Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Offline QKTĐ
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 16 Tháng Mười Hai, 2017, 10:01:45 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Thăm dò
Câu hỏi: Có đồng nhất Lý Phục Man với Phạm Tu được không? (Trân trọng cám ơn các thành viên đã tham gia bỏ phiếu)
Chưa đủ cơ sở để đồng nhất - 7 (58.3%)
Có cơ sở khoa học để đồng nhất - 0 (0%)
Không có cơ sở để đồng nhất - 5 (41.7%)
Tổng số phiếu: 12

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Về việc đồng nhất Phạm Tu và Lý Phục Man  (Đọc 49109 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thapbut
Thành viên
*
Bài viết: 158


WWW
« Trả lời #10 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2009, 02:42:34 AM »

Sông Tô Lịch và Lý Nam Đế mở nước Vạn Xuân

Vũ Văn Luân

Sông Tô vốn là con sông thiên nhiên, nhánh của sông Hồng, mang dòng nước phù sa của sông Hồng tưới nhuần và bồi đắp cho ruộng đồng Thọ Xương, Vĩnh Thuận là các huyện nội thành Hà Nội cùng với đồng ruộng hai huyện ngoại thành là Từ Liêm, Thanh Trì và một vài xã của huyện Thanh Oai (Hà Tây) khi nó dồn nước vào sông Nhuệ. Con sông ấy thủa xưa đầy ắp nước, lòng sông rộng, chảy từ Hà Khẩu, phía nam Ô Quan Chưởng cạnh chợ Gạo ngày nay chảy lên phía Bắc qua Thụy Khuê đến địa phận làng Hồ Khẩu thì tiếp nhận thêm nước sông Hồng qua Hồ Tây, qua cửa Hồ, chảy nhập vào với sông Tô, chảy lên ngã ba chợ Bưởi nhập dòng với sông Thiên Phù tạo thành bến Giang Tân tấp nập thuyền mành qua lị. Đến đó, sông rẽ sang phía Tây tới Cầu Giấy thì chia làm hai nhánh. Một xuống phía Nam, qua Cống Vị, Giảng Võ... một chảy qua Từ Liêm, Thanh Trì chảy vào sông Nhuệ qua ngã ba Hà Liễu. Sông mang tên một thủ lĩnh được thờ là Thành Hoàng đất Long Đỗ, gọi là Tô Lịch. Sông còn có nhiều tên khác như: Lai Tô, Lương Bái, Địa Bảo. Các tên đó có tên do dân gian đặt, có tên do bọn phong kiến xâm lược áp đặt, nhưng tên Tô Lịch đã đi vào lịch sử, âm vang lên từ thế kỷ thứ 6 khi Lý Nam Đế dùng tre gỗ đắp thành Tô Lịch đánh quân Lương, xưng đế lập quốc hiệu là nước Vạn Xuân. Cái tên ấy đã vào sử, vào thơ ca sống mãi với Kinh đô Thăng Long chung thủy như một lời thề lứa đôi:

Bao giờ lở núi Tản Viên
Cạn sông Tô Lịch chẳng quên lời nguyền


Con sông ấy đã đi vào đời sống nhân dân:
  Sông Tô nước chảy quanh co
Cầu Đông sương sớm, quán giò trăng khuya.


Đó là con sông vàng, sông bạc, sông buôn, sông bán, thuyền mành chen vai sát cánh, con sông kinh tế và cũng là con sông văn hóa như sách "Hà Nội nghìn xưa" đã miêu tả:

"Nước sông Tô vừa trong vừa mát
Em ghé thuyền đỗ sát thuyền anh
Dừng chèo muốn tỏ tâm tình
Sông bao nhiêu nước thương mình bấy nhiêu".


Hoặc

Sông Tô nước chảy trong ngần
Con thuyền buồm trắng lướt gần lướt xa.
Thon thon hai mái chèo hoa
Lướt đi, lướt lại như là bướm bay"


Con sông ấy đã tận tuỵ với người Hà Nội từ buổi lập xóm làng đầu tiên và cũng là con sông lưu giữ dấu tích của Lý Nam Đế, người anh hùng chống xâm lược đã dựng lên một Nhà nước độc lập đầu tiên trên đất Hà Nội cổ, trước khi Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư ra gần 500 năm. Nhà nước ấy gọi là Nhà nước Vạn Xuân, tuy tồn tại lại không được bao lâu trong lịch sử nhưng nó đã một thời lừng lẫy. Người lập ra nó đã dám xứng đế, đặt nhà nước của mình ngang hàng với các triều đại Hán, Đường của Trung Quốc. Sử cũ đã ghi chép:

Năm 545 Lý Nam Đế đã dựng thành lũy để chống quân xâm lược nhà Lương do Trần Bá Tiên cầm đầu ở cửa sông Tô Lịch. Đúng ngày Nguyên đán năm Giáp Tý, tháng 2 (năm 545) Lý Bí lập nước Vạn Xuân, tự xưng là Lý Nam Đế, thành lập triều đình Vạn Xuân gồm 2 ban văn võ. Vị tướng tài ba Phạm Tu được cử cầm đầu ban võ chỉ huy đội quân dân tộc mới hình thành. Năm 545, Nhà Lương cất đại binh sang xâm lược nước Vạn Xuân. Quân ta dưới sự chỉ huy của lão tướng Phạm Tu đã ngày đêm dựng lũy đất, cọc tre thành thành lũy để chống cự lại quân địch. Quân địch dùng một lực lượng lớn tấn công, phá thành và ngày 20 tháng 7 năm Ất Sửu tướng Phạm Tu đã anh dũng hy sinh ở nơi đó. Thế cục thay đổi, Lý Nam Đế phải đưa triều đình non trẻ của mình về giữ thành Gia Ninh. Nước Vạn Xuân với kinh đô Vạn Xuân chỉ tồn tại có 5 tháng trong lịch sử và việc vua Lý Nam Đế khai sáng cho đất nước ở Vạn Xuân của mình chưa là bao nhiêu so với các triều đại sau này của Đại Việt, nhưng tên tuổi của nó còn sống đời đời trong những trang sử vàng của nước nhà.

Thành Tô Lịch không còn nhưng còn lại đầm Vạn Xuân trên đất Thanh Trì ngày nay. Chùa Khai Quốc do chính nhà vua cho xây dụng trên nền của một ngôi chùa cổ khi Phật giáo bắt đầu có mặt ở vùng đất Hà Nội cổ lấy tên là "Khai Quốc tự" thì nay vẫn sừng sững soi bóng bên Hồ Tây, gọi là chùa Trấn Quốc. Các vị tướng tài ba đã theo nhà vua đánh giặc Lương giữ nước như Triệu Túc, Tinh Thiều, Phạm Tu, tên tuổi trong lịch sử còn ghi. Đặc biệt để khỏi lệ thuộc vào đồng tiền tài chính của Trung Hoa, Lý Nam Đế lúc khai quốc Vạn Xuân đã cho đúc tiền đồng Việt Nam.

Muốn thoát ly ảnh hưởng của nho học, chính Lý Nam Đế đã cho xây chùa An Tri (vốn là tre nứa) thành "Khai quốc tự" để mở đầu cho nền quân chủ Phật giáo mà các triều đại Lý Trần sau này tiếp nối và phát huy vẻ đẹp của nó hướng về lòng nhân ái, vị tha.

Trong ý tưởng như thế và nhà vua đã cho xây chùa và đặt cả niên hiệu của mình cũng hướng về lòng khoan dung, nhân ái như thế. Niên hiệu của nhà vua là Đại Đức chứ không phải là Thiên Đức. Kế truyền ý tưởng của vua, cháu  Lý Nam Đế tự xưng mình là Lý Phật Tử (con Phật) chứ không phải là Thiên Tử (con trời).

Chỉ vài điều như thế đã đủ rõ tầm trí tuệ nhìn xa trông rộng của Lý Nam Đế khi đánh giặc, dựng nước:

- Chính ông đã nhìn thấy tầm chiến lược lâu dài của vùng đất Hà Nội cổ bên sông Tô trong việc mở nước nên đã đi trước nhiều nhân vật lịch sử một bước, được coi như là người đầu tiên đã đưa vùng đất Hà Nội cổ bên sông Tô lên một vị trí lịch sử đặc biệt. Từ đây (545 sông Tô Lịch và đất Long Đỗ mới âm vang tên tuổi của mình và các cơ quan cai trị người phương Bắc mới định được giá trị của nó nên đã nâng huyện Tống Bình lên thành cấp quận và tập trung đặt sở trị ở đây, cho xây đắp La Thành để chống lại những cuộc nổi dậy phá sở trị của nhân dân Tống Bình.

- Chính Lý Nam Đế là người đã đặt những viên gạch đầu tiên cho Lý Thái Tổ xây dựng thành Thăng Long năm 1010 từ dấu ấn của thành Tô Lịch, và cũng chính Lý Nam Đế là người đầu tiên nâng Phật giáo nước ta lên chính quốc giáo, tạo nền móng cho nền quân chủ Phật giáo nước ta thời Lý- Trần bước tới những lĩnh vực văn hóa, văn học dựng nước và giữ nước ở Thăng Long.

                                                 (Tạp chí Thăng Long Hà Nội ngàn năm - Số 19/2003)

« Sửa lần cuối: 10 Tháng Chín, 2009, 02:47:44 AM gửi bởi thapbut » Logged
thapbut
Thành viên
*
Bài viết: 158


WWW
« Trả lời #11 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2009, 03:16:44 AM »

Đối chiếu thông tin hai nhân vật

A. Phạm Tu quê Thanh Liệt, huyện Thanh Trì
Họ tên: Phạm Tu
1. Quê: Thanh Liệt, huyện Thanh Trì
2. Cha: Phạm Thiều
3. Mẹ: Lý Thị Trạch
4. Ngày sinh 10 tháng 3 năm Bính Thìn (476)
5. Mất: 20 tháng 7 năm Ất Sửu (545)
Hy sinh khi chống giặc phá thành cửa sông Tô
6. Chức: Thái úy, trưởng ban võ nhà nước Vạn Xuân
7. Thụy: Đô Hồ Đại vương
8. Vợ: không rõ
9. Hậu duệ: con là Phạm Tĩnh là tướng quốc Hậu Lý Nam Đế, cháu là Phạm Hiển - nghĩa sỹ đánh Tùy
10. Phần mộ: (xác định theo ngoại cảm) bên Hồ Gươm
11. Tên đường: được đặt ở Tp Nha Trang, Khánh Hòa
...

B. Lý Phục Man quê Yên Sở, Hoài Đức
Họ tên: Phạm Tu (có tài liệu ghi không rõ họ tên)
1. Quê: Yên Sở, huyện Hoài Đức
2. Cha: Phạm Tôn
3. Mẹ: Lý Thị Điều
4. Ngày sinh 10 tháng 3 năm Giáp Ngọ (514)
5. Mất: chưa rõ
có 3 thuyết: về cái chết của Lý Phục Man cũng không thống nhất:
- Lý Phục Man thua quân Lâm Ấp nên tự sát;
- Lý Phục Man bị thua quân Di Lạo nên tự sát (mất khoảng 546-548);
- Lý Phục Man bị chém đầu nhưng vẫn cưỡi ngựa về làng
6. Chức: Thiếu úy, Phục Man tướng quân trông coi biên cảnh, Phò mã
7. Thụy: Gia Thông Đại vương
8. Vợ: Phương Dung công chúa
9. Hậu duệ: không rõ
10. Phần mộ: Yên Sở, Hoài Đức
11. Tên đường: được đặt ở Tp Hồ Chí Minh
...
« Sửa lần cuối: 10 Tháng Chín, 2009, 03:51:30 AM gửi bởi thapbut » Logged
thapbut
Thành viên
*
Bài viết: 158


WWW
« Trả lời #12 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2009, 10:29:52 PM »

Khi đường link http://hopham.blogspot.com/ bị lỗi

Quý vị có thể dùng đường link thay thế

http://danhtuongphamtu.blogspot.com/

« Sửa lần cuối: 11 Tháng Chín, 2009, 05:54:24 AM gửi bởi thapbut » Logged
lonesome
Moderator
*
Bài viết: 1241


« Trả lời #13 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2009, 10:49:48 PM »

Mục đích cuối cùng của bác chủ thớt là gì thế?
Logged
thapbut
Thành viên
*
Bài viết: 158


WWW
« Trả lời #14 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2009, 05:56:28 AM »

Trong các tài liệu lịch sử để lại, có một số nhân vật lịch sử của nước ta còn chưa thống nhất về tên tuổi. Trong đó, trường hợp hiếm có là việc một số tài liệu đồng nhất hai nhân vật lịch sử cách đây 15 thế kỷ: lão tướng Phạm Tu (476-545) và phò mã Lý Phục Man. Do tư liệu về giai đoạn này còn lại không nhiều nên chúng tôi suy luận từ những gì còn ghi lại với mục đích tìm ra điều chân thực.
Logged
lonesome
Moderator
*
Bài viết: 1241


« Trả lời #15 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2009, 02:19:15 PM »

Trong các tài liệu lịch sử để lại, có một số nhân vật lịch sử của nước ta còn chưa thống nhất về tên tuổi. Trong đó, trường hợp hiếm có là việc một số tài liệu đồng nhất hai nhân vật lịch sử cách đây 15 thế kỷ: lão tướng Phạm Tu (476-545) và phò mã Lý Phục Man. Do tư liệu về giai đoạn này còn lại không nhiều nên chúng tôi suy luận từ những gì còn ghi lại với mục đích tìm ra điều chân thực.


Nếu vậy bạn nên viết cô đọng, súc tích chứ chỉ Copy&Paste 1 loạt tài liệu thế này, người không hiểu chuyện sẽ rất khó hệ thống thông tin.
Cám ơn bạn.
Logged
thapbut
Thành viên
*
Bài viết: 158


WWW
« Trả lời #16 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2009, 02:21:05 PM »

Có thể quan điểm tách rời Phạm Tu-Lý Phục Man là hai nhân vật lịch sử riêng rẽ của dòng họ Phạm ở Thanh Liệt là căn cứ vào một "khám phá" gây nhiều tranh cãi của nhà sử học Lê Văn Lan. Trong bài viết "Phát hiện sử học mới về Lão tướng quân Phạm Tu" cũng đăng trên báo Quân đội Nhân dân cuối tuần số ra ngày 06/12/1998. Mặc dầu nhà sử học họ Lê reo lên là "phát hiện sử học mới " là "may thay gần đây đã có những công phu để bắt được sóng tín hiệu mới rất có giá trị về lão tướng quân Phạm Tu"  nhưng oái ăm thay, "cũ người mới ta", những gì được coi là mới ở đây đã được nhiều nhà sử học nghiên cứu, xem xét từ trước đó 16 năm rồi. Đó là cuộc khảo sát, nghiên cứu khá công phu của giáo sư Phan Huy Lê, chủ tịch Hội khoa học Lịch sử Việt Nam cùng với Đại tá Phó viện trưởng Viện sử học Quân đội Phan Huy Thiệp, Tiến sĩ sử học quân đội Nguyễn Anh cùng đông đảo các cộng sự tại Thanh Liệt, Thanh Trì từ giữa năm 1982 của thế kỷ trước. Kết quả cuộc khảo sát này đã được thông báo tại cuộc hội thảo về Phạm Tu - Lý Phục Man tại xã Yên Sở, Hoài Đức, Hà Tây, ngày 25/12/1982. Sau đó, giáo sư Phan Huy Lê cho đăng bài "Kẻ Giá một làng chiến đấu" trên tạp chí Dân tộc học số 46 tháng 2/1985 trong đó có nói đến cuộc khảo sát của giáo sư và đồng nghiệp tại Thanh Liệt năm 1982. Kết quả của những cuộc khảo sát này cho thấy:

•-         Bản Thần phả của Đình Ngoại xã Thanh Liệt có tiêu đề "Cảm ứng cư sĩ Phạm Tu Thụy Đô hồ Đại vương Thượng đẳng thần sử tích" mới được chép lại tại đền Hùng (Phú Thọ) năm Bảo Đại thứ 9 (1934) mà "chép lại một cách sơ sài, không cẩn thận, có chữ còn để trống hay bỏ sót". Đây có lẽ là sự tích một vị cư sĩ ở ẩn, một phật tử tu tại gia (cư sĩ), sau khi mất có sự linh ứng (cảm ứng) nên được phong tên thụy là Đô hồ, quan võ trông coi hồ nước của địa phương này đó là hồ Thanh đàm. Thật kỳ lạ, sau này có người lại giải thích chữ "đô" gốc Hán (trong sắc phong) thành chữ "đô" tiếng Việt trong "đô vật"  rồi lại chuyển Phạm Tu thành Phạm Đô Tu, một tên riêng rất xa lạ với nhân vật lịch sử Phạm Tu, đã được Ngô Sĩ Liên viết trong Đại Việt sử ký toàn thư.

•-         Tấm bài vị ở đây cũng đã rõ "Bản thổ Tiền Lý Triều Long biên hầu, Đô hồ Đại vương Thần vị" Vị thành hoàng ở đây được phong tặng tước hầu, vị thần trông coi hồ nước - Về sắc phong của các triều đại ban tặng cho Đô hồ đại vương ở đây có 13 đạo, cổ nhất là đạo sắc của vua Lê Cảnh Hưng năm thứ nhất (1740) và gần nhất là của vua Khải Định, nhà Nguyễn (1916-1925). Nội dung chủ yếu của các đạo sắc phong này là nói về sự linh ứng của Thần, trong đó, đặc biệt có vài ba đạo sắc đời vua Minh Mệnh, năm thứ 5 (1824) ban tặng "Thủy thần phán quan" - ban cho Thần coi sóc mặt nước. Đạo sắc đời vua Tự Đức thứ 3 (1850) tặng mỹ tự "Trường trạm" nghĩa là giữ nước luôn trong trẻo, đời vua Duy Tân ban   tặng mỹ tự "Linh Thuý" nghĩa là giữ mặt nước luôn trong trẻo, không pha tạp...Rõ ràng đó là những chữ đẹp phong cho một vị Thần trông giữ hồ nước.

•-         Tấm bia đá trong đình nói là tấm bia có từ đời Lương (?) Trung quốc (thế kỷ thứ 6) thực ra chỉ là một tấm bia hậu dựng năm Giáp Thìn (1904) đời vua Thành Thái nhà Nguyễn, thờ cụ Phạm Tế, quê gốc Thanh Hóa, thiên cư ra Thanh Liệt mới được dăm sáu đời nay.

•-         Bức tranh thờ nói là chân dung Phạm Tu là một tấm hình vẽ trên một mảnh lụa đã cũ, một người dân ở Thanh Liệt là cụ Nhiêu Cỏn mới vẽ lại trên một tờ giấy tây. Đoàn khảo sát năm 1982 đã gặp người vẽ lại tấm hình và được xác nhận là đúng.

•-         Đình ngoại thờ  Đô hồ đại vương  là một ngôi đình có qui mô khá khiêm tốn, được tọa lạc ngay bờ hồ, ven làng, cũng mới được tân tạo thời Lê Hiển Tông (1740 - 1786) đến nay mới có vài trăm năm. Việc bài trí, trần thiết cũng còn sơ sài, đến cỗ kiệu rước cũng không có, phải dùng kiệu ở Định nội mỗi khi rước hội. Nếu quả thật danh tướng Phạm Tu quê ở Thanh Liệt thì nhân dân địa phương chẳng lẽ lại bỏ quên người con trung liệt của quê hương tới 12 thế kỷ sau mới lập ngôi đền thờ quá khiêm tốn đến vậy? Cả các vương triều phong kiến xưa hình như cũng lẵng quên vị khai cuốc công thần nhà Tiền Lý nên đến tận đời Lê Cảnh Hưng mới dựng đình thờ? Ai cũng biết, đại danh nho Chu Văn An (1292 -  1370) đời Trần, người làng Thanh Liệt sống sau Phạm Tu bảy tám trăm năm lại không hề có một dòng lưu bút nào về người anh hùng kiệt  xuất của đất nước, vị tiền bối lỗi lạc cùng quê hương

•-         Một điều quan trọng nữa cần chú ý là nếu Phạm Tu là Đô hồ đại vương ở Thanh Liệt thì sao cả một vùng rộng lớn xung quanh nơi này nói riêng và cả miền Bắc Việt Nam nói chung, nơi được ảnh hưởng trực tiếp của cuộc khởi nghĩa Lý Bí hầu như không nơi nào lập đền thờ. Cuốn Linh thần Việt Nam của giáo sư Vũ Ngọc Khánh và Phạm Minh Thảo, nhà xuất bản VHTT năm 2002 chỉ tìm được 3 địa phương có thờ Đô hồ đại vương. Tuy nhiên chưa xác định được Đô Hồ Đại vương có phải là Phạm Tu hay không!

•-         Vấn đề cuối cùng cần làm rõ là theo tài liệu của dòng họ Phạm ở Thanh Liệt thì Phạm Tu là một lão tướng. Năm 542 cuộc khởi nghĩa Lý Bí nổi dậy, lúc đó ông đã 67 tuổi. Mặc dầu được mô tả là một đô vật thời trai trẻ nhưng với một người già cả, trước khi cuộc khởi nghĩa nổ ra, không hề có hành trạng gì, liệu có đủ tài sức để đối đầu với bọn giặc Lương? Cũng theo tài liệu này , năm 543, vua Lâm ấp lẫn chiếm bờ cõi phía nam, tướng biên ải là Lý Phục Man không chặn được giặc, vua lại phải sai lão tướng Phạm Tu đem đại binh vào nam mới đánh tan được quân Chiêm tại Cửu đức. Sau cuộc trường chinh này, trở ra, vị lão tướng lại phải đương đầu với quân Lương của Trần Bá Tiên ở cửa sông Tô Lịch và hy sinh tại đây. Ba năm trời, một ông lão 70 tuổi vụt đứng dậy xung trận, đánh Bắc dẹp Nam bấy nhiêu công tích liệu có đủ cơ sở để tin cậy?

Từ những suy nghĩ, phân tích trên đây có thể kết luận Thái úy Phạm Tu, một nhân vật lịch sử có nhiều chiến công oanh liệt, vị đại công thần triều Tiền Lý không phải người làng Thanh Liệt, đình Ngoại làng Thanh Liệt không phải là nơi thờ ông mà là thờ một vị thủy thần cai quản hồ Thanh đàm xưa. Phải chăng đó là vị thủy thần học trò của danh sư Chu Văn An đời Trần vì nặng ân nghĩa thầy và thương dân hạn hán đã trộm mệnh trời vung bút nghiên làm mưa chống hạn cho dân, cam chịu tội với Ngọc hoàng thượng đế như câu chuyện dân gian còn truyền tụng?*(còn tiếp)



Có 7 nhận xét trên, nhưng tôi nghi ngờ không hoàn toàn của GS Phan Huy Lê vì nhận xét thứ 6 lại là sách in năm 2002, như vậy năm 1980's không thể có. Tôi cũng đã đưa thông tin từ đầu năm 2009 vào thông tin về cụ Phạm Tu trên wikipedia.org

Nơi thờ cúng
Theo cuốn "Thành hoàng Việt Nam" của Phạm Minh Thảo (Nxb. Văn hóa thông tin, H., 1997, tập II, tr.565), cùng những chuyến điền dã của chúng tôi về đình Ngoại: nơi thờ chính thức của Phạm Tu ở Đình Ngoại, xã Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội. Chính quê ông còn có miếu Vực thờ ông cùng hai vị song thân là Phạm Thiều và Lý Thị Trạch.

Phần mộ của ông trên vùng đất cửa sông Tô Lịch (nơi ông ngã xuống khi chống quân xâm lược nhà Lương năm 545) cũng là một địa chỉ tâm linh quan trọng.

Bên cạnh đó, qua cuốn "Linh thần Việt Nam" của GS Vũ Ngọc Khánh và Phạm Minh Thảo (Nxb Văn hóa Thông tin, H. 2002), còn tìm được 3 địa phương có thờ vị Đô Hồ Đại vương, tuy nhiên chưa xác định được những nơi đó có phải chính là nơi thờ Đô Hồ Đại vương Phạm Tu hay không.

Xã Linh Khê, Nam Sách, Hải Dương thờ 3 vị đại vương: Uy Minh, Quy Chân, Đô Hồ đại vương
Xã Hương Vân, tổng Nội Viên, huyện Tiên Du, Bắc Ninh thờ Đô Hồ đại vương và Hải Tịnh phu nhân công chúa
Xã Nhân Hào Thượng, tổng Sài Trang, Yên Mỹ, Hưng Yên thờ Đô Hồ tế thế đại vương

http://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BA%A1m_Tu
« Sửa lần cuối: 11 Tháng Chín, 2009, 10:54:29 PM gửi bởi thapbut » Logged
thapbut
Thành viên
*
Bài viết: 158


WWW
« Trả lời #17 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2009, 10:44:13 PM »

Trích dẫn

Nếu vậy bạn nên viết cô đọng, súc tích chứ chỉ Copy&Paste 1 loạt tài liệu thế này, người không hiểu chuyện sẽ rất khó hệ thống thông tin.


Cám ơn ý kiến của lonesome

Mời quý vị xem phân tích của Tháp Bút trong bài viết mà nội dung chính trong bài "Phạm Tu không phải Lý Phục Man" mà bác Nguyễn Thế Dũng đã nhắc đến. Để thấy việc tôi không nhất trí hai ý kiến của bác Dũng về vấn đề tôi đưa ra phản chứng:

Không đồng nhất Tả tướng Phạm Tu với Phò mã Lý Phục Man

http://hopham.blogspot.com/2009/04/khong-ong-nhat-ta-tuong-pham-tu-voi-pho.html




Logged
thapbut
Thành viên
*
Bài viết: 158


WWW
« Trả lời #18 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2009, 01:53:39 AM »

Theo tạp chí Hán Nôm số 2 có bài
"TÂN ĐÍNH HIỆU BÌNH VIỆT ĐIỆN U LINH TẬP" ĐÃ ĐƯỢC BIÊN SOẠN NHƯ THẾ NÀO?

ĐÀO PHƯƠNG CHI

trong đó có đoạn ghi

"Đế (...) cho Lý Phục Man làm Tả vệ hiệu quân, Phạm Tu làm Hữu vệ hiệu quân, đem năm vạn quân ra đồn trú ở Vân Lâm để chuẩn bị; và lấy Tinh Thiều làm Tán nghị sứ, Triệu Túc làm Tán nghị sứ Tiếp ứng sứ, ba đường cùng tiến, giành đường mà đi. Khi đại quân sắp đến đầu địa giới Hợp Phố thì gặp quân của Tử Hùng. Triệu Túc xuất ngựa, một mình khiêu chiến với Tử Hùng. Hai bên giao chiến mới được hơn ba mươi hiệp thì Tinh Thiều từ trên gò cao nhìn thấy Tử Hùng rất dũng mãnh, Tôn Quýnh ở phía sau như đang có ý giận dữ, vội vẫy cờ trắng. Thế là hai cánh quân cùng hét vang. Phục Man dẫn quân tiến đánh từ mé trái. Phạm Tu dẫn quân tiến đánh từ mé phải, xông tới giết. Quân Tử Hùng đại bại bỏ chạy, chết sáu bảy chục mạng, vứt hết khí giới quân trang, chạy toán loạn. Quân ta toàn thắng" (Vạn Xuân quốc đế ký) [14b - 15a]...

http://www.hannom.org.vn/web/tchn/data/0002v.htm
Logged
thapbut
Thành viên
*
Bài viết: 158


WWW
« Trả lời #19 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2009, 02:14:00 AM »

Nguyễn Hãng - Tác phẩm

TRUYỆN LÝ PHỤC MAN

 Theo sách Sử ký ,của Đỗ Thiện ,ông họ Lý ,tên Phục Man ,là người An Sở ,Đương Lâm. Ông thân dài 8 thước ,người cao to.Ông theo Lý Nam Đế ,làm Đại tướng quân ,Nam Đế sai ông giữ đất Đường Lâm ;ông bị lâm bệnh mà mất.

Sau Lý Thái Tổ đi tuần tới đất Hương Sở ,thấy sông núi tươi đẹp ,thì dạt dào cảm xuc s,rồi vua gọi rượu ,rót ra ,khấn rằng :" Trẫm thấy phong cảnh nơi này rất đẹp ,nếu có tuấn sĩ hào kiệt ,anh linh hạo lhí thì cùng dự với Trẫm".Tế xong, Vua đi xem phong cảnh đẹp ,đến khi mặt trời lặn mới thôi.

Đêm ấy ,vua nằm mơ thấy một người cao lớn vạm vữ ,đến trước mặt vua vái lạy mà nói :"Thần là người hương này ,họ Lý ,tên là Phục Man ,Theo Lý Nam Đế làm tướng ,nổi tiếng trung kiệt.Nam Đế sai thần coi giữ một dải giang sơn ,của đất Đường Lâm ,nhân dân đều được sống yên ổn ,.Sau khi thần mất ,Thiên đế khen thần trung thành ,dũng cảm ,cho thần giữ chức vụ như cũ.Thần thường dẫn quỉ binh đánh giặc ,đến nay đã được nhiều năm rồi.Nay ,may gặp bệ hạ ,dùng lễ đặc biệt tiếp đãi ,nên đến để tạ ơn ".Nói xong ung dung ngâm thơ rằng :

Hải nội ly đồ thán
Hiền nhân nặc tính danh.
Trung thiên minh nhật nguyệt
Thực bất kiến kỳ binh.
Dịch :
Trong cõi dân điêu đứng ,
Hiền tài dấu họ tên ,
Giữa trơìư nhật nguyệt sáng
Ai chẳng hiện chân hình.

Ngâm xong bay lên trời mà đi.Vua nhìn theo ,khoan thai tỉnh dậy ,đem việc ấy nói với các quan ,.Ngự sử đại phu Lương văn Lý nói :"Thế là thần có ý muốn dựng đền ,khắc tượng đó ".Vua sai người đi coi đất ,,được cát địa ,,liền sai làm đền ,cho thợ khắc gỗ thành hình người ,cho tô vẽ thành tượng như người trong mơ vua đã thấy ,phong làm đại thần.Đêm ấy vua thấy người đó đến tạ ơn. Vua định hỏi thì người ấy đã biến mất.Tỉnh dậy ,vua than thở mãi.

Đến đời Trần ,giắc Thát Đát vào cướp nước ta ,khi chúng qua đất ấy ,thì ngựa quỵ xuống ,không đi được.Giặc dắt ngựa đánh vào ,dân trong thôn chống lại ,cả phá giặc.Cuối cùng ,giặc không dám đánh vào nữa.Lần sau ,giặc đi tới đâu ,,đốt phá nhà cửa tới đó.Chúng từng qua đất ấy ,nhưng cả hương không bị hại gì.Như là có thần phù hộ. Đến khi dẹp giặc xong ,nhà vua gia phong cho thần các chữ cao đẹp :"Chính Lỗ minh cao",đến nay vẫn rất hiển hách.

http://vnthuquan.net/
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM