tàu. Đến đây, tuy địch đã yếu sức nhưng bộ đội ta cũng chưa đủ khả năng giải phóng thị xã. Chiến đoàn được lệnh rút ra vùng ven.

Trong tháng 5 năm 1968, Khu điều Tiểu đoàn 2 của tỉnh về Miền. Tỉnh lấy Đại đội 2 và một số cán bộ của Tiểu đoàn 516, 3 trung đội quân địa phương của các huyện Thạnh Phú, Mỏ Cày, Chợ Lách xây dựng tiểu đoàn mới, lấy tên là Tiểu đoàn 5.

Quân chủ lực ngụy đã mất sức chiến đấu. Quân Mỹ lại phải vào để đối phó. Lần này, chúng đưa đến Bến Tre cả 1 lữ đoàn Mỹ, 1 hạm đội nhỏ xung kích cùng nhiều phương tiện chiến tranh và xây dựng trận địa pháo ở nhiều nơi: sân bay Tân Thành, Phú Hưng, Gò Cát, Đồng Gò, Giồng Xoài trong địa bàn thị xã và huyện Giồng Trôm.

Đối tượng tác chiến chủ yếu lúc này là quân Mỹ, hỏa lực Mỹ, quân ta cần phải có quyết tâm cao để đánh bại đội tượng mới; phải xây dựng chiến đoàn mạnh, tác chiến tập trung để đủ sức tiêu diệt từng đại đội và tiểu đoàn Mỹ; bộ đội cần phải được bồi dưỡng kỹ về những kỹ thuật và chiến thuật thích hợp để tác chiến với quân Mỹ.

Thượng tuần tháng 7 năm 1968, Bến Tre tập trung các tiểu đoàn bộ binh và các đơn vị binh chủng về các xã căn cứ Lương Phú, Thuận Điều, Long Mỹ huyện Giồng Trôm để củng cố tổ chức, giáo dục cán bộ, chiến sĩ quán triệt hơn nữa quyết tâm và cách đánh Mỹ, chuẩn bị cho trận chiến đấu mới.

Đêm 22 tháng 7 năm 1968, trinh sát kỹ thuật của ta phát hiện địch đang chuẩn bị hành quân càn quét căn cứ Giồng Trôm. Lực lượng càn quét là Trung đoàn 10 Sư đoàn 7 ngụy, có quân Mỹ và máy bay B52 yểm trợ. Quân Mỹ sẽ dùng tàu đánh vào các xã Lương Phú, Thuận Điền, Long Mỹ, Trung đoàn 10 ngụy sẽ đổ quân bằng trực thăng xuống xã Tân Hào, Hiệp Hưng. Rạng sáng ngày 23 tháng 7 năm 1968, máy bay B52 ném bom 6 lần xuống các xã Lương Phú, Thuận Điền, Long Mỹ, Tân Hào. Vào lúc 7 giờ, 14 trực thăng đổ 2 đại đội của Trung đoàn 10 xuống Gò Tranh. Bộ đội phòng không 12,8 ly của ta bắn rơi 7 chiếc, bắn bị thương 4 chiếc. Tiểu đoàn 5 và Đại đội 3 Tiểu đoàn 516 xuất kích, diệt được 200 tên địch. Đoàn trực thăng thứ 2 đổ 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 10 cách mặt trận 1.000 mét. Ta bắn bị thương 1 chiếc. Địch bắn gần 5.000 quả pháo xuống 2 xã Lương Phú, Long Mỹ và dọc bờ sông Giồng Trôm để dọn đường cho 20 tàu chở đầy quân Mỹ tiến vào. Đến đoạn sông thuộc xã Lương Phú, chúng bị các tổ săn tàu của ta diệt tại chỗ 16 chiếc. Khi chúng vào kéo số tàu chìm, ta lại bắn cháy thêm 12 chiếc. Tổng số quân Mỹ và ngụy bị diệt trong trận này là 500 tên.

Đây là đòn phủ đầu choáng váng đối với quân Mỹ và ngụy ngay khi quân Mỹ trở lại Bến Tre.

Ở Kiến Tường, trước khi vào đợt, địch đưa Sư đoàn 7 và 2 trung đoàn của Sư đoàn 9 cùng 1 tiểu đoàn của Sư đoàn 21 ngụy, bọn biệt kích Mỹ và bọn chiêu hồi đánh lên phía nam vùng 4. Yểm trợ cho bọn chúng là 30 khẩu pháo, tập trung ở các cụm Mỹ Phước Tây, Thiên Hộ. Chúng hành quân liên miên, tiếp tục bới hầm bí mật và sử dụng phi pháo ở mật độ cao.

Ở vùng 6 và vùng 8, chúng tăng cường hoạt động biệt kích và tập trung nhiều xe M113 yểm trợ cho các cuộc hành quân bung ra phản kích.

Về phía ta, sau đợt 1, ta rút lực lượng ra củng cố, chuẩn bị cho tiến công đợt 2, đồng thời đánh địch phản kích rất quyết liệt. Ngày 4 tháng 4 năm 1968, quân địa phương vùng 4 chặn đánh 2 đại đội bảo an từ Mỹ An càn vào xã Tân Ninh, diệt và bắt 75 tên. Ngày 24 tháng 5 năm 1968, bộ đội vùng 6 cùng du kích Đông Thuận đánh địch càn vào ấp Bà Xây, xã Thủy Đông diệt 64 tên, bắn rơi 4 máy bay. Ngày 31 tháng 4 năm 1968, quân địa phương vùng 4 đánh tàu địch tại kênh Phụng Thớt, xã Nhơn Ninh, bắn chìm 2 chiếc. Cùng ngày, Tiểu đoàn 263B của Khu đánh 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 10 Sư đoàn 7 ngụy đi càn quét ở Trại Lòn, diệt 80 tên. Ngày 10 tháng 3 năm 1968, Tiểu đoàn 504 diệt gần như toàn bộ tiểu đoàn biệt kích “Trâu điên” tại kênh Nguyễn Văn Trỗi, xã Hưng Điền, sau đó, tiểu đoàn tiến công đồn Cái Đôi, đánh Tiểu đoàn 86 biệt động quân biên phòng và 2 trung đội thám sát tại xã Vĩnh Đại, diệt trên 100 tên.

Đến đây, sau khi Trung đoàn 1 được rút về Mỹ Tho, Quân ủy Miền chỉ đạo Khu giao nhiệm vụ cho Kiến Tường tiến công tiếp vào thị xã Tân An. Đây là địa bàn mới, bộ đội chưa quen, địch đã tổ chức phòng thủ chặt chẽ và đang bung ra phản kích quyết liệt. Tỉnh tiếp nhận chiến trường mới, vừa tổ chức điều tra, nghiên cứu vừa cho Tiểu đoàn 504 hành quân đến mục tiêu. Tiểu đoàn phải vượt chặng đường dài từ biên giới vùng 8 xuống huyện Châu Thành - Tân An. Ngày 20 tháng 5 năm 1986, tiểu đoàn bước vào tiến công. Không có điều kiện để tiến công theo kiểu đột phá, nên ta phải đánh từ bên ngoài. Tiểu đoàn bám thị xã trong suốt đợt 2, diệt 4 xe M113 từ Châu Thành lên thị xã và diệt 1 trung đội địch từ thị xã Tân An xuống đồn Vàm, sông Vĩnh Công.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8328


Lính của PTL


« Trả lời #147 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2014, 09:00:51 PM »

Ở An Giang, vào đợt 2, bộ đội bám trụ đánh địch và phát động quần chúng ở các khu vực Mỹ Đức, Khánh Hòa, Vĩnh Tế, Đa Phước. Theo sự chỉ đạo của Khu ủy, An Giang tiếp tục đưa quân xuống hoạt động ở vùng Hòa Hảo (Chữ O). Theo hợp đồng, bộ đội tỉnh An Giang từ Mỹ Đức qua vùng Chữ O, cùng lực lượng của Khu từ Hồng Ngự vượt sông Tiền qua Long Sơn, Phú Lâm, nhưng lực lượng của Khu chỉ đến được Long Thuận, đứng chân 3 ngày hoạt động vũ trang tuyên truyền rồi rút. Địch dùng 3 tiểu đoàn và xe bọc thép chặn bộ đội An Giang ở Mỹ Đức, Khánh Hòa. Trong suốt 5 ngày đêm ta đánh thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn địch. Ta bị thương vong nhiều, nên rút về căn cứ.

Phía Tri Tôn, ngày 5 tháng 5 năm 1968, quân địa phương huyện bao vây đồn Cây Cầy - An Tức, do 1 trung đội dân vệ đóng giữ. Hai đại đội bảo an 816, 819 từ Tri Tôn vào tiếp viện bị ta chặn đánh. Địch chết và bị thương 85 tên. Ta hi sinh 2, bị thương 19.

Ngày 20 tháng 5 năm 1968, ta tiến công khu chợ Ba Thê thuộc huyện Huệ Đức nhưng không giành được thắng lợi.

Trong đợt 2 tổng công kích - tổng khởi nghĩa ở Khu VIII, địch tăng cường phòng thủ, lực lượng ta bị tiêu hao trong đợt 1 và trong khi bám trụ ở vùng ven chưa được bổ sung, củng cố, nhiệm vụ khó khăn hơn, nhưng các cấp lãnh đạo, chỉ huy, quân và dân toàn Khu VIII đã nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh của cấp trên, đưa quân sang tiến công ở thị xã Tân An, tiếp tục tiến công vào thị xã, thị trấn bằng lực lượng pháo, biệt động, đặc công, vây ép thị xã và tiêu hao, tiêu diệt địch ở vùng ven giành thêm được một số thắng lợi, góp phần cùng toàn Miền tiếp tục giành thêm thắng lợi, giáng thêm một đòn vào kẻ thù, buộc Tổng thống Mỹ Giônxơn, ngày 13 tháng 5 năm 1968, phải cử một đoàn đại biểu Mỹ đến Pari trong thế suy yếu hơn để đàm phán với ta.

Tháng 8 năm 1968, Bộ Chính trị Trung ương Đảng chủ trương tiến hành tổng công kích - tổng khởi nghĩa đợt 3.

Ở chiến trường Khu VIII - Trung Nam Bộ thế và lực của ta sau hai đợt tiến công suy giảm nhiều, địch đã thực hiện “quét và giữ” và tập trung mọi lực lượng đẩy mạnh bình định nông thôn trên quy mô rộng lớn, khả năng tiến công và giữ của ta đều gặp khó khăn lớn. Do đó, khi vào đợt 3, chỉ có Mỹ Tho, Kiến Tường (gồm bộ phận tiến công Tân An) có tiến công, nhưng chỉ đánh địch ở vùng ven. Các tỉnh khác như Bến Tre, Kiến Phong, An Giang phải liên tục đánh địch phản kích và chống phá chương trình “bình định cấp tốc” của địch nhằm chiếm lại những vùng chúng bị mất trong đợt 1 và lấn chiếm sang vùng giải phóng cũ của ta.

Đêm 24 tháng 8 năm 1968, Tiểu đoàn 263B của Khu và Tiểu đoàn 514C tiến công chi khu Giáo Đức. Tiểu đoàn 514B tập kích diệt 1 đại đội biệt kích tại Cả Chốt và tập kích đồn Vàm Giồng, diệt 2 xe trên lộ Hòa Đồng (tỉnh Gò Công).

Ở Tân An, Tiểu đoàn 504 của Kiến Tường cùng 1 đại đội biệt động thị xã tập kích 1 đại đội bảo an và 1 đoàn bình định tại vành đai đông nam thị xã, diệt 50 tên. Sau đó tập kích diệt gọn 1 trung đội biệt kích Mỹ tại căn cứ Bình Tịnh và diệt 1 trung đội biệt kích ngụy ở thị xã.

Tại thị xã Mộc Hóa, ở ba xã vùng ven là Tuyên Thạnh, Bình Hiệp, Tân Lập, bộ đội và du kích vây ép, cắt giao thông thủy bộ, đánh địch bung ra giải tỏa. Địch đưa 1 lữ đoàn của Sư đoàn 9 Mỹ và 80 tàu đến hoạt động từ Mộc Hóa đến Thủ Thừa. Bộ đội tỉnh Kiến Tường tổ chức tập kích các đồn Bình Châu, Chùa Nổi, Cái đôi, dùng phân đội nhỏ thọc sâu và bắn pháo cối vào thị xã Mộc Hóa.

Tháng 9 năm 1968, Tiểu đoàn 504 chặn đánh 1 tiểu đoàn của Sư đoàn 7 ngụy tại ấp Cái Đôi, xã Bình Hiệp, diệt 1 đại đội. Địch ở đồn Cái Đôi hoảng hốt bỏ chạy.

Tại Bến Tre, đội săn tàu và Tiểu đoàn 516 phục kích bắn chìm và cháy 16 tàu chiến của Lữ đoàn 3 Sư đoàn 9 Mỹ khi chúng càn quét và căn cứ huyện Giồng Trôm.

Đến ngày 30 tháng 9 năm 1968, kết thúc đợt 3 cuộc tổng công kích - tổng khởi nghĩa ở Khu VIII.

Cuộc tổng công kích - tổng khởi nghĩa ở Khu VIII - Trung Nam Bộ đã diễn ra từ Tết Mậu Thân và kéo dài cho đến cuối năm 1968, đã tổ chức và tiến hành 3 đợt tiến công để phối hợp toàn chiến trường toàn miền Nam.

Quân và dân trong toàn Khu VIII với quyết tâm cao, chịu đựng mọi khó khăn, ác liệt, đã nghiêm chỉnh chấp hành mọi mệnh lệnh về chiến đấu cũng như điều động chiến đấu của cấp trên, đã giành được thắng lợi to lớn trong cao điểm 1 của đợt 1, đồng loạt nổ súng, tiến công vào 6 thành phố, thị xã, 23 thị trấn, đánh chiếm và làm chủ một số khu vực trong thành phố Mỹ Tho, thị xã Bến Tre, thị xã Châu Đốc, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ - ngụy, cắt đứt giao thông lộ 4 và nhiều đường giao thông thủy, bộ quan trọng khác. Ở nhiều vùng nông thôn, đồng bào đã nổi dậy giải phóng 30 xã và giành quyền làm chủ nhiều nơi khác, kể cả trong nội ô thị xã, thị trấn và ven trục lộ giao thông… Khu VIII đã góp phần cùng toàn Miền đánh bại những cố gắng cao nhất về quân sự của Mỹ - ngụy tạo được bước ngoặt quyết định của cuộc kháng chiến chống Mỹ, làm đảo lộn thế bố trí chiến lược của chúng, làm rung chuyển cả nước Mỹ và chấn động dư luận thế giới, làm lung lay tận gốc ý chí xâm lược của giới cầm quyền Mỹ, mở đầu quá trình xuống thang chiến tranh của đế quốc Mỹ.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8328


Lính của PTL


« Trả lời #148 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2014, 09:02:26 PM »

CHƯƠNG V

TIẾN HÀNH CHIẾN DỊCH TIẾN CÔNG TỔNG HỢP,
GÓP PHẦN ĐÁNH THẮNG CHIẾN LƯỢC
“VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH” CỦA ĐẾ QUỐC MỸ
(1969 - 1972)

I - TIẾP TỤC TIẾN CÔNG ĐỊCH, TẠO THẾ ĐỨNG MỚI

1. Tình hình Khu VIII sau tổng tiến công và chủ trương của Khu ủy

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 thật sự mở ra bước ngoặt lớn của chiến tranh, làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ”, đánh đòn quyết định vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh và việc phải chấp nhận rút quân Mỹ về nước là một xu thế không thể nào cưỡng lại được. Nhưng tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968 chưa buộc Mỹ chấm dứt được chiến tranh, chưa buộc chúng từ bỏ dã tâm xâm lược.

Tập đoàn Níchxơn, sau khi lên cầm quyền, đã thay đổi chiến lược chiến tranh để tiếp tục duy trì chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam, tiếp tục lao vào cuộc chiến tranh xâm lược nước ta.

Chiến lược chiến tranh mới của Níchxơn được gọi là chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” - một sự điều chỉnh chủ trương “phi Mỹ hóa chiến tranh” của Giônxơn. Níchxơn sử dụng tối đa về quân sự kết hợp với những thủ đoạn chính trị và ngoại giao xảo quyệt hòng giành thế mạnh, cô lập và bóp nghẹt cuộc kháng chiến của nhân dân ta.”

Biện pháp chủ yếu mà Níchxơn coi là có ý nghĩa quyết định thành bại của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” là tập trung xây dựng quân ngụy thành một đội quân tay sai hiện đại, làm lực lượng chiến lược chủ yếu ở miền Nam, là đội quân xung kích ở Đông Dương, có thể thay thế được quân Mỹ trong chiến đấu trên bộ. Đi đôi với biện pháp trên, một biện pháp mà Mỹ coi là then chốt của “Việt Nam hóa chiến tranh”, quyết định sự sống còn của bản thân ngụy quyền là bình định nông thôn. Vì vậy, Mỹ - ngụy đã huy động toàn bộ bộ máy chiến tranh khổng lồ vào việc bình định nông thôn. Níchxơn đã phát huy sức mạnh quân sự và thủ đoạn chính trị đến mức tối đa trong đòn bình định, vừa giành dân, vừa triệt phá cơ sở cách mạng, hòng giành thắng lợi quyết định.

Để tiêu diệt tận gốc cách mạng miền Nam, tập đoàn Níchxơn còn sử dụng thủ đoạn chính trị, ngoại giao xảo quyệt, đánh vào hậu phương quốc tế của Việt Nam, mở rộng chiến tranh sang Lào và Campuchia; chia rẽ Liên Xô và Trung Quốc, hy vọng dùng Liên Xô và Trung Quốc tác động tiêu cực đến cuộc tiến công quân sự của nhân dân ta, hòng cắt nguồn viện trợ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác cho Việt Nam; cắt nguồn tăng viện của hậu phương miền Bắc cho miền Nam, hy vọng bóp nghẹt cuộc kháng chiến của nhân dân ta, làm cạn kệt sức chiến đấu, từ đó phải đầu hàng chúng.

Với những thủ đoạn độc ác và tàn bạo trên, đế quốc Mỹ thực hiện sự kết hợp chiến tranh hủy diệt với chiến tranh giành dân và chiến tranh bóp nghẹt để làm suy yếu cuộc kháng chiến của nhân dân ta trên cả hai miền Nam - Bắc.

Níchxơn dự tính kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh” sẽ tiến hành theo ba giai đoạn:

Giai đoạn 1: từ năm 1969 đến tháng 6 năm 1970, kiểm soát được những vùng đông dân quan trọng nhất, quân ngụy được tăng cường đủ sức đối phó với các đơn vị tương đương của ta; rút được một bộ phận quân Mỹ về nước…

Giai đoạn 2: từ tháng 6 năm 1970 đến tháng 6 năm 1971, kiểm soát hầu hết những vùng đông dân; quân ngụy đảm nhiệm được đại bộ phận nhiệm vụ chiến đấu trên bộ; rút đại bộ phận quân chiến đấu Mỹ.

Giai đoạn 3: từ tháng 6 năm 1971 đến tháng 6 năm 1972, cơ bản hoàn thành “Việt Nam hóa chiến tranh” phục vụ cho Níchxơn thắng cử trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ tháng 11 năm 1972.

Năm 1969 và đầu năm 1970 là thời gian Mỹ triển khai mạnh mẽ giai đoạn 1 của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Địch tập trung lực lượng đánh vào nông thôn. Sau khi tiến hành thí điểm bình định có kết quả ở Vĩnh Long, Trà Vinh, từ giữa năm 1968 đến đầu năm 1970, Mỹ - ngụy tiến hành liên tiếp các kế hoạch bình định như: “bình định cấp tốc”, “bình định đặc biệt”, “bình định bổ sung”, “kế hoạch phượng hoàng”,… kế hợp mở liên tiếp những cuộc hành quân càn quét, đóng thêm nhiều đồn bốt, chiếm lại hầu hết vùng nông thôn ta giải phóng và mở ra trong Tết Mậu Thân, kìm kẹp thêm nhiều dân, kiểm soát thêm nhiều vùng. Đây là cuộc phản công quyết liệt, hủy diệt tàn khốc của địch bằng sức mạnh toàn diện, chủ yếu là sức mạnh quân sự vào trận địa nông thôn; là cuộc “chiến tranh giành dân”, “chiến tranh hủy diệt” trên quy mô lớn với những biện pháp cực kỳ dã man.

Chúng tiến hành đánh phá ở hầu hết các khu vực nam bắc lộ 4 của các huyện Châu Thành, Cai Lậy, Cái Bè tỉnh Mỹ Tho; hầu hết tỉnh Gò Công; vùng 4 của tỉnh Kiến Tường; Mỏ Cày, Giồng Trôm tỉnh Bến Tre; vùng bắc Cao Lãnh tỉnh Kiến Phong. Ở tỉnh An Giang, chúng tập trung lực lượng mở cuộc tấn công quy mô lớn và dài ngày cấp sư đoàn vào đồi Túp Dụp, Bảy Núi hòng khóa chặt hành lang của Miền từ biên giới Campuchia về Khu IX.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8328


Lính của PTL


« Trả lời #149 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2014, 09:03:17 PM »

Đường hành lang của Khu xuyên qua Long An, Kiến Tường xuống Mỹ Tho bị biệt kích ngăn chặn. Tại mảng 3, Cai Lậy Bắc, tỉnh Mỹ Tho, các Sư đoàn 7, 9 ngụy, bảo an, máy bay trực thăng, thiết giáp đánh phá dài ngày, cào nhà dân, gây cảnh hỗn loạn. Tình hình các nơi khác cũng diễn ra tương tự. Đi đôi với đánh phá, chúng tung hàng trăm đội bình định thực hiện “bình định cấp tốc”.

Thiệt hại của nhân dân rất nặng. Chỉ tính riêng tỉnh Bến Tre, những tháng đầu năm 1969 đã có 1.285 người chết, hàng ngàn người bị đánh đập, bắt bớ. Toàn Khu trước Xuân Mậu Thân có gần 100 xã giải phóng, trong đợt 1 Mậu Thân ta giải phóng thêm 30 xã nữa. Nhưng đến nay không những địch chiếm lại số xã vừa giải phóng mà còn lấn chiếm sang gần chục xã vùng giải phóng cũ. Có nơi, như ở Mỹ Tho, bị địch lấn chiếm rất nhiều, chỉ còn 33 lõm căn cứ với khoảng trên dưới 100.000 dân.

Trong năm 1968, số đồn bốt địch còn giữ được là 1.000 sang đầu năm 1969, chúng đóng thêm hơn 500 đồn nữa, đưa tổng số đồn bốt trong toàn Khu lên hơn 1.500 đồn. Đồn bốt dày đặc, xã ít nhất cũng 3 - 4 đồn, trung bình mỗi xã 5 - 6 đồn, nhiều nhất như xã Thanh Mỹ, tỉnh Kiến Phong và một số xã biên giới ở Tân Châu, tỉnh An Giang chúng đóng mỗi xã trên 20 đồn.

Tình hình chiến trường trở nên bức bách, tháng 2 năm 1969, Thường vụ Khu ủy quyết định triệu tập Hội nghị cán bộ toàn Khu để tìm biện pháp tháo gỡ. Hội nghị được tiến hành tại căn cứ Khu ở xã Tứ Thường, có mặt hầu hết các cán bộ lãnh đạo, chỉ huy chủ chốt như các đồng chí Nguyễn Minh Đường (Sáu Đường) - Bí thư Khu ủy, chủ trì hội nghị; Nguyễn Văn Chim (Ba Chim) - Phó bí thư; Huỳnh Châu Sổ (Năm Bé) - Ủy viên Thường vụ; Lê Quốc Sản (Tám Phương) - Tư lệnh; Dương Cự Tẩm (Năm Thanh) - Chính ủy Quân khu, và nhiều cán bộ trung, cao cấp phụ trách tham mưu, chính trị, hậu cần các cơ quan dân, chính, Đảng trực thuộc Khuu ủy và các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy tỉnh, các đơn vị vũ trang tập trung trực thuộc Khu.

Khi khai mạc Hội nghị, đồng chí Sáu Đường - Bí thư Khu ủy nêu lên những suy nghĩ, trăn trở để Hội nghị nghiên cứu thảo luận… Trên bình diện chung của cả nước, ta đã thắng lớn, buộc địch sút giảm quyết tâm chiến lược, phải chịu ngồi vào bàn đàm phá ở Pari, phải chấm dứt một phần chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc, phải xuống thang chiến tranh rút dần quân đội Mỹ về nước, nhưng chúng còn rất ngoan cố, đang đẩy mạnh thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Ở Khu VIII địch hết sức hung hăng, ra sức đôn quân bắt lính, càn quét, đóng đồn bốt kìm kẹp dân, thực hiện “bình định cấp tốc”.

Trước tình hình trên chúng ta phải bình tĩnh, khách quan xem xét, đánh giá đúng chỗ mạnh, chỗ yếu, khó khăn, thuận lợi của ta và của địch để tìm cách đối phó.

Hội nghị đã đi sâu nghiên cứu, phân tích tình hình trong Khu và của từng tỉnh, từng đơn vị, đánh giá tình hình địch - ta và đưa ra những biện pháp đẩy mạnh kháng chiến trong thời gian tới. Đồng chí Bí thư Khu ủy đã đi sâu phân tích các mặt và kết luận phương hướng lãnh đạo, chỉ đạo trong thời gian sắp tới như sau:

Ta phải thấy chỗ yếu của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” là tuy xảo quyệt và thâm độc, nhưng nó ra đời trong thế thua, thế bị động, thế yếu, mà yếu nhất là ngụy quân, ngụy quyền không thể nào thay thế được 50 vạn quân Mỹ; trước đó với nửa triệu quân Mỹ, nó đã thất bại, nay quân Mỹ rút đi, ngụy càng không thể mạnh hơn được, không thể đứng vững được. Tuy nhiên, ta cũng phải đánh giá đúng thực lực của ngụy như quân còn đông, hỏa lực còn mạnh, cơ động còn cao và còn giữ nhiều địa bàn quan trọng; Mỹ còn tiềm lực lớn về kinh tế và quân sự và tập đoàn lãnh đạo mới của Mỹ rất ngoan cố và hiếu chiến.

Ở chiến trường Khu VIII, quân ngụy còn đông, nhưng đại bộ phận là con em nông dân, gia đình được Đảng cấp đất, đã đứng lên Đồng khởi làm chủ xã, ấp nay bị ép đi lính cầm súng đánh lại cách mạng, từ lâu ta đã xem gia đình họ là gia đình đau khổ, xem họ là lực lượng có thể tập hợp và phát động họ đấu tranh chính trị, binh vận để tự cứu mình, góp phần cứu dân, cứu nước… Ta sẽ phát động được đông đảo nhân dân nổi dậy đấu tranh với địch.

Đồn bốt địch tuy còn nhiều, nhưng nằm trong thế bao vây của phong trào quần chúng, binh sĩ lại là con em nông dân, nên ta có thể vận động đồn bốt trung lập, án binh bất động…, thậm chí có thể che chở và bảo vệ đồng bào và các hoạt động của ta.

Địch đẩy mạnh bình định tàn bạo và khốc liệt, trực tiếp đánh vào nhân dân, trong đó có gia đình binh sĩ, gia đình các công chức ngụy quyền, ta có điều kiện tranh thủ, vận động họ chống lại chúng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM