Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 16 Tháng Mười, 2019, 07:56:43 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Sấm sét trên Thái Bình Dương  (Đọc 55142 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 3999


WWW
« vào lúc: 02 Tháng Chín, 2009, 06:52:55 PM »

Tác giả: Albert Vulliez
Người dịch: Người Sông Kiên - Lê Thị Duyên
Nhà xuất bản: Sông Kiên
Năm xuất bản: 1974
Số hoá: ptlinh


Một quyển sách ly kỳ, hấp dẫn, lôi cuốn từ đầu đến cuối, như một tiểu thuyết phiêu lưu, cần thiết trong việc tìm hiểu cuộc chiến tranh Thái Bình Dương trong trận đại chiến vừa qua.

"Sấm sét trên Thái Bình Dương" là một bức hoạ rộng lớn về cuộc chiến tranh ở Viễn Đông. Quyển sách bắt đầu với trận đột kích Trân Châu Cảng của quân Nhật và cuộc xâm lược sấm sét trên các quần đảo ở Đông Nam Á; miêu tả tường tận các năm dài đánh nhau trong vùng rừng rậm và sình lầy trên các quần đảo trên Thái Bình Dương và xuyên qua vùng chằng chịt các hòn đảo nhỏ trong Biển San Hô.

Tác giả cho chúng ta tham dự, từng giờ, vào diễn tiến của các trận hải-không chiến dữ dội ở Midway và Guadalcanal, tiếp theo đó là các cuộc đổ bộ kinh hồn, những trận đánh trên bộ khủng khiếp: các cuộc đổ bộ đẫm máu tại Iwo Jima và Okinawa. Bấy giờ chúng ta sẽ chứng kiến sự kháng cự tuyệt vọng của một dân tộc từ chối chấp nhận sự đầu hàng, sự xuất hiện của các phi cơ tự sát Kamikaze, sự hi sinh của các phần tử ưu tú của tuổi thanh niên Nhật. Cuối cùng là cuộc oanh tạc Đông Kinh bằng bom xăng đặc và hồi chung cuộc tàn khốc, quả bom nguyên tử trên Hiroshima.

Cũng với diễn tiến của các trận đánh kinh thiên động địa, tác giả cũng đã phác hoạ lại hình ảnh của các lãnh tụ chính trị và quân sự của hai phe đối nghịch: Đồng Minh và Nhật Bản, thời bấy giờ.


Tự ngôn

Khi viết lịch sử một cuộc chiến tranh, cần phải dành một phần lớn cho khía cạnh nhân bản, cho những tình cảm đam mê khích động người chiến binh, và cho cảnh trí chung quanh cuộc chiến ấy. Sự miêu tả này có thể được giảm thiếu tối đa nếu tấn thảm kịch xảy ra tại một nơi gần chỗ chúng ta và trong một quá khứ gần gũi với chúng ta. Rõ ràng là ta có thể kể lại cuộc chiến trên đất Pháp bằng cách chỉ chú trọng đến sự kiện mà thôi bởi vì các nhân vật và khung cảnh, trong đó cuộc chiến xảy ra quá quen thuộc với chúng ta. Nhưng trái lại nếu cuộc chiến tranh ấy xảy ra tại một nơi xa lắc, trên một đại dương bao phủ gần hai phần ba quả địa cầu và giữa các phe đối nghịch mà cách sống, nhân dáng và phong thái đều hoặc là khác biệt hoặc là không dính líu gì đến cách sống, phong thái hay nhân sáng của chúng ta, thì một bản tường trình các sự kiện cho dù được trình bày khéo léo đến đâu chăng nữa, cũng không có ý nghĩa gì cả. Làm như thế là bắt buộc độc giả phải không ngừng cố gắng vị trí hoá trong không gian, các địa điểm mang những địa danh man dại, mà sự phân tán trên bản đồ lên đến mức có thể làm sửng sốt cả trí tưởng tượng. Làm sao độc giả có thể thích thú theo dõi được các trận đánh rải rác cách nhau hàng ngàn cây số mà không liên hệ gì với nhau và không có mục đích rõ rệt? Làm sao co thể bắt độc giả khu vị vào không gian và thời gian những cuộc điều động các lực lượng không, hải và lục quân mà thời gian kéo dài hàng tháng không nhất thiết luôn luôn phù hợp với nhau và không có vẻ gì là hữu ích cho độc giả?


Cũng như nhân vật Avare của Molière, độc giả sẽ dễ dàng tự hỏi những cái nhà ông ấy nhúng tay vào việc này để làm gì nhỉ?

Để tránh cho độc giả khỏi thường phải vun đắp mãi vào cái dấu hỏi này, cần phải cung cấp cho độc giả vài điểm soi sáng và vị trí hoá các biến cố trong khung cảnh lịch sử và chính trị của chúng.

Vấn đề đầu tiên mà độc giả sẽ đặt ra là vấn đề sau: tại sao, trong mùa đông năm 1941 ấy, lúc chiến tranh đang tàn phá Âu châu, Nhật Bản lại từ bỏ một chủ trương trung lập vốn rất có thể đảm bảo cho xứ ấy một sự hội nhập vĩnh viễn trong mối tương quan hoà nhịp với các đại cường mà không phải đánh chác gì cả? Ta nên nhắc lại cho độc giả rõ là Quốc gia này vốn đã hoàn tất một công cuộc canh tân chưa từng có trong lịch sử trong vòng 50 năm, đã cho rằng mình là nạn nhân của một bao vây kinh tế, chính trị và quân sự, một cảm nghĩ bị mặc cảm chủng tộc làm trầm trọng thêm. Nhật Bản đã thử phá vỡ vòng vây ấy bằng một kế hoạch bành trướng tại Mãn Châu và Trung hoa, nhưng sau chiến thắng sáng chói, quân Nhật bị sa lầy năm 1939 tại ngã tư các đường giao thông. Quân đội ấy đã thiệt mấy 500.000 người và một số vật liệu khổng lồ để chiếm tài nguyên của bốn tỉnh mà cuộc chiến tranh du kích liên tục đã ngăn cảm mọi sự khai thác. Chỉ có các quần đảo Đông Nam Á châu là có thể cung cấp cho Nhật các nguyên liệu cần thiết cho 72 triệu dân đang bị ngộp thở trên một  mảnh đất nghèo nàn và nhỏ thua một phần tư lãnh thổ nước Pháp.


Vậy thì vũ trụ đồng thịnh vương của Đại Á Châu đặt dưới quyền giám hộ của Nhật, đối với các nhân vật chính trị và quân sự của vương quốc Mikado, có vẻ là con đường chiến thắng duy nhất của các dân tộc Viễn Đông. Vũ trụ đồng thịnh vượng này đã bắt đầu được hình thành trong thời gian giữa hai cuộc thế chiến bằng các cuộc thương thuyết theo đường lối ngoại giao tại khu vực trung ương Thái Bình Dương. Nhưng nếu việc đặt chân lên các quần đảo hoang vu kết thành chuỗi trên đại dương mênh mông là chuyện dễ dàng, thì sự bành trướng đến các quần đảo lớn về phía Nam đang bị các cường quốc Tây phương kiểm soát chỉ có thể được thực hiện bằng sức mạnh.


Chính vì nhắm vào viễn ảnh không thể tránh được đó mà Bộ tham mưu Hải quân Nhật đã bí mật phát triển hạm đội chiến thằng bằng cách cấp cho nó-mà không cần đếm xỉa gì đến các hiệp ước-những thiết giáp hạm hùng mạnh nhất thế giới và một hạm đội liên hợp độc nhất vô nhị, chủ yếu là gồm các hàng không mẫu hạm.


Năm 1939, khi sự thất bại ở Trung Hoa bắt buộc Nhật Bản tính đến chuyện dùng vũ lực đánh chiếm thuộc địa của Đồng minh trong vùng Đông Nam Á. Nhật bèn gia nhập khối Trục, nghĩ rằng trong trường hợp có xung đột tại Âu châu, lực lượng hải quân Pháp-Anh đủ mệt tại Bắc Hải và Địa Trung Hải để dành cho Nhật rảnh tay tại Viễn Đông. Theo dự tính, Nhật chỉ còn phải đối phó với hạm đội Mỹ, chắc chắn là đáng sợ rồi, nhưng lúc đó đang bỏ neo ở xa và có vẻ kém huấn luyện đến nỗi Nhật có thể tính chuyện vô hiệu hoá được.


Hải quân Nhật được chuẩn bị tỉ mỉ cho viễn ảnh này trong thời gian 2 năm đầu tiên của chiến tranh Âu châu, và trong mùa hè năm 1941, khi cuộc tiến quân sấm sét của Đức tại Nga Sô cho phép hy vọng khối Trục chiến thắng trong một thời gian ngắn, thì cơ hội tỏ ra quá hẹp để Nhật Bản thực hiện mộng ước bành trướng của mình.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 3999


WWW
« Trả lời #1 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2009, 06:54:11 PM »

Ngày nay hành động táo bạo chưa từng có ấy đã căn cứ trên những ước tính hoàn toàn sai lầm, nhưng không nên quên rằng vào thời đó, chúng được đa số chuyên gia Tây phương cùng thừa nhận và mặt khác, tính khí người Nhật lại hoàn toàn khác với chúng ta. Một vài giáo điều như Nhật Bản là vô địch, như tính cách thần thánh của nhân thân Thiên Hoàng đã đè rất nặng trên các quyết định có tính cách chiến lược và làm sai lạc tất cả các kế hoạch được thiết lập theo kiểu mẫu thuần thuý Tây phương.


Điều này đã khiến cho chúng tôi phải lưu ý độc giả cần chống lại khuynh hướng tự nhiên có thể cảm thức là phán xét kẻ khác theo tiêu chuẩn của mình. Trong những chuyện sắp được tường thuật sau đây mà các nhân vật phần lớn là Mỹ hay Nhật, thì cách phán xét như thế khả dĩ có thể chấp nhận được đối với hạng thứ nhất, nhưng đối với hạn ng thứ hai, thói quen ấy e rằng sẽ dẫn độc giả đến những kết luận thậm vô lý.


Người Mỹ có kiểu sống rất khác chúng ta, có thể nói là họ không có lịch sử và truyền thống của họ thì còn quá mới mẻ. Họ tiến hoá trong một xứ vô cùng rộng lớn và giàu có hơn xứ sở chúng ta với một dân tộc đông hơn chúng ta gấp năm lần. Tất cả những yếu tố đó đã có ảnh hưởng đến cách hành động và cách suy nghĩ, nhưng dầu sao họ cũng chính là người Tây phương, một thứ hậu duệ của người Âu châu và các phản ứng của họ về căn bản, cũng không khác chúng ta. Họ không ưa chiến tranh và chỉ đánh nhau khi không thể nào làm khác hơn, nhưng dòng máu của các chiến binh hung dữ của cuộc chiến tranh dành độc lập và của cuộc nội chiến chảy trong huyết quản của họ và có thể bị đánh thức mau lẹ. Một khi nhào vào cuộc ẩu đả, họ chơi hết sức mình. Cùng với lòng can đảm tự nhiên còn có thêm sự tức giận vì bị quấy rầy cuộc sống yên vui. Mạnh thế vì quyền chính đáng của mình, lúc ấy họ xông tới như một chiếc xe ủi đất mà không cần quan tâm đến xương máu lẫn sự mệt nhọc.


Do vậy, chúng ta sẽ không thấy sự khác biệt nơi tầm mức một chiến binh đơn thuần, mà chính là nơi các cấp lãnh đạo. Công luận đóng một vai trò rộng lớn tại Mỹ vì kiến trúc xã hội của xứ ấy. Ở tại mọi cấp bậc của hệ cấp cầm quyền, các lãnh tụ chính trị và cả quân sự cũng vậy đều bị bắt buộc lưu tâm đến công luận, và mối ưu tư bất di dịch này đè rất nặng lên các quyết định của họ. Dân chúng Mỹ vẫn luôn luôn lý tuởng một cách ngây thơ  và bằng mọi giá tìm cách hội nhập các lợi ích của mình vào các nguyên tắc luân lý. Chính vì vậy mà kể từ cuộc chiến tranh dành độc lập, một và danh từ như “chủ nghĩa cô lập hoá”, “chủ nghĩa giải thực và nền dân chủ” đã mang một ý nghĩa thần bí thật sự. Hơn thế nữa, dân Mỹ chống chủ nghĩa quân sự hoá từ trong căn bản. Nhất là trong thời kỳ giữa hai cuộc Thế chiến vì nhớ lại kỷ niệm nhọc nhẵn của chiến trường năm 1917 và vì người Âu châu có ý xấu không chịu trả nợ. Tuy thời ấy quân đội Mỹ không làm gì khác hơn là bay qua tiếp cứu sự chiến thắng, nhưng đối với nhân dân Mỹ, kinh nghiệm này cũng đã quá đủ. Toàn dân Mỹ đã thề là sẽ không tái diễn hành động ấy nữa.


Khi một cuộc chiến tranh mới lại bùng nổ tại Âu châu và các đồng mình cũ đã đến lúc tận số, Mỹ quốc không thể và không muốn tiếp cứu họ chút nào. Các nhà lãnh đạo của chúng ta chắc phải u mê một cách khó tin mới nuôi dưỡng ảo tưởng ấy trong một thời gian. Hơn một năm sau khi nước Pháp sụp, và mặc dầu kỹ nghệ vũ khí Mỹ đã đột khởi một bước tiến khổng lồ, Winston Churchill-tuy bị săn đuổi dữ-cũng không thể nào lôi kéo từ Tổng thống Roosevelt điều gì khác hơn là công thức: “ALL BUT WAR” (tất cả, trừ chiến tranh). Gần như chắc chắn rằng, nếu không có cuộc tấn công của Nhật vào Trân Châu Cảng, nước Mỹ sẽ còn giữ lâu dài công thức này vốn thoả mãn được đồng thời lý tưởng dân chủ lẫn sự thận trọng phát sinh từ chủ thuyết cô lập hoá.


Nếu Franklin D.Roosevelt đã có thể chế ngự được nền chính trị của xứ ông trong suốt cuộc chiến tranh ấy là vì ông đã nhân cách hoá mình đúng y như người Mỹ điển hình. Ông để ra một nửa thì giờ để dò dẫm dư luận và mở các cuộc tiếp xúc liên miên tại phòng khách hình trái soan trứ danh của toà Bạch Ốc mọi khuynh hướng chính trị và từ mọi tầng lớp xã hội.


Một vài quyết định chiến lược không áp đặt trên bình diện quân sự, có lẽ đã được hình thành tiếp theo sau những cuộc tham khảo rộng rãi mà một phần không khác gì các cuộc trưng cầu dân ý. Quyết định quan trọng nhất trong số đó, “Germany First” (Đức quốc trước đã), đã không được hình thành do ảnh hưởng thuyết phục của Winston Churchill. Mặc cho sự lăng nhục tại ttc, Mỹ quốc vẫn bị ám ảnh bởi bóng ma của sự tiêu diệt các nền dân chủ Âu châu, một sự tiêu diệt mà hậu quả là đưa kẻ thù Quốc Xã ở phía Đông đến quá gần bờ biển Hiệp chủng quốc hơn là các địch thủ da vàng ở phía tây nhiều. Mỹ quốc hy vọng tránh được một cuộc chiến thắng của Đức bằng cách cung cấp cho Anh quốc và Nga Sô bất kỳ bao nhiêu chiến cụ được đòi hỏi, nhưng khi các biến cố đã đẩy Mỹ quốc vào cuộc chiến tranh, xứ này lại bằng lòng ưu tiên khu trừ mối hiểm nguy này trước hết.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 3999


WWW
« Trả lời #2 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2009, 06:55:07 PM »

Roosevelt lại càng có nhiều công đức hơn nếu tuân theo áp lực chính trị này, khi mà nhiều người trong số cố vấn quân sự của ông lại có ý kiến trái ngược lại. Đặc biệt là Hải quân, một binh chủng mà sự tiêu diệt hạm đội Thái Bình Dương đã làm ô nhục tận cùng của linh hồn, đã đòi hỏi bằng tất cả mọi quyền hạn rằng người ta phải cho mọi phương tiện để phục thù sự mạo phạm. Vốn là người từng nắm giữ ghế Bộ trưởng Hải quân rất lâu, Roosevelt yêu thích thuỷ quân và chiến hạm. Tham mưu trưởng nhân viên của ông Leahy, là một đô đốc. Chắc chắn là ông rất khổ tâm nếu biếm trích xuống hàng thứ yếu, công cuộc tái tạo hạm đội này, một hạm đội mà ông yêu mến nhất đời và sự tái lập ưu thế trên Thái Bình Dương mà cho đến lúc đó, vốn là một trong các trục chính thuộc chính sách của ông. Có lẽ chưa bao giờ ông phải lấy một quyết định đau đớn như vậy nếu không phải vì ông thấy nó đáp ứng đúng với ý nguyện sâu xa của đồng bào.


Độc giả có lẽ sẽ phán đoán rằng dưới ánh sáng của các biến cố mà chúng tôi sẽ kể lại, thì quyết định này không hoàn toàn vững chắc hay ít ra nó cũng không chấp nhận một vài biện pháp tạm thời. Chúng ta hãy nhắc lại rằng vạch các lỗi lầm của một người đánh bài khi ta đứng ngoài nhìn vào thì bao giờ cũng là việc dễ dàng cả. Chúng ta đành nói rằng, dù tốt hay xấu, giải pháp “Germany First” đã tạo ra một sự vận hành đứt đoạn cho công cuộc điều khiển các cuộc hành quân trên Thái Bình Dương. Chúng ta sẽ cố gắng lưu tâm đến những biến cố phức tạp để giải thích những sự do dự và chậm trễ đánh dấu diễn tiến của cuộc chiến.


Trong cuộc tiến quân của Nhật tháng 12 năm 1941, Hải quân Mỹ đã chịu những thất bại não lòng. Tại Trân Châu Cảng, hạm đội Thái Bình Dương của Đô Đốc Kimmel đã mất gần như toàn diện các thiết giáp hạm của mình. Tại Phi Luật Tân, hạm đội Á chấu của Đô Đốc Hart đã phải chạy trốn mãi tận Úc châu. “Chỉ có đạo quân của Tướng Douglas Mac-Arthur gồm có 80.000 binh sĩ Phi Luật Tân và 28.000 quân Mỹ là còn cố chống cự lại quân xâm lăng bằng cách rút lui về bán đảo Bataan, phía bắc Vịnh Manile. Ông tướng vẫn ở lại lãnh đạo binh sĩ vừa kêu ca om sòm-giống y như Paul Reynaud năm 1940-xin quân tăng viện mà Tổng thống Mỹ không có phương tiện lẫn không muốn gửi cho ông. Mac Arthur lại càng tức tối hơn vì sự bỏ rơi này khi ông là Tổng tư lệnh của quân đội xứ Liên hiệp Phi Luật Tân từ nhiều năm qua và khi mà sự tái hội nhập vào quân đội Mỹ của ông chỉ mới được có vài tháng. Từ sự kiện này, ông được quyền tự trị rộng rãi và đã không quên sử dụng quyền hạn ấy. Điên tiết vì sự từ chối các yêu cầu giúp đỡ của ông, ông bèn liều cho đến mức khuyến khích Tổng thống Quenzon, người lãnh đạo chính quyền Phi Luật Tân, doạ Roosevelt là sẽ thương thuyết với người Nhật vốn sẵn sàng dâng hiến cho ông ta “sự tôn trọng nền trung lập của xứ sở ông”. Chắc Roosevelt không bao giờ tha thứ cho ông hành động điên rồ này và sự bất hoà này giữa hai người đã gây ra biết bao là hậu quả đáng buồn.


Tuy vậy, gương anh hùng mà ông Tướng đã chứng tỏ bằng cách ở lại với binh sĩ tại Bataan đã mang lại cho ông một kết quả lớn lao tiếng tăm vang dội trong dân chúng tại Hoa Kỳ. Đó là lý do khiến cho tên ông không bị ghi bên cạnh tên Kimmel và Hart trên danh sách các con vật bị tế thần bị hy sinh để làm dịu công luận sau vụ Trân Châu Cảng. Trái lại ông thấy mình được giao cho quyền chỉ huy mặt trận tây nam Thái Bình Dương, được đặt ngay tại Úc sau khi cơ cấu quân sự Đồng minh tại Viễn Đông bị sụp đổ. Người Úc đón nhận sự chỉ định này với lòng biết ơn vì xứ sở của họ bị trực tiếp đe doạ, nhưng sự chỉ định ấy lại bị dị nghị gay gắt tại Bộ Tư lệnh tối cao Mỹ, đặc biệt là Đô đốc King. Tư lệnh các cuộc hành quân biển, đang đảm nhận trọng trách mặt trận Thái Bình Dương, Đô đốc đã cho rằng phạm vi hoạt động của ông bị định giới một cách độc đoán và tình trạng chỉ huy song hành phát sinh ra từ sự chỉ định này chỉ có thể đưa lại những bất hoà vô ích.


Chúng đã xảy ra không ít. Khi mối đe doạ nhắm vào Úc chấu đã qua, Mac Arthur tự ý bước ra khỏi vai trò vị cứu tinh mà ông được giao cho trên lục địa xa xôi này và toan tính áp đặt các kế hoạch về một cuộc phản công mai hậu do ông soạn thảo. Ông đã cáo biệt đạo quân Phi Luật Tân của mình bằng cách nói “Tôi sẽ trở lại!” và muốn giữ lời hứa ấy bằng mọi giá. Mục tiêu này chiếm vị trí ưu tiên trong tâm trí ông trước tất thảy mọi nhận định chiến lược khác và ông đã sử dụng mọi nguồn tài năng để bênh vực cho quan điểm của mình.


Chiến trường Thái Bình Dương chủ yếu là thuộc Hải quân, chính Hải quân Mỹ phải chịu trách nhiệm chống trả hải quân Nhật và đảm bảo các điểm tựa cần thiết để chiến đấu với hạm đội địch một cách hữu hiệu. Vị Tư lệnh Hải quân thật khó mà chịu đựng nổi một chức quyền từ bên ngoài lại xía vào việc thiết lập các kế hoạch hành quân của mình.


Sau này ta sẽ thấy sự xung đột quyền uy này đạt đến mức độ tệ hại nào. Tại đây chỉ cần nói rằng trong lịch sử, ít khi người ta thấy những ưa thích cá nhân của một ông Tướng lại đóng một vai trò quan trọng như thế trong diễn tiến của các cuộc hành quân.
Cứ bằng vào tinh thần tôn trọng kỷ luật một cách vô điều kiện của người Nhật, chắc chắn ta sẽ rất ngạc nhiên khi biết rằng những mối bất hoà tương tự cũng đã xảy ra trong guồng máy chiến tranh đáng sợ của họ mặc dầu guồng máy ấy đã được cho chạy thử kỹ càng. Tất nhiên là các mối bất hoà ấy thể hiện một cách bí mật hơn, nhưng chúng đã tồn tại trong suốt thời gian cuộc chiến.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 3999


WWW
« Trả lời #3 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2009, 06:55:49 PM »

Mối tương đồng này có lẽ đã phát sinh từ sự tương tự của các khu vực địa lý do các phe đối nghịch chiếm đóng, sự tương tự dẫn đến cách phân địch khu vực gần như đối xứng với nhau. Cùng nguyên nhân tất sinh cùng hậu quả. Lục quân Nhật kiểm soát các đảo lớn vùng tây nam Thái Bình Dương nhờ quân số lớn lao của lực lượng chiếm đóng, hải quân thì phụ trách tất thảy các quần đảo nhỏ phía đông và đông nam. Không có một Bộ Tư lệnh duy nhất và sự phối hợp được thực hiện ở cấp bậc Tổng hành Dinh Hoàng gia.


Dưới sự lãnh đạo theo danh nghĩa của Thiên Hoàng, Tổng hành Dinh này là cơ cấu chủ yếu cả Bộ Tổng tư lệnh tối cao của lục quân. Các Tổng trưởng Chiến tranh và Bộ trưởng Hải quân được tham dự vào cơ cấu này cũng như các tham mưu trưởng thuộc các bộ Tổng tham mưu binh chủng. Các cơ quan tối yếu cũng có đại diện trong đó. Vậy thì kiến trúc có tính cách quân bình. Các cuộc thảo luận xảy ra giữa binh chủng được thể hiện hoàn toàn bình đẳng và nếu có tranh chấp xảy ra, Thiên Hoàng và các cố vấn của ông có mặt tại chỗ để giải quyết.


Rủi thay, các biến cố chính trị, ngay từ trước khi chiến tranh với Mỹ bùng nổ, đã đưa vào chính quyền một tướng lĩnh hiếu chiến. Tướng Tojo, người mặc dầu đã trở thành Thủ tướng nhưng vẫn kiêm giữ chức Tổng trưởng Chiến tranh và Nội vụ. Cùng lúc ông là người lãnh đạo quân đội và thêm vào đó, lãnh đạo chính phủ. Do đó ông có uy quyền tuyệt đối trên các thành phần cấu tạo Tổng hành Dinh. Và vì ông quyết tâm nắm quyền chỉ huy Quân lực, một quân lực vào thời đó hội nhập vào đời sống của xứ sở đến mức trở thành một chính đảng mạnh nhất, cho nên ông bắt buộc phải hy sinh tất cả cho Quân lực. Hải quân đã lên án ông “đưa xứ sở vào chỗ bị sa lầy trong vụ Trung Hoa” và hiểu biết sai lầm “tính cách hải và không quân trong cuộc chiến tranh chống Mỹ”. Những sự bất đồng quan điểm này tồn tại trong khắp các bộ phủ. Về phía Hải quân, các Đô đốc lên án vị Bộ trưởng của mình đã không chịu đương đầu với Tojo khi ông ta cắt xén ngân sách của Hải quân và từ chối không cấp nhiên liệu cho Hải quân.


Bên cạnh các lời than phiền của Hải quân, còn có thêm lời than phiền của Không quân với cũng như tại Hoa Kỳ, chưa được tự trị và luôn luôn là đơn vị bị bạc đãi nhất.

Tuy nhiên tại Nhật, ngay từ trước chiến tranh, nhân cách sung mãn nổi bật của Tướng Tojo đã được cân bằng bởi nhân cách kín đáo hơn, nhưng chói sáng hơn nhiều, của Đô đốc Isoroku Yamamoto, Tổng tư lệnh Hạm đội liên hợp (Danh hiệu này có từ năm 1904 trong trận chiến chống Nga và có nghĩa là vị Tư lệnh hạm đội cũng có thẩm quyền đối với các thành phần bộ chiến và không quân cần thiết cho cuộc hành quân). Kể từ thời cuộc chiến tranh Nga-Nhật, thời mà vị tiền bối xa xưa của ông, Đô đốc Togo (Đông Điều), đem về các chiến công vang dội, chức vụ Tư lệnh Hạm đội Nhật Bản luôn luôn được giao cho một nhân vật hàng đầu, vượt hẳn khung cảnh binh chủng Hải quân. Năm 1938, Thiên Hoàng chọn lựa Đô đốc Isoroku Yamamoto, một nhân vật mà trí nhớ kỳ dị và trí thông minh bén nhọn đã được hậu thuẫn bởi một cá tính sống động đặc biệt.


Vốn là Tuỳ viên Hải quân tại Hoa Thịnh Đốn, Yamamoto hiểu quá rõ tâm trạng người Mỹ và theo đó phán đoán được hiệu năng của Hạm đội Thái Bình Dương. Ông đã chỉ huy Trường Không quân của binh chủng Hải quân và nhân dịp đó, lấy bằng phi công. Những kinh nghiệm liên tục đã khiến ông tin tưởng vào tầm quan trọng quyết định của Không quân trong các trận hải chiến và ít người xứng đáng hơn ông để mang ý tưởng này-lúc ấy có tính cách rất cách mạng-ra cải hoá một nhân vật có thế lực nhất của Hải quân và trong giới chính trị.


Kiến giải có tính cách tiên tri này đã được nhiều thành quả vang lừng chứng thực, tiếng tăm trong dân chúng đã cho phép ông đương đầu với Tojo. Ông là bậc thầy thật sự của chiến lược Nhật trong năm đầu tiên của cuộc chiến, và cái chết của ông, tháng 4 năm 1943 đã ảnh hưởng trầm trọng đến sự tiếp diễn các biến cố.


Nếu ông còn sống lâu hơn, tất nhiên Nhật Bản cũng không thể chiến thắng được rồi, nhưng nỗi thống khổ ê chề sẽ được thu ngắn nhiều hơn. Tất cả mọi kế hoạch tấn công của Yamamoto đều căn cứ trên định đề một chiến thắng chớp nhoáng. Ông biết rằng tài nguyên kỹ nghệt yếu kém không cho phép Nhật Bản theo đuổi một cuộc chiến tranh lâu dài. Khi các chiến thắng của Đồng minh tại Âu châu đã triệt tiêu một viễn ảnh hoà bình sắp đến, ông đã dùng ảnh hưởng của mình để bắt Tổng hành Dinh Hoàng gia chấp nhận sự cần thiết phải tính đến một giải pháp điều đình. Tojo đã vùng dậy chống đối ý tưởng này với nhiệt tâm cuối cùng và cái chết của đô đốc đã chấm dứt cuộc tranh luận. Không một người nào kế vị ông có đủ sức mạnh của cá tính và uy tín cần thiết để cân bằng uy thế toàn năng của ông Thủ tướng và chiến tranh phải tiếp diễn khốc liệt mà không một cơ may thành công nào cả. Sự phát triển kinh khủng của công cuộc sản xuất vũ khí của Hoa Kỳ quả thật đã làm gãy đổ thế quân bình tạm bợ trên Thái Bình Dương, và một thời kỳ xả hơi đột ngột đã làm lệch cán cân có lợi cho Mỹ. Bằng vào tình trạng căng thẳng giữa các lực lượng đối nghịch ngày càng diễn tiến mau lẹ, rõ ràng là hồi chung cục của cuộc chiến không còn bao xa nữa. Tuy nhiên nếu nó còn trì hoãn thêm được một năm nữa, ấy là vì quân đội và nhân dân Nhật Bản đã chứng tỏ một khả năng đề kháng tập thể vô tiền khoáng hậu trong lịch sử. Nhưng chúng ta khoan nói trước. Câu chuyện về các hành động uy dũng ấy sẽ đến lúc. Trước khi phân tách các yếu tố tâm lý khiến cho cuộc đề kháng dũng cảm ấy thể hiện được chúng tôi sẽ đề cập đến các dữ kiện địa dư tối yếu cho sự hiểu biết các biến cố, để soi sáng độc giả.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 3999


WWW
« Trả lời #4 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2009, 06:56:55 PM »

Nếu cách sống và cách suy nghĩ đã làm cho người Nhật và người Mỹ khác nhau một trời một vực, thì xứ sở của họ lại cách nhau bởi một đại dương rộng lớn nhất hoàn cầu: 9.000 cây số trên một mặt biển tuyệt đối trống trải giữa Tokyo và San Francisco, hơn 6.000 cây số giữa Oahu, đảo căn cứ xa nhất của Hải quân Mỹ, và Nội hải, nơi tập tập trung các căn cứ hải quân chính yếu của Nhật. Trước chiến tranh, người Mỹ nắm quyền sở hữu các đảo Wake và Guam và chiếm đóng trong thực tế quần đảo Phi Luật Tân trên Thái Bình Dương, nhưng vì các điểm tựa ấy được phòng thủ rất kém cỏi cho nên chúng bị quét sạch ngay từ khi cuộc chiến mở màn như cọng rơm trong cơn bão tố. “Vũ trụ đồng thịnh vượng của Đại Á chấu” đã được thiết lập vững chắc từ đầu năm 1942, đảm bảo cho Nhật Bản quyền kiểm soát một vùng mênh mông, rải rác vô số đảo nhỏ, với một bán kính trung bình 5.000 cây số chung quanh Tokyo.


Để có một ý niệm về sự táo bạo của kế hoạch chinh phục của Nhật và điều kiện đồng thời thực hiện có tính cách bó buộc, từng giây phút, chúng ta cần chú ý rằng các hàng không mẫu hạm tham dự cuộc tấn công Trân Châu Cảng phải mất 11 ngày mới đến chiến trường, phải mất 8 ngày để lực lượng chính yếu của hạm đội lúc ấy đang còn ở Nhật chờ kết quả cuộc oanh tạc, để tập trung đến căn cứ tiền phương Palau (quần đảo Carolines) và 10 ngày khác để đến Java đánh vài chiến hạm của Đồng minh đang tập họp tại đó.


Một khi “chu vi” được đảm bảo, công cuộc tiếp tế bằng tàu chở hàng cho các đạo binh Nhật trên các đảo xa nhất (Mã Lai, Sumatra, Java, quần đảo Bismarck) đòi hỏi tối thiểu mười hai ngày hành quân.


Tình trạng các chiến hạm Mỹ được giao cho sứ mạng ngăn chặn mũi tiến quân Nhật Bản lại càng khẩn trương hơn. Khi mối đe doạ nhắm vào Nam Dương đã được xác định, người Mỹ hấp tấp gửi đến Java chiếc mẫu hạm cũ kỹ Langley chở phi công P-38 để che chở cho không phận đảo này. Chiếc chiến hạm cơ khổ ấy đã phải mất đúng bốn mươi ngày để băng qua đại dương: nó bị phi cơ trên các mẫu hạm Nhật đánh chìm trước khi đến đích. Khi đạt được tất cả các mục tiêu, người Nhật dừng lại để củng cố vòng đai chu vi, người Mỹ phải tiếp tế cho những gì còn lại của lực lượng Không, Hải, Lục quân được rút về Úc châu và Tân Calédonie. Một tàu hàng phải mất 23 ngày để đi từ San Francisco đến Sydney. Các chuyến tiếp tế đi và về kể cả thời gian ghé vào những hải cảng thiếu thốn những trang bị bốc giỡ, đòi hỏi hơn hai tháng trời. Rriêng đối với một vài chiến hạm chạy nhanh hơn còn ở trong tay người Mỹ (hàng không mẫu hạm và tuần dương hạm) thì chúng phải mất 5 ngày mới đi được từ Trân Châu Cảng đến Nouméa.


Mặc dầu các con số trên đây rất khô khan nhưng rất cần ghi vào trí nhớ. Chúng giúp ta hiểu một vài quái trạng bề ngoài của sự điều khiển các cuộc hành quân và sự khó khăn-nếu không phải là vô phương-trong việc thay đổi một khi chúng đã được khởi động rồi.


Vì các khoảng cách vĩ đại đó, vấn đề bảo trì chiến hạm và sửa chữa các chiếc bị hư trong trận đánh đã đặt ra cho hai bên tham chiến một cách mãnh liệt. Trước chiến tranh rất lâu, người Nhật đã tổ chức các căn cứ sửa chữa lưu động trên các đảo làm điểm tựa. Họ đã chú tâm thiết lập phía Tây và phía Đông quần đảo Carolines các căn cứ Palau và Truck. Phần người Mỹ thì chẳng có gì cả. Sự tổ chức các căn cứ bất chợt chung quanh 40.000 hải lý của vòng đai chu vi phòng thủ Nhật Bản, đối với họ là cả một công việc nặng nhọc. Đô đốc King, Tư lệnh các cuộc hành quân biển đã viết trong một phúc trình: ”Trong tất cả các yếu tố của sức mạnh quân sự, chính sự thiếu hụt căn cứ là yếu điểm lớn nhất của Hoa Kỳ. Chiến tranh trên Thái Bình Dương là một trận đánh dành căn cứ”. Ông ta có thể thêm rằng đó cũng là một trận đánh dành phi trường, bởi vì các đảo nhỏ trong Thái Bình Dương, các “hàng không mẫu hạm không bao giờ bị đánh chìm” ấy đã giữ một vai trò ngang với, nếu không hơn, vai trò các hạm đội chiến đấu.


Vấn đề căn cứ xuất phát của Không quân trên bộ, ngay từ đầu, đã được đặt ra một cách cấp bách vì khoảng cách và tầm hoạt động của phi cơ thời đó. Các trận chiến đấu đầu tiên tại quần đảo Salomon đã được tung ra và theo đuổi với tất cả khốc liệt là để chiếm hữu các phi đạo sơ sài được đôi bên tham chiến sửa soạn hấp tấp. Tình trạng cũng tương tự như thế trong suốt cuộc chiến và vài cuộc hành quân đổ bộ cực kỳ đắt giá về người cũng như vật liệu như tại quần đảo Marianne năm 1944 cũng không nhằm mục tiêu nào khác hơn là cung ứng các căn cứ xuất phát cho những siêu pháo đài bay của Mỹ. Cuộc chinh phục đẫm máu đảo Iwo Jima bị bắt buộc bởi sự cần thiết phải thay phiên các khu trục cơ hộ tống vốn không đủ sức chu toàn sứ mạng từ đầu đến cuối. Các oanh tạc cơ B-29 Enola-Gay cất cánh từ Tinian (quần đảo Mariannes) để ném bom nguyên tử xuống Hiroshima đã được hộ tống trên chặng đường thứ hai bởi các khu trục cơ cất cánh từ Iwo Jima.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 3999


WWW
« Trả lời #5 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2009, 06:57:38 PM »

Sự phân cách ngay từ đầu giữa các căn cứ và các phi trường đã gây trở ngại lớn cho hạm đội Mỹ, nhưng loại chiến cụ bị gây khó nhiều nhất là hạm đội tàu ngầm. Trong các cuộc đổ bộ lên Phi Luật Tân, Mã Lai và thuộc địa Hà Lan tại Ấn, hạm đội xâm lăng Nhật phô bày cho các tàu ngầm Mỹ những tấm bia cực kỳ dày đặc và dễ dàng. Thế nhưng, mặc dầu tiếp theo sau một phản ứng tuyệt đối bất ngờ, Tổng thống Roosevelt đã cho phép “một cuộc chiến tranh tàu ngầm không hạn chế” (điều mà cả Hitler cũng chưa dám làm), hạm đội tàu ngầm Hoa Kỳ cũng chỉ đánh chìm được chừng 10 dương vận hạm địch. Con số không đáng kể này bên cạnh thành tích của tàu ngầm Đức đã chứng tỏ tỏ “có cái gì không nổn nơi các quả thuỷ lôi”. Sự xa cách với căn cứ mẹ tại Mare Island trong vịnh San Francisco đã ngăn cản việc sửa chữa “cái gì” đó. Các phúc trình của những hạm trưởng tàu ngầm chỉ nhận được các câu trả lời diên kỳ. Các nhân viên đã đổ lỗi cho những người sử dụng tàu ngầm và ngược lại. Nhiều sự bổ khuyết lẽ ra chỉ cần vài tuần lễ là xong lại phải mất hàng năm mới thực hiện nổi. Hậu quả của tình trạng rắc rối tơ vò này là Bộ Tư lệnh Tối cao Mỹ-vốn đang có những bận tâm khác trong đầu-rốt cuộc tin tưởng và không ra sức khẩn nài tổ chức một cuộc hành quân ăn khớp dưới mặt biển để chống lại một địch thủ ở trên các đảo mà tất cả hệ thống thần kinh cũng như bộ máy tuần hoàn vẫn lệ thuộc vào biển cả.


Cũng có thể là bộ tư lệnh đã không muốn việc đó. Đã khuất phục Nhật Bản bằng cách dùng tàu ngầm phong toả bờ biển, Bộ Tư lệnh phải biết làm phép tính lạnh lùng của người chỉ huy hạm đội tàu ngầm U-Boote của Đức Quốc, chấp nhận mất 20 tàu ngầm mỗi tháng nếu các công xưởng cung cấp được cho ông ta 30 chiếc. Một phép tính như thế rõ là không thể nào thích nghi được với tâm trạng của vị Đô Dốc thuộc Hạm đội Thái Bình Dương.


Tại Nhật, trái lại, nó không nêu lên một sự chống đối nào. Các tàu ngầm bỏ túi, do lời thỉnh nguyện khẩn bách của các hải đoàn đã được phái đi tấn công Trân Châu Cảng mà không có một hy vọng gì trở về, là một bằng chứng. Ta có thể trích dẫn nhiều ví dụ tương tự khác. Nếu các Đô Đốc Nhật tin tưởng có thể mang chiến thắng tức thời về bằng cách hy sinh các đoàn thuỷ thủ như vậy thì họ làm ngay, không do dự. Một sự hy sinh như vậy rất phù hợp với luật Bushido, bộ luật danh dự quân đội của Nhật vốn qui định rằng chết cho Thiên Hoàng là một “nghĩa vụ vinh quang và dễ dàng”. Nếu họ không làm, chỉ vì chiến tranh tàu ngầm không tương hợp với định đề một chiến thắng chớp nhoáng. Đừng nên quên rằng đó cũng là một giáo điều căn bản, song song với giáo điều về sức mạnh vô địch của Nhật Bản. Sự kiện nó có thể điều khiển chiều hướng các cuộc hành quân theo điểm này và tồn tại cho đến phút chót ngày nay vẫn còn là một bí mật đối với tinh thần tây phương chúng ta.


Nếu muốn hiểu nguyên nhân sâu xa các hiện tượng đánh dấu phong thái của người Nhật trong suốt quá trình chiến đấu vĩ đại của họ, chúng ta phải cố gắng xuyên nhập vào tánh khí của họ, hay hơn nữa, và sự bí mật tâm hồn của họ. Một nhiệm vụ khó khăn vì thiếu dữ kiện, bởi vì họ rất ít bộc lộ và cả những người Âu hoá nhiều nhấy trong số đó cũng dành cho người tây phương chúng ta một sự e dè khinh miệt. Chúng tôi không giấu giếm những thiếu sót trầm trọng liên hệ đến bức chân dung mà chúng tôi sắp vẽ nhưng thà nói lên đôi chút những điều mình biết còn hơn là chẳng nói gì. Sự yếu kém của kết quả gặt hái được ít ra cũng cho ta một ý niệm về tầm rộng lớn của sự dốt nát của chúng.


Người Nhật là một mẫu người nhỏ bé bình tĩnh và đầy suy tư, có một truyền thống giữ lễ độ mà sự tinh tế giống như của chúng ta, và lời nói cũng như văn viết đều chìm ngập trong một niềm xúc động nên thơ liên tục. Họ có ý thức là được ở trên một xứ sở đẹp nhấy hoàn vũ và đã thiết lập trên đó một trật tự xã hội hoà điệu nhất. Phong cảnh bao quanh mái nhà, mảnh vườn, hoa cỏ, tập quán cả họ khiến cho đời sống gia đình trở nên như ở thiên đàng mà họ không ngừng dùng công việc và tài năng khéo léo để to đắp thêm mãi. Đối với mảnh đất nơi sinh ra đời, đặt dưới sự che chở thần thánh của Thiên Hoàng, Tổng tư lệnh quân đội, họ có một niềm say mê phấn khích đến mức độ thần thánh hoá. Không bao giờ họ quan niệm được rằng người ta lại có thể dám tranh luận điều đó với họ. Họ càng không quan niệm được rằng có một dân tộc nào đó lại có thể toan tính chống đối sự bành trướng lãnh thổ tối cần thiết cho dân tộc tăng gia không ngừng của họ. Họ đau khổ vì cảm nghĩ bị giam cầm vĩnh viễn trên mấy hòn đảo chật hẹp, và họ không chấp nhận rằng các nông dân, anh em của họ, những người có sức chịu đựng dẻo dai và đức tính bình dị điển hình lại bị mai một đi vì những nỗ lực vô vọng. Những cảm nghĩ nổi loạn đột ngột khi tình thế ấy trầm trọng thêm, lại càng dữ dội hơn, khi mà bộ luật tinh tế về sự lễ độ đã cấm họ bộc lộ ra bên ngoài. Hiếm khi họ nói lên điều đó với các chính khách hay chính phủ của họ, mà thường với người ngoại quốc hay đúng hơn những người da trắng mà họ cảm thấy đầy ích kỷ, ngu dốt và cố chấp. Niềm say mê của họ dành cho Tổ quốc đã lên đến cực điểm, khi họ xét thấy nó bị áp bức, đến nỗi sự tinh tế đầy tính chất nghệ thuật, và sự tử tế gần như của trẻ thơ vốn chi phối phong thái của họ đột nhiên tiêu tán để nhường chỗ cho một sự giận dữ và tàn bạo đến phi nhân. Đấy là một thứ hiện tượng thăng hoa (khoảng cách không tiếp chuyển giữa hai cực đoan) rất lạ lùng bối rối đối với người Tây phương.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 3999


WWW
« Trả lời #6 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2009, 06:58:22 PM »

Một khi bị niềm tức giận thiêng liêng khích động, người Nhật càng trở thành một chiến binh dễ sợ hơn khi chiếm được một chỗ được chỉ định từ lúc còn bé trong tổ chức Quân đội Hoàng gia tuyệt vời, thừa kế các truyền thống cổ xưa, và một chỗ được dành riêng cho mình trong cõi vô mình, bên cạnh tiền nhân và các đấng anh hùng bảo vệ Tổ quốc. Vậy thì người Nhật là một hạng người sinh ra đã là lính rồi, và vẫn còn là lính ngay cả khi qua bên kia thế giới. Họ sẵn sàng hy sinh cho Thiên Hoàng, biểu tượng thần thánh của dân tộc, bất kỳ trong trường hợp nào và không hề có một chút do dự nào cả.


Sự đồng nhất hoá có tính cách bí ẩn giữa tổ quốc và cá nhân Hoàng đế có vẻ quá xưa cũ đối với tâm trí người tây phương vốn khó mà tưởng tượng được rằng nó lại có thể tồn tại trong một dân tộc tiến hoá đến như vậy về mặt trí thức. Tuy vậy nó đã bén rễ sâu xa trong lòng người Nhật thuộc tất cả mọi giai tầng xã hội. Để có một ý tưởng về vấn đề này chúng ta hãy trích dẫn trước câu chuyện sau đây, chuyện xảy ra sau cuộc không tập trứ danh xuống Tokyo của Tướng Mỹ, Doolittle. Trong cuộc oanh tạc ngoạn mục nhưng chẳng có lợi ích quân sự nào nơi đây, một quả bom đã rơi trúng khu vườn thuộc Hoàng cung mà không nổ. Vị tướng lãnh Nhật chỉ huy hệ thống phối hợp lập tức xin Tổng hành dinh cho phép tự mổ bụng, vì không thể chịu đựng nổi sự hổ thẹn đã để xảy ra một sự xúc phạm như thế vào sự tôn quí của Hoàng gia. Ông đã không được phép vì người ta e rằng một hành động như thế có thể kéo theo một phản ứng đồng loạt… Vị tướng lãnh kiên nhẫn chờ cho đến lúc chiến tranh kết liễu để mang dự định của mình ra thực hiện.


Đối với chúng ta, ý định tự sát này có vẻ lố lăng, nhất là khi do một lỗi lầm tưởng tượng và do sự sám hối tưởng tượng, thì đối với một sĩ quan Nhật lại là một viễn tưởng tuyệt đối bình thường. Bộ luật danh dự quân đội, luật Bashido trứ danh, vẫn luôn luôn lấy đó làm trọng. Đây là sự trừng phạt một vài sự kiện một vài lỗi lầm, hay sự tham dự dầu cho không cố ý vào các biến cố xâu xa. Trong những điều kiện đó, tự nhiên người chiến binh Nhật chấp nhận không than vãn những sứ mệnh tự sát và tự nhiên là Bộ Tư lệnh tối cao đã nghĩ đến việc tổng quát hoá sự sử dụng khi cảm thấy cần thiết.


Một tổ chức quân sự căn cứ trên những hiệu lệnh quyết liệt như thế, bắt buộc phải có tính cách cứng rắn. Quân đội Nhật được tổ chức thuần nhất. Trong đó sáng kiến gần như không được biết tới ngoại trừ ở cấp bậc tối cao. Các mệnh lệnh ban đầu luôn luôn được thiết lập trước từ lâu và ấn định các sứ mạng trong từng chi tiết nhỏ. Vả lại ngôn ngữ phức tạp và không chính xác của Nhật không sẵn sàng để giúp thay đổi mệnh lệnh lúc chúng đang được thi hành. Trong các câu chuyện sắp được thuật lại sau đây, ta sẽ thấy Bộ Tư lệnh Nhật vẫn khăng khăng cứng đầu trong những cuộc hành quân vô vọng, lý do là vì họ không thể nào hướng thuộc viên các cấp theo một đường lối khác. Một vài sự thất bại mà chúng ta hay có khuynh hướng quy trách nhiệm cho những lầm lỗi chiến thuật, thật ra là hậu quả của sự bất lực căn bản này. Một Tư lệnh Hạm đội hay Tư lệnh Không đoàn chỉ thấy mình ở trong vị thế của một tài công đầu máy xe lửa trông thấy dấu hiệu và nghe tiếng pháo báo động nhưng không còn có phương tiện nào nữa để đảo ngược hơi nước được nữa.


Đổi lại, so với tất thảy mọi quân đội khác trên thế giới, quân đội Nhật Bản có một ưu thế không thể chối cãi được: giá trị tinh thần của người chiến binh. Thái độ tàn khốc của người binh sĩ Nhật trên chiến trường thật khác xa với thái độ của binh sĩ thuộc các dân tộc khác. Sự tận tuỵ, tinh thần tôn trọng kỷ luật, sự bình dị, sự chấp nhận vô điều kiện mọi thử thách khổ nhọc nhất về phương diện thể chất của anh ta, cũng khác biệt như vậy. Với một chén cơm, một ít rượu Sake và một phần nước uống không đáng kể, anh ta có thể sống và chiến đấu trong nhiều tháng không nghỉ ngơi và gần như không ngủ. Anh ta đề kháng một cách đáng ngưỡng mộ với thời tiết khắt khe dù cho đó là cái lạnh hay sức nóng kinh hồn. Anh ta chiến đấu xuất chúng trong rừng rậm, di chuyển như con mèo trong rừng cây dày đặc nhất mà không gây một tiếng động nhỏ và có khả năng ngồi chồm hỗm trong thế bất động tuyệt đối hàng giờ để rồi đột ngột xuất hiện như ma quỷ khi thời cơ thuận lợi. Tính lãnh đạm di truyền được triển khai rất mạnh mẽ do một công cuộc huấn luyện liên tục giúp anh ta không bao giờ chùn tay phạm vào điều mà ta gọi là sự tàn ác.


Có lẽ đấy là một trong những khía cạnh đặc thù nhất của công cuộc đào tạo về mặt quân sự của Nhật. Trong tất cả các quân đội trên thế giới, những người chuyên đi đổ thùng, quét dọn chiến hào, cảm tử đặc biệt, đều được lựa chọn cẩn thận và chịu một công cuộc huấn luyện hà khắc. Hiếm khi họ được sử dụng vào các nhiệm vụ khác. Tại Nhật Bản, bất cứ viên Thiếu uý nào cũng có thể buộc phải chỉ huy một nhóm hạ sĩ quan để thi hành một công việc tàn sát, tận diệt.


Mới đây tôi có cơ hội rất đặc biệt được gặp một ông Trung tá tuỳ viên quân sự tại một toà đại sứ Nhật ở ngoại quốc mà ngày xưa đã từng tham dự các cuộc hành quân loại này trong vùng rừng rậm tại Bornéo. Đó là một chàng trai cao nhã, dễ thương một người mà khi mặc quân phục vào, trông giống như một kẻ đầu tiên nhận thánh thể. Ông nói tiếng Pháp rất giỏi khiến cho sự trao đổi kỷ niệm giữa chúng tôi dễ dàng hơn nhiều. Chắc chắn tôi đã gây được niềm tin nơi ông nhờ các cố gắng tìm hiểu thành thật của tôi.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 3999


WWW
« Trả lời #7 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2009, 06:59:17 PM »

Vì rất băn khoăn khi được nghe nói nhiều lần đến công cuộc huấn luyện sử dụng kiếm mà các cấp chỉ huy Nhật quan niệm là hết sức quan trọng, tôi hỏi ông về điểm này. Lúc đó còn lâu tôi mới nghĩ rằng chính ông ta cũng đã sử dụng kiểu chiến đấu xưa cũ ấy trong thời kỳ chiến tranh. Tôi hy vọng ông sẽ tha thứ cho tôi nếu một ngày nào đó những dòng này xuất hiện dưới mắt ông vì đã viết lại câu chuyện của ông gần như nguyên văn.


“Mùa Xuân năm 1944 tại Bornéo, ông nói, tôi là một thiếu uý thuộc một sư đoàn vừa nhận được lệnh rút về các cơ sở lọc dầu ở Balikpapan và chống giữ đến cùng, vì đã không thể nào một mình đẩy lui một quân đoàn có xe lội nước của Úc đông đến 30.000 người. Đạo quân đóng tại Balikpapan chỉ gồm có 3 hay 4 ngàn người, tất cả gần như là chuyên viên kỹ thuật trù bị, không hề được huấn luyện như bộ binh. Bộ chỉ huy quyết định thành lập, với phần còn lại của sư đoàn của tôi, một số cảm tử quân và các toán phá hoại có nhiệm vụ vượt qua phòng tuyến địch để thực hiện các cuộc đột kích quấy rối hậu tuyến địch. Mục đích là làm giảm tinh thần chiến đấu của quân Úc, vốn đã bị đập mạnh khi thiết lập đầu cầu và bị thử thách tàn bạo vì khí hậu ác nghiệt đang ngự trị trên đảo Bornéo vào đầu mùa mưa lũ. Vì lực lượng của chúng tôi quá chênh lệch, các cuộc đột kích này là phương cách độc nhất của chúng tôi nhằm trì hoãn cuộc tấn công cho đến khi đoàn quân tăng viện giả định của chúng tôi đến tăng cường”.


Vì không thấy mối tương quan giữa lời giáo đầu này và vụ đánh gươm, tôi nhìn ông với vẻ dò hỏi.

“Công cuộc huấn luyện đánh gươm, ông nói tiếp, trong quân đội chúng tôi là một truyền thống xưa cũ. Các thanh gươm đều thuộc sở hữu của trung đoàn, ngoại trừ gươm của sĩ quan. Chúng chỉ được cấp phát cho hạ sĩ quan trong các cuộc hành quân nhất định, và phải được thu hồi lại bằng mọi giá, bất chấp mọi hiểm nguy. Chúng không dài lắm, hơi cong và được chế bằng thứ thép tốt nhất thế giới. Chúng là vật được dành cho một sự săn sóc đến phát ghen lên được-ta có thể nói đó là một sự thờ phụng thật sự. Vinh dự cao quí nhất của một hạ sĩ quan có nhiều chiến công nhiều sứ mạng là được chấp nhận cho suốt đời làm chủ một trong các thanh gươm ấy”.


“Tại Balikpapan, các nhóm của tôi gồm có chừng 10 hạ sĩ quan, mỗi nhóm do một sĩ quan chỉ huy. Việc mang súng bị cấm đoán nghiêm ngặt mặc dầu rất hữu ích trong một trận đánh rút lui. Khẩu súng cá nhân hay tiểu liên bị cấm bởi vì chúng cồng kềnh và ồn ào trong khi tiến quân, còn khẩu súng lục thì vì mối đe doạ bị một người rối trí sử dụng không đúng lúc”.

-Vậy ra các ông chỉ vũ trang bằng gươm thôi sao?

-Đúng thế. Sự im lặng tuyệt đối là đảm bảo duy nhất cho sự thành công của chúng tôi. Gươm là thứ vũ khí duy nhất có thể giúp tạo ra cái chết tức thời mà không gây ra một tiếng động nhỏ nào. Tất nhiên là còn phải biết vận dụng đúng cách.


“Các toán phá hoại theo nhau cách một quãng ngắn để lơi dụng lỗ hổng do các toán xung kích đi đầu thực hiện. Chúng tôi tiến gần lại phòng tuyến địch lúc chập tối và tiến lên với sự thận trọng tuyệt đối cho đến tiền đồn địch trong một thứ tự được nghiên cứu kỹ lưỡng. Mỗi lính canh của địch trong khu vực chọn lựa bị một toán ba hay bốn người chúng tôi bao vây. Thời điểm tấn công phải càng đồng loạt càng tốt để giúp cho các toán phá hoại một khoảng trống đầy đủ, tạm thời tránh khỏi bị kiểm soát. Chiến thuật quen thuộc là rình cơ hội thuận tiện hay là tạo ra cơ hội bằng cách lôi kéo sự chú ý của tên lính canh qua hướng khác nhờ một tiếng động trên cành lá. Đúng lúc chính xác, người nào trong chúng tôi ở vào vị trí thuận lợi nhất liền nhảy vào đối thủ với thanh gươm”.


Sau một lúc im lặng, ông Trung tá dễ thương của tôi nói thêm vừa lấy bàn tay phác hoại một cử chỉ dưới cổ áo chỗ tiếp nối của xương vai.

“Chúng tôi chém ở đây…”.

Tôi định thần. Tôi thấy quang cảnh đó. Tôi thấy không cần phải nài nỉ thêm và cuộc đàm thoại chuyển qua một đề tài tổng quát. Tiếp theo sau câu chuyện này tôi đã có thể sử dụng nó một cách hữu ích rộng rãi.


Sự trái ngược giữa cung cách như phụ nữ của người đối thoại với tôi và sự gợi lại các hành động oai hùng trong quá khứ của ông gây ngạc nhiên đến nỗi tôi đã tìm cách tập trung các kỷ niệm, và các điều tôi có thể quan sát được trong những ngày thăm viếng Nhật Bản để cố tìm ra lời giải thích.


Dầu thuộc bất cứ giai tầng xã hội nào, dầu là một trong những kẻ được cưng chiều nhất thế giới, trẻ con tại Nhật cũng cho việc bắt chước các bậc cha anh chống đối lại niềm đau đớn với nụ cười là một vinh dự. Nhiều cuộc trình diễn trong hội chợ đã duy trì khuynh hướng này nơi đứa bé, đặc biệt các đấu thủ đô vật hay đánh côn vốn đạt đến mức tàn bạo tuyệt đỉnh trước công chúng. Ai cũng nghe nói đến các đô vật Ainos thuộc một chủng tộc khác cực kỳ cao lớn và mạnh hơn chủng tộc Nhật. Nguồn góc xuất phát từ đảo Kouriles, các tay đô vật này ngay từ tuổi ấu thơ, đã bị đặt dưới các sự thử thách thể chất ghê gớm nhất và dưới một chế độ ăn uống có thể gia tăng sức vóc và trọng lượng. Một vài người đã đạt đến những kích thước đồ sộ cao hơn hai thước và nặng gần 200 kí lô! Các tay vô địch đấu với nhau trước sự hiện diện của Thiên Hoàng đã lôi cuốn hàng chục ngàn khán giả và tạo ra các cuộc biểu tình điên cuồng. Người thắng trận được đãi ngộ gần như thần thánh và nhận được các tặng phẩm vô giá và các số tiền khổng lồ, có thể làm cho các minh tinh nổi tiếng nhất của chúng ta phải tái mặt vì ganh tị.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 3999


WWW
« Trả lời #8 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2009, 06:59:55 PM »

Một sắc dân khác ít nổi tiếng hơn, đã tập luyện ngay từ bé cách sử dụng bàn tay như một thứ khí giới không làm chảy máu, cứ mải chặt mép phía ngoài của lòng bàn tay, da dần dần cứng lại như sừng. Các ngón tay teo lại và dính liền vào với nhau, bàn tay nở lớn và biến dạng cho đến khi trở thành một bàn tay hộ pháp quái gở. Những tay cự phách của nhóm này có thể chặt vài cái lá phá vỡ được bức tường gạch hay chẻ một hòn đá đẽo ra làm hai. Ta có thể kể nhiều ví dụ khác về môn phái vô cảm giác thể chất này thật tương phản với dáng điệu dịu dàng và mức sống cao của dân chúng. Phải chăng đây là mặc cảm tự ti của một chủng tộc bề ngoài có vẻ yếu kém? Hay đây là sự xác nhận tập thể về quyết tâm không gì chế ngự nổi của mình? Dầu gì chăng nữa, chính đấy là một trong những nét của cá tính Nhật Bản có thể giải thích-nếu không phải là để tạ lỗi-một vài điều quá lạm. Ta cần nên nhớ điều đó.


Dựa trên sức chịu đựng lạ kỳ, của thể xác, tinh thần của chiến binh Nhật thật là sắt đá. Không có một hệ thống tuyên truyền nào, một sự quyến dụ nào có thể tác động lên anh ta được. Trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến, quân Mỹ đã cố gắng chấm dứt lò tàn sát bằng các truyền đơn giải thích rằng kháng cự là chuyện không tưởng, nhưng vô ích. Họ còn ra sức đến mức mạo hiểm có thể chết được, để đặt những loa phóng thanh gần các miện hang núi mà dân chúng vào trốn trong đó. Không ăn thua gì. Đàn ông, đàn bà chờ cái chết với sự khắc kỷ hơn là tính chuyện đầu hàng nhục nhã.


Sau khi chiếm cứ quần đảo san hô Eniwetok, và khi quân Mỹ đổ bộ lên Bikini, họ tìm thấy dưới một căn lều xác bốn lính Nhật, toán phòng thủ duy nhất trên đảo. Họ tự mổ bụng để khỏi bị quân địch bắt sống.


Sự hăng say khó hiểu nhằm chống lại tất cả lý lẽ đã tiếp diễn trong các vùng biển phía Nam, ngay cả sau khi có cuộc đầu hàng chính thức. Dân chúng Nhật đã cam chịu với tinh thần kỷ luật bởi vì họ đã nghe giọng nói của Thiên Hoàng ban các chỉ thị. Nhưng đối với các toán quân đóng cô lập trên các đảo tại Thái Bình Dương thì tình trạng không giống như thế. Bốn năm sau khi chiến tranh chấm dứt, các phi cơ Mỹ tại Saipan đã thấy những làn khói đáng nghi trên hòn đảo nhỏ Anatahan mà ai nấy tin là không có người ở, viên chỉ huy trưởng phái một khinh tốc đỉnh đến xem có chuyện gì. Chiếc tàu được nhiều nhiều tràng tiểu liên tiếp đón và phải chạy tháo lui hết tốc lực. Truyền đơn liền được thả đầy xuống đảo để báo cho các ông Lỗ Bình Sơn rõ rằng xứ sở họ đã ký kết hiệp ước hoà bình từ bốn năm và một chiếc tàu của Mỹ sẽ đến rước họ. Khi chiếc tàu tiến đến, nó cũng bị tưới nhiều loạt đạn và phải từ bỏ nhiệm vụ. Quân Mỹ thấy không nên đưa mạng sống binh sĩ ra mạo hiểm một cách vô ích làm gì, đành đều đặn rải truyền đơn xuống cho những kẻ cứng đầu và chỉ cho họ dấu hiệu phải làm khi họ quyết định đầu hàng. Trong khoảng thời gian này, một thảm kịch đã xảy ra trên đảo. Các tay Lỗ Bình Sơn ấy là những người bị đắm tàu cả dân sự lẫn quân nhân, tàu của họ bị trúng thuỷ lôi vào cuối cuộc chiến. Tổng số chừng 10 người trong đó có một phụ nữ. Một trung sĩ cực kỳ tàn bạo và cuồng tín đã chỉ huy nhóm và cai trị bằng sự khủng bố. Người phụ đã phải tổ chức cả một cuộc âm mưu mới thắng được tên hung hăng này, sau cùng y bị hạ.


Rốt cuộc khi dấu hiệu hoà bình xuất hiện trên đảo thì cả một đoàn sinh vật hốc hác thảm thương đã được chiếc khinh tốc đỉnh Hoa Kỳ đưa ra khỏi cơn ác mộng hãi hùng.

Chắc ta có thể tưởng rằng vở bi kịch kỳ lạ tại Anatahan đã kết thúc hẳn cuộc kháng cự khăng khăng của những kẻ cuồng tính cuối cùng. Không phải vậy. Một nhóm binh sĩ Nhật đã được tìm thấy cách đây không đầy một năm trong quần đảo Đông Nam Á châu và rất có thể là khi tôi đang viết những dòng này, nhiều kẻ không nao núng khác còn lang thang trong rừng rậm, chờ đợi “ngọn gió thần” mang lại chiến thắng cho xứ sở của họ.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 3999


WWW
« Trả lời #9 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2009, 06:31:13 PM »

Trân Châu Cảng


Những phản ứng thượng đỉnh

Ngày 7 tháng 12 năm 1941 giờ TMG (giờ Ba Lê) một tin tức kinh hoàng làm chấn động hoàn cầu. Đối với cả thế giới đã chai đá vì chiến tranh này, sự loan báo một cuộc tấn công bằng không quân của Nhật vào hạm đội Mỹ tại Trân Châu Cảng là một đại biến cố khó tin. Đấy là một biến cố có tầm mức quan trọng đến nỗi, trong tất cả mọi quốc gia, các Quốc trưởng, các Thống chế, Đại sứ, Tổng Bộ trưởng đều được báo tin ngay tức khắc. Tuỳ viên và thư ký hấp tấp đến gặp họ, người thì đang ăn, kẻ đang ngủ, đang chơi golf hay ở đâu đó, vì quả thật 21 giờ ngày 7 tháng 12 tại Ba Lê và Luân Đôn, là 22 giờ tại Bá Linh, 23 giờ tại Mạc Tư Khoa, 5 giờ ngày 8 tháng 12 tại Trùng Khánh và 6 giờ cùng ngày tại Đông Kinh.


Trên quần đảo Hạ Uy Di, nơi xuất phát nguồn tin, lúc đó là 3 giờ sáng Chủ nhật 7 tháng 12, tiếng bom nổ như sấm do các phi cơ Nhật ném xuống căn cứ Hải quân Mỹ tại Trân Châu Cảng như chiếc búa của người nhắc tuồng đã vén màn cho cảnh đầu tiên của vở tuồng chiến tranh trên Thái Bình Dương. Chắc chắn là một nhát búa mạnh mẽ rồi; nhưng trong tầm mức của sân khấu vĩ đại ấy.


Vài phút sau, vô số điện tín được gửi đi ào ào như tuyết băng bằng bạch văn và lập tức được tất cả các thông tấn tiếp chuyển đi nữa. Một vài điện tín chuyển các câu nói lẫn lộn khó nghe đã mang tính cách trung thực không còn chối cãi gì được, khi thì ghi câu nói từ một đài kiểm soát chỉ vào các phi cơ đang sà xuống: “Nhiều phi cơ lạ tấn công phi trường”, khi thì ghi câu nói từ một bộ chỉ huy được lặp đi lặp lại bằng giọng lo âu: “Không tập trên Trân Châu Cảng! Đây không phải là một cuộc thực tập!”.


Ngay cả trước khi các sĩ quan trực tại Ngũ Giác Đài kịp hiểu chuyện gì đã xảy ra, toàn thể thế giới đã biết rằng một cuộc không tập táo bạo và rộng lớn đến sửng sốt, đã được khởi động trên căn cứ Hải quân lớn lao của Mỹ tại Thái Bình Dương. Toàn thế giới… ngoại trừ toà Bạch Ốc như xưa nay vẫn vậy, vốn dường như là nơi cuối cùng được báo tin, vì chiều cao của các bậc thang ở khắp nơi và luôn luôn như thế, đưa đến vị lãnh đạo tối cao, cũng như vì các nhân vật hữu trách sợ làm rối loạn niềm say sưa chiến thắng đang ngự trị nơi đó.


Lúc Tổng thống Roosevelt đang ăn trưa một mình với Harry Hopkins trong căn phòng hình trái xoan, bàn phiếm đến điều này điều nọ chẳng ăn nhập gì đến chiến tranh, trước 14 giờ một chút, thì Bộ trưởng Hải quân Frank Knox điện thoại đến báo cáo rằng người ta vừa trình cho ông một công điện vừa nhận được loan báo một cuộc không tập đang xảy ra tại Oahu và rằng đấy khong phải là một cuộc thực tập.


Hopkins quả quyết tuyên bố rằng đấy là một sự lầm lẫn và rằng “Nhật Bản không bao giờ tấn công Honolulu”. Tổng thống đồng ý và bắt đầu lại chuyện bỏ dở, đề cập đến các nỗ lực của ông để giữ cho nước Mỹ đứng ngoài vòng chiến tranh, những nỗ lực của ông muốn theo đuổi cho đến khi nhiệm kỳ của ông chấm dứt. Rồi cuộc điện đàm với Frank Knox lại trở lại trong trí ông, ông nhìn Hopkins và nói: “Người Nhật chuyên môn tìm cách châm ngòi chiến tranh một cách bất ngờ và đúng lúc họ đang thương thuyết hoà bình! Trong trường hợp ấy ít ra là tôi cũng được rảnh tay, họ đã quyết định thay tôi!”.


Đến 14 giờ 05, ông gọi điện thoại cho Ngoại trưởng Cordel Hull, báo cho ông ta biết về bức công điện và yêu cầu ông ta thay mặt ông tiếp các sứ thần đặc biệt Nhật, Đô đốc Nomura và Công sứ toàn quyền Kurusu, mà ông đã hẹp tiếp vào lúc 15 giờ và đối xử lễ độ với họ mà không cần ám chỉ đến bản công điện.


Lúc 14 giờ 28, đến phiên Đô đốc Stark, tư lệnh hành quân biển, gọi điện thoại cho Tổng thống và xác nhận rằng quả có một cuộc tấn công vào hạm đội và rằng người ta phàn nàn về nhiều tổn thất nhân mạng. Ông ta hỏi Tổng thống phải làm gì, Roosevelt trả lời rằng mọi sự sắp đặt đã có sẵn, chỉ còn chuyển đến cho các Tư lệnh Lục quân và Hải quân, mệnh lệnh yêu cầu thi hành các biện pháp đã tiên liệu trong trường hợp chiến tranh khai mào trên Thái Bình Dương. Một lát sau Tổng thống soạn một thông cáo cho báo chí và cho triệu tập vào lúc 15 giờ Tổng trưởng Chiến tranh Stimson, Bộ trưởng Hải quân Konx, Đô đốc Stark và tướng Marshall, lần lượt là tư lệnh Hải quân và tư lệnh Lục quân.


Dường như mãi đến lúc đó Roosevelt vẫn còn rất nghi ngờ giá trị của tin tức do Konx chuyển trình và tầm quan trọng của cuộc tấn công do quân Nhật chủ xướng. Cuộc hội nghị do Tổng thống triệu tập với hai Tổng trưởng và hai vị Tư lệnh đã diễn ra trong một không khí bình tĩnh. Trong hội nghị người ta nói về sự cần thiết phải chiến thắng chế độ độc tài Hitler bằng vũ khí, điều này bắt buộc trước sau gì cũng phải tham chiến. Mỗi người đều phát biểu ý kiến rằng nếu Nhật tạo cho Mỹ một cái cớ thì lại càng tốt hơn.


Cuộc hội nghị không ngớt bị gián đoạn vì tiếng chuông điện thoại mà Tổng thống chỉ im lặng nghe, nét mặt ghi dấu một mối âu lo ngày càng lớn. Tuy nhiên để trả lời cho một trong các cuộc điện đàm ấy, người ta nghe ông đã trả lời bằng một giọng cương quyết: “Giờ đây chúng ta là kẻ đồng hội đồng thuyền. Ngày mai tôi sẽ triệu tập Quốc hội…”.


Đó là Churchill từ Luân Đôn gọi ông. Thủ tướng Anh biết tin lúc đang ăn tối tại Chequers với Đại sứ Winant và Averell Harriman. Một chiếc máy thu thanh xách tay nhỏ-quà của Harry Hopkins-để trên bàn và trong bản tin 21 giờ, giọng nói thản nhiên của xướng ngôn viên đài BBC đã làm rối loạn cuộc tiếp xúc giữa ba nhân vật. Lập tức Churchill rời khỏi bàn và bước qua căn phòng ăn để bước vào phòng các thư ký, ông yêu cầu dùng đường dây liên lạc đặc biệt với Hoa Thịnh Đốn và ông được nói chuyện lúc hội nghị đang họp.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM