Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 26 Tháng Sáu, 2017, 01:52:29 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Thăm dò
Câu hỏi: Có đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu được không? (Trân trọng cám ơn các thành viên đã tham gia bỏ phiếu)
Chưa đủ cơ sở để đồng nhất - 7 (58.3%)
Có cơ sở khoa học để đồng nhất - 0 (0%)
Không có cơ sở để đồng nhất - 5 (41.7%)
Tổng số phiếu: 12

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Về việc đồng nhất Phạm Tu và Lý Phục Man  (Đọc 46507 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thapbut
Thành viên
*
Bài viết: 158


WWW
« Trả lời #110 vào lúc: 03 Tháng Một, 2011, 04:31:27 PM »

Gần trường Sỹ quan Thông tin (Đồng Đế, Tp Nha Trang, phường Vĩnh Hải) có con phố nhỏ mang tên Phạm Tu nhưng trên bản đồ chưa xác định được (có thể trước gọi là Vĩnh Xương).
Logged
thapbut
Thành viên
*
Bài viết: 158


WWW
« Trả lời #111 vào lúc: 13 Tháng Một, 2011, 03:30:30 AM »

Tài liệu về chặng đường 30 năm đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu
http://www.mediafire.com/?15zpubpbi8cbqjc
Logged
thapbut
Thành viên
*
Bài viết: 158


WWW
« Trả lời #112 vào lúc: 08 Tháng Tư, 2011, 07:31:35 PM »

Xã Thụy Văn, huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình có di tích thờ Phạm Tu
http://baothaibinh.com.vn/19/3823/Manh_dat_tien_tieu_qua_cac_di_tich_lich_su_van_hoa.htm

Logged
thapbut
Thành viên
*
Bài viết: 158


WWW
« Trả lời #113 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2011, 06:54:52 AM »

PHẠM TU - THỦY TỔ DÒNG HỌ CÓ NHIỀU TƯỚNG TÀI

Trong lịch sử có thể nói Phạm Tu (476-545) là “Bộ trưởng Quốc phòng” đầu tiên của nước ta bởi Nhà nước Vạn Xuân - Quốc gia độc lập có tổ chức đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam đã giao cho ông cương vị đứng đầu Ban Võ. Đây là sự tin cẩn vào tài năng quân sự của vị lão tướng nhằm xây dựng đội quân chính quy bảo vệ đất nước. Vị tổng chỉ huy là rường cột của quốc gia đã ngày đêm lo tổ chức quân đội, luyện tập quân sỹ, củng cố xây dựng hào lũy các nơi hiểm yếu. Trong đó chiến thành cửa sông Tô là một vị trí trọng yếu đã được Lịch sử khẳng định lại một lần nữa sau 1400 năm, nơi đây quân dân Thủ đô đã quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh để bảo vệ bộ máy chính quyền Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ.

Trong cuốn “Danh nhân quân sự Việt Nam” tập 1 từ thời Âu Lạc đến Tiền Lê dài hơn nghìn năm Bắc thuộc có 17 danh nhân quân sự, trong đó có 9 vị là quân vương và 8 danh tướng. Trong số 8 danh tướng ấy có 3 danh tướng họ Phạm: Phạm Tu, Phạm Bạch Hổ, Phạm Cự Lạng. Điều đặc biệt là Phạm Bạch Hổ, Phạm Cự Lạng là hậu duệ đời thứ 16, 17 (sau hơn 400 năm) của Phạm Tu.
Theo cuốn “Phạm Tu và họ Phạm trong lịch sử”, Phạm Tu có hậu duệ: con là Phạm Tĩnh (đời 2), cháu là Phạm Hiển (đời 3), Phạm Chiêm (đời 15), Phạm Mạn (đời 16), Phạm Hạp và Phạm Cự Lạng (đời 17), Phạm Ngũ Lão (đời 24),…
Phạm Tu đã cùng con cháu tham gia tích cực vào cuộc khởi nghĩa Lý Bí. Về sau Phạm Tĩnh là Tướng quốc của Lý Phật Tử, Phạm Hiển là nghĩa sỹ đánh Tùy.
Sau 4 thế kỷ, Phạm Chiêm (889-952) còn gọi là Phạm Lệnh Công. Ông là Đông Giáp tướng quân thời Ngô Quyền (938-944) có con là Phạm Mạn làm Tham quân Đô t¬ướng thời Ngô Nam Tấn vương (950-965).
Phạm Bạch Hổ (910-972) là Trưởng t¬ướng quân của Ngô Quyền, chống quân Nam Hán, Khai quốc công thần hai triều Ngô-Đinh. Sứ quân ở Đằng Châu, sau đó là Thân vệ Đại tư¬ớng quân của Đinh Bộ Lĩnh. Theo “Đại Nam nhất thống chí”, Phạm Bạch Hổ sinh ngày 10 tháng Giêng năm Canh Ngọ (910), thân phụ là Phạm Lệnh Công người lộ Nam Sách Giang.
Phạm Mạn có hai người con là Phạm Hạp và Phạm Cự Lạng. Phạm Hạp (?-980) Tả tướng tham mưu, Kỳ hầu Hoan Châu Thứ sử. Phạm Cự Lạng (944-?) là Đại tướng triều Đinh-Lê  đã phò Lê Hoàn phá Tống, bình Chiêm. Năm 986, ông được phong làm Thái úy đầu tiên của Việt Nam. Vào thời Trần, Thái úy Phạm Kính Ân (?-1251) là hậu duệ của Phạm Cự Lạng (Theo “Đất và Người Thái Bình”), theo gia phả họ Phạm: danh tướng Phạm Ngũ Lão là hậu duệ của Phạm Hạp.
Điện soái Phạm Ngũ Lão với nhiều chiến công hiển hách trong chống Nguyên, bảo vệ biên giới và bình Chiêm đã được ban thưởng: kim phù (1294), vân phù (1297), quy phù (1301), hổ phù (1302), phi ngư phù (1318) và ân điển đặc biệt khi ông mất vua cho nghỉ chầu 5 ngày. Những điều này đã được ghi rõ trong “Đại Việt sử ký toàn thư”. Phạm Ngũ Lão là một tướng giỏi, trị quân có kỷ luật, đối đãi với quân lính như cha con, cùng quân lính đồng cam cộng khổ, người đương thời gọi là "Phụ tử chi binh". Vượt qua sự ngăn cách Bình dân - Quý tộc, ông trở thành con rể của Hưng Đạo Vương. Thủy Tiên công chúa (1254 - 1329) còn gọi là Anh Nguyên quận chúa, một nàng dâu họ Phạm nổi tiếng. Nhà nghiên cứu Trần Đại Sỹ thu thập tài liệu cổ của Trung Quốc đã viết về bà:
Bộ “Mông Thát cáo lục” chép: "Vợ tướng họ Phạm là con gái của Hưng Đạo Vương, không biết tên là gì, tước phong Thủy Tiên Công Chúa. Thủy Tiên dáng người thanh thoát, mặt đẹp; nói thông thạo tiếng Mông Cổ âm Hoa Lâm, tiếng Hán âm Lâm An. Khi lâm trận đối đáp với tướng Mông Cổ bằng ngôn từ nhẹ nhàng, nhưng khi giao tranh thì dũng mãnh phi thường. Nhiều tướng Mông Cổ không đề phòng, bị Thủy Tiên giết. Tướng Nguyễn Linh Nhan bị Thủy Tiên bắt sống".
Về võ học, bà có để lại các phát minh sau: Thuần Chính Thập Nhị Thủ, Thủy Tiên Liên Hoa Quyền, Thủy Tiên Trường Xuân Công, Thủy Tiên Trị Liệu Thủ (phương pháp dùng chỉ lực chữa bệnh đã bị thất truyền). Bà có công huấn luyện võ thuật cho toàn thể cung phi, cung nga. Chính vì vậy, khi mà quân Mông Cổ chiếm Thăng Long, các cung phi, cung nga tự bảo vệ, di tản an toàn, không cần hộ tống.
Hậu duệ của Điện soái có Phạm Nhữ Dực là Bình Chiêm Đại tướng quân, Dực Nghĩa hầu. Đời sau có Phạm Nhữ Tăng (1422-1478) là Bình Chiêm hưng quốc, Quảng Dương hầu, Đô thống thừa tuyên Quảng Nam với chiến công Bình Chiêm lẫy lừng đã được Lê Thánh Tông ngợi ca. Từ đây phát triển nên thành Phạm Công tộc ở Mộ Đức, Quảng Ngãi. Theo gia phả của dòng họ này, rất nhiều người gia nhập đội quân Tây Sơn rồi trở thành quan văn, tướng võ, trong đó có Phạm Công Trị. Ông đóng vai Quang Trung, người chiến thắng đi xoa dịu nỗi đau của Càn Long-hoàng đế Trung Hoa nổi tiếng đại diện cho kẻ chiến bại. Phạm Công Trị cùng đoàn sứ thần tài giỏi đã hoàn thành trọng trách mà Quang Trung giao phó, có ích cho non sông, nếu vai diễn đổ vỡ thì toàn bộ sẽ bị bắt và chiến tranh sẽ nổ ra. Trong thời đại Hồ Chí Minh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng là hậu duệ của dòng họ này.
Xứ Đoài, ngày 19/4/2011
Logged
thapbut
Thành viên
*
Bài viết: 158


WWW
« Trả lời #114 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2011, 04:10:46 AM »

Danh tướng Phạm Tu và Lý Phục Man là một hay hai người?
Xung quanh nhân vật lịch sử Phạm Tu lâu nay vẫn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau trong giới nghiên cứu lịch sử. Đó là Phạm Tu có phải là Lý Phục Man không? Quê hương Phạm Tu nơi nào? Ông mất ở đâu, vào năm nào và được mai táng ở vùng nào? Do thông tin từ chính sử quá sơ sài, còn tư liệu dân gian, thần tích, huyền thoại thì phản ánh rất khác nhau; nên mặc dù các nhà sử học đã viết nhiều, thảo luận nhiều về Phạm Tu, nhưng ý kiến vẫn còn phân tán. Đặc biệt vấn đề giữa phạm Tu và Lý Phục Man còn gây tranh luận. Điều này ít nhiều ảnh hưởng đến việc tôn vinh vị anh hùng khai quốc công thần triều Tiền Lý, người đã có cống hiến lớn lao và hy sinh oanh liệt trong cuộc chiến đấu vì nền độc lập tự chủ của dân tộc.
Về mối quan hệ giữa Phạm Tu và Lý Phục Man, đến nay vẫn còn tồn tại ba quan niệm: thứ nhất, cho Phạm Tu và Lý Phục Man chỉ là một người; thứ hai, khẳng định đó là hai nhân vật lịch sử riêng biệt; thứ ba, còn hoài nghi chưa kết luận.
Các nhà nghiên cứu khẳng định Phạm Tu không phải Lý Phục Man đưa ra nhiều lập luận:
1-Phạm Tu là một lão tướng, là quan Tể tướng của triều đình Vạn Xuân, người đứng đầu Ban Võ, thì không thể có chuyện được cử đi trấn trị ở các vùng Đường Lâm và Đỗ Động trong khi đó vùng trọng yếu hơn vẫn là biên thùy phía Bắc? Do vậy, đứng đầu đất Đỗ Động và Đường Lâm hẳn là Lý Phục Man, chứ không phải là Phạm Tu.
2-Nói rằng Lý Nam Đế gả công chúa Phương Dung (tức Lý Nương) cho Phạm Tu là không đúng. Bởi vì, Phạm Tu sinh năm 476, Lý Bí sinh năm 498, nghĩa là Phạm Tu nhiều hơn 22 tuổi. Lý Nam Đế gả công chúa cho Phạm Tu sớm nhất là năm 542, lúc đó Phạm Tu đã 67 tuổi rồi. Một công chúa trẻ không thể gả cho một lão tướng đáng tuổi cha của nhà vua và đáng tuổi ông của công chúa. Vị phò mã đó chắc phải là Lý Phục Man, người thuộc thế hệ sau Phạm Tu, mới đúng.
3-Nói vua Lý Nam Đế ban quốc tính (họ Lý) cho Phạm Tu cũng chưa hẳn đúng, bởi vì, lúc đó còn có hai vị đại công thần khác là Thái phó Triệu Túc và người đứng đầu Ban Văn là Tinh Thiều, tại sao không được vua ban quốc tính? Chẳng lẽ lúc ấy Lý Nam Đế lại thiên vị Phạm Tu? Trong khi đó, từ khi Lý Bí khởi nghĩa (541) đến lúc ông mất (548) là 7 năm, mà Phạm Tu là một lão tướng còn phò mã Lý Phục Man là một tướng trẻ tuổi, cho nên không thể coi hai người là một? Xét theo tuổi tác thì hai ông thuộc hai thế hệ khác nhau và đó là hai người khác nhau. Lý Phục Man luôn ở bên cạnh Lý Nam Đế và cùng mất năn 548 ở động Khuất Lão.
Cũng có nhà nghiên cứu căn cứ vào sách Thiên Nam ngữ lục, cho rằng Phạm Tu và Lý Phục Man là hai vị tướng khác nhau cùng tham gia đánh Lâm Ấp; hoặc Phạm Tu đánh tan quân Lâm Ấp, rồi sau đó Lý Bí mới cử Lý Phục Man vào trấn giữ vùng biên thùy phía Nam, chứ không phải coi giữ ở Đường Lâm và Đỗ Động như một số tài liệu nói; thêm nữa, hai ông lại có quê hương khác nhau, một người ở Thanh Đàm (Thanh Liệt), một người ở Cổ Sở (Hoài Đức)…
Từ những lập luận như vậy, họ khẳng định Phạm Tu và Lý Phục Man là hai nhân vật lịch sử khác biệt; Phạm Tu sinh năm 476 và mất năm 545, còn Lý phục Man mất năm 548, chưa rõ năm sinh.
Chúng ta trân trọng những ý kiến nói trên. Tuy nhiên, những lập luận như vậy, theo tôi, mới chỉ là suy đoán, chưa có chứng cứ khoa học, không dựa vào chính sử và do đó chưa thực sự thuyết phục.
Sau khi nghiên cứu các nguồn sử liệu và các bài viết, tác giả bài viết này (LĐS) cho rằng, quan niệm Phạm Tu và Lý Phục Man là cùng một nhân vật lịch sử thì hợp lý hơn, bởi những chứng cứ như sau:
Một là, chính sử của ta, các sách Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử tiêu án, Khâm định Việt sử thông giám cương mục,… khi viết về khởi nghĩa Lý Bí đều không chép về Lý Phục Man mà chỉ chép về Phạm Tu được Lý Bôn (Lý Bí) cử đi đánh và phá tan được giặc Lâm Ấp ở Cửu Đức (Hà Tĩnh, năm 543). Cuốn dã sử Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên (thế kỷ XIV), cũng như văn bía ở Quán Giá soạn năm Bảo Thái thứ 9 (năm 1728) và nhiều truyền thuyết cho rằng chiến công đánh tan quân Lâm Ấp thuộc về Lý Phục Man. Chúng ta đều biết, Lý Bí-Lý Nam Đế ở ngôi 7 năm, từ 541 đến 547, trong 7 năm đó chỉ thấy chép một lần đánh quân Lâm Ấp, tức năm 543. Do đó, so sánh hai nguồn tư liệu nói trên thì Phạm Tu chính là Lý Phục Man.
Hai là, sách Đại Việt sử ký toàn thư và sách Việt sử thông giám cương mục đều chép: “Mùa Xuân, tháng Giêng, năm Thiên Đức năm thứ nhất (544), vua nhân thắng giặc, tự xưng là Nam Việt Đế, lên ngôi, đặt niên hiệu, lập trăm quan, dựng quốc hiệu là Vạn Xuân, ý mong cho xã tắc truyền đến muôn đời. Dựng điện Vạn Thọ làm nơi triều hội. Lấy Triệu Túc làm Thái phó, bọn Tinh Thiều, Phạm Tu làm tướng văn, tướng võ.”(1) trong triều đình nhà nước Vạn Xuân thời ấy có hai ban văn và võ, Tinh Thiều đứng đầu Ban Văn, Phạm Tu đứng đầu Ban Võ. Sách Việt điện u linh lại chép: Lý Phục Man được phong chức Thái úy, đứng đầu các quan trong Ban Võ. Chức Thái úy theo quan chế thời xưa là một trong ba chức quan trọng nhất của Tam Thái: Thái sư, Thái bảo và Thái úy. Thái úy là chức quan đứng đầu hàng võ. Như vậy, cả chính sử và dã sử đều thống nhất nói về một chức quan võ; và người đứng đầu hàng ngũ võ quan trong triều ấy chính là Phạm Tu hay Lý Phục Man; cả hai tên cũng chỉ là một người mà thôi.
Ba là, chính sử chép, Lý Bí đặt trăm quan, lấy Triệu Túc làm Thái phó, Tinh Thiều làm tướng văn, Phạm Tu làm tướng võ. Như thế, trong ba người giữ vai trò chủ chốt nhất giúp Lý Nam Đế trên ba lĩnh vực quan trọng khi mới dựng nghiệp thì chỉ có một vị quan võ là Phạm Tu. Điều này chứng tỏ, Phạm Tu và Lý Phục Man chỉ là tên gọi khác nhau của một người. Cái tên Lý Phục Man được lý giải là do Phạm Tu có công lớn nên được vua ban quốc tính (họ Lý) và danh hiệu là Phục Man; được vua gả công chúa, chọn làm phò mã. Khi Phạm Tu làm quan trấn ải biên cương thì mang tên Đỗ Động tướng quân; và có lẽ cũng từ đó cái “tục danh” Phạm Tu dần lui vào quá khứ. Phục Man tướng quân là tướng giỏi chinh phục quân Man, ở đây là chỉ quân Lâm Ấp và những lực lượng cát cứ chống đối. Chính sử chỉ chép tên Phạm Tu, không nói đến Lý Phục Man. Tên gọi Lý Phục Man chỉ được phản ánh trong dã sử, trong chuyện kể dân gian, trong thần tích, truyền thuyết. Cuốn dã sử Việt điện u linh là thư tịch cổ duy nhất, đầu tiên cho biết những thông tin về Lý Phục Man. Vì Phạm Tu quá lừng danh về tài đức nên được nhân dân ngưỡng mộ, thần thánh hóa, cho hóa thần và ứng nghiệm linh thiêng trong việc phò vua giúp nước những triều đại sau. Nhiều văn bia, thần tích xuất hiện từ sau thế kỷ XVII trờ đi đều căn cứ vào văn bản Việt điện u linh hoặc Đại Việt sử ký toàn thư mà thay đổi chút ít, để biên soạn thần tích cho phù hợp nơi thờ, chỗ dựng bia Thánh Giá thờ phụng Lý Phục Man; Dẫu vậy, hành trạng công tích mà nhân vật lịch sử từ khi còn mang tính danh Phạm Tu cho đến lúc được vua ban tước hiệu Phục Man và họ Lý của vua, gắn liền với các sự kiện đều thống nhất ở một con người, một triều đại Tiền Lý, được người đời tôn vinh.
Bốn là, tuy chính sử không chép về cái chết của Phạm Tu và Lý Phục Man, nhưng truyền thuyết làng Giá và nhiều nơi thờ Lý Phục Man hy sinh trong trận đánh quân Lương ở cửa sông Tô Lịch ngày 20 tháng 7 Ất Sửu (545), thần tích ở làng Thanh Liệt cũng phản ánh cái chết của Phạm Tu như vậy. Đây cũng là sự trùng hợp thú vị để góp phần khẳng định Phạm Tu cũng là Lý Phục Man, hai người chỉ là một. Như thế, danh tướng Phạm Tu hay danh tướng sau khi chết là danh thần Lý Phục Man chỉ cũng là một người.
Tóm lại, vấn đề Phạm Tu và Lý Phục Man là một hay hai người đã được giới sử học nêu ra từ lâu, nhưng do tư liệu quá ít và tản mạn, nên vẫn chưa giải quyết được dứt điểm việc nhận diện Phạm Tu, do vậy cũng đã và đang gặp khó khăn. Bằng phương pháp so sánh, đối chiếu các nguồn sử liệu, phân tích so sánh các ý kiến khác nhau, chúng tôi cho rằng: đã đến lúc chúng ta nên nhìn nhận Phạm Tu và Lý Phục Man là một nhân vật lịch sử. Đó là vị khai quốc công thần triều Tiền Lý, đứng đầu ban Võ của nhà nước Vạn Xuân người có công lớn trong việc hạ thành Long Biên, đuổi quân đô hộ phương Bắc, giải phóng đất nước, lập nên nhà nước Vạn Xuân độc lập người góp công tham mưu cho Lý Nam Đế xây dựng kinh đô ở vùng đất Hà Nội thời tiền Thăng long, xây dựng chiến thành chống ngoại xâm ở cửa sông Tô Lịch; ông cũng là vị anh hùng đầu tiên cầm quân đánh tan giặc Lâm Ấp, giữ yên bờ cõi biên thùy phía Nam và chính ông đã chiến đấu và hy sinh oanh liệt vì sự nghiệp bảo vệ kinh thành, bảo vệ đất nước. Nghiên cứu nhận diện chính xác nhân vật lịch sử Phạm Tu cũng nhằm góp phần tôn vinh công lao và sự nghiệp của người anh hùng vĩ đại này.

Lê Đình Sỹ

Đại tá, PGS, TS, nguyên Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

(1) Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb KHXH, H, 1993, tr. 179.

Theo Tạp chí Lịch sử quân sự số 235 (7/2011) tr. 72-74
Logged
thapbut
Thành viên
*
Bài viết: 158


WWW
« Trả lời #115 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2011, 04:21:51 AM »

Lại bàn về Danh tướng Phạm Tu và Lý Phục Man là một hay hai người?
(phần 1/2)
Mặc dù không là nhà nghiên cứu chuyên về lịch sử, nhưng từ lâu tôi rất quan tâm đến vấn đề đồng nhất Phạm Tu-Lý Phục Man (gọi tắt là vấn đề đồng nhất) mà nhiều nhà nghiên cứu lịch sử đã nhận định: đây là vấn đề sử học nêu ra đã lâu nhưng chưa được giải quyết.
Mới đây, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 235 (tháng 7-2011), trang 72-74, có đăng bài “Danh tướng Phạm Tu và Lý Phục Man là một hay hai người?” của PGS.TS Lê Đình Sỹ (LĐS). “Trân trọng” ý kiến chứng minh không thể đồng nhất hai nhân vật và cho là họ “suy đoán”, tác giả bài viết đưa ra 4 chứng cứ cho rằng “quan niệm Phạm Tu và Lý Phục Man là cùng một nhân vật lịch sử thì hợp lý hơn”. Đã có sự quan tâm tìm hiểu về vấn đề đồng nhất hai nhân vật này, tôi muốn có một số ý kiến trao đổi với tác giả LĐS về những chứng cứ đã nêu.
Trước đây, tác giả LĐS cũng đã biên soạn hai cuốn sách có liên quan đến vấn đề đồng nhất:
Thứ nhất, cuốn “Lịch sử quân sự Việt Nam” tập 2 của Nxb Chính trị Quốc gia in năm 2001, do GS Trần Quốc Vượng và LĐS chủ biên đã không khẳng định việc có thể đồng nhất hai nhân vật: “Phạm Tu và Lý Phục Man là một hay hai người và quan hệ với nhau như thế nào, đấy là một vấn đề được đặt ra từ rất lâu, nhưng chưa đủ cứ liệu khoa học để kết luận”(1). Tuy viết như vậy nhưng chính trong cuốn sách này lại có nhiều chỗ dùng thông tin về Lý Phục Man ở Yên Sở rồi thay tên Phạm Tu. Đơn cử như câu: “Năm 1016, vua Lý Thái Tổ qua bến Cổ Sở, đã sai lập đền thờ và đắp tượng Phạm Tu” (xem phần sau có trích Đại Việt sử ký toàn thư để thấy sự thiếu chính xác của câu này vì trong chính sử viết về Lý Phục Man và không liên quan đến Phạm Tu). Trong tất cả các bài viết, GS Trần Quốc Vượng không đồng nhất 2 nhân vật, nêu rõ ràng và thống nhất: Phạm Tu là lão tướng quê ở Thanh Liệt. Không rõ tại sao trong cuốn sách mà ông chủ biên cùng tác giả LĐS lại có sai sót không đáng có như vậy?
Thứ hai, trong cuốn “Thăng Long-Hà Nội những trang sử vẻ vang chống ngoại xâm” được Nxb Hà Nội ấn hành nhân dịp đại lễ 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội. Trang 48, 49 cuốn sách này có viết về Phạm Tu như sau: ông là lão tướng; người làng Cổ Sở; khi hy sinh thi hài của ông được đưa về bến Hồ Mã và năm 1016, vua Lý Thái Tổ qua bến Cổ Sở, đã sai lập đền thờ và đắp tượng Phạm Tu. Theo biên bản họp nghiệm thu bản thảo cuốn sách này có ghi ý kiến nhận xét của PGS. TS Nguyễn Văn Nhật-Viện trưởng Viện Sử học là: Một số khái niệm cần thống nhất: Lý Phục Man và Phạm Tu là một người hay 2 người,… Đặc biệt, ý kiến kết luận của GS Phan Huy Lê: “Quan điểm về Phạm Tu và Lý Phục Man là 1 người hay 2 người hiện nay chưa thống nhất, tác giả không nên khẳng định.” Vậy nhưng sự bất hợp lý vẫn tồn tại trong cuốn sách đã in.
Để thấy được tính chính xác nội dung tư liệu mà tác giả LĐS khai thác, trong đó phải kể đến chính sử và chúng tôi xin trích các nội dung liên quan cho dễ đối chiếu và tạo thuận lợi khi trình bày các nội dung phân tích tiếp theo:
Cuốn Đại Việt sử ký toàn thư đã ghi: “Quý Hợi, năm thứ 3 (543) (Lương Đại Đồng năm thứ 9). Mùa hạ, tháng 4, vua Lâm ấp cướp quận Nhật Nam, vua sai tướng là Phạm Tu đánh tan ở Cửu Đức.”(2)… Và “Giáp Tý, Thiên Đức năm thứ 1 (544) (Lương Đại Đồng năm thứ 10). Mùa xuân, tháng giêng, vua nhân thắng giặc, tự xưng là Nam Việt Đế, lên ngôi, đặt niên hiệu, lập trăm quan, dựng quốc hiệu là Vạn Xuân, ý mong cho xã tắc truyền đến muôn đời vậy. Dựng điện Vạn Thọ làm nơi triều hội. Lấy Triệu Túc làm Thái phó, bọn Tinh Thiều, Phạm Tu làm tướng văn tướng võ”(3).
Đó là ghi chép về Phạm Tu ở giữa thế kỷ thứ VI. Danh tướng Phạm Tu là nhân vật lịch sử xuất hiện trong sự kiện cụ thể (có không gian, thời gian và địa điểm) với vị trí chỉ huy rõ ràng là đứng đầu quân đội.
Còn về sự xuất hiện của thần Lý Phục Man: trong giấc mộng của Lý Thái Tổ vào năm 1016 cũng được ghi rất cẩn thận ở Đại Việt sử ký toàn thư. Thông tin có thể đã lấy theo ghi chép của quan Ngự sử Lương Văn Nhậm cùng đi với Lý Thái Tổ và được nhà vua kể lại ngay sau giấc mộng: “Đêm ấy, vua chiêm bao thấy có dị nhân đến cúi đầu lạy hai lạy, nói: “Thần là người làng này, họ Lý tên Phục Man, làm tướng giúp Nam Đế, có tiếng là người trung liệt, được giao trông coi hai dải sông núi Đỗ Động và Đường Lâm, bọn Di Lão không dám xâm phạm biên giới, một phương yên bình. Đến khi chết, Thượng đế khen là trung trực, sắc cho giữ chức như cũ. Cho nên phàm giặc Man Di đến cướp đều chống giữ được cả. Nay may được bệ hạ thương đến, biết cho thần giữ chức này đã lâu rồi”. Rồi đó thung dung nói: “Thiên hạ khi mờ tối, trung thần giấu tính danh, giữa trời nhật nguyệt sáng, ai chẳng thấy dáng hình”. Vua thức dậy nói việc ấy với Ngự sử đại phu Lương Văn Nhậm rằng: “Đó là ý thần muốn tạc tượng.” (4)
Từ trong chính sử chúng ta thấy chỉ có điểm chung giữa hai nhân vật này: là võ tướng thời Lý Nam Đế.
Chúng ta cùng tìm hiểu lần lượt các chứng cứ mà tác giả LĐS đã đưa ra trong bài báo nêu trên.
Chứng cứ thứ nhất: Chính sử khi viết về khởi nghĩa Lý Bí không chép về Lý Phục Man mà chỉ chép Phạm Tu được Lý Bôn (Lý Bí) cử đi đánh và phá tan được giặc Lâm Ấp ở Cửu Đức. Còn theo dã sử Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên (thế kỷ XIV), văn bia ở Quán Giá soạn năm Bảo Thái thứ 9 (1728) và nhiều truyền thuyết cho rằng chiến công đánh tan quân Lâm Ấp thuộc về Lý Phục Man. Thời Lý Bí chỉ có một lần đánh Lâm Ấp do đó Phạm Tu chính là Lý Phục Man.
Xem qua chứng cứ này thì thấy rất hợp lý, nhưng xét kỹ để thấy sự chính xác phụ thuộc độ tin cậy của nguồn tư liệu dùng trong chứng cứ đầu tiên.
Trước hết, tài liệu đồng nhất Phạm Tu-Lý Phục Man đáng tin cậy được dựa vào là cuốn dã sử Việt điện u linh, cách nay đã 7 thế kỷ, đã có bản dịch tiếng Việt và tiếng Anh. Có thể nhận ra có nhiều nội dung bản tiếng Việt được người đời sau thêm vào như cuốn Việt điện u linh tập (do dịch giả Lê Hữu Mục toàn biên và viết dẫn nhập tại Huế năm 1959, Khai Trí, Sài Gòn, 1961) có phần đầu viết theo Sử ký của Đỗ Thiên, phần sau có Tiếm bình (nói đến nhân vật Lê Anh Tuấn người làng Thanh Mai, đỗ Tiến sĩ năm Giáp Tuất-1694) và Phụ lục là Sự tích đền thờ thần xã An Sở.
Phần đầu theo Sử ký không nói đến việc Lý Nam Đế cử Lý Phục Man đi đánh Lâm Ấp, việc đánh Lâm Ấp được kể trong Phụ lục, nội dung này được chép theo Đại Việt ngoại sử đối chiếu với văn bia ở Quán Giá năm Bảo Thái thứ 9 khá giống nhau.
Như vậy, các tư liệu dã sử, truyền thuyết về việc Lý Phục Man được cử đánh Lâm Ấp thống nhất theo văn bia năm Bảo Thái thứ 9 có xuất xứ rõ ràng và nay vẫn còn tồn tại. Chúng ta cùng tìm cách trả lời câu hỏi: Có thể đồng nhất nhờ thông tin từ văn bia Quán Giá không?
Theo văn bia Quán Giá
Tư liệu rất quan trọng ở đền thờ của Lý Phục Man là 5 văn bia: Bia thời Vĩnh Tộ (năm 1620), bia thời Cảnh Trị (năm 1670), bia thời Bảo Thái (năm 1728), bia thời Gia Long (năm 1803), bia thời Tự Đức (năm 1855)(5). Không thể tìm ra một chữ nào ở 5 văn bia nêu trên viết về Phạm Tu. PGS. TS Trương Sỹ Hùng đã viết trong Thông báo Hán Nôm năm 2009: “còn năm bài văn khắc Hán Nôm trên bia đá ở Yên Sở và phần lớn các thần tích chỉ nói đến đại từ chung là đại vương hoặc cặp từ vinh danh thần”.
Qua cuốn Văn bia Quán Giá của Nguyễn Bá Hân in năm 1995 ghi nguyên văn và bản dịch văn bia thời Bảo Thái (năm 1728) cho thấy: Trang 173 có đoạn dịch từ đoạn chữ Nho ở trang 152: Nãi tuyên chế sử Tổng Soái chư tướng vãng ngự chi Toại đại phá Lâm Ấp vu Cửu Đức, với nội dung liên quan: “Thần quyền Thống lĩnh các chư tướng đem quân đi đánh. Thần đã đại phá quân Lâm Ấp ở Cửu Đức”(6)
Xem cuối trang 173, đầu trang 174 (dịch từ đoạn chữ Nho ở trang 153: Nãi dĩ kỳ đa phục man di chi công Tứ danh Phục Man Tứ tính Lý Thị Thượng công chúa Siêu thăng Thiếu úy tham nghị mộ phủ Nghị thị bách liêu) có đoạn: … “Vì tướng công đã quét sạch được quân rợ nên nhà vua bèn cho tước hiệu là Phục Man (tức người dẹp yên quân man rợ) cho thần được đổi họ theo nhà vua là họ Lý; lại gả công chúa cho thần và phong làm Thiếu úy tham nghị việc triều chính, đứng đầu các quan…”(7)
Đọc phần dịch nghĩa bia năm Bảo Thái thứ 9 (1728) xuất hiện chú thích đáng lưu ý của ông Nguyễn Bá Hân ở hai trang 173, 174. Qua hai chú thích này có thể thấy ông Nguyễn Bá Hân đã đồng nhất theo quan điểm chủ yếu dựa vào việc Sự tích ghi trên văn bia Quán Giá cho là Lý Phục Man thống lĩnh chư tướng đánh Lâm Ấp, được phong Thái úy, đứng đầu các quan; coi đó là vị trí người đứng đầu Ban Võ như của Phạm Tu đã ghi trong chính sử nên đồng nhất Phạm Tu-Lý Phục Man. Đây cũng là quan điểm đồng nhất của tác giả LĐS trong chứng cứ thứ nhất và thứ hai. Vậy ta phân tích vấn đề này dựa theo chính sử:
Dựa vào Đại Việt sử ký toàn thư, xét nội dung theo văn bia Quán Giá: Lý Phục Man thống lĩnh chư tướng đánh Lâm Ấp, được phong Thái úy.
Qua lời Thần xưng với Lý Thái Tổ: “làm tướng giúp Nam Đế, có tiếng là người trung liệt, được giao trông coi hai dải sông núi Đỗ Động và Đường Lâm”, chúng ta thấy chức vụ cao nhất của Thần khi còn sống là tướng giữ vùng biên cảnh phía Tây (như Tư lệnh quân khu sát biên giới ngày nay) điều này lại được khẳng định: “Đến khi chết, thượng đế khen là trung trực, sắc cho giữ chức như cũ”. Như đã ghi trong chính sử, hoàn toàn không nói đến việc Thần đã làm tướng đánh Lâm Ấp và không đứng đầu quân đội như thống lĩnh chư tướng, không là Thái úy.
Như vậy cả Lý Nam Đế và Thượng đế đều giao cho Tướng quân “trông coi hai dải sông núi Đỗ Động và Đường Lâm”. Bản thân Lý Thái Tổ cũng giao cho Thần vị trí này và được viết rất khéo: “Nay may được bệ hạ thương đến, biết cho thần giữ chức này đã lâu rồi.”
Phạm Tu khi hy sinh (8/545) chắc chắn vẫn là người đứng đầu hàng Võ (phong 2/544) của nhà nước Vạn Xuân. Nếu Lý Phục Man là vị Tướng quân trưởng đứng đầu ban Võ, Tả tướng mà đến cuối lại đi trông coi một vùng biên cảnh phía Tây thì đúng là Tướng quân bị giáng chức. Điều này là phi lý cao độ bởi Thần khi sống “có tiếng là người trung liệt”, thác được “Thượng đế khen là trung trực” không có lý do gì để giáng chức. Ngay cả Lý Thái Tổ cũng vẫn chỉ cho Thần giữ lại chức bị giáng? Như vậy, thì có thể khẳng định khi mất Lý Phục Man hoàn toàn không đứng đầu trăm quan. Không nên ép Lý Phục Man là Phạm Tu nếu không Thần bị “vu khống” một trọng tội với Thượng đế, với Lý Nam Đế và với cả Lý Thái Tổ vì đã giấu diếm tên họ và chức vụ trong khi tứ thơ Ngài đọc rành mạch: “Thiên hạ khi mờ tối, trung thần giấu tính danh, giữa trời nhật nguyệt sáng, ai chẳng thấy dáng hình”. Dễ mắc tội khi quân lắm lắm! Như vậy theo giấc mộng của Lý Thái Tổ ghi trong chính sử, Lý Phục Man là tướng dưới quyền Phạm Tu.
Lịch sử Việt Nam có Phạm Cự Lượng (944-?) là người đầu tiên được phong Thái úy vào năm 986 dưới triều Tiền Lê. Ngay triều trước-thời Đinh Tiên Hoàng, người có vị trí đứng đầu quân đội là Lê Hoàn được gọi là Thập đạo tướng quân.
Như vậy, từ Đại Việt ngoại sử và văn bia Quán Giá không thể lấy việc viết Lý Phục Man đem quân đánh Lâm Ấp được phong Thái úy (có chỗ ghi là Thiếu úy) mà đồng nhất vị tướng này với Phạm Tu. Đồng thời phân tích này cũng làm rõ sự thiếu khoa học ở chứng cứ thứ hai của tác giả LĐS cho rằng theo Việt điện u linh, Lý Phục Man được phong Thái úy, đứng đầu các quan nên đồng nhất với Phạm Tu đứng đầu Ban Võ (Người được ghi trong chính sử).
(còn tiếp)
Phạm Chí Nhân
Thiếu tá, TS, Khoa Kỹ thuật hàng không, Học viện Phòng không-Không quân.
(1) Bộ Quốc phòng-Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử quân sự Việt Nam, tập 2: Đấu tranh giành độc lập tự chủ (từ năm 179 TCN đến năm 938), Nxb CTQG, H, 2001, tr.149
(2), (3), (4) Đại Việt sử ký toàn thư, Bản in nội các quan bản, mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697), tập 1, Nxb VHTT, H, 2000, tr.252; 252; 366.
(5) Với thời gian khoảng nửa thế kỷ lập ra một văn bia. Có 3 văn bia đầu cùng nói về thân thế sự nghiệp của Lý Phục Man, trong đó văn bia năm 1728 là văn bia quan trọng nhất cơ bản giống với hai văn bia trước, sau đó không còn văn bia nào viết tiếp nội dung Sự tích. Văn bia năm 1728 là văn bản đã tổng hợp từ các văn bia và tư liệu liên quan về Lý Phục Man. Văn bản này là kết luận rất thống nhất của các nhà trí thức xưa (các nhà Nho trong đó có nhiều người con làng Giá) về Lý Phục Man.
(6), (7) Nguyễn Bá Hân, Văn bia Quán Giá, Nxb Thế giới, H, 1995, tr.173; 174.
(Cool Theo tiêu đề bài viết về Lý Phục Man của Nguyễn Khắc Đạm trong cuốn Danh nhân quê hương, Ty Văn hóa thông tin Hà Sơn Bình xuất bản năm 1976

Theo Tạp chí Lịch sử quân sự số 237 (9/2011) tr. 64-69
Logged
thapbut
Thành viên
*
Bài viết: 158


WWW
« Trả lời #116 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2011, 04:28:29 AM »

Lại bàn về Danh tướng Phạm Tu và Lý Phục Man là một hay hai người?
(phần 2/2)
Chứng cứ thứ ba: để lý giải Phạm Tu được gọi là Lý Phục Man, tác giả LĐS cho rằng do có công lao lớn nên Phạm Tu là phò mã được ban quốc tính, “tục danh” Phạm Tu dần lui vào quá khứ,…
Như cuốn sách vừa viết năm 2010, tác giả LĐS cũng cho rằng Phạm Tu là “lão tướng”. Chúng ta thấy Phạm Tu đã là “lão tướng” thì không thể là phò mã vì Phạm Tu (476-545) hơn Lý Bí (503-548) đến 27 tuổi, có tuổi ngang với tuổi ông của công chúa. Có thể khẳng định độ tuổi của Phạm Tu như sau:
Độ tuổi của danh tướng Phạm Tu khi tham gia khởi nghĩa Lý Bí
Theo tư liệu Quán Giá thì Tướng quân Lý Phục Man trẻ tuổi (sinh khoảng 505-515), Lý Bí (503-548) khoảng vừa sang tứ tuần đã gả công chúa cho Tướng quân, nên công chúa khoảng hai mươi và Tướng quân chắc chắn trẻ hơn Lý Bí và có thể ngoài ba mươi tuổi. Như vậy, có thể Lý Phục Man ngang tuổi với Triệu Quang Phục (?-571) con đại công thần Triệu Túc.
Trong thời gian từ năm 541 đến đầu năm 545, không đủ thời gian và hoàn cảnh để Lý Phục Man này trở thành vị khai quốc công thần hàng đầu của nhà nước Vạn Xuân. Cùng trang lứa, ngang sức ngang tài thì cả Triệu Quang Phục và Lý Phục Man đều chưa được xếp là khai quốc công thần hàng đầu của Lý Nam Đế.
Chúng ta thấy Phạm Tu trong sử sách đã bước qua thời trai trẻ, trở thành thủ lĩnh có uy tín, đã ngao du kết bạn với hào kiệt nhiều vùng khác nhau như Triệu Túc (cha Triệu Quang Phục). Phạm Tu sẽ là bậc cha chú của Triệu Quang Phục, Lý Phục Man.
Việc kiêng tên húy ở làng Giá
Khắp các làng xã giàu truyền thống của Việt Nam, ở đâu cũng đều kiêng tên húy của vị Thành hoàng làng của mình. Ở làng Giá, kiêng từ Man và thường thay bằng từ Men, Miêng. Việc kiêng tên này là hợp lý khi đối chiếu với chính sử vì Thần (Lý Phục Man) đã xưng rõ ràng: “Thần là người làng này, họ Lý tên Phục Man”.
Thần đã xưng tên Phục Man nên hàng chục thế kỷ trước đây người dân làng Giá đã không khó nhọc tìm kiếm tên húy của Thần. Ở địa phương đã coi tên của Thần và hiệu của Thần là Phục Man. Chúng ta tìm ra tên gọi “Phạm Tông” (được coi là vị thân sinh của Thần) xuất hiện khi nào thì sẽ biết lúc đó có người đã kiếm tìm được tên mới họ Phạm cho Thần.
Nếu cứ coi Phục Man là hiệu của Thần, kiêng tên gọi này chứng tỏ cả ngàn năm ở làng Giá không biết tên thật của Lý Phục Man và tên gọi Phạm Tu quả là xa lạ đối với mảnh đất này!
Nếu Lý Phục Man có tên húy Phạm Tu, tại sao ở làng Giá không kiêng tên Tu? PGS.TS Trương Sỹ Hùng giải thích trong bài “Danh tướng Phạm Tu-Lý Phục Man là một hay hai người” đăng trong Thông báo Hán Nôm học 2009: “Khi Phạm Tu được vua ban quốc tính tức là họ Lý và danh hiệu Phục Man, lại được vua gả công chúa ông trở thành phò mã. Lẽ thường theo “mệnh vua phép nước”, bản thân đương sự là Phạm Tu và “phận con dân” thuộc mọi tầng lớp xã hội, mọi lứa tuổi, mọi thế hệ người đời không thể trái mệnh vua, nên ngay từ lúc sinh thời tục danh Phạm Tu dần lui vào quá khứ”.
Tại làng Giá, tên tuổi Phạm Tu “dần lui vào quá khứ”?
Hãy xác định thời gian tồn tại tên gọi Lý Phục Man vào lúc sinh thời của Ngài: Từ khi khởi nghĩa Lý Bí bắt đầu đến khi Tướng quân hóa thần lâu nhất là 7 năm (541-548). Tạm coi khi đánh xong Lâm Ấp vào mùa Hạ năm 543, Tướng quân được gọi là Lý Phục Man như vậy rút còn 5 năm. Chưa kể nếu coi Tướng quân mất tại chiến thành cửa sông Tô năm 545 thì chỉ còn có khoảng 2 năm. Vậy là tên húy của Tướng quân phải mất rất nhanh chóng, chứ đâu còn “dần lui” như ý kiến tác giả LĐS và PGS. TS Trương Sỹ Hùng còn cho là đã xảy ra “ngay từ lúc sinh thời”. Điều này quá phi lý đối với “người con quang vinh của làng Giá”(Cool.
Ngẫm lại câu: “Trăm năm bia đá thì mòn, Ngàn năm bia miệng hãy còn trơ trơ.” Đúng là: Bia miệng ở làng Giá đã không có thông tin về Phạm Tu làm sao có thể ghi vào bia đá Quán Giá?!
Phạm Tu có được ban Quốc tính không?
Căn cứ vào chính sử theo lời của Thần: “họ Lý tên Phục Man” thì bản thân Ngài nhận mình mang họ Lý. Do đó việc ban quốc tính cũng có thể truyền miệng mà có. Nhưng xét trong Đại Việt sử ký toàn thư thì ở thời Hậu Lý mới thấy nhà vua ban quốc tính cho một số nhân vật tiêu biểu. Với thời Tiền Lý trước đó hơn 5 thế kỷ, không lẽ Lý Nam Đế thiên vị: Ban cho Tả tướng Phạm Tu quốc tính là Lý Tu, mà Trưởng Ban Văn-Tinh Thiều, Thái phó-Triệu Túc không được ban quốc tính?
Chứng cứ thứ tư: Tác giả LĐS cho rằng theo truyền thuyết làng Giá thì Lý Phục Man hy sinh ở cửa sông Tô Lịch ngày 20 tháng 7 Ất Sửu (545) và thần tích Thanh Liệt phản ánh cái chết Phạm Tu như vậy.
Truyền thuyết làng Giá đến đầu thế kỷ XX có viết Lý Phục Man hy sinh ở cửa sông Tô Lịch vào năm 545 không? Công trình “Góp phần nghiên cứu một vị thành hoàng Việt Nam: Lý Phục Man” của GS Nguyễn Văn Huyên công bố năm 1938 có đoạn viết: “Lý Phục Man chỉ là cái tên vua ban. Cả tên lẫn họ đều không phải tên họ của Tướng công lúc ra đời. Được gia ân mang tên họ mới và sau đấy người ta chỉ còn gọi biệt danh đến nỗi tên gốc hoàn toàn biến mất”.
Công trình của GS Nguyễn Văn Huyên là một nghiên cứu đầy đủ sáng tỏ nhất về vị thành hoàng Lý Phục Man và di tích Quán Giá(9). Qua tác phẩm này, cho thấy:
- Lý Phục Man là một nhân vật mang đậm tính truyền thuyết hơn là nhân vật lịch sử.
- Về cái chết của Lý Phục Man cũng không thống nhất(10):
+ Lý Phục Man thua quân Lâm Ấp nên tự sát.
+ Lý Phục Man bị thua ở Khuất Lạo nên tự sát (mất khoảng 546-548).
+ Lý Phục Man bị chém đầu nhưng vẫn cưỡi ngựa về làng.
Cũng cần lưu ý là, không có việc Lý Phục Man hy sinh năm 545 ở chiến thành cửa sông Tô Lịch. Các văn bia, đại tự, câu đối ở Quán Giá không nói lên điều này, mà thường có chữ “thất tải” chỉ giai đoạn 541-548 Lý Phục Man là tướng của Lý Nam Đế đến khi ông mất (năm 548).
Vậy, truyền thuyết về Lý Phục Man sau này như các bản quốc ngữ (nhất là mấy chục năm gần đây) đã có bổ sung cố gắng để cho giống với nhân vật Phạm Tu: cha họ Phạm (Phạm Tông), hy sinh ở cửa sông Tô vào năm 545,... Căn cứ vào những tư liệu này để đồng nhất sẽ thiếu tính thuyết phục về khoa học.
*
Những chứng cứ đồng nhất mà tác giả LĐS đưa ra có quá nhiều điều được coi là cơ sở lại không có sức thuyết phục. Qua các tư liệu đã nghiên cứu cho thấy thần Lý Phục Man trong giấc mộng của Lý Thái Tổ (sau gần 500 năm kể từ khi Phạm Tu mất) không thể là danh tướng Phạm Tu đứng đầu ban Võ của nhà nước Vạn Xuân. Theo thần tích của hai làng: Quê hương của Phạm Tu ở làng Quang (Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội) và thần Lý Phục Man là người làng Giá (Yên Sở, Hoài Đức, Hà Nội), danh tướng Phạm Tu không phải là Lý Phục Man ở làng Giá.
Để bạn đọc có thể tìm hiểu đầy đủ công trình nghiên cứu của tác giả bài viết này, xin trân trọng giới thiệu 2 blog chính bàn về vấn đề này (Blog Họ Phạm, blog Tháp Bút, và các bản sách điện tử-ebook). Về cống hiến của danh tướng Phạm Tu(11) có thể tổng kết thành một số điểm chính sau:
1-Vị khai quốc công thần triều Tiền Lý, đứng đầu Ban Võ nhà nước Vạn Xuân (vị Tổng chỉ huy đầu tiên khi nhà nước Việt có bộ máy chính quyền);
2-Người sinh ra bên bờ sông Tô; ở tuổi 70, đã hy sinh oanh liệt ngay ở chiến thành vùng cửa sông Tô (trên đất hương Long Đỗ cổ);
3-Đánh giặc Bắc: có công lớn trong việc hạ thành Long Biên, giải phóng đất nước, rồi kháng chiến chống quân Lương xâm lược;
4-Đuổi giặc Nam: người Việt Nam đầu tiên cầm quân giữ yên bờ cõi phía Nam;
5-Tham mưu cho Lý Nam Đế lập kinh đô, chiến thành cửa sông Tô ở vùng đất Hà Nội thời tiền Thăng Long;…
Nội dung trên đã được tác giả LĐS khẳng định một lần nữa qua đoạn kết bài báo đã nêu.
Phạm Chí Nhân
Thiếu tá, TS, Khoa Kỹ thuật hàng không, Học viện Phòng không-Không quân.
(9) Mục 6 từ trang 443 đến 619 cuốn Nguyễn Văn Huyên tác phẩm được giải thưởng Hồ Chí Minh-tập 1, Nxb KHXH, Hà Nội, 2003.
(10) Trong các nhân vật lịch sử Việt Nam hy sinh vì nước hiếm có ai lại có chuyện kể về việc lâm chung phức tạp đến thế.
(11) Đã công bố trên Wikipedia tiếng Việt, blog Họ Phạm ngày 9-4-2011; và blog Tháp Bút ngày 16-5-2010 và các bản sách điện tử “Đi tìm cơ sở đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu”.

Theo Tạp chí Lịch sử quân sự số 237 (9/2011) tr. 64-69
Logged
caytrevietnam
Trung tá
*
Bài viết: 471


Trồng sen trong biển lửa


« Trả lời #117 vào lúc: 23 Tháng Tư, 2012, 09:18:34 PM »

Trong một cuốn sách mới nhất, các tác giả cho rằng Lý Phục Man và Phạm Tu là 1, bác thapbut có thể tìm mua để có thêm tư liệu.

Sách tiêu đề là: "Thành Hoàng Làng Lý Phục Man Ở Hà Nội", xuất bản tháng 4/2012

http://www.minhkhai.com.vn/store/index.aspx?q=view&isbn=5102252344941
Logged

SỐNG VỮNG CHÃI 4000 NĂM SỪNG SỮNG
LƯNG ĐEO GƯƠM TAY MỀM MẠI BÚT HOA
thapbut
Thành viên
*
Bài viết: 158


WWW
« Trả lời #118 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2012, 04:40:04 AM »

Cám ơn caytrevietnam.
Một trong 2 tác giả cuốn sách đang đi tặng tác phẩm của mình. Một PGS, TS tôi đã biết qua nguyên chủ tịch Hội sử học Hà Nội, nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc, đến nay nhà HN học đã mất.  Tôi vẫn nhớ buổi gặp ông tưởng là tôi đi tìm cơ sở để muốn ĐỒNG NHẤT, ông cực gay gắt với quan điểm ĐỒNG NHẤT và vị PGS nọ đã bị ăn chửi mặc dù trước đó ông Nguyễn Vinh Phúc "cám ơn" đã được người ta đến tặng sách.
« Sửa lần cuối: 29 Tháng Tư, 2012, 05:00:48 AM gửi bởi thapbut » Logged
thapbut
Thành viên
*
Bài viết: 158


WWW
« Trả lời #119 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2012, 04:58:05 AM »

Mới đây thành viên Wikipedia Viêm mai có bổ sung về Lý Phục Man và làm rõ quan điểm không thể đồng nhất từ tư liệu Thần tích về Lý Phục Man:
http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%BD_Ph%E1%BB%A5c_Man

Lý Phục Man (? - 547), không rõ họ tên thật. Ông là một danh tướng thời Lý Nam Đế ở thế kỷ 6 trong lịch sử Việt Nam. Vì ông có công thu phục được các bộ tộc thiểu số (người Man) vùng Đỗ Động - Đường Lâm (vùng tây bắc nước ta thời Lý Nam Đế) nên được suy tôn là "Phục Man Tướng Quân". Ông cùng với Phạm Tu đánh tan quân Lâm Ấp xâm lược nên đã được vua cho mang họ "Lý") [1]. Ông là người Làng Cổ Sở sau đổi là Làng GIÁ (gồm ba làng: Yên sở, Đắc Sở, Yên Thái thuộc huyện Hoài Đức, Hà Nội ngày nay).Theo Thần Tích tại Quán GIÁ, Ông nổi tiếng là người giỏi võ nghệ, có tài thuần trị được voi. Là một trung thần có nhiều công lao, nên khi mất, ông được nhân dân nhiều nơi tôn thờ làm Thành hoàng làng[2]. Mặc dù vậy, trong các tài liệu chính sử xưa kia không thấy chép về ông. Tên và thần tích của ông xuất hiện trong các tài liệu dã sử như: "Tiền Nam Đế Sự Tích Quốc Âm", Việt điện u linh tập thời Trần; và sau đó được kể lại trong Đại Nam nhất thống chí thời Nhà Nguyễn và trong Thần tích tại đền thờ Ông.

Trong Thần tích Gia Thông Đại Vương xã Yên sở tổng Dương Liễu, tỉnh Hà Đông soạn vào năm Gia Long thứ ba

Trong bản Thần tích này còn ghi lại, cả bản "Tiền Nam Đế sự tích quốc âm" (không ghi tên tác giả), kể: Lý Phục Man vốn người hương Cổ Sở (sau đổi thành Yên Sở). Ngay từ thủa thiếu thời Ngài đã có tư chất anh hùng cái thế, tài nghệ tuyệt vời, cưỡi ngựa bắn cung rất giỏi lại có khả năng thuần trị được voi. Lớn lên theo Lý Nam Đế lập nhiều kỳ công chiến tích, đã trấn trị được cả vùng Đỗ Động – Đường Lâm là nơi xa xôi hiểm trở khó bề cai trị. Ngài đã thao lược binh sỹ , quét sạch đạo tặc khiến dân chúng trong vùng rất mực tôn kính. Khi quân Lâm ấp chiếm Cửu Đức (Hà Tĩnh ngày nay), nhà vua tuyên chế ngài làm tổng soái chư tướng đi đánh dẹp, chỉ trong một trận ngài đã phá được quân Lâm Ấp. Tin thắng trận truyền về , nhà vua đã khen Ngài “ Thực là bậc hào kiệt của Sơn Tây, cho nên không thể không trọng thưởng”. Bèn triệu Phục Man về biểu dương công lao rồi ban cho Phục Man mang họ Lý và gả con gái cho, sau lại thăng lên hàm Thiếu úy và hết lòng sủng ái Ngài. Vua Nam Đế rất chú tâm vào việc biên cương nên sai Lý Phục Man đi trấn giữ vùng biên cương Cửu Đức. Năm Ất sửu niên hiệu Thiên Đức thứ 2 (năm 545), nhà Lương sai Trần Bá Tiên sang xâm lược Vạn Xuân. Quân của Lý Nam Đế bị thua ở Chu Diên (Đan Phượng ngày nay) và Gia Ninh( Việt Trì- Phú Thọ) lão tướng Phạm Tu cùng với Tinh Thiều bị tử trận, khiến vua Lý Nam Đế phải chạy vào động Khuất Liêu (Thanh Sơn , Phú Thọ ngày nay). Lý Phục Man nghe tin bèn sai gia nhân củng cố doanh đồn nơi trọng yếu ý định sẽ chia quân ra bắc. Nhưng đã bị quân Lâm ấp( Chiêm Thành) bất ngờ tấn công vào giữa đêm khuya. Trước tình hình ấy, Ngài cùng gia tướng đột phá vòng vây, quân địch thừa thắng truy đuổi ráo riết. Vừa thiếu lương thực lại vừa không có viện binh, cùng kế Ngài đã tự sát để khỏi rơi vào tay giặc. Các gia tướng đã đưa thi hài ông về quê hương Cổ Sở (Yên Sở ngày nay) an táng cạnh hồ Mã Tân ven sông. Dân làng thương tiếc đã lập đền thờ, tôn Lý Phục Man làm Thành hoàng làng. Các truyền thuyết về ông từ thời Lý Thái Tổ về sau cũng giống như trong Việt Điện U Linh Tập.

Các quan điểm khác nhau về Lý Phục Man

Theo công trình nghiên cứu về Lý Phục Man của GS. Nguyễn Văn Huyên, thì trong các sử cũ (như Đại Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Việt Nam sử lược) không có dòng nào biên chép về Lý Phục Man. Thông tin chủ yếu về ông có trong Việt điện u linh tập và Đại Nam nhất thống chí đều dựa vào truyền thuyết dân gian. Song so với truyền thuyết dân gian ở làng Yên Sở (nơi được xem là quê hương của Lý Phục Man) có mấy điểm, mà trong hai sách không chép, hoặc nói chưa rõ đó là:
Lý Phục Man đã đượcLý Nam Đế gả con gái là Lý nương công chúa làm vợ. Hiện nay, vị công chúa này cũng được thờ trong đình Yên Sở (còn gọi là Quán Giá), ở bên trái ông [4].
Mộ thần Lý Phục Man, tương truyền nằm ở cạnh đầm sen rộng khoảng 2 đến 3 sào, ở giữa vạt rừng, đằng sau đình Yên Sở.[5].
Lý Phục Man được Vua Lý Nam Đế cử đi đánh quân Lâm Ấp. Sau khi đánh tan, ông nhận lệnh ở lại giữ biên cương. khi nghe tin quân của triều đình thất thủ, Lý Phục Man có ý định kéo quân ra bắc chi viện . Song quân Lâm Ấp đã bất ngờ tấn công bao vây doanh trại trong đêm, Ông đã hy sinh trong trận này. Như vậy, theo truyền thuyết, Lý Phục Man mất trong khi Lý Nam đế phải rút vào cố thủ ở động Khuất Liêu (Tam nông, Thanh Thủy thuộc Phú Thọ ngày nay), và trước khi Triệu Quang Phục lên ngôi, tức trong khoảng năm 547 [6].
Cuộc đời ông chỉ còn được lưu lại chủ yếu trong truyền thuyết nên đã được thêu dệt ít nhiều.
Một số người cho rằng ông chính là danh tướng Phạm Tu, song những điều ghi chép trong bản Thần tích Gia Thông Đại Vương (phần Tiền Nam Đế sự tích quốc âm) cho thấy Lý Phục Man không phải là Phạm Tu.
Trong sách Lịch sử Việt Nam (tập I), do Phan Huy Lê-Trần Quốc Vượng-Hà Văn Tấn và Lương Ninh cùng biên soạn, sau khi giới thiệu Lý Phục Man là một vị "tướng quân coi giữ một miền biên cảnh, trong một triều đình hẳn còn sơ sài, có Tinh Thiều làm tướng văn, Phạm Tu làm tướng võ"... các tác giả cũng đã kèm theo lời chú thích rằng: "Phạm Tu và Lý Phục Man là một hay hai người, và quan hệ với nhau như thế nào, đấy là một vấn đề đã được đặt ra từ rất lâu, nhưng chưa đủ cứ liệu khoa học để kết luận" [7].

Chú thích

1. Theo Thần tích Gia Thông Đại Vương.
2. Theo thống kê của GS. Nguyễn Văn Huyên, thì ở châu thổ Bắc Bộ có 20 làng thờ Lý Phục Man làm Thành hoàng (tr. 463).
3. Dẫn lại theo GS. Nguyễn Văn Huyên (tr. 465-466). Những chữ trong ngoặc là của người soạn đề mục này. Thông tin thêm: Theo tấm bia ghi tiểu sử thần Lý Phục Nam, được khắc năm thứ 3 đời Bảo Thái nhà Lê (1728), hiện có ở đình Yên Sở, thì gần như đời vua nào ông cũng được gia phong, hoặc ban thêm mỹ hiệu, vì “thường tỏ ra linh ứng”.
4. Sau này trong đình Yên Sở, người ta lại thờ thêm một nữ thần nữa, tên là Á Nương, và xem vị này là vợ thứ hai của Lý Phục Man. Theo lời kể, thì người đàn bà này họ Trần, vốn là một cô đầu thời Nguyễn sơ. Một hôm, bà đến dự hội làng Yên Sở thì đột nhiên biến mất, chỉ để lại quần áo trên "gò đuổi cầy". Ít lâu sau, trong làng có nhiều người chết. Nghe lời các thầy bói, dân làng thờ Á Nương ở bên phải Thần hoàng Lý Phục Man, từ đó thôn xóm được yên (lược theo GS. Nguyễn Văn Huyên, tr. 471-472).
5. Thần tích Gia Thông Đại Vương xã Yên Sở, tổng Dương Liễu , tỉnh Hà Đông trang 8- tài liệu lưu trữ tại Viện Hán Nôm ký hiệu AE.a2/9.
6. Thần tích Gia Thông Đại Vương trang 8- văn bản ký hiệu AE.a2/9, Viện Hán Nôm.
7. Trích trong Lịch sử Việt Nam (tập I, tr. 400). Thông tin thêm: Theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (do Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Doãn biên soạn. Nxb Giáo dục in năm 2006) thì Lý Phục Man và Phạm Tu là hai người khác nhau. Các ông viết: “Lý Phục Man (? - 545) [một số tài liệu cho rằng Lý Phục Man mất năm 548]...Quân Lâm Ấp quấy phá biên giới, ông cùng Phạm Tu đánh lui,...ông có công khuất phục các thủ lĩnh dân tộc ít người trong vùng nên nhân đó vua Lý ban cho hiệu là Phục Man ...”
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM