Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 18 Tháng Tám, 2017, 03:24:36 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Thăm dò
Câu hỏi: Có đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu được không? (Trân trọng cám ơn các thành viên đã tham gia bỏ phiếu)
Chưa đủ cơ sở để đồng nhất - 7 (58.3%)
Có cơ sở khoa học để đồng nhất - 0 (0%)
Không có cơ sở để đồng nhất - 5 (41.7%)
Tổng số phiếu: 12

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Về việc đồng nhất Phạm Tu và Lý Phục Man  (Đọc 47374 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
ancakho
Thành viên
*
Bài viết: 281


« Trả lời #100 vào lúc: 13 Tháng Mười Một, 2010, 04:53:19 PM »

Bác cho em hỏi hơi tò mò một chút!

Bà họ Ng. liên quan thế nào với họ Pham ạ?
Logged

”˙ıɐ uầɹʇ ɯốnɥu ểđ ớɥɔ' ʇénb ıùɥɔ ɯăɥɔ ờıƃ ờıƃ' ƃuás ƃuơưƃ ıàđ ưɥu ɯâʇ' ềđ ồq ıộɔ àl uâɥʇ“
thapbut
Thành viên
*
Bài viết: 158


WWW
« Trả lời #101 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2010, 12:07:03 AM »

http://www.youtube.com/watch?v=bZHVZ0x2Jb0&feature=player_embedded#at=111

Trích một vài ý kiến của các nhà khoa học tại hội thảo khoa học về Danh tướng Phạm Tu (476-545) đã hơn 12 năm trôi qua.
Logged
ancakho
Thành viên
*
Bài viết: 281


« Trả lời #102 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2010, 06:24:05 AM »

Sau thời gian đọc quá nhiều bài viết của bác về Phạm Tu và Lý Phục Man, em đồng ý với bác đó là 2 người không nên đánh đồng làm một. Cũng như không nên đánh đồng tất cả người họ Phạm tại VN đều từ một ông mà ra ... ít nhất cũng phải từ hai người.
Logged

”˙ıɐ uầɹʇ ɯốnɥu ểđ ớɥɔ' ʇénb ıùɥɔ ɯăɥɔ ờıƃ ờıƃ' ƃuás ƃuơưƃ ıàđ ưɥu ɯâʇ' ềđ ồq ıộɔ àl uâɥʇ“
thapbut
Thành viên
*
Bài viết: 158


WWW
« Trả lời #103 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2010, 09:05:43 AM »

Cám ơn sự quan tâm theo dõi của quý vị.
Phạm Tu tạo nên một dòng họ Phạm lớn ở VN. Hiện nay chắc chắn có nhiều dòng họ Phạm không cùng huyết thống từ Phạm Tu.

Việt Nam có 6 dân tộc có người mang Họ Phạm:

    * - 1 / 165 họ của người Kinh,
    * - 1 / 11 họ của người Mường,
    * - 1 / 11 họ của người Tày,
    * - 1 / 172 họ của người Việt gốc Hoa,
    * - 1 / 49 họ của người Việt gốc Khmer.
    * Dân tộc Thái có người họ Phạm vốn là họ Khằm/Cầm chuyển sang

Trong các dân tộc ít người khác của Việt Nam, như dân tộc Chăm, tuyệt nhiên không có người nào họ Phạm.

Họ Phạm ở Việt Nam là một trong những dòng họ tương đối lớn (ước tính trên 5 triệu người) nhưng chưa một lần có người làm Vua; nhiều người họ Phạm là "Lương đống của xã tắc"

Nhân vật lịch sử họ Phạm đầu tiên trong chính sử là Danh tướng Phạm Tu - khai quốc công thần triều Tiền Lý, đã có công: đánh đuổi quân Lương (542), đánh tan quân xâm lấn Lâm Ấp(543), dựng Nhà nước Vạn Xuân (544)

Theo các bản Thần phả, Thần tích sự xuất hiện các vị họ Phạm sớm hơn, như :

    * - Nam Hải Đại Vương Phạm Hải , và ba anh em Phạm Vĩnh (Trấn Tây An Tam Kỳ Linh ứng Thái Thượng đẳng Thần) thế kỷ III trước CN, giúp Vua Hùng thứ 18 đánh Thục
    * - Tướng quân Phạm Gia - tướng của An Dương Vương, 208 trước CN lui quân về vùng Hoài Đức
    * - Phạm Danh Hương chồng của Bát Nạn nữ tướng quân (thời Hai Bà Trưng)

Họ Phạm ở Việt Nam có thể có hai nguồn gốc chính: từ cộng đồng tộc Việt trong Bách Việt của nước Văn Lang, Âu Lạc xưa, từ nguồn gốc ở các tỉnh miền Nam Trung quốc di cư sang và được Việt hoá. Ngoài ra còn có họ Phạm từ các dòng họ khác đổi sang như họ Mạc,...

Các dòng họ Phạm - Việt Nam không có một ông tổ duy nhất. Do vậy, BLL họ Phạm Việt Nam đề nghị suy tôn Đô Hồ Đại vương Phạm Tu là một trong các Thượng Thuỷ tổ họ Phạm Việt Nam. Ông là nhân vật lịch sử đầu tiên của dòng họ Phạm có công lao đối đất nước đã được ghi vào sử sách. Chúng ta cũng không quên công lao các vị đã sinh thành dưỡng dục Thượng thủy tổ. Tại miếu Vực có thờ hai vị thân sinh và Đô Hồ Đại vương.

Họ Phạm Việt Nam có sự chuyển cư rất mạnh lan tỏa trong vùng châu thổ sông Hồng, rồi vào Ái Châu (Thanh Hoá). Từ Thanh Hoá lại có sự chuyển cư trở lại vùng Sơn Nam Hạ (ngày nay là các tỉnh Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình) và vào miền Nam Trung bộ (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, ... mạnh nhất là vào thời Lê (thế kỷ thứ XV).

Đặc biệt trong thời đại hội nhập quốc tế, người họ Phạm định cư ở nhiều nước trên thế giới

Tháp Bút
http://hopham.blogspot.com/
Logged
thapbut
Thành viên
*
Bài viết: 158


WWW
« Trả lời #104 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2010, 12:23:30 AM »

Sau đây là một tư liệu sưu tầm ngày 12/11/2010 tại Thư viện Quốc gia gồm 3 bài báo xưa liên quan đến vấn đề đồng nhất đã được đăng tải các nay gần 30 năm, ngay sau khi chính thức xuất hiện việc đồng nhất những năm 1980 vào khoảng thời gian có đoàn các nhà sử học đi khảo sát hai địa phương liên quan.

1.   “Phạm Tu với nhà nước Vạn Xuân” của Đàm Hưng đăng trên báo Hà Nội mới ngày 11/9/1983.
2.   “Lý Phục Man có phải là Phạm Tu hay không?” của Nguyễn Khắc Đạm đăng trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 6-1983.
3.   “Kẻ Giá – Một làng chiến đấu truyền thống tiêu biểu và người anh hùng Lý Phục Man” của Phan Huy Lê đăng trên tạp chí Dân tộc học số 46, 2-1985
Logged
thapbut
Thành viên
*
Bài viết: 158


WWW
« Trả lời #105 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2010, 12:29:08 AM »

Phạm Tu với nhà nước Vạn Xuân

Đại Việt sử ký toàn thư có chép vài nét về tướng Phạm Tu, một trung thần có nhiều võ công vào hàng bậc nhất của Lý Nam Đế trong cuộc đánh đuổi quân đô hộ nhà Lương và sự nghiệp bảo vệ đất nước ở thập kỷ thứ 5 của thế kỷ thứ 6.
Qua thần phả, sắc phong, được biết thêm một phần về ông. Phạm Tu còn gọi là Phạm Đô Tu (vì ông đã dự nhiều cuộc đấu vật lúc trẻ) sinh ngày 20 tháng 3 năm 486 (Bính Thìn) tại xã Quang Liệt (nay là Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội) đồng hương với chí sĩ Chu Văn An.
Ở Thanh Liệt hiện nay còn đền thờ Phạm Tu, đền xây từ lâu được trùng tu trong thời Tự Đức, kiến trúc trên đầu con “rồng đất” bên bờ đầm Thanh Đàm, nghiêm trang, cổ kính: xung quanh có tường gạch, nhiều cổ thụ. Trong đền có các bài vị, hoành phi, phù điêu, bộ áo mũ giáp phỏng chế lại từ triều Lê.
Sắc phong cho Phạm Tu còn giữ lại từ năm Cảnh Hưng thập tứ (1753), dưới triều vua Cảnh Thịnh thời Tây Sơn (1793) và một số sắc phong của triều Nguyễn sau này. Trong các sắc phong, chép công lao với các mỹ từ ngợi ca ông là một vị tướng trí dũng, tận tụy với nước như: “Hộ quốc tế dân” (giúp nước cứu dân), “Anh uy vĩ độ” (anh hùng hào kiệt) v.v. Trong thần phả còn chép về công lao của ông với Nhà nước Vạn Xuân.
Ngay từ năm 541 (Tân Dậu), Phạm Tu không chịu nổi ách đô hộ tàn bạo nhà Lương, đã tập hợp trai tráng trong xã chống lại. Vì thế tại đình Thanh Liệt ngày nay, còn bức hoành phi ghi năm chữ “Thanh Liệt xã nghĩa dân”. Sang năm Nhâm Tuất (542), cuộc khởi nghĩa toàn dân do Lý Bí lãnh đạo nổ ra, Phạm Tu liền đem số quân vừa chiêu tập được sát nhập vào nghĩa quan Lý Bí. Không đầy ba tháng, vào mùa xuân năm 542, với khí thế nổi dậy, bốn phương quy tụ như mây hợp, nghĩa quân cùng nhân dân đã quét sạch bè lũ nhà Lương đô hộ. Phạm Tu được giao trọng trách cầm quân tiên phong đánh chiếm thành Long Biên trị sở của bọn đô hộ trên đất nước ta. Tên thứ sử Tiêu Tư gian ác phải tháo chạy về nước. Ngay năm đó nhà Lương phái một đạo quân sang đánh báo thù, nhưng vừa tới biên ải, chúng đã bị quân ta đánh bại. Đất nước ta hồi đó từ Châu Giao đến Châu Đức được giải phóng (miền Bắc ngày nay, từ biên giới phía Bắc đến đèo Ngang).
Năm 543 (Quý Hợi) nhà lương lại tổ chức một cuộc phản kích lần thứ 2. Lý Bí cùng Phạm Tu chỉ huy nghĩa quân chặn đánh quân giặc ngay từ biên giới phía bắc. Một trận tiêu diệt chiến lớn diễn ra ở biên ải Hợp Phố (lúc ấy thuộc Châu Giao). Theo sử cũ, quân lương mười phần chết sáu, số còn lại tan rã. Tướng giặc là Tôn Quýnh và Lư Tử Hùng do thua trận đã bị vua Lương bắt tự tử (Đại Việt sử ký toàn thư).
Sang mùa hạ năm sau (543) vua Lâm Ấp đem quân ra cướp Nhật Nam (vùng Hà Tĩnh). Một lần nữa Phạm Tu lại đem quân lên đường dẹp giặc. Quân Lâm Ấp bị đánh bại, gọng kìm phía nam bị bẻ gãy. Tháng giêng năm Giáp Tí (544), nhà nước Vạn Xuân được thành lập, Lý Bí tự xưng là Nam Đế. Phạm Tu được cử làm tướng võ trông coi binh quyền.
Trong sự nghiệp xây dựng đất nước, Phạm Tu là người có công nhiều trong việc trấn trị các lực lượng chưa thuần phục, mang tính chất cát cứ. Vì thế ông được Lý Nam đế phong chức Phục Man tướng quân và cho đổi họ. Vì thế nhân dân còn gọi Phạm Tu là Lý Phục Man.
Tuy cả hai lần trước đã thất bại, ỷ vào thế quân đông, với thói tham bành trướng, nhà Lương lại cử Trần Bá Tiên đem thủy quân sang đánh Nhà nước vạn Xuân non trẻ. Lý Nam Đế cùng Phạm Tu đem 30 nghìn quân bày trận chống lại ở Chu Diên (Hải Hưng). Sau một trận kịch chiến, quân của Phạm Tu bị thua, phải lui về giữ ở sông Tô Lịch (phía tây Hà Nội, khu vực Thụy Khuê-Bưởi). Một trận huyết chiến lớn diễn ra ở đó. Bị một mũi tên bắn lén, Phạm Tu đã hy sinh bên dòng sông Tô, chính ở nơi ông đã sinh ra. Hôm đó là ngày 20-7-545 (Ất Sửu).
Phạm Tu đã đứng lên tụ họp nhân dân chống giặc từ buổi đầu, đã tham gia bắc phạt, nam chinh suốt đời vì nước quên thân, làm tròn trách nhiệm của cháu con vua Hùng giữ nước, để lại niềm tự hào cho con cháu đời sau.
Đàm Hưng
(Báo Hà Nội mới trang 2 ngày 11/9/1983)

TB: màu đỏ lưu ý kiểm tra tính chính xác.
Logged
thapbut
Thành viên
*
Bài viết: 158


WWW
« Trả lời #106 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2010, 01:21:28 AM »

Lý Phục Man có phải là Phạm Tu hay không?

Gần đây, trên báo Hà Nội mới số chủ nhật 11-9-1983 trong bài: “Tướng Phạm Tu với nhà nước Vạn Xuân” tại trang 2, sau khi nêu lai lịch và chiến công của Phạm Tu, viên tướng giỏi của Lý Nam Đế, ông Đàm Hưng viết:
“Trong sự nghiệp xây dựng đất nước, Phạm Tu là người có công nhiều trong việc trấn trị các lực lượng chưa thuần phục, mang tính chất cát cứ. Vì thế ông được Lý Nam đế phong chức Phục Man tướng quân và cho đổi họ. Vì thế nhân dân còn gọi Phạm Tu là Lý Phục Man.”
Để xác định Phạm Tu có phải là Lý Phục Man hay không, chúng ta không thể không căn cứ vào nhiều nguồn tư liệu khác nhau, đặc biệt là vào những thư tịch cổ đời xưa để lại.
Trong bộ Đại Việt sử ký toàn thư chúng ta thấy chép trong kỷ nhà Tiền Lý:
“Quý Hợi...(543)... mùa hạ, tháng 4, vua Lâm Ấp cướp quận Nhật Nam, vua sai tướng là Phạm Tu đánh tan ở quận Cửu Đức”.
“Giáp Tý...(544)... vua nhân đánh được giặc, tự xưng là Nam Việt đế, lên ngôi... lấy Triệu Túc làm thái phó, bọn Tinh Thiều, Phạm Tu đều làm tướng văn và tướng võ(1).”
Đến kỷ nhà Lý, chúng ta lại thấy chép việc Lý Thái Tổ đến bến đò Cổ Sở và nằm mê thấy Lý Phục Man cũng như việc quân xâm lược Nguyên Mông đời Trần khi đến Cổ Sở đều bị đánh bại(2).
Như vậy bộ thống sử cổ nhất xuất hiện từ nửa cuối thế kỷ XV mà chúng ta còn giữ lại được đến ngày nay đã chép rõ rệt Phạm Tu và Lý Phục Man là hai người khác nhau.
Cuốn Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên, một trong những tập truyện cổ nhất, xuất hiện vào nửa đầu thế kỷ XIV cũng viết về Lý Phục Man và Phạm tu là hai người khác nhau. Trong truyện: “Chứng an minh ứng hiệu Quốc công” Lý Tế Xuyên cho rằng, theo tập Ngoại sử ký của Đỗ Thiện, một tác phẩm xuất hiện từ thế kỷ XII, thì Lý Phục Man là tướng của Lý Nam Đế, có công đánh đuổi được giặc Chiêm Thành ở trấn Giáp Sơn (vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh ngày nay) và khi chết được nhân dân Yên Sở lập đền thờ. Lý Tế Xuyên cũng cho biết Lý Phục Man được vua cho trấn giữ đất Đỗ Động, Đường Lâm (ứng với địa phận các huyện Phúc Thọ, Quốc Oai, Thanh Oai ngày nay), và trong hai cuộc chiến tranh giữ nước chống quân xâm lược Nguyên – Mông trên đất nước ta năm 1257 và 1287, xã Yên Sở (có tên là Cổ Sở đời Trần), quê hương của Lý Phục Man, đều lập được chiến công oanh liệt, tiêu diệt được nhiều quân giặc khiến cho chúng không xâm phạm được tới làng. Đến truyện: “Triệu Việt Vương và Lý Nam Đế”, Lý Tế Xuyên lại cho biết Lý Bôn có sai tướng là Phạm Tu đánh giặc ở Cửu Đức.
Có điều là, trong bản dịch Việt điện u linh, dịch giả Trần Đình Rư có đưa thêm bản phụ chép sự tích thần Yên Sở, lấy ra từ cuốn Đại Việt ngoại sử, nên chúng ta được biết Phục Man còn được Lý Nam Đế phong làm đại tướng và vì Lý Phục Man có công phá được giặc Lâm Ấp ở quận Cửu Đức (Thanh - Nghệ - Tĩnh ngày nay) nên được nhà vua gả cho công chúa Lý Nương và tặng thê chức thái úy, đứng đầu các quan. Hẳn tư liệu Lý Phục Man đứng đầu các quan và đánh thắng quân Chiêm Thành phù hợp với tài liệu của Đại Việt sử ký toàn thư nói Phạm Tu đứng đầu các quan võ và cũng đánh thắng quân Chiêm Thành đã khiến cho ông Đàm Hưng đồng nhất Phạm Tu với Lý Phục Man. Nhưng chính bản phụ chép sự tích thần Yên Sở này còn cho biết sau khi Lý Nam Đế chết năm 547, thì Lý Phục Man bị man binh đánh úp rồi bị bị giặc đuổi gấp nên đã phải quyên sinh. Thế mà theo nhà sử học Nguyễn Lương Bích trong cuốn Những người trẻ làm nên lịch sử (NXB Thanh niên, Hà Nội 1974, tr. 152-169) thì căn cứ vào thần phả, Phạm Tu lại là người xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, tham gia khởi nghĩa cùng Lý Bí năm 541, khi 65 tuổi đánh thắng giặc Lâm Ấp ở quận Cửu Đức năm 543 khi 67 tuổi và chết năm 545 khi 69 tuổi. Tư liệu quan trọng này về Phạm Tu khiến cho người ta không thể đồng nhất được Lý Phục Man với Phạm Tu. Vì Lý Phục Man quê ở xã Yên Sở, huyện Đan Phượng, còn Phạm Tu thì quê ở xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, khi tham gia khởi nghĩa với Lý Bí, Lý Phục Man mới còn là một người trẻ tuổi, còn Phạm Tu thì đã là một người già. Cũng vì thế mà Lý Phục Man sau khi thắng Chiêm Thành mới được Lý Nam Đế gả công chúa cho, còn Phạm Tu với cái tuổi 67 kh thắng giặc Chiêm thì hẳn không thể nào còn được vua gả con gái cho nữa. Phạm Tu lại chết năm 545, khi Lý Nam Đế còn sống, còn Lý Phục Man lại chết sau khi Lý Nam Đế băng hà năm 547.
Bộ Đại Nam nhất thống chí, tập IV (NXB khoa học xã hội, Hà Nội, 1971, tr. 226) cũng cho biết thần xã Yên Sở, huyện Đan Phượng là Lý Phục Man, vì lập được nhiều chiến công nên được nhà vua cho tên là Phục Man và cho quốc tính là Lý, lại thăng lên chức thiếu úy (chứ không phải là thái úy, hàm ngang với chức tể tướng đầu triều như cuốn Đại Việt ngoại sử nói). Nhưng khác với bản phụ chép về Lý Phục Man, trong bản dịch Việt điện u linh, bộ Đại Nam nhất thống chí lại nói Lý Phục Man bị người Chiêm Thành đánh bại nên tự tử. Ngoài sự kiện Lý Thái Tổ đến bến Cổ Sở (tức Yên Sở, Cổ Sở là tên cũ của xã Yên Sở) nằm mơ thấy Lý Phục Man nên cho lập đền và tô tượng theo hình dáng người trong mộng cũng như hàng năm tế tự, bộ Đại Nam nhất thống chí còn cho biết việc vua Trần Thái Tôn đi tuần du, nghỉ ở bến Cổ Sở lại nằm mơ thấy Lý Phục Man nên đã sai sửa lại đền và gia phong.
Trong tập Tiền Lý Nam Đế sự tích quốc âm của Phượng Thành dã sĩ viết năm Gia Long thứ hai (1803), bản chép tay do ông Nguyễn Bá Hân người làng Yên Sở sưu tầm được trong vùng, đoạn:
“Mưu trong đành cậy Tinh Thiều
Lầu thông quốc kế quyết liều dặm xa
Chống ngoài Phục Man, Phạm Tu
Những tài bá nghiệp vương đồ trên tay”
Khiến cho người ta có thể tưởng Phục Man là Phạm Tu. Nhưng đoạn khác ở phía dười kể về việc đánh Chiêm Thành lại viết:
“Phạm Tu vâng mệnh binh ban
Đem quân tiến hiển phá tan một giờ
Chông chênh mặt ấy khôn lo
Cửa trùng chọn kẻ xứng vừa phân ly
Ngọc ân hoán phải luân ty
Sai quan thiếu úy trước thì Phục Man.”
Đoạn sau rõ ràng nói tới hai việc: việc bình Chiêm toàn thắng của Phạm Tu và việc người đi trấn giữ nơi phên dậu của đất nước Vạn Xuân là quan thiếu úy Phục Man. Mà đất phên dậu của nước Vạn Xuân thời này phải gồm có nhiều vùng và đất Đỗ Động, Đường Lâm được Lý Phục Man trấn giữ là một trong các vùng ấy. Đọc được đoạn sau, chúng ta có thể dễ dàng bổ sung dấu phẩy, cái dấu mà đời xưa chưa biết sử dụng, và chúng ta có thể thấy rằng trong đoạn trên tác giả Tiền Lý Nam Đế sự tích quốc âm cũng định viết Phục Man và Phạm Tu là hai người khác nhau chứ không phải một.
Điểm lại nội dung các thư tịch cổ, chúng ta rõ ràng thấy rằng, không có một thư tịch nào nói Lý Phục Man là Phạm tu. Có điều là tư liệu ở Đại Việt sử ký toàn thư nói Phạm Tu đứng đầu các quan võ, lại từng đánh thắng Chiêm Thành có phần nào trùng hợp với tư liệu ở Đại Việt ngoại sử nói Lý Phục Man vì có công đánh Chiêm Thàh nên được Lý Nam Đế thăng chức thái úy, đứng đầu các quan nên khiến người ta có thể có khuynh hướng đồng nhất hai người là một. Nhưng tất cả các tư liệu khác đều thấy rõ Lý Phục Man và Phạm Tu là hai người khác nhau với quê quán khác nhau, tuổi tác và ngày chết khác nhau. Nếu theo cấp bậc quân đội hiện nay thì chúng ta có thể ví Phạm Tu với đại tướng tổng tư lệnh và Lý Phục Man với cấp chỉ huy sư đoàn hoặc quân đoàn. Việc Lý Phục Man được cử đi trấn trị đất Đỗ Động – Đường Lâm cũng cho thấy rõ ông khác với Phạm Tu vị đứng đầu các quan võ nên phải ở trong triều để chỉ huy toàn quân. Tổng hợp tất cả các nguồn tư liệu, kể cả những tư liệu thư tịch, tư liệu truyền thuyết và thực tế địa phương, chúng ta có thể xác định được Lý Phục Man là người võ nghệ cao cường, cưỡi ngựa, bắn cung đều giỏi, “có sức trị được voi”, còn trai trẻ đã tham gia khởi nghĩa cùng Lý Bí và đã lập được nhiều chiến công đánh quân nhà Lương và nhất là quân Chiêm Thành, nên được Lý Nam Đế ban tước hiệu là Lý Phục Man, cho quốc tính là Lý, gả con gái cho, cử đi giữ đất Đường Lâm, Đỗ Động. Sau khi Lý Nam Đế chết năm 547, trong một trận bị man binh tập kích Lý Phục Man đã bị thua chạy, phải quyên sinh rồi được chôn ở bãi sông làng Yên Sở (Tư liệu của Đại Nam nhất thống chí cho rằng Lý Phục Man bị người Chiêm Thành đánh bại nên tự tử không phù hợp với viên đá lớn ở cánh đồng Yên Sở với dấu chân ngựa và đầu ông, nên không thể đứng vững được). Người ta không rõ tên thực của ông là gì, chắc vì cái tên Lý Phục Man được Lý Nam Đế ban cho ông, được người ta quen dùng đến mức tới thời có sắc thần vua phong thì người ta đã không còn biết tên cũ của ông là gì nữa.
Dân làng Yên Sở từ ngàn xưa đã rất quý trọng con người anh hùng của mình nên đãlập đền thờ ông sau khi chết. Hẳn cũng vì thế nên mấy trăm năm sau, Lý Thái Tổ nhân khi đi tuần du nghỉ ở bến làng Yên Sở (xưa có tên là bến Hồ Mã) mới tham quan đền, hỏi han dân chúng sự tích thần nên mới cảm kích và nằm mơ thấy thần và đã cho tạo tượng cũng như lập đền thờ mới hẳn là to đẹp hơn đền thờ cũ. Rồi, hẳn vì sự tồn tại của ngôi đền thờ to đẹp này mà mấy trăm năm sau, Trần Thái Tôn khi đi tuần du qua đây cũng đến tham quan đền, cũng nằm mơ thấy thần và cho sửa lại đền. Và với sự đặc biệt chăm sóc của hai vị vua sáng lập ra triều Lý và triều Trần này, cũng như với các biện pháp khác như các nhà vua bớt thuế cũng như lực dịch cho dân làng Yên Sở, nên dân làng mới có điều kiện hàng năm tổ chức tế thần một cách linh đình và mới có điều kiện xây dựng một ngôi đình to lớn, quy mô rộng rãi vào bậc nhất ở nước ta đời xưa, với kiến trúc, trang trí độc đáo và với cả một khu rừng cấm nơi chôn Lý Phục Man ở sau đình. Cũng  nên lưu ý là, ngoài Yên Sở là quê quán Lý Phục Man, còn có nhiều nơi khác tại ngoại thành Hà Nội, Hà Sơn Bình, Hà Nam Ninh và Hải Hưng thờ ông. Ở những nơi thờ ông nói chung, người ta thường kiêng tên Man và nói trệch là Miêng hay Men. Như mắng ai là “man trá” thì người ta nói là “đồ men trá”.
Tháng 12-1983
Nguyễn Khắc Đạm
Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 6-1983, tr.70-72
(1)   Đại Việt sử ký toàn thư. Bản dịch của Viện Sử học, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội, T. I. tr. 118.
(2)   Như trên, t. 193-196.

Tác giả Nguyễn Khắc Đạm là nhà nghiên cứu hiểu sâu sắc về làng Giá và Lý Phục Man. Điều đó thể hiện qua bài viết của ông đã in năm 1976: "Lý Phục Man, người con quang vinh của làng Giá"
http://www.thanglonghanoi.gov.vn/channel/67/2010/09/7015/#LUvlP2CfrSof
Logged
thapbut
Thành viên
*
Bài viết: 158


WWW
« Trả lời #107 vào lúc: 17 Tháng Mười Hai, 2010, 04:40:58 AM »

Vấn đề đồng nhất qua một số ấn phẩm tiêu biểu:
Số 1. Cuốn Đình Yên Sở của Ty Văn hóa-thông tin Hà Tây viết năm 1968.

Số 2. Bài báo đầu tiên thể hiện đồng nhất có tên “Phạm Tu với nhà nước Vạn Xuân” của Đàm Hưng đăng trên trang 2 báo Hà Nội mới ngày 11/9/1983: Trong bài báo nêu rõ thân thế sự nghiệp của Phạm Tu cơ bản theo thần tích Đình Ngoại, xã Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội và khẳng định quê ông ở đây. Nhưng đoạn gần cuối có tư liệu không hợp lý vì tác giả sử dụng thông tin về Lý Phục Man ở Quán Giá (xã Yên Sở, Hoài Đức) để cho rằng: “...ông được Lý Nam Đế phong chức Phục Man tướng công và cho đổi họ. Vì thế dân gian gọi Phạm Tu là Lý Phục Man

Số 3. Tiếp đến là bài báo “Lý Phục Man có phải là Phạm Tu hay không?” của Nguyễn Khắc Đạm đăng trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 6-1983. Qua bài “Lý Phục Man-người con quang vinh của làng Giá” trong cuốn Danh nhân quê hương của Ty Văn hóa thông tin Hà Sơn Bình in năm 1976 (4), có thể thấy tác giả là người đã nghiên cứu kỹ tư liệu ở Quán Giá, từ đó ông hiểu biết sâu sắc về Lý Phục Man. Do vậy ngay sau xuất hiện bài số 2 (11-9-1983) - tháng 12/1983, ông đã đăng bài trên Tạp chí nghiên cứu chuyên ngành nói trên để nêu lên những căn cứ (sự xuất hiện trong cổ sử là hai người khác nhau, Phạm Tu tuổi cao không thể được Lý Nam Đế gả công chúa, quê quán khác nhau, tuổi tác khác nhau, ngày mất khác nhau, vị trí chỉ huy khác nhau-Lý Phục Man là tướng thuộc quyền của Phạm Tu, và sự xuất hiện trong một số tài liệu cổ Đại Nam nhất thống chí, Tiền Lý Nam Đế sự tích quốc âm) khẳng định Phạm Tu và Lý Phục Man là hai người hoàn toàn khác nhau.

Số 4. Tiếp đó hơn một năm sau trong bài “Kẻ Giá – Một làng chiến đấu truyền thống tiêu biểu và người anh hùng Lý Phục Man” đăng trên tạp chí Dân tộc học số 46, 2-1985, (viết xong ngày 25-12-1983) nhà sử học Phan Huy Lê đã cẩn trọng so sánh tư liệu từ hai địa phương và kết luận: Bằng phương pháp so sánh, đối chiếu, các tư liệu trên có thể cho phép nghĩ rằng Lý Phục Man và Phạm Tu là một người. Nhưng tôi chưa coi đó là một kết luận khoa học vì quả thực tư liệu còn có chỗ mơ hồ và chưa xác minh được chắc chắn.
http://my.opera.com/thapbut/blog/ke-gia-mot-lang-chien-dau-truyen-thong-tieu-bieu-va-nguoi-anh-hung-ly-phuc-m

Số 5. Đến năm 1991 việc đồng nhất xuất hiện trong sách, đó là cuốn Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam chủ biên Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế của Nxb KHXH-Hà Nội. Với tư liệu cơ bản của Quán Giá nhưng nhân vật lịch sử ở làng này lại được thay tên là Phạm Tu. Theo ông Nguyễn Q. Thắng thì Đại Việt sử ký toàn thư thể hiện việc có thể đồng nhất hai nhân vật.

Số 6. Cuốn Văn bia Quán Giá của chủ biên Nguyễn Bá Hân đồng thời là người biên tập, Nxb Thế giới in năm 1995. Sự tích tướng công Lý Phục Man được soạn lại theo thần phả, văn bia của Quán Giá và sử, trong đó khẳng định ngay từ câu đầu: “Lý Phục Man có họ tên thực là Phạm Tu”.

Số 7. Ngày 05/4/2009 đúng dịp ngày kỷ niệm 1463 năm ngày sinh danh tướng Phạm Tu (476-545), báo Quân đội nhân dân cuối tuần số 692 có đăng bài “Phạm Tu không phải Lý Phục Man” của Chí Nhân (Tháp Bút). Dù chưa được tiếp cận ba bài báo số 2, 3, 4, nhưng theo nghiên cứu độc lập, bằng phương pháp phản chứng cũng thu được một số kết quả như trong công bố (số 3) của tác giả Nguyễn Khắc Đạm trước đó 25 năm.

Số 8. Cuốn Sự tích đức thánh Giá của tác giả Yên Sơn-Nguyễn Bá Hân, Nxb KHXH-Hà Nội in năm 2009. Nội dung trọng tâm viết về thân thế sự nghiệp của Lý Phục Man giống như Sự tích tướng công Lý Phục Man trong tài liệu số 6.

Số 9. Bài “Danh tướng Phạm Tu-Lý Phục Man là một hay hai người” đăng trong Thông báo Hán Nôm học 2009 của PGS. TS. Trương Sỹ Hùng. Tác giả công bố một kết quả nghiên cứu công phu và cho rằng Lý Phục Man chính là Phạm Tu.
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Mười Hai, 2010, 05:32:42 AM gửi bởi thapbut » Logged
ancakho
Thành viên
*
Bài viết: 281


« Trả lời #108 vào lúc: 17 Tháng Mười Hai, 2010, 06:37:18 AM »


Việt Nam có 6 dân tộc có người mang Họ Phạm:

    * - 1 / 165 họ của người Kinh,
    * - 1 / 11 họ của người Mường,
    * - 1 / 11 họ của người Tày,
    * - 1 / 172 họ của người Việt gốc Hoa,
    * - 1 / 49 họ của người Việt gốc Khmer.
    * Dân tộc Thái có người họ Phạm vốn là họ Khằm/Cầm chuyển sang

Trong các dân tộc ít người khác của Việt Nam, như dân tộc Chăm, tuyệt nhiên không có người nào họ Phạm.


Người Chăm theo người Việt làm quan, đổi họ Phạm ... họ đã hoà tan, đồng nhất với người Việt (theo Huỳnh Ngọc Trảng). Theo tôi thì họ đã không còn mbiết mình là Chăm nữa vì thời gian quá lâu và vì xuất phát của họ cũng không lấy gì làm hay ho đối với người Chăm!
Logged

”˙ıɐ uầɹʇ ɯốnɥu ểđ ớɥɔ' ʇénb ıùɥɔ ɯăɥɔ ờıƃ ờıƃ' ƃuás ƃuơưƃ ıàđ ưɥu ɯâʇ' ềđ ồq ıộɔ àl uâɥʇ“
thapbut
Thành viên
*
Bài viết: 158


WWW
« Trả lời #109 vào lúc: 25 Tháng Mười Hai, 2010, 02:51:13 PM »

XIV. KHU DÂN CƯ AN NHƠN 1, KHU DÂN CƯ AN CƯ 2 MỞ RỘNG (QUẬN SƠN TRÀ): 14 đường:
- Có 06 đường được đặt tên nhân vật lịch sử.
- Có 08 đường được đặt tên địa danh An Nhơn kèm số.
An Nhơn là tên xóm, trước đây thuộc làng An Hải, nay là khối phố An Nhơn, thuộc phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà.


 
14. Đoạn đường có điểm đầu là đường Dương Đình Nghệ, điểm cuối giáp đường Nguyễn Công Trứ: Mặt đường bằng bê tông nhựa, chiều dài 375m, rộng 5,5m; vỉa hè mỗi bên rộng 3m.
- Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống cấp, thoát nước, cáp ngầm, điện hạ thế, đèn cao áp.
- Đề nghị đặt tên đường: PHẠM TU
PHẠM TU (486 - 545)
Phạm Tu là danh tướng thời Lý Nam Đế, quê ở Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội. Năm 541, ông theo giúp Lý Bí và tham gia cuộc khởi nghĩa Lý Bí (542 - 544). Năm 543, ông đánh tan quân Chămpa do vua Ruđravarman I chỉ huy ở Cửu Đức (Hà Tĩnh). Ông góp công lớn đánh đuổi quân Lương, dẹp quân Chămpa, giúp Lý Bí gây dựng nhà Tiền Lý. Năm 544, ông được Lý Nam Đế phong chức Thái úy, đứng đầu hàng quan võ trông coi việc quân. Năm 544, ông bị tử trận ở thành Tô Lịch trong chiến đấu chống quân Lương xâm lược do Trần Bá Tiên chỉ huy. Hiện ông có đền thờ ở Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội.
* Tài liệu tham khảo:
- Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh (Chủ biên), 2008, Việt Nam các nhân vật lịch sử - văn hóa, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, năm 2008;
- Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Bá Thế: Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (tái bản lần thứ VIII), Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, năm 2006;
- Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Đình Tư: Đường phố thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Văn hoá, năm 2001.
* Các ý kiến đóng góp cho nội dung Dự thảo Đề án, xin vui lòng gửi về Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Cơ quan thường trực Hội đồng Tư vấn đặt, đổi tên đường và công trình công cộng thành phố), số 102 Lê Lợi, Đà Nẵng, trước ngày 22-6-2010.

Nguồn tin: CAND Tp Đà Nẵng
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM