Lịch sử cuộc viễn chinh Nam Kỳ năm 1861

<< < (2/9) > >>

baogt:
Thành phố Sài gòn nhờ vào vị trí địa lý và kinh tế chi phối đã vượt qua nhiều khó khăn và mâu thuẫn về hành chánh gây ra từ quyền lợi bất đồng giữa các phe nhóm. Saĩgon cũng đã khắc phục được những bất hạnh do chiến tranh gây ra. Nhờ nằm vào vị trí trung tâm nên từ Saĩgon đi Batavia, Manille, Hong-kong và Canton thật là ngắn và tiện lơi. Gió mùa giúp liên lạc dễ dàng với nước Tàu và nước Nhật; ta cũng biết rõ việc buôn bán của Nhật với đế quốc Annam trước đây hết sức tích cực, thời đó cũng chẳng xa gì trước ngày có sự hiện diện của quân viễn chinh. Những kẻ phiêu lưu người Âu châu ào ạt đổ đến Saĩgon, bất kể luật lệ gì áp dụng đối với họ, họ cứ ở lại, chẳng qua vì miếng mồi hám lợi. Người ta có thể nói rằng sáng kiến cá nhân có thể bù lấp cho những gì mà nguyên tắc không thực hiện được hoàn hảo[47].

Ðại tá Victor Olivier[48] xây đắp thành lũy cho Saĩgon ngay từ năm 1791; vị sĩ quan này là một trong số 20 người Pháp do Pigneau de Béhaine, giám mục hiệu tòa d’Adran, đưa tới đây. Nhóm người này là số vỏn vẹn thoát được từ một hạm đội 20 chiến thuyền và 7 trung đoàn quân Pháp đã bị toàn quyền người Anh tại Pondichery cầm giữ trên đường kéo đến Nam Kỳ. Lúc bấy giờ, hoàng đế Gia-long[49] đang tìm cách chiếm lại lãnh thổ của mình. Cũng chẳng phải là khó hiểu khi hoàng đế Gia-long quyết định tăng cường hệ thống phòng thủ Saĩgon, vì phòng thủ Saĩgon chính là kế hoạch chung chống giữ toàn thể Nam Kỳ miền dưới. Vùng lãnh thổ này của vương quốc Annam, vì địa thế thiên nhiên bất lợi, rất dễ bị người Xiêm La và người Cao Miên xâm chiếm, người Annam rất khó chống giữ. Năm con sông lớn chảy dài trên toàn vùng tạo ra đường lưu thông giúp quân xâm lược từ phía nam hay phía tây kéo đến để đánh. Người kỹ sư Pháp này đã tìm cách giảm bớt yếu điểm thiên nhiên thật tài tình. Ông ta tìm một vị trí trung tâm của toàn vùng, tức là thành phố Saĩgon, nằm trên bờ sông Don-naĩ, - nói vậy thôi chớ ông ta cũng có thể chọn một nơi khác được - và từ nơi này có thể đưa quân tăng viện nhanh chóng đến các điểm bị hăm dọa mặc dù sông ngòi cản trở. Ðồng thời ông cũng xây dựng một vòng thành ngay tại Saĩgon, nơi giao điểm của các đường tiến quân chiến lược, để tập trung người, lương thực, khí giới và đạn dược. Thành Saĩgon hình vuông, mỗi mặt có hai chặng phòng thủ[50]. Vào năm 1835, thành bị san bằng, Saĩgon cũng bị phá sạch; dân chúng tản mát hết, một phần bị bắt làm nô lệ.

Vào năm 1837, người Annam lại xây một thành mới tại góc phía bắc của vòng thành trước kia. Họ chọn cách xây thành hình vuông có pháo đài, tường thành xây thêm gạch bên ngoài. Thành phố lại được dựng lên từ những đổ nát cũ trên hữu ngạn sông[51] và dọc theo phụ lưu là kinh Tàu. Thành mới xây kiểm soát toàn vùng, đủ sức chận đứng các mưu toan của Cao Miên và Xiêm La. Nhưng tiếc thay kém may mắn hơn khi chống lại sự xâm lược của Pháp. Phó đô đốc Rigault de Genouilly chiếm lấy thành ngày 17 tháng 2 năm 1859 và phá sạch, rồi củng cố chắc chắn trong một đồn mới do chính ông ra lịnh xây tại vị trí cũ của một đồn Annam mà ta gọi là đồn Henon-Bigne (hay thành phía Nam)[52]. Vài gia đình Thiên Chúa giáo dọn đến lập ra ngôi làng gọi là làng Giám mục, làng được đồn Pháp che chở.

Vào tháng 12 năm 1859, chuẩn đô đốc Page đến Saĩgon thay cho phó đô đốc Rigault de Genouilly; sau đó chuẩn đô đốc Page, chưa kịp chuẩn bị quay trở lại Touranne, thì nhận được lịnh phải giải tỏa nơi này, ông bèn đứng ra chọn địa thế đất đai tại Saĩgon để người Pháp xây dựng và lưu lại vĩnh viễn. Ông vạch ra các đường phòng thủ, cho xây dựng bệnh viện, nhà ở, kho hàng và mở cửa cảng cho việc buôn bán[53]. Bảy mươi tàu và một trăm ghe thuyền chuyên chở trong vòng 4 tháng được 60.000 tấn gạo cho thị trường Hong-kong và Singapour, đem đến một số lời khổng lồ cho ta. Ðồn Caĩ-maĩ[54] giúp cho việc buôn bán dễ dàng, một số làng đổ đến vì thấy cái lợi lớn mà người Pháp đem tới cho họ; số người Pháp trong đồn ít và không làm khó dễ gì cả. Người Tàu, tiếp tục theo chánh sách của họ, tìm cách bảo vệ việc buôn bán bằng cách lấy lòng cả hai bên Annam và Pháp. Kẻ địch thì đóng quân chỉ cách Saĩgon có vài cây số, trong một vùng đồng ruộng đầy mồ mả, họ ngấm ngầm phòng ngự chắc chắn. Các tuyến phòng ngự im bặt. Nhưng rồi tình trạng này sẽ sớm thay đổi.

Kể từ tháng 6 năm 1860, quan quân Annam có ý cô lập người Pháp với thành phố Tàu[55], nơi tồn trữ gạo mà người Pháp đem xuất đi từ cảng Saĩgon. Dựa vào một lực lượng khá mạnh, một hệ thống đồn lũy chặt chẽ và phân bố rộng rãi, sức di chuyển nhanh, địch quân khoét ra ở góc phía bắc thành Ki-hoa một cửa hầm đôi và đào một đường hố dài cắt đồn Caĩ-maĩ với thành phố Tàu, mục đích cô lập ta và buộc ta phải bỏ đồn. Mấu chốt của tình thế chính là từ điểm này; phải giữ hay chịu mất thị trường Tàu. Chúng ta bắt buộc phải giữ vững vị trí: trong suốt cuộc chiến tranh ở Tàu cũng thế; - một cuộc chiến mù mịt, gần như bị bỏ rơi, bỗng có một ít người đã đứng lên xứng đáng với cái thời buổi quyết liệt mà đốt tàu để không trở về mẫu quốc.

Hai chùa khác nằm giữa đồn Caĩ-maĩ và Saĩgon liền được ta chọn thêm để củng cố làm đồn và ta sẽ giữ vững bất cứ giá nào. Việc sửa sang hai chùa để làm nơi phòng thủ bắt đầu ngay tức thời. Chùa thứ nhất là chùa Ao[56], sân chùa có tường gạch chung quanh, tạm có thể phòng thủ được ngay. Chùa cách xa các tuyến phòng thủ của địch. Chùa thứ hai là chùa Clochetons[57] hoàn toàn trống trải và chỉ cách miệng đường hầm của địch có 400 mét. Ta liền lấy ngay đất ở mồ mả chung quanh đắp tường phòng ngự. Ta không thấy quân Annam đổ ra phòng ngự đường hố đã đào. Nhưng ngay ngày hôm sau bất ngờ nổ súng tủa vào chùa giết mất một người và làm bị thương thêm vài người khác. Mấy nấm mồ ta đã lấy hết đất, vì thế phải đi xa hơn và dùng bao để mang đất về; việc đắp tường phòng thủ tiến triển chậm chạp, cực nhọc, lộ liễu không có gì che tránh địch quân. Trong đêm mùng 3, rạng ngày mùng 4 tháng 7, quân Annam, ít nhất cũng đến 2.000 người, yên lặng vượt khỏi thành, bao vây chùa, trong khi đó chùa chưa biến hẳn thành đồn. Họ xông thẳng vào chùa, hò hét vang lừng. Hỏa pháo của địch cũng bắn vào các chùa khác[58] để làm thế nghi binh và đồng thời cũng bắn vào chùa Clochetons nữa, quân thì bắn xối xả vào người Pháp, người Tây Ban Nha và người Annam trong đồn. Ðánh giết nhau suốt một giờ đồng hồ. Nhờ viện binh từ Saĩgon kéo lên mới chấm dứt được trận chiến. Kẻ thù bỏ lại một trăm xác chết. Quân lính của đồn Clochetons gồm có 100 quân Tây Ban Nha do trung úy Hernandez chỉ huy, và 60 người Pháp do hai trung úy hải quân cầm đầu là Narac và Gervais[59]. Quân Annam không trở lại tấn công đồn Clochetons nữa; nhưng lại đào từ cửa hầm đôi một đường hố khác bọc song song phía sau đường phòng tuyến của ta. Do đó đồn Pháp và Tây Ban Nha lọt vào giữa hai đường hố phòng thủ của họ, chận hẳn đường thông thương với cánh đồng phía sau thành Ki-hoa.

baogt:
Ngày 16 tháng 10 năm 1860, đại tá hải quân d'Aries đưa quân vào kinh Avalanche[60] (xem bản đồ 2) để thăm dò các đồn mà người Annam xây cất ngay gần tuyến phòng thủ của ta, vì khoảng cách quá gần nên ta dễ bị họ tấn công. Hai tàu nhẹ được dùng để tiến vào kinh, địch bắn rất rát nhưng vẫn tiến được tới một công sự có rào cản canh giữ điểm chốt gọi là "cầu số ba trên kinh Avalanche”. Bên ta không có người nào bị trúng đạn khi tiến tới đây; nhưng cuộc mạo hiểm nhỏ này kém may mắn hơn trên đường về; trung úy hải quân Hermand bị một viên đạn xuyên ngang đùi, vài người nữa cũng bị thương. Trung úy Rieunier đo độ sâu và vẽ bản đồ của kinh dưới lằn đạn đại pháo từ các đồn bắn ra; bản đồ này hết sức là bổ ích về sau.

 Toàn thể cánh đồng nằm giữa kinh Avalanche và kinh Tàu bị địch bủa vây bằng các đường hố dài và nhiều đồn canh gác bố trí cách khoảng nhau. Bất cứ chỗ nào có kinh rạch hay đường xá là người Annam lập đồn tại đó. Thượng lưu sông Don-naĩ bị chắn ngang. Trái với điều người ta thường nghĩ, hậu tuyến của hệ thống đồn lũy do người Annam thiết lập cũng được phòng thủ vững chắc như phía trước và hai bên cánh. Nói như vậy để cho thấy hệ thống phòng ngự của địch cũng có tầm quan trong tương đương với thành cũ của họ trước kia, chế ngự toàn vùng, kiểm soát hết các đường về My-thô, Huế và Cao Miên.



Liên lạc giữa quân Annam và thành phố Tàu vẫn duy trì thường xuyên. Từ thành Ki-hoa rộng lớn, đường hố tủa ra từ các cửa hầm giống như những cánh tay bóp nghẹt trại quân nhỏ của đồng minh tại Saĩgon, làm cho trại này bất lực mặc dù địch vẫn tỏ vẻ như bất động.

Thành Annam xây theo hình vuông, gồm năm khu riêng biệt liên lạc với nhau bằng các đường tắt thông thương. Vòng đai của thành là tường bằng đất có ụ bắn, cao 3 mét rưỡi, dầy 2 thước, có đục lỗ châu mai rất khít nhau; lỗ châu mai phần nở rộng lại ngược bên so với các lỗ châu mai của các thành quách Âu châu. Khí cụ phòng thủ được tích lũy ở khắp các mặt thành, nhưng chính yếu hơn hết là mặt trước và mặt sau. Nhờ các trận đụng độ ở Touranne ta biết khá đầy đủ các loại chướng ngại vật này. Thân tre và cả cành lá gai góc được sử dụng hết sức khéo léo; thân thì làm cọc nhọn cắm trong các hầm chông, hoặc cắm thành bàn chông, làm rào hoặc làm cọc; cành thì dùng bao phủ trên tường thành tạo ra một lớp rào chằng chịt đầy gai.

Vùng đất tỉnh Gia-dinh chung quanh thành Annam là đất dẽ và cứng, theo tin dọ thám do ta thu nhặt thì các giàn pháo chiến thuật có thể di chuyển được trên vùng đất này. Mùa mưa mà ta phải ngưng các hoạt động chỉ bắt đầu vào tháng 4. Còn về ảnh hưởng của thời tiết thì khó thẩm định rõ ràng; quân lính của ta vừa mới bảo vệ Saĩgon xong trải qua biết bao nhiêu cực khổ; đâu có thể quy hết cho thời tiết Nam Kỳ miền dưới là nguyên do duy nhứt gây bệnh tật cho toàn thể quân viễn chinh.

Phong tục và tánh tình người Annam ta biết rất ít; người Annam ta thấy ở Saĩgon có thân hình mảnh mai, và có lẽ thuộc vào một sắc dân suy hóa[61]. Họ chỉ có thói hư tật xấu mà thôi, mưu mẹo, thích cờ bạc và hám lợi. Nhưng thật ra có thể phỏng đoán tính tình người Annam đúng hơn qua sức kháng cự của họ trong vài trận đụng độ đã xảy ra. Họ tỏ ra đủ sức tự vệ, nhất là trong trận tháng 4 năm 1860. Ta cũng biết rằng chính phủ của họ rất nhất quyết, kiên nhẫn, mạnh và đoàn kết; họ được huấn luyện để tuân lời một cách mù quáng, tôn thờ một vị hoàng đế thiêng liêng quả quyết không bao giờ chịu lùi. Mặc dù có vài sự xúi dục do Tây phương châm vào[62], nhưng mầm nổi loạn ngấm ngầm từ lâu ở Bắc Kỳ vẫn không bộc phát. Quyền lực của hoàng đế Tu-duc[63] vẫn nguyên vẹn. Chính phủ ta từ Pháp thông báo cho vị tổng tư lịnh biết rằng vua Xiêm vừa tuyên chiến với đế quốc Annam và gởi ra trận 60.000 quân Xiêm. Ta sẽ thấy về sau cái thực lực của đạo quân này.

---------------------------------------------------------------------------------
[1] Tức Đại đồn Chí Hòa. - TN

[2] Nguyên bản là “Tonquin". – TN.

[3] Tức Giao Châu. – TN.

[4] Nguyên bản là “Pays aquatique". – ND.

[5] Tức "Ðàng Ngoài". - ND.

[6] Nguyên bản là “Annam septentrional". – ND

[7] Nguyên văn bản dịch là “Annam”. - TN

[8] Nguyên văn bản dịch là “Annam miền trung”. - TN

[9] Tức "Ðàng Trong". - ND.

[10] Nguyên bản là “Annam méridional". – TN

[11] Nguyên bản là “La basse Cochinchine". – ND.

Nguyên văn bản dịch là “Annam miền dưới”. - TN

[12] Nguyên bản là “Cambodge". – ND

[13] Vương triều đương thời. - TG

[14] Theo cha xứ Alexandre Rhodes. - TG.

1 lieue = 1 dặm, dài 4,445km. - ND.

“Sang-koi” có lẽ là “sông Chảy”, còn “Song-ca” là “sông Cả”. - TN

[15] Tức Phan Thiết. - TN

[16] Trên phương diện Ðịa chất học không được đúng lắm, cát vẫn do sông ngòi bồi đắp. - ND

[17] Trong nguyên bản tác giả ghi là sông Cambodge. Tên ngày nay là sông Mekong, tác giả cũng dung tên sông Cambodge để chỉ chung cho sông Tiền Giang và Hậu Giang. - ND

[18] Tức Hà Tiên. - TN

[19] Tức Vũng Tàu ngày nay. - ND.

[20] Tức Vàm Cỏ. - TN

[21] Tức Long Hồ và Vĩnh Long. - TN

[22] Tức Gia Định. – TN

[23] Tức Mỹ Tho. - TN

[24] Tức An Giang. - TN

[25] Tức Tây Ninh. - TN

[26] Nguyên bản là “Moys” và “Kiams”. – ND

[27] Có khi tác giả viết là Tram-bam hoặc Tran-bam (tức là Trảng Bàng ngày nay), Vĩnh Long thì có khi tác giả viết là Vinh-luong hay Vinh-long, chúng tôi xin giữ theo nguyên bản trong từng trường hợp. - ND

[28] Tức sông Đồng Tranh. - TN

[29] Tức sông Soài Rạp. - TN

[30] Ðơn vị đo lường : dài khoảng 0,3248m. - ND. Nguyên bản ghi là “Pied”. - TN

[31] Đây có lẽ là cửa Định An của sông Hậu. - TN

[32] Tức Châu Đốc. - TN

[33] Sông Nhật Bản có lẽ là sông Mỹ Tho và 2 cửa sông nêu trên có lẽ là cửa Đại và cửa Tiểu của sông Tiền. - TN

[34] Liễu và cây hoa trà (camellia: trong nguyên bản) là các cây vùng ôn đới thường thấy ở Âu châu. - ND

[35] Nguyên bản ghi “aloes”. - ND

[36] Ðây có thể là tâm trạng của người tha hương đi chinh phạt nơi xứ lạ quê người (?). Dân địa phương sinh ra ở đây, lớn lên ở đây, đều thấy thương yêu và gắn bó với mảnh đất sình lầy của mình. Biết bao nhiêu người đã ngã xuống những mảnh ruộng ngập sình để bảo vệ quê hương mình. Trên mảnh ruộng bằng phẳng họ thấy gần gũi với nhau hơn, thương yêu nhau hơn. Thân xác họ không lún xâu xuống bùn mà họ biết dùng xuồng để đi thăm hỏi nhau, giúp đỡ nhau, không cần phải đắp đường xá gì cả. Linh hồn họ không cần lướt đi đâu hết, vì tâm hồn họ gắn bó với từng cọng cỏ dưới chân họ, mặc dù từng cọng cỏ đều giống hệt với nhau. - ND.

[37] Nguyên bản ghi “Arroyo Chinois”. – ND. Người Việt gọi là “rạch Bến Nghé”. - TN

[38] Công trình mới xây dựng sau này. - TG

[39] Tức Ðà Nẵng ngày nay. - ND.

[40] Bờ bên phải kể từ nguồn đổ ra biển. - ND.

[41] Tức Gia Định thành. - TN

[42] Ðây là phác họa quang cảnh chung của Saĩgon vào tháng hai 1861. Kể từ lúc ấy về sau, nhiều công trình được thực hiện, phần lớn do công binh. Cánh đồng được tháo nước bằng mương rãnh. Ðường phố rộng, đẹp, như những đường cái quan, tạo ra phố xá Saĩgon; chắc rằng nhà cửa rồi đây sẽ mọc lên. Xưởng tàu được thành lập. Tuy thế những xây dựng này cũng không làm thành phố thay đổi bao nhiêu khi nhìn từ dưới sông lên: cũng vẫn như xưa, không có gì cho thấy đây là một thành phố; trước mặt chỉ là một phong cảnh bằng phẳng, không có cá tính gì đặc biệt, sự hiện diện của người ở cũng chỉ thấp thoáng mà thôi. - TG

[43] Tức Jakarta ngày nay. - ND.

[44] Viết theo báo le Cambodge annamite (Cao Miên Nam Kỳ) năm 1835. - TG.

[45] Tức thành Phụng. - TN

[46] Xin mạn phép thêm vài chi tiết cho rõ ràng vì tác giả cố ý viết một cách mập mờ. Thật sự người Pháp đã khởi đánh Nam Kỳ từ năm 1858. Vào lúc quân Pháp và đồng mình dồn toàn lực để đánh Tàu thì de Genouilly đem quân đánh Đà Nẵng, nhưng không có người nổi dậy tiếp tay như mong đợi. Vì không đủ sức giữ Đà Nẵng, quân lính lại bị sốt rét, dịch tả, kiết lị, chết nhiều, de Genouilly bèn đem quân vào đánh Sài Gòn, đốt kho gạo… Vì quân ít không đủ giữ thành Sài Gòn nên ông ra lênh phá thành và xây đồn nhỏ hơn để phòng thủ và chờ tiếp viện. - ND

[47] Câu này không liên hệ gì với đoạn vừa viết, chỉ là câu chuyển để tóm tắt và giới thiệu đoạn tác giả sắp viết bên dưới, tiếc rằng câu chuyển tiếp không được khéo lắm. Ðây là cách viết văn khá xưa. - ND.

[48] Victor Olivier de Puymanel (1768-1799), tên Việt là Nguyễn Văn Tín, từng được chúa Nguyễn Ánh phong chức Cai đội, nên còn được gọi là Cai Tín. Về sau, ông được phong chức Thuộc Nội Vệ úy, hàm chánh Tam phẩm, tài liệu Pháp ghi thành "Colonel de la garde royale". - TN

[49] Đúng ra là chúa Nguyễn Ánh, vì mãi đến năm 1802 ông mới lên ngôi Hoàng đế với hiệu Gia Long. - TN

[50] Tức thành Quy. Đúng ra thành có 3 lớp bảo vệ: ngoài cùng là một lớp lũy bằng đất, một lớp hào nước, rồi đến mới đến tường thành bằng đá. - TN

[51] Nguyên văn bản dịch là “tả ngạn sông”. Có lẽ dịch giả nhầm. Nguyên bản ghi là “le rive droite” - TN

[52] Tức đồn Hữu Bình, còn có tên gọi là đồn Vàm Cỏ hay đồn Giao Khẩu ngày nay ở vào khoảng dưới chân cầu Tân Thuận. - TN

[53] Cảng Saĩgon được mở cửa ngày 22 tháng hai năm 1860. - TG

[54] Tức đồn Cây Mai. - TN

[55] Tức vùng Chợ Lớn ngày nay. - TN

[56] Nguyên bản ghi “La pagode des Mares". Tên tiếng Annam không rõ, người Pháp đặt là chùa Ao vì có nhiều hồ và ao chung quanh? Quân Pháp thường chiếm các chùa để làm đồn vì là các kiến trúc có sẳn, xây gạch, cao ráo và rộng rãi. - ND.

Đây chính là vị trí thành Ô-Ma. Trước khi Pháp xâm chiếm thì là khu vực có chùa Kim Chương và đền Hiển Trung. Vị trí ngày nay là khoảng ngã tư Nguyễn Trãi - Cống Quỳnh, đại thể là nơi chùa Lâm Tế và văn phòng Bộ Công an phía Nam ngày nay. Có lẽ tác giả muốn nói đến đền Hiển Trung, do đây là nơi thờ các công thần thờ Gia Long chăng? - TN

[57] Tên của người Pháp đặt cho chùa và gọi là đồn của họ. – ND

Trước chùa có tên gọi là chùa Kiểng Phước. Nay dấu tích ngôi chùa đã không còn. Phỏng đoán vị trí của chùa nằm ở góc đường Lý Thường Kiệt và Hồng Bàng ngày nay, gần bệnh viện phụ sản Hùng Vương. - TN

[58] Cũng do quân Pháp chiếm làm đồn. - ND.

Có lẽ tác giả muốn nói đến Phòng tuyến các chùa (Lignes des pagodas) chăng? - TN

[59] Không thấy tác giả nói đến số thương vong của người Pháp và người Annam theo Pháp trong đồn. - ND.

[60] Tức kênh Thị Nghè. - TN

[61] Nguyên bản ghi “Race abâtardie"; "abâtardie" có nghĩa là thoái hóa, suy đồi. Mạn phép xin độc giả chú ý để so sánh với các đoạn tác giả viết về người Annam ở chương IX. - ND.

[62] Có lẽ tác giả biết thừa Tây phương ở đây tức là nước nào, ai xúi dục và xúi giục ai nổi dậy chống lại triều đình Huế, nhưng tác giả không muốn viết ra đấy thôi. - ND

[63] Tức Tự Đức. - TN

baogt:
CHƯƠNG III

Ðề cương:

Kế hoạch chiến dịch đánh chiếm Saĩgon _Hạm đội chế ngự sông Don-naĩ_Giới tuyến các chùa cầm chân quân địch; quân viễn chinh dàn quân hình cung, phong tỏa thành Kì hòa, đặt quân An nam trong thế phải lựa chọn, hoặc phải chống trả, hoặc phải chịu nghiền nát và phân tán trong một trân đánh úp duy nhất.

Ngay hôm thủy sư đề đốc tổng tư lịnh viễn chinh đến Saĩgon, quân ta vẫn không lơi tay chuẩn bị trận chiến Nam kỳ. Tại Woo-sung, quân viễn chinh qui trước đây được phân phát khí giới, hành trang và đưa lên tàu. Tại Saĩgon, quân sĩ đã đến từ trước cũng ở thế sẵn sàng tiến quân và chiến đấu. Cách bố trí và địa điểm chiến lược đã được quyết định xong, tình báo các nơi cũng đã thu thập và bổ xung. Trọng trách được phân phối, các vấn đề cá nhân trong quân ngũ cũng được giải quyết xong. Thành phần quân đoàn thủy binh đổ bộ được lệnh tập họp; tiểu đoàn này gồm 900 người, chia thành 9 đại đội, trong số có một đại đội mệnh danh là thủy binh đột kích giữ vai trò của công binh, đánh mở đường; đại đội đặt dưới sự chỉ huy của đại úy hải quân de Lapelin.

Thủy sư đề đốc nghe Ðại tá Tây ban nha, cựu chỉ huy trưởng Saĩgon, phúc trình về các công tác của mình; vị đại tá này vừa chấm dứt nhiệm vụ phòng thủ Saĩgon suốt trong một năm qua. Thủy sư đề đốc cùng với các vị chỉ huy công binh và pháo binh đi xem xét cánh đồng Kì hòa và sau đó ông cũng đi quan sát đường giới tuyến phòng thủ do chuẩn đề đốc Page vạch ra từ kinh Avalanche cho đến đồn Caĩ-maĩ; ông muốn biết chắc đường giới tuyến này đất phải khô, khả dĩ có thể dùng cho pháo binh, mặc dù trên cánh đồng mênh mông của đường giới tuyến có nhiều ụ đất và hố nhân tạo. Sau khi quan sát, và thấy rằng với phương tiện hết sức dồi dào của đạo quân viễn chinh hiện nay, ông có thể đánh bọc hậu bất ngờ quân An nam trong khi họ đang bận lo phòng thủ ở mặt trước và hai bên cánh. Do đó, ông quyết định kế hoạch hành quân như sau mà các vị chỉ huy công binh và pháo binh phải nghe theo. Một mặt, hạm đội ngược sông Don-naĩ, phá xập các chướng ngại do địch dựng lên, phá các đập chắn, san bằng đồn lũy và kiểm soát toàn bộ thượng lưu sông. Tiếp đó là đường tuyến các chùa của ta phải đối đầu và kềm giữ cánh mặt của địch quân; đường tuyến này sẽ xử dụng pháo binh mạnh mẽ, dựa vào các công sự mới và vòng đai chiến thuyền neo trên sông Saĩgon, mục đích để cầm chân và dồn địch vào thế bất lực. Sau đó, từ đồn Caĩ-maĩ dùng làm căn cứ hành quân, toàn thể đạo quân viễn chinh sẽ tiến lên đánh gãy tuyến phòng thủ An nam tại một điểm thứ nhất, tiếp tục dùng điểm tựa này tiến lên, tránh tầm đạn của địch bọc ra phía sau để vây hậu tuyến thành Kì hòa. Từ vị trí này rất gần sông Don-naĩ, quân viễn chinh sẽ phối hợp với hoạt động của hạm đội trên sông khép kín gọng kềm mà nghiền nát địch quân. Trong khi ấy quân An nam khi bị cắt rời với kho Tong-kéou, bị vây hãm trong vòng đai sắt, không còn giải pháp nào khác, họ buộc phải đánh hoặc bị tấn công và nghiền nát. Tuy nhiên địch vẫn còn một đường tháo thân, nếu trong khi kịch chiến ta không đặt một đội quân canh chừng tại đây. Ðó là đường giám mục Adran; nhưng muốn đến được đường này thì địch phải vượt qua vùng đầm lầy thuộc kinh Avalanche.

Ðây chỉ là đường tháo chạy chớ không phải là đường rút lui trong trật tự[1].

Ðể bảo đảm tốt đẹp chương trình hành quân nên việc bố trí phải được thực hiện ngay không chậm trể. Chuẩn đề đốc Page nhận lịnh chỉ huy hạm đội ngược sông Don-naĩ lên thượng lưu và các phụ lưu, hóa giải quân địch không cho đổ quân vào vùng đồng bằng Bien-hoa. Các tàu chiến của hạm đội chuyển xuống các chùa Barbet, chùa Clochetons, chùa Caĩ-maĩ một số các đại pháo 30 ly nòng có khía [2] và súng cối 80 ly tạo ra một giàn hỏa lực thật khủng khiếp. Các nhóm quân đóng rải rác phía sau đường tuyến các chùa cho đến thành phố Tàu, dùng làm hậu quân, phải di chuyển về gần đồn Caĩ-maĩ, vì đồn Caĩ-maĩ sẽ là nơi xuất phát của các nhóm quân này để kết hợp với đại quân cùng tiến lên Quân lính chiếm đóng các căn nhà lớn bỏ hoang của dân chúng, nhà cất theo kiểu địa phương, mái thật nghiêng và hiên thấp chỉ cách mặt đất khoảng bốn chân[3] Rắn rít đầy dẫy. Ðêm, lính canh phải thận trọng; mỗi đầu người đều được quân An nam ra giá; chuyện đại úy Barbet bị ám sát là một cảnh cáo thảm khốc mà mọi người đều nhớ. Quân An nam tấn công thẳng lại không sợ, nhưng phải cảnh giác khi bị phục kích bất ngờ: địa thế đầy bụi rậm, kẻ thù thì bò và trườn như một con thú dữ [4]. Tình trạng đặc biệt như vừa kể cho thấy cái hãi hùng không tả nổi trong tiếng kêu cứu của những người lính canh.

Quân sĩ nôn nóng hăng say chờ đối đầu với kẻ thù. Cho đến giờ phút này các giới tuyến vẫn im lìm; từ chùa Clochetons ta thấy thoang thoáng các chướng ngại vật của người An nam, chẳng hạn như các cành lá úa vàng, rậm rạp và chằng chịt trên đầu tường thành. Những chòi canh có mặt bằng phẳng để đứng, một bóng người thấp thoáng, thế thôi. Chiến tuyến địch trải rộng mười sáu cây số; tổng số địch quân theo tin đồn lên đến 30000 người, ta và họ chỉ cách nhau có vài trăm thước nhưng ta thì không trông thấy họ; ta còn nghe nói họ có những chỗ cố thủ hiểm hóc trong thành; cũng nên kể thêm tính cương ngạnh của giống dân này, sức chống cự của họ và ta thì đã đánh suốt một năm chẳng được gì hết, tất cả cho thấy tầm quan trọng của địch và trận chiến sắp xảy ra. Nhưng ngày nay không còn ai nhớ tới sức mạnh đó của địch. Về sau này, khi tường thành Kì hòa bị san bằng, các bàn chông và chà gai bao phủ trở thành một lớp tro đen, khi kẻ thù bại trận, lang thang và khốn khổ, thì những người từ Pháp đến, cứ lấy hôm nay để đoán ngày xưa, rồi chế nhạo khi dễ giá trị quân sự của người An nam, không chịu phân biệt gì hết mà coi quân An nam chỉ là bọn giặc cướp.

Trong khi chờ đợi những cuộc dấn thân sắp đến, quân sĩ tìm thấy trong đời sống trước mặt một nguồn sinh lực mới, một sự vui nhộn tràn trề, mà sau này không ai tìm thấy trong các cuộc hành quân viễn chinh khác. Những người đã trải qua giai đoạn này đều coi đó là một giai đoạn lý thú và độc đáo trong cuộc đời mình. Cái mới lạ và vẻ đẹp của quang cảnh Saĩgon thật dịu dàng và duyên dáng, tạo ra một bối cảnh hết sức quyến luyến khi chợt nghĩ rồi đây sẽ phải rời xa nơi này[5] Kinh Tàu và đường cái nối tiếp với kinh này trên đất thật đông người và nhộn nhịp, đầy thực phẩm, súng ống và đạn dược chiến tranh. Trên mặt kinh các tàu sa-lúp màu xám, trước kia chuyên chở quân lính đưa lên tàu tại Peh-tang, nay thì chuyên chở các khẩu đại pháo nòng có khía và các ổ súng cối, bàn đặt súng và những quả đạn dài đầu nhọn[6].

Kinh Tàu, mà ta vẫn thường nghe nhắc tới khi nói đến Saĩgon, rất có thể là một con kinh do người đào, hoặc ít ra cũng do tay người sửa và vét giúp cho tàu bè thông thương. Kinh tách ra theo một hướng thẳng góc với sông Saĩgon, ăn sâu vào vùng đồng bằng, mặt nước phẳng và đều, rộng độ 100 thước. Kinh Tàu nối liền với kinh Thương mại[7], kết hợp với các kinh khác rồi đổ vào sông Cambodge [8] tạo ra đường lưu thông huyết mạch cho việc buôn bán trong toàn vùng Nam kỳ miền dưới. Khi rời khỏi Saĩgon, dọc hai bên bờ kinh vương lên nhiều chòm cây mảng cầu[9], cây mít, cây bông lài rất thơm, dứa gai và lau sậy. Cây cối trên bờ bên trái [10] che khuất những ruộng lúa mênh mông xa tít tới chân trời. Dẫy cây bờ bên phải, thỉnh thoảng có chổ trống để lộ ra một cái miếu[11] nhỏ, miếu dựng lên để thờ một vị thần quen thuộc của địa phương; trên bờ có nhiều căn nhà xinh xắn của người An nam, lợp ngói, nhà có trồng xương rồng bao kín chung quanh không cách gì chui qua lọt.

Một con đường cái tình trạng bảo trì khá tốt, rộng như một tỉnh lộ của ta ở Pháp, có cây xinh xắn che mát, đường chạy dài song song với kinh Tàu chỉ cách khoảng 200 thước. Ðó là một đoạn trên con đường từ Saĩgon đi My-thô. Từ Saĩgon xuống, bên phía mặt là các chùa đã biến thành đồn của ta như đồn Barbet, đồn Ao, đồn Clochetons, đồn Caĩ-maĩ. Cũng về bên phía tay mặt, xa xa sau mặt đường, đất đai có vẻ cao hơn một chút trải rộng tới chân trời. Các chòm cau và cây cối xanh tươi không còn nữa, chỉ thấy cây cỏ cằn cọc, vàng úa, thấp lè tèTất cả đều cằn cỗi và buồn thảm dưới bầu trời nung đốt; vài mô đất, vài nấm mồ sơn sáng chói trang trí tranh vẽ trên vách mộ là tất cả những gì đập vào mắt ngưòi nhìn. Cánh đồng mênh mông đó chính là cánh đồng Kì hòa. Xa hơn nữa là tuyến phòng thủ An nam, vách thành thấp, tiệp với màu đất, nếu không có bóng vài kỵ mã và chòi canh thì khó mà nhận ra thành Kì hòa.

Thành phố Tàu, dân địa phương gọi là Cho-luen, tên có gốc tiếng tàu[12], trải dài hai cây số dọc hai bên bờ kinh. Quang cảnh nhộn nhịp, cu-li Tàu và An nam tấp nập khuân vác gạo, tiền bằng đồng, dê nhỏ và cá khô. Các mái ngói màu đỏ nổi bật giữa các chòm cau giống như nơi thôn dã; thân cau thẳng băng và có khía tưởng chừng như đã từng làm mẫu cho các cột của thành quách Hy lạp. Viễn cảnh trông thấy ở khúc quanh đầu tiên của kinh tràn đầy vẻ dịu dàng, mềm mại và thanh lịch. Thật nhiều cầu nối liền hai bờ sông. Càng ra xa Saĩgon hơn, vườn tược rộng hơn, nhà cửa dần dần thưa thớt và riêng biệt hơn. Cho-luen không giống thành phố Âu châu chút nào, mà cũng chẳng giống với một thành phố Tàu hay An nam nào cả. Người ta có thể nói đây chỉ là một nơi gom tụ của một số nông trại giàu có. Sân nhà không có tường che khuất như bên Tàu, nên người ta có thể trông thấy vào giờ cơm, trong sân có kê ba cái bàn theo hình tam giác. Bàn trong cùng, kê cao hơn hết, dành cho chủ nhân, con cái, bạn hữu và người quản gia ngồi; cu-li thì ăn ở hai bàn còn lại kê thấp hơn. Lối sống giữa trời như thế cho thấy cái vẻ oai vệ của chủ nhân. Trên mặt kinh luôn luôn tấp nập, thuyền bè kẹp sát nhau, chỉ còn một lối nhỏ ở giữa. Khi nước ròng, mực nước rút xuống thật thấp, chỉ còn một dòng nước nhỏ như một con suối, đủ cho thuyền thật mỏng lưu thông; ghe thuyền khác thản nhiên cạn sình hai bên bờ mà không hư hại gì cả.Các ghe tàu này chỉ xử dụng ở nước ngọt, sơn bóng loáng bằng một thứ dầu nội hóa, trông có vẻ nhàn hạ phong lưu.

Thành phố Tàu là chìa khóa của tất cả thương nghiệp tại Nam kỳ miền dưới. Ai kiểm soát được thành phố này là nắm hết khả năng sinh hoạt của dân chúng trong phần đất An nam này. Các đồn Clochetons và Caĩ-maĩ sẽ giữ nhiệm vụ đánh chiếm thành phố Tàu; một tàu chiến loại lorcha[13] kiểm soát con kinh mà hai bên bờ là Cho-luen, tàu mang tên Jajaréo thả neo ngay cửa vào thành phố Cho-luen; do một đại úy hải quân chỉ huy, phụ tá lại là một trung úy thủy quân đánh bộ, đây là một trong những việc trớ trêu ngược đời trong trận chiến kỳ lạ này. Thành phố Tàu xây cất theo lối xưa, người Tàu sống ở đây chia ra thành từng bang hay hội đoàn, có thiết lập hẳn hoi quy uớc và xác định những ngoại lệ khỏi đóng góp. Nhiều người thật giàu có; một số người thuê trực tiếp các tàu Âu châu để gởi đi Ấn độ, đảo Réunions hoặc đi Tàu. Cũng phải xác nhận rằng ngày nay tình thế khó khăn vì sự chiếm đóng của Pháp, thương gia tại Saĩgon dựa vào giá cả của thị trường Hong-kong và Shang-haĩ, nhưng có khi biết có khi không, vì thế người Tàu lập hẳn một hệ thống chuyển thư riêng của họ giữa Saĩgon và Canton.

Trong suốt vùng Cho-leun thuộc tỉnh Gia-dinh, chùa và miếu (bàn thờ nhỏ để chuộc tội) thật là nhiều. Các miếu thờ xây cất rất trang nhã và giống hệt nhau, tương tự như các đền miếu bên Tàu. Ðền miếu xây cất có lẽ do tiền quyên góp của dân buôn bán người Tàu. Dân Tàu cũng dững dưng với tôn giáo như dân An nam, nhưng họ giàu hơn và muốn khoe khoang của cải[14]

Bốn cảnh chùa mà chuẩn đề đốc Page, một năm trước đây, đã biến thành đồn để phong tỏa Saĩgon thì nhìn từ xa cũng thấy rõ nhờ trên mái có các con rồng thật đặc biệt, những con cá đứng dựng trên đuôi và tượng chó có mắt người ta[15] theo mẫu gốc đặt ở lâu đài Yuen-minh-yuen; chắc chắn các hình tượng này không phải là các sáng tạo tùy hứng do trí tưởng tượng của người Tàu mà ra. Cảnh sân trước chùa đều có trồng loại cây dương Ấn độ có lá lớn gọi là cây Mahâ-phot, dưới một trong các cây này ông Phật đã được vua các thiên thần là Indra phong làm thầy tu.

Cảnh chùa Barbet mang tên một đại úy thủy binh bộ chiến trước kia đã từng cai quản chùa này, ông bị ám sát và bị cắt đầu nơi khúc quanh thứ nhất trên con đường dẫn đến chùa Ao. Buổi chiều hôm đó, ông cởi ngựa đi tuần tra như thường lệ. Bọn sát nhân rình rập trong một bụi cây, sau này người đi ngang đây còn chỉ chỏ cho nhau biết. Ông ta bị đột kích bằng giáo té ngay xuống ngựa. Bọn An nam liền cắt đầu, bò qua các bụi rậm và cỏ cao trở về giới tuyến cũ của thành Kì hòa. Sáng hôm sau, người ta thấy phần thân thể còn lại bị kéo bỏ bên vệ đường; con ngựa bị thương nằm bất động kế bên. Người ta kể lại rằng khi cái đầu ông đại úy đem đến đặt kế bên khay trầu của vị tướng An nam thì ông này liền đếm tiền thưởng mà không nói gì, rồi sau đó mới thốt ra một lời tiếc thương. Ðại úy Barbet có thân hình và một sức mạnh lực sĩ, tất cả người An nam đều biết mặt ông.

Chùa Ao trước kia rất nổi tiếng vì là nơi hành hương cho những người đi buôn bán từ My-thô trở về. Chùa có hai ao nên gọi là chùa Ao, một lớn một nhỏ, nước dơ bẩn, thường thấy thỉnh thoảng có xuất hiện loại cá sấu caĩman.

Chùa Clochetons hơi xa hơn các chùa kể trên nhưng cũng trên đường từ Saĩgon đi My-thô. Chùa xây cất giữa một cánh đồng mồ mả. Các tượng thần [16] sơn vàng, chất đầy chung quanh các gian phòng trong chùa, vẻ mặt tượng trưng một trạng thái gần hoàn toàn thoát tục. Một đàn gà bươi móc khắp nơi, lính thủy và bộ binh nhìn thấy mà thèm. Trên bàn của các sĩ quan có để vài chai rượu vermouth và absinthe; trước mặt đồn súng 30 ly nòng dài có khía xếp thành hàng trên các bệ bắn, lớp sơn đen trầy trụa vì súng phải khiêng lên khiêng xuống. Các chùa hay đồn binh của ta vừa kể giữ nhiều vai trò: vừa là nông trại, đồn canh gác và pháo đội.

Các vị thần phật giáo hình như đang lạc vào một thế giới khác; nụ cười mỉm của tượng, tuy nhân bản hơn là chế nhạo, nhưng hình như cũng đồng lõa với những nỗ lực của ta đang xảy ra trước mặt. Cảnh các tượng thần trước sự nhộn nhịp của đám người phục dịch bận rộn tíu tít và sức mạnh xâm chiếm của một giống dân tuy lo âu nhưng mạnh mẽ đã tạo ra một sự tương phản lạ lùng[17]

Chùa Caĩ-maĩ là điểm chốt xa nhất trên tuyến phòng thủ của quân viễn chinh, cánh mặt của đường tuyến bắt đầu từ kinh Avalanche. Chùa là vị trí tiền tuyến nhất mà trước đây ta đã chiếm được của người An nam. Chùa xây trên một gò đất cao do người đắp. Bên trong chùa các chi tiết trang trí cũng giống như các chùa khác. Phía trước mặt đồn Caĩ-maĩ là đồn An nam ta gọi là Redoute, đồn này là tiền đồn của cả hệ thống phòng thủ của địch quân, cạnh bên là một vùng đầm lầy làm chướng ngại thiên nhiên. Chùa Caĩ-maĩ của ta mấy ngày sau bất ngờ được xử dụng làm kho tồn trữ đạn dược cho pháo binh và lính bộ.

baogt:
  Công việc nâng các giàn trọng pháo 30 và các ổ súng cối 80 lên bàn bắn rất là nặng nhọc, các người cai thủy thủ đảm trách việc này. Trung tá pháo binh đánh bộ là Crouzat chỉ huy một đội pháo binh phá thành và một đội pháo binh chiến thuật phải huy động hết mọi người trong tay ông. Chỉ trong bẩy ngày các bệ bắn được xây đắp xong, súng từ tàu chuyển đến được nâng lên bệ bắn cùng với một trăm quả đạn cho mỗi súng. Chùa Barbet nhận được 3 ổ súng cối 80 và hai dàn phóng hỏa tiển tấn công 125 ly; chùa Clochetons nhận 4 khẩu đại bác của hải quân nòng 30 có khía; chùa Caĩ-maĩ một khẩu 30 nòng có khía và một ổ súng cối 80. Các thủy thủ trước đây trách nhiệm về các khẩu súng này trên tàu được phân phối gởi theo để tiếp tục đảm trách việc xử dụng.

Ngày 16 tháng hai, vị tổng tư lịnh rời tàu Impératrice-Eugénie, tàu bèn hạ cờ hiệu của tổng tư lịnh xuống rồi chở toàn bộ tổng hành dinh đến trụ sở mới tại một công sự gần phía sau đồn Barbet. Vị tổng tư lịnh giao cho đại úy hải quân de Surville[18] điều khiển các chiến hạm neo dọc trên sông Saĩgon. Vị sĩ quan cao cấp liền gom tất cả thủy thủ đoàn của các chiến hạm trong tay ông để thành lập các đại đội chuyên chở tiếp liệu, đồng thời cũng cung cấp pháo thủ cho các đại bác nòng có khía đã chuyển đến các chùa; suốt hai mươi ngày, họ phải cong lưng chèo chống, từ sáng đến tối dưới bầu trời thiêu đốt, vận chuyển một số lớn các thiết bị lưu động cho cả đạo quân, dù chỉ là một đạo quân nhỏ. Rồi đây họ lại được nghe các dàn đại pháo lẫn tiếng súng nhỏ từ các trận đánh vọng lại. Họ chỉ biết chiến đấu qua việc tải thương, cứu cấp và an ủi quân sĩ bị thương. Vai trò đòi hỏi một tinh thần hy sinh cao độ. Vị chỉ huy hải quân de Surville khuyến khích để giúp họ đủ sức kiên nhẫn chịu đựng những khắc nghiệt trong công tác khó khăn của họ.

Trung tá Crouzat bố trí và hướng dẫn toán dọ thám cho biết chắc chắn chỉ có phía trước và bên trái đồn Caĩ-maĩ mới có đường di chuyển cho pháo binh để tiến đến một vị trí đất cứng cách tuyến địch độ một ngàn thước. Ðường dùng cho pháo binh cần phải san bằng, công tác giao cho một đội công binh biệt phái và một đại đội trên chiến hạm Impératrice-Eugénie đảm trách; quân sĩ làm đường phải chịu hỏa lực của địch rất khó chịu nhưng không ai bị trúng đạn._Ngày 19 tháng hai, 20 hỏa tiển phóng hỏa 125 ly của hải quân và 32 hỏa tiển của bộ binh đầu 90 ly sơn đỏ được phóng đi từ chùa Barbet đến một địa điểm cách xa chừng 5 cây số nằm trong phần doanh trại của địch, mục đích làm cho địch bối rối và lo âu. Ngày 21 và 22 tháng 2, ta tiếp tế thêm cho chùa Caĩ-maĩ, nơi làm điểm tựa để chuyển quân đánh bọc hậu, gấp đôi số đạn dược cho pháo binh và thêm 50 000 viên đạn cho lính đánh bộ.

Trên bộ các đội quân viễn chinh tiếp tục bố trí, trên sông Don-naĩ các hoạt động cầm chân địch cũng được phối hợp và phân bố. Vị phó thủy sư đề đốc chỉ huy trưởng vạch ra chương trình hành quân cho chuẩn đề đốc Page như sau:

‘’Tôi thật vinh dự cho ông biết các chiến hạm Avalanche, Sham-Rock và pháo hạm số 31 phối hợp với chiến hạm Renommée để lập ra một sư đoàn dành cho ông hành quân phía thượng lưu sông, chiến hạm Renommée sẽ mang cờ lệnh của ông.

‘’Khi tới ngang địa phận Go-viap, và sau khi đã vượt được hết các chướng ngại có thể cản trở hạm đội của ông xong, thì ông biệt phái pháo hạm số 31 ở lại kinh này. Pháo hạm phải hoạt động thật cẩn thận đừng để bị thiệt hại. Tại vị trí đó, pháo hạm tận dụng tất cả những phương tiện sẵn  có để canh chừng và chận đứng mọi di chuyển của địch quân, cấm bất cứ ai có vẻ nghi ngờ vượt từ bờ sông bên này sang bờ sông bên kia.

 ‘’Phần ông thì đem các chiến hạm Renommée, Avalanche và Sham-Rock tiếp tục tiến lên đến ngang địa phận Thu-yen-mot, cương quyết gây khó khăn cho địch trong việc di chuyển giữa hai bờ sông, nếu có thể thì cắt đưt hẳn sự di chuyển của họ.

‘’Ông có thể vượt xa hơn Thu-yen-mot trong nhất thời nếu ông thấy có lợi thế cho ông, cứ tùy cơ xử trí để đạt mục đích tôi vừa chỉ định.

‘’Tôi giao cho ông trọng trách đối xử với dân chúng khi họ không gây hấn gì. Tạo cho họ tin tưởng là điều quan trọng, đồng thời cũng nên phô trương cho họ thấy các phương tiện mạnh mẻ của ta.’’

‘’Nếu trong vòng ngày mai bố trí xong thì ông lên đường ngay khi thấy thủy triều lên.’’

Trong mục đích kềm giữ hoàn toàn quân địch trong vòng thành của họ (xem bảng hình 1 và 2), pháo hạm số 18, sau khi chuẩn đề đốc Page xuất quân, sẽ lên đường đến một vị trí trên kinh Avalanche, giữ cách xa tàu lorcha Espérance một quảng ngắn. Pháo hạm 18 giữ trọng trách cắt đứt liên lạc của địch qua lại giữa hai bờ sông và phá xập cây cầu thứ hai bắc qua kinh. Tàu được cấp thêm đạn đại pháo và súng trường._ Về phía mặt trận tuyến, pháo hạm số 31 vì nằm ở một vị trí lẽ loi tại Go-viap nên nhận được lịnh phải hành động thật thận trọng, luôn luôn giữ chổ nước sâu, sông rộng để xoay trở dễ dàng._Sau hết là pháo hạm số 16, tàu lorcha Jajaréo, pháo hạm số 27 và tàu lorcha Saint-Joseph giữ vị trí bên cánh trái của quân ta; hai chiếc trước tiến vào kinh Tàu, hai chiếc sau tiến vào kinh Rach-cat tại cửa sông Rach-baoum, tức chỉ cách thành phố Tàu khoảng năm dặm. Pháo hạm số 27 nhận quân biệt phái từ tiểu đoàn 2 bộ binh, nhóm quân này trước đây đã từng tăng cường cho thủy thủ đoàn Saint-Joseph. Ngày 17 tháng 2, pháo hạm số 27 kéo tàu lorcha về hướng ngã ba sông Don-naĩ và Soi-rap, đổ theo sông Soi-rap đến một phụ lưu là sông Rach-cat; pháo hạm tiếp tục kéo theo tàu Saint-Joseph ngược sông Rach-cat rồi dừng lại giữ vị trí ở cửa sông Rach-baoum. Tất cả bốn tàu hợp sức kềm giữ địch quân bên cánh trái của ta và tạo ra hai đường tuyến phòng thủ riêng biệt nằm phía sau giới tuyến các chùa, mục đích là vừa làm hậu thuẩn cho giới tuyến này vừa làm cho bọn An nam không còn trông cậy gì được vào các trục giao thông trên sông ngòi. Liên lạc giữa pháo hạm số 27 và tổng hành dinh sẽ do pháo hạm số 16 và đồn Caĩ-maĩ đảm trách.

Vị chỉ huy trưởng liền cho quân sĩ hay là thời cơ sắp đến. Ông nói với quân sĩ rằng người Pháp gây chiến với hoàng đế của dân An nam, chớ không phải với dân An nam; quân đội viễn chinh Nam kỳ phải bảo vệ người dân vô tội, của cải và việc buôn bán của họ.

Với các dân tộc An nam, ông thông báo sự hiện diện của ông tại đây và mục tiêu của cuộc chiến; ông vạch cho họ cách xử trí bằng những lời lẽ như sau:

‘’Charner, đề đốc thủy sư Pháp, chỉ huy trưởng toàn thể lực lượng viễn đông, đại diện toàn quyền trong việc bình định đế quốc An nam,

Nhắc cho dân chúng tỉnh Saĩgon và tất cả các quận lỵ tùy thuộc tỉnh này biết rằng đế quốc Pháp và vương quốc Tây ban nha đồng tình trong cùng một ý chí, kết hợp sức mạnh chung đến đây để hạch hỏi chính quyền An nam phải giải thích lý do về tất cả các hành động bội ước và vô ơn mà họ phải nhận tội. Vì lẽ đó, chúng tôi tuân lịnh tôn nghiêm của đại hoàng đế chúng tôi để đến đây cùng quân sĩ tra hỏi ngọn nguồn về tất cả những gì đã xảy ra từ trước.

‘’Chắc chắn không phải chúng tôi đến đây để gây khổ sở cho dân chúng. Trái lại, điều thiết tha lớn nhất của chúng tôi là che chở và mở đường thương mại cho họ để càng ngày càng làm cho họ giàu có thêm. Chúng tôi hứa sẽ đem tới hòa bình và bảo vệ hoàn toàn của cải của họ, tính mạng và nhà cửa của họ, không làm gì thiệt hại đến tất cả quan chức dân sự nào, quân sĩ nào, người dân nào chấp nhận mọi sự việc với một tấm lòng lượng thiện. Sự che chở này cũng sẽ mở rộng cho tất cả, không phân biệt những người đã quy phục chúng tôi cũng như những người chưa có cơ hội để làm._Nơi nào quân sĩ chúng tôi không đi ngang thì cứ thản nhiên buôn bán như thường lệ, không rối loạn và không lo sợ gì cả. Còn những ai, trước kia vì nhất thời khiếp sợ uy quyền của chúng tôi mà trốn chạy, và những ai, cho đến bây giờ vẫn chưa kết hợp với dân tộc chúng tôi, nếu có ý chí thật sự muốn quy phục thì chúng tôi vì lòng nhân từ sẽ đón rước và che chở không nệ gì về quá khứ.

‘’Những lời hứa hẹn hòa bình vừa ban ra, xuất phát từ lòng thực tâm của ngưòi tổng tư lịnh, không phải là những hứa hẹn chốc lát có hiệu quả ngắn hạn, mà là những lời hứa khẳng định và vĩnh viễn’’

Tất cả các cánh quân đã bố trí xong, quân sĩ sẵn sàng tiến lên và chiến đấu. Vị tổng tư lịnh chỉ thị các hàng tiền tuyến sẽ tấn công ngày 24 tháng hai.

------------------------------------------------

[1] Phúc trình do vị chỉ huy của một trong các lực lượng đặc biệt cho biết như sau:

‘’Ðể đánh bật địch quân ra khỏi trại của họ, thì phải đánh trước mặt hoặc bên cánh trái, hoặc bên cánh phải. Tấn công trước mặt thẳng về hướng Saĩgon, sẽ gay go và thương vong nhiều, địch dồn về mặt này đông nhất, phương tiện phòng thủ cũng tốt nhất. Vững tâm trong vòng đai cố thủ, địch sẽ chống cự đến cùng. Còn như tấn công bên trái của địch quả là khó khăn, vì lý do phải vượt qua đầm lầy để xáp đến gần địch. Vậy chỉ còn cách là tấn công bên cánh phải của địch mà thôi.’’

Vì những lý do vừa kể, ta chỉ cho lịnh tấn công bên trái khi nào tấn công trước mặt gây tổn thất thương vong quá nhiều và khi tấn công bên phải sẽ gần như không thực hiện nổi vì các chướng ngại thiên nhiên. Nhưng thật ra cũng không đúng như vậy vì ta chưa kể đến sức mạnh của cả hạm đội trên thượng lưu sông Don-naĩ, và địch thì không thể di động được ở bất cứ điểm nào dọc theo tuyến các chùa của ta. Nhưng nếu kể như quân viễn chinh tiến lên từ cánh trái của mình đánh bật được quân địch ở tiền tuyến của họ mà ta gọi là Redoute để gây thêm càng lúc càng khó khăn cho địch, thì chương trình hành quân sẽ không thiết lập dựa vào phương pháp loại dần các giải pháp; mà nó là hậu quả hợp lý và đúng theo sự bố trí của ta trên các mặt sông và dọc theo đường giới tuyến các chùa.Tấn công thẳng vào mặt trước của địch chẳng những tự gây tổn thương hết sức nặng, mà điều sai lầm là ta không chú ý tới hai tác dụng cực mạnh khác là hạm đội và vòng đai đại pháo kéo dài từ kinh Avalanche đến đồn Caĩ-maĩ mà ta sẵn có. Vả lại, chắc chắn quân địch, khi yên trí trong vòng thành phòng thủ, sẽ chống trả đến cùng; và còn có thể dựa vào cách tổ chức từng khu công sự riêng trong doanh trại của họ mà tăng sức kháng cự lên thành bốn. Còn tấn công phía bên phải thì điều này không thể đặt ra được.

Hậu tuyến của Kì hòa cũng mạnh như tiền tuyến vậy. Cũng phải nghỉ đến chuyện bố trí chiến thuật mà ta ta đặt ra không lọt qua khỏi sự tiên đoán của vị nguyên soái An nam.

[2] Nòng súng có khía bên trong gọi là đường khương tuyến giúp viên đạn khi bắn ra sẽ xoáy trong không khí, đi xa hơn và sức xuyên phá mạnh hơn, (ghi chú của người dịch).

[3] Mỗi chân dài khoảng hơn ba tấc (0,3248m) (ghi chú của người dịch).

[4] Trong nguyên bản là : comme une bête fauve : (ghi chú của người dịch).

[5] Tác giả vừa tả Saigon buồn thảm chẳng có gì xem ở chương II. Hóa ra :’’Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ’’ ( Kiều-Nguyễn Du), (ghi chú của người dịch).

[6] Trong khi đó các cỗ đại pháo An nam vẫn còn dùng đạn tròn đúc bằng sắt, (ghi chú của người dịch).

[7] Arroyo Commercial: tạm dịch là kinh Thương mại, người dịch không biết kinh này ngày nay gọi là gì, (ghi chú của người dịch).

[8] Sông Cữu long ngày nay, (ghi chú của người dịch).

[9] Rất có thể đây là các cây bình bát, cùng một giống với mảng cầu, mọc hoang ở mép kinh, (ghi chú của người dịch).

[10] Các kinh đều nối liền với hai con sông khác nhau, vì thế đổ ra biển cũng bằng hai cửa khác nhau, mặt và trái dùng ở đây luôn luôn chỉ bên mặt và bên trái thuận theo danh xưng dùng trong chiến lược và hành quân, (ghi chú của tác giả).

[11] Tác giả viết là miao trong nguyên bản, (ghi chú của người dịch).

[12] Chợ lớn là tiếng An nam, (ghi chú của người dịch).

 

[13] Lorcha là chiến thuyền gốc Bồ đào nha, nhưng vì nhu cầu phải kiểm soát một số quá lớn sông ngòi, nên được đem xáp nhập vào lực lượng hải quân của ta. Các tàu lorcha có trang bị một khẩu đại bác lớn trên mỗi tàu và phải mang cờ quốc gia của ta.

[14] Tôi trộm nghĩ xây cất chùa miếu có lẽ không phải là một cách khoe khoang của cải. Còn việc dững dưng với tôn giáo thì có lẽ chùa chiền khang trang rộng rãi đã bị chiếm để làm đồn cho quân viễn chinh hết rồi. Viễn chinh không phải chỉ có những viên đạn đồng phập vào thân xác họ mà còn có những viên đạn bọc nhung đâm vào tâm hồn họ nữa. Biết bao nhiêu người đã ngã xuống không phải chỉ để bảo vệ mảnh đất quê hương của mình mà còn để gìn giữ truyền thống, tín ngưỡng và văn hóa của họ nữa đấy, (ghi chú của người dịch).

[15] Có thể đây là hình tượng cá hóa long và các con lân, (ghi chú của người dịch).

[16] Trong nguyên bản, tác giả viết là dieux hoặc là dieux boudhiques, (ghi chú của người dịch).

[17] Hay lắm ! Nhận xét và mô tả rất khéo,( ghi chú của người dịch).

[18] Ðại úy hải quân d’Aries được chỉ định làm chỉ huy trưởng các lực lượng đóng tại Saĩgon.

baogt:
CHƯƠNG IV

Ðề cương:



   Sáng ngày 24 tháng hai, quân viễn chinh đánh gẫy đường tuyến phòng thủ An nam tại địa điểm gọi là Redoute. Phó thủy sư đề đốc Charner trực tiếp nắm quyền điều khiển quân lính. Ðạo quân Pháp-Tây ban nha di chuyển vòng theo bên cánh rồi dàn ra ở hậu tuyến của địch quân, chiều 24 tháng 2 đóng quân ngay trên đường tháo lui của địch.

Vào bốn giờ sáng, kèn báo hiệu tập họp chào cờ. Trời còn tối; cũng như các nước nhiệt đới khác, trời chỉ bắt đầu sáng vào khoảng sáu giờ. Trong đêm tối các toán quân mò mẩm đứng vào vị trí của mình. Trước khi lên đường, quân sĩ được uống cà phê và nhận một khẩu phần rượu mạnh. Túi đeo lưng đã chuẩn bị xong từ chiều tối hôm qua. Trong túi có tám ngày lương khô và hai khẩu phần thịt nấu sẵn .

Năm giờ sáng, tất cả các toán quân đều đến vị trí dọc theo đường các chùa. Ðề đốc và đại tướng de Vassoigne dẫn đầu đứng gần cổng đồn Caĩ-maĩ, một nhóm nhỏ lính bộ người Phi châu được phái làm lính bảo vệ. Kế đó là lính bộ Tây ban nha, tiếp theo là hai đại đội lính bộ nữa. Pháo binh cắm trại tại Caĩ-maĩ tập họp thành hàng dọc theo thứ tự như sau: 6 ổ súng cối miền núi, hỏa tiển, 3 đại pháo 4 phân nòng có khía, 4 đại pháo 12 phân nòng có khía. Bộ binh bố trí trên đường cái theo thứ tự như sau: lính đánh bộ, công binh vác thang; thủy quân xung kích vác thang và chiến cụ linh tinh; thủy quân đổ bộ; thủy quân bộ chiến. Tiếp theo nữa là tùy tùng và ban cứu thương. Một đoàn gồm 600 cu li người Tàu khuân vác, 100 thú vật chuyên chở giữ vị trí dài dọc theo đường Jajareo, đường này nằm chắn ngang và thẳng góc với đường các chùa. Cách xắp xếp như thế tránh cho quân lính khỏi gặp trở ngại khi di chuyển.

Năm giờ rưỡi, đoàn quân bắt đầu chuyển động lên đường. Trời bắt đầu sáng, khí trời còn mát; bụi bặm, nhờ hơi ẩm ban đêm lắng xuống, lại dấy lên mù mịt. Các toán quân dẫn đầu đổ xuống ruộng và tiến về hướng đồn Redoute, đồn nằm ở cuối tuyến phòng thủ phía tây của quân địch. Phía trước đoàn pháo binh thì có một đại đội lính bộ phân tán mỏng làm quân biệt kích; pháo binh nhờ đường đã được phan bằng phẳng từ chiều hôm trước nên bố trí không gặp khó khăn gì. Các chùa Barbet, Clochetons, Caĩ-maĩ đã bắt đầu bắn suốt một giờ rồi. Tiếng gầm thét của các khẩu đại pháo át hết các tiếng động khác và bao trùm toàn vùng mặt trận Quân địch cũng kéo nhau giàn ra các đường phòng ngự, ồn ào chuẩn bị chiến đấu. Từ vị trí cao trên đồn, ta có thể quan sát địch quân bố trí. Tiếng chiêng và tiếng rít đặc biệt rất dễ nhận phát ra từ súng của họ chỉ nghe thấy ở khoảng trống giữa những tiếng nổ do các cổ đại pháo nòng 30 có khía của ta; súng của họ có nòng nhỏ và làm bằng sắt. Các sĩ quan từ Saĩgon lên, tập họp ở đồn Caĩ-maĩ, tiến nhanh trên đường cái, họ chỉ kịp chào và bắt tay vội vả những đồng đội đi ngang.

Ðoàn quân dàn trận đã gần xong: đại pháo do ngựa kéo trải rộng ra để bố trí trong ruộng và tiếp tục tiến lên, khi chỉ còn cách địch độ một ngàn thước liền tản ra thành từng đội, kéo chếch qua phía trái, bất thần ngừng lại và bắt đầu nhả đạn. Sức rung chuyển sắt thép, kéo dài, rít lên làm điếc tai và vang rền cả cánh đồng. Các cổ pháo nòng 12 chỉa thẳng vào đồn Redoute, các cổ pháo nòng 4 và súng cối vùng núi cũng như hỏa tiển hướng vào hai góc đồn hai bên. Ðường bắn được điều chỉnh nhanh chóng và trở nên thật chính xác. Mặc dù tuyến phòng thủ An nam yếu kém vì súng nhỏ và các điều kiện quân sự thua thiệt, họ vẫn đốt khói để che và gia tăng sức kháng cự. Súng bắn rát, nhưng nói đúng ra là phía địch đã tận lực chiến đấu, chớ không phải về phía ta.

Pháo binh lâm trận giúp cho bộ binh nghỉ tay lấy lại sức: quân tiến lên từng đại đội xếp theo hình dọc. Lịnh ra phải dàn quân khép lại khoảng cách còn một nữa. Các cổ đại pháo miền núi nhẩy chồm lên và tiến tới, bất chấp chướng ngại như gò và mồ mả, các cỗ đại pháo dàn ra chỉ cách địch quân có 500 thước. Các cỗ pháo nòng 4, hỏa tiển, đại pháo nòng 12, tiếp tục luân phiên điều động tiến lên từng chặn một. Bộ binh tiến lên thêm một chặn nữa. Dọ thám tối hôm trước cho biết có một vùng đầm lầy nằm phía bên trái gần đồn Redoute. Vì thế bộ binh tiến lệch về phía mặt để tránh, nhưng lại tránh quá xa. Lớp sau lại tiến theo nên gây ra chậm trể. Sau khi pháo binh bắt đầu khai pháo trở lại thì một lúc sau bộ binh mới giàn xong vị trí. Hai mũi tiến quân được thành lập, bên mặt là công binh, lính đánh bộ, lính đánh bộ người Tây ban nha, thủy quân đánh bộ; mũi tiến quân này do đại đội trưởng Allizé de Matignicourt chỉ huy. Mũi tiến quân bên trái gồm có thủy quân đổ bộ do đại úy hải quân Desvaux và đại úy công binh Gallimard chỉ huy.

Trong khoảng cách năm trăm thước, đạn của đối phương rơi tới tấp vào quân Pháp và Tây ban nha. Ðường bắn của quân An nam chính xác, đúng cả hướng và cả chiều cao. Trong đồn, các cổ pháo, súng nhỏ cầm tay, súng trường bắn ra xối xả. Mỗi khi phó đề đốc, bộ tham mưu và quân hộ vệ của ông dừng lại chỗ nào thì trong thành nhắm vào chỗ đó bắn ra rất rát và mảnh liệt. Pháo binh chịu trận trước tiên; chỉ trong vài phút, nhiều pháo thủ và ngựa bị trúng đạn. Khoảng cách quá ngắn trước mặt địch làm giảm ưu thế của khí giới có tầm bắn xa và chính xác của ta; mặc dù tầm đạn của ta chính xác, liên tục và ưu thế hơn, nhưng sức kháng cự của bọn An nam không bị đánh tan cũng không nao núng chút nào. Thương vong của ta tăng lên; đại tướng de Vassoigne, đại tá Tây ban nha Palanca Gutierrez, chuẩn úy Lesèble và thượng sĩ Joly bị thương nặng. Thủy sư đề đốc bèn trực tiếp cầm quân và ra hiệu lịnh. Các hàng quân chuyển động. Các cổ súng cối miền núi bắn yểm trợ hai bên cánh. Một đại đội lính đánh bộ xung kích tiến lên bắn loạn xạ để dẫn đầu cánh quân bên phải; một đại đội thủy quân đánh bộ dùng súng nhẹ dẫn đầu cánh quân bên trái. Lính công binh lên trước, tiếp theo sau là quân Tây ban nha, bộ binh, thủy quân đánh bộ. Vì phải để dành sức cho phút chót nên tất cả chỉ chẩm rải dấn lên, địch bắn xối xả, quân tấn công tiến xéo qua bên phải để khỏi rơi vào vùng đầm lầy. Còn khoảng chừng ba mươi thước, một tiếng thét vang ‘’Hoàng đế muôn năm!’’ vụt nổi lên át hết tiếng súng; quân lính ở hàng đầu nhào lên; tuy bị tầm đạn của súng hỏa mai ngay trước ngực nhưng họ vẫn cố vạch chà tre chằng chịt để bước từng bước trên miệng các hầm chông, nhảy qua bàn chông, nhào xuống hố, phá chà gai để tiến tới, tay và mặt đầy máu, quần áo rách tả tơi nhưng vẫn tiến đến bờ thành của địch một cách vinh quang.

Cánh quân bên trái cũng can trường phá gẩy tuyến phòng thủ phía ngoài của địch. Dẫn đầu là thủy binh đột kích. Họ tự mang lấy thang, câu liêm có cán, sào móc, lựu đạn: bọn cu li mang thang đều được thay ở trạm tiến quân thứ hai; việc mang thang kể như là một công tác danh dự. Không có chỗ nào phải chạm trán xáp lá cà, khi các quân lính Pháp đầu tiên nhẩy được vào bên trong, trên các các bệ bắn phía sau tường, thì họ thấy bọn An nam thối lui mang theo giáo mác, súng lớn và súng tay của họ. Quân An nam lùi lại một bước thế thôi, gần như thản nhiên, giống như những người thợ đang làm việc rồi ngưng tay; thật quả là lạ lùng, mặc dù tình thế cấp bách vì cả một đạo quân đang trèo lên tường để tràn vào; chỉ có một số thật ít bỏ chạy mà thôi. Trong mấy phút sau là họ rút về phía đại quân có cờ đuôi nheo phấp phới bên trong thành Kì hòa. Trong trận đánh ngày 24 tháng 2 này, quân An nam chấp nhận đối đầu bằng đại pháo với ta tuy họ yếu kém nhưng không thấy lòng can trường của họ bị sứt mẻ hay nao núng một chút nào cả: nhiều xác chết rải rác dọc theo tường phòng thủ cho thấy hiệu quả của súng nòng có khía của ta. Nhưng khi quân ta xung phong, tiến thẳng vào họ, thì họ thối lui nhưng không chạy, khoảng cách vẫn còn nhìn thấy nhau[1] Chuyện này cũng thấy ghi trong các phúc trinh về những trận đánh trước đây ở Saĩgon và Touranne.

Thiếu úy Thénard của công binh và trung úy hải quân Berger là hai người trèo lên tường thành trưóc nhất tại hai điểm phòng thủ bị đánh gẫy: một do đạo quân bên phải và một do đạo quân bên trái.

Trận này làm ta thiệt hại 6 người chết và 30 bị thương, trong số này có một đại tướng, một đại tá, một chuẩn úy và một thượng sĩ. Một người cu li công binh bị giết và một bị thương. Sau cùng cu li công binh cũng tiến tới chướng ngại chót, theo đúng với giao ước thường ký như vậy ở bên Tàu, mục đích là dành cho quân đánh thuê một chút danh dự. Pháo binh có nhiều ngựa và la chết hoặc bị thương. Pháo binh hành quân trên một địa thế rất khó khăn, lầy lội, giếng, hố, tường chắn rải rác, chướng ngại nhân tạo đủ loại; địa thế như vậy cực kỳ thuận lợi cho quân đánh bộ, nhưng lại bất tiện cho đại pháo dùng ngựa kéo, nhất là khi thụt lùi không phải dễ[2]

Trận chiến kéo dài hai giờ, nhưng pháo binh phải bắn rất nhiều; bắn đi tất cả 228 quả đại pháo miền núi, 146 quả đại pháo 4, 128 quả đại pháo 12, phóng 80 hỏa tiển. Tường phòng thủ của địch làm bằng tre đắp đất, không phá thủng được, không đốt cháy được mà cũng không phá xập được. Vì vậy trọng pháo phải bắn rát để giúp bộ binh tiến lên nắm vị trí của mình, bộ binh bị bóp nghẹt vì đường hẹp và lối thoát ra để giàn quân cũng hẹp.

Các binh sĩ bị thương trong lúc đang đánh nhau được chở về đồn Caĩ-maĩ, từ đây mới gởi đi bằng đường bộ hay đường sông đến nhà thương Cho-quan trên bờ kinh Tàu. Công binh bắt tay vào việc tức khắc, phá một mảng tường phòng thủ của địch để kéo trọng pháo. Chuyên chở đạn dược từ đồn Caĩ-maĩ thay vào số đã bắn. Công tác hoàn tất vào một giờ trưa. Suốt ngày và đêm 24, kho tồn trử tạm Caĩ-maĩ được bổ xung và sửa chửa. Ðạn dược thì lấy từ hai tàu Rhin và Loire đậu ở bến Saĩgon. Hai tàu dùng làm kho thuốc súng vì không tìm được nơi nào trên bờ khô ráo và đủ chắc chắn._Quân lính trở lại thu lượm các túi đeo lưng của mình vì trước đó họ phải bỏ xuống đất để tấn công. Vào khoảng chín giờ sáng, quân lính của ta chui vào tạm trú trong các căn nhà thấp lè tè mà vài giờ trước đây còn là nơi trú ngụ của quân An nam. Các túp lều này dơ bẩn, xông lên mùi hôi thối kỳ lạ giống như mùi mắm cá của người Nga. Quân lính nghỉ ngơi đến ba giờ chiều. Họ phải thức từ bốn giờ sáng, túi quân trang thì đeo trên lưng, hành quân trên đường đất bụi mù, tiếp theo là lầy lội, đánh nhau dưới sức nóng tuy là buổi sáng nhưng đã bắt đầu oi bức. Lịnh nghỉ ngơi ban ra là vì thận trọng chớ không vài vì lòng nhân từ. Ai cũng biết sức nóng của Saĩgon là sức mạnh phụ thêm cho quân An nam, sức nóng tại đây làm phát sinh vi trùng bệnh dịch hạch đầm lầy với một tốc độ khủng khiếp.

Navigation

[0] Message Index

[#] Next page

[*] Previous page