Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 16 Tháng Mười, 2019, 06:42:21 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Liên Bang Xô Viết và chiến tranh Việt Nam - Ilya V.Gaiduk  (Đọc 45508 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoabinh101
Thành viên
*
Bài viết: 90



« vào lúc: 16 Tháng Mười Hai, 2007, 02:22:17 PM »

Tác phẩm này do bác Ptlinh đánh máy và bác Cotyba làm ebook!

Do chưa thấy ai post nên tôi post lên cho mọi người đọc(xin phép 2 bác nhé) vì thấy nó cũng khá thú vị!

Thông tin ebook
Tên sách: Liên Bang Xô Viết và chiến tranh Việt Nam
Tác giả: Ilya V.Gaiduk
Người dịch: Trần Quy Thắng - Trần Văn Liên
Nhà xuất bản Công an nhân dân
Năm xuất bản: 1998
-----
Đánh máy: Ptlinh – Trái tim Việt nam online
Làm ebook: Cotyba
Ngày hoàn thành: 26-12-2006


Lời tác giả
Chương I: “Đêm trước" của cuộc chiến
Chương II: Bước ngoặt
Chương III: Cuộc chiến tranh đang diễn ra
Chương IV: Sân sau của Việt Nam
Chương V: Hòa tan
Chương VI: Cuộc gặp gỡ ở Glassboro
Chương VII-Con đường dẫn đến Paris
Chương VIII-Cuộc đàm phán “đầy hóc búa”
Chương IX- Gắn kết chống lại gắn kết
Chương X- Giữa sự hoà hoãn và Việt Nam
Chương XI- Kẻ chiến thắng duy nhất


Lời tác giả

…Mặc dù trong suốt cuộc chiến tranh, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã được hai đồng minh hùng mạnh Liên Xô và Trung Quốc ủng hộ, nhưng các nước này lại không được các nhà sử học nghiên cứu về cuộc chiến Đông Dương để ý tới. Hiện còn một khối lượng lớn tài liệu viết về chính sách của Mỹ, vô số tài liệu phân tích chính sách của Bắc Việt Nam và còn nhiều bài báo về chính sách của Trung Quốc. Nhưng người ta có thể uổng công vô ích cũng
« Sửa lần cuối: 11 Tháng Mười, 2008, 08:26:06 PM gửi bởi ptlinh » Logged

Chân lý thuộc về kẻ chiến thắng
hoabinh101
Thành viên
*
Bài viết: 90



« Trả lời #1 vào lúc: 16 Tháng Mười Hai, 2007, 02:23:34 PM »

không tìm ra một tài liệu phân tích toàn diện về các hoạt động của Liên Xô trong cuộc chiến tranh này cùng các chính sách của Matxcơva.

Rút cuộc thì Liên Xô không phải là người trực tiếp tham chiến. Matxcơva đã cung cấp cho Bắc Việt Nam những khoản viện trợ quân sự và kinh tế then chốt cần thiết cho Hà Nối đối phó lại cả Mỹ lẫn chế độ Ngụy Sài Gòn. Matxcơva còn hỗ trợ tuyên truyền xuất bản và phát thanh lên án tội ác của chủ nghĩa đế quốc Mỹ. Nhưng nhìn chung Liên Xô luôn cố duy trì một vị thế thấp đối với cuộc chiến, thường đứng sau hậu trường và có nhiều hoạt động gián tiếp, tránh công khai lộ mặt trong các hoạt động ngoại giao.

Không những vậy mà hầu hết các tài liệu trong hồ sơ của người Nga có thể cho thấy vai trò của Matxcơva trong cuộc xung đột này vẫn không hề tìm kiếm được Việc đưa ra công khai các tài liệu mật tương tự như vậy trong kho tài liệu mật của Mỹ chỉ mới được tiến hành gần đây. Việc xuất bản các tuyển tập đàm phán về các tài liệu của Quốc hội Mỹ năm 1983 là khởi điểm của quá trình này, nhưng phải đến sau khi Liên Xô sụp đổ năm 1991 các quan chức Mỹ mới sẵn sàng đưa ra các tài liệu đủ để phác họa bức tranh ít nhiều có tính toàn diện về quan hệ Xô-Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Và không thể chỉ xuất phát từ các tài liệu này để tìm ra lời giải đáp cho nhiều vấn đề liên quan đến việc Liên Xô dính líu vào cuộc xung đột này như các vấn đề bản chất quan hệ giữa Matxcơva-Hà Nội, đánh giá của các quan chức Liên Xô về cuộc chiến cùng ảnh hưởng của nó đối với quan hệ quốc tế, và vị trí của Việt Nam, Đông Dương trong việc hoạch đinh chính sách đối ngoại của Liên Xô.
Logged

Chân lý thuộc về kẻ chiến thắng
hoabinh101
Thành viên
*
Bài viết: 90



« Trả lời #2 vào lúc: 16 Tháng Mười Hai, 2007, 02:26:24 PM »

Những phân tích đánh giá có tinh lịch sử của Liên Xô và Nga chỉ gây thêm khó khăn cho những người quan tâm đến chính sách của Liên Xô. Các tài liệu viết về Việt Nam ở Liên Xô thường không khách quan. Hầu hết các sách này xuất hiện trong hoặc ngay sau khi xảy ra xung đột ở Đông Dương do các nhà báo viết ra miêu tả sự việc theo quan điểm tư tưởng chính thức. Họ đều không có ý đánh giá toàn diện về cuộc chiến tranh này, bỏ qua đánh giá về chính sách của Liên Xô đối với chiến tranh. Nhiều cuốn sách khác của các quan chức Đảng và Chính phủ biện minh cho sự dính líu của Liên Xô trong cuộc chiến Việt Nam, và đang được nhắc lại trong các bài xã luận đăng trên báo sự thật cũ của Liên Xô. Nhưng điều quan trọng hơn là nhiều việc đã bị bỏ qua. Các nhà học giả Liên Xô cũng đã có đóng góp vào việc nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam, nhưng họa hoằn lắm mới buộc phải sử dụng đến các nguồn thông tin hỗ trợ khác, và các tài liệu nghiên cứu của họ chỉ hạn chế trong khuôn khổ quy định của hệ tư tưởng chính thống và quyền lợi quốc gia. Hơn nữa, ngay sau thắng lợi của những người cộng sản ở Nam Việt Nam và sự sụp đổ của chế độ Sài Gòn cũ, sự chú ý của các nhà học giả Liên Xô đối với chiến tranh này ngày càng suy giảm và không bao giờ trở lại như xưa nữa. Việc thiếu hiếm tài liệu và ít quan tâm đến cuộc chiến tranh Việt Nam đã tạo ra tình trạng thiếu hiểu biết nghiêm trọng về cuộc xung đột ở Đông Nam Á và vai trò của Liên Xô trong cuộc xung đột đó
Logged

Chân lý thuộc về kẻ chiến thắng
hoabinh101
Thành viên
*
Bài viết: 90



« Trả lời #3 vào lúc: 16 Tháng Mười Hai, 2007, 02:28:34 PM »

Cuộc đảo chính không thành hồi tháng 8-1991 và sự tan rã của Liên Xô đã đưa tới sự sụp đổ của chế độ cộng sản ở Nga. Để chuẩn bị xét xử Đảng cộng sản Liên Xô (CPSU) các nhà lãnh đạo mới của Nga đã mở lại hồ sờ của Đảng tìm kiếm bằng chứng chống lại chế độ cộng sản cùng các đại diện chế độ đó. Kể từ khi Đảng cộng sản kiểm soát toàn bộ các lĩnh vực chính sách và đời sống ở Liên Xô, đây là lần đầu tiên các tài liệu quan trọng về chính sách đối ngoại của Liên Xô lưu trữ trong hồ sơ đã được đưa ra công khai cho các quan chức của chế độ mới cùng các nhà học giả nghiên cứu. Do đó một số thỏa thuận giữa cơ quan lưu trữ hồ sơ của Liên Xô và các tổ chức khoa học Nga và quốc tế, các nhà nghiên cứu được tạo điều kiện thuận lợi tiếp xúc các tài liệu lưu trữ.

Một thỏa thuận như vậy được ký kết giữa Trung tâm lưu trữ tài liệu hiện hành (tên đặt sau đảo chính của cơ quan lưu trữ hồ sơ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Liên Xô), Viện lịch sử thế giới của Viện hàn lâm khoa học Nga, và Dự án lịch sử quốc tế về Chiến tranh Lạnh thuộc Trung tâm các nhà học giả quốc tế Woodrow Wilson ở Washington. Thỏa thuận này quy định rằng các học giả Nga và phương Tây tham gia dự án này được tiếp cận với các tài liệu “đã hết bí mật” trong hồ sơ lưu trữ của Đảng cộng sản Liên Xô, và cuối cùng các tài liệu này sẽ có thể công khai cho mọi người có nguyện vọng nghiên cứu lịch sử chế độ cộng sản Liên Xô (Tôi là một trong những người tham gia vào dự án trên).

Đây là cơ hội duy nhất đối với các nhà sử học đọc các tài liệu được tiết lộ từ hồ sơ của Đảng cộng sản về chính sách trong Chiến tranh Lạnh của Liên Xô. Như mọi người đã biết, quá trình phân loại các tài liệu hết tính bí mật diễn ra chậm chạp so với đòi hỏi cần nhiều tài liệu mới của các nhà sử học, Ban lãnh đạo Trung tâm lưu trữ tài liệu hiện hành (TKHSD) đã đồng ý tiến hành biện pháp (chưa có từ trước tới nay) mở các tài liệu còn độ mật với ý định sau này sẽ đưa công khai ra trước công luận. Vì tôi là một trong số ít các nhà học giả tập trung nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam (là người Nga duy nhất có mối quan tâm như vậy) đã nhận được rất nhiều tài liệu mật và tối mật về quan hệ Liên Xô và Bắc Việt Nam, các hoạt động của Liên Xô trong quá trình chiến tranh Việt Nam, những đánh giá của Matxcơva về cuộc chiến và ảnh hưởng của nó đối với vị trí của Liên Xô ở Đông Nam Á trên chính trường quốc tế.

Những tài liệu này gồm các báo cáo hàng quý, hàng năm của Đại sứ quán Liên Xô ở Hà Nội: báo cáo về các cuộc trao đổi của các quan chức Liên Xô và ngoại quốc; các báo cáo tin tình báo của KGB và GRU (tình báo quân đội), được chuẩn bị tại hai vụ quốc tế của Ban chấp hành Trung ương (Vụ quan hệ với các Đảng cộng sản và công nhân các nước tư bản chủ nghĩa, Vụ quan hệ với các đảng cầm quyền tại các nước xã hội chủ nghĩa) thực sự đã làm đảo lộn cách nhìn cũ của tôi về chính sách của Liên Xô đối với cuộc chiến Việt Nam cùng quan hệ của Matxcơva với đồng minh Bắc Việt Nam. Chính sách của lịch sử hóa ra không phải là trung thực và nhất quán như hoạt động tuyên truyền của những người cộng sản cố tạo dựng lên. Thay vào đó là một chính sách phức tạp và đầy tranh cãi, mâu thuẫn.
Ý tưởng viết một cuốn sách về chính sách của Liên Xô đối với chiến tranh Việt Nam thoạt đầu do các đồng nghiệp của tôi nêu ra. Sau khi đọc báo cáo của tôi chuẩn bị cho một hội nghị về bằng chứng mới trong lịch sử Chiến tranh Lạnh được tổ chức ở Matxcơva hồi tháng 1 năm 1993, họ đã động viên tôi tiếp tục nghiên cứu về vấn đề này, và vì mục đích đó tôi sẽ sử dụng sáu tháng sang Mỹ để tìm tài liệu trong hồ sơ của Mỹ. Trên thực tế sự tổng hợp các tài liệu của Liên Xô và của Mỹ như vậy đã làm bức tranh toàn cảnh về chính sách của Liên Xô ở Đông Nam Á trong những năm chiến tranh đó ngày càng hoàn chỉnh và rõ ràng hơn.
Logged

Chân lý thuộc về kẻ chiến thắng
hoabinh101
Thành viên
*
Bài viết: 90



« Trả lời #4 vào lúc: 16 Tháng Mười Hai, 2007, 02:31:51 PM »

Tuy nhiên, mùa gặt hái của các học giả tìm tài liệu trong hồ sơ lưu trữ của Nga đã nhanh chóng đi đến màn kết thúc ở Matxcơva. Một bằng cớ cho việc các quan chức Nga thay đổi hẳn chính sách đã được tìm thấy trong mớ tài liệu về Việt Nam, và việc tờ Thời báo New York đăng tải một báo cáo của Bắc Việt Nam về số lượng các tù binh chiến tranh người Mỹ. Điều này đã gây tranh cãi ngoại giao và hàng loạt lời buộc tội lẫn phản bác trong giới quan chức ở Nga, Mỹ và ở Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Quan trọng hơn là các nhà lãnh đạo Nga thừa nhận một cách muộn màng rằng các tài liệu để trong kho hồ sơ lưu trữ của Đảng có thể được dùng để phục vụ cho các mục đích chính trị của riêng họ và chỉ được đưa ra vào những thời điểm thích hợp, nhưng khôgn đưa ra công khai toàn bộ các tài liệu đó. Kết quả là các quan chức đã quyết định chấm dứt toàn bộ việc thu thập tài liệu ở Trung tâm lưu trữ nói trên, bao gồm cả các tài liệu về Cuộc chiến tranh Việt Nam. Lại một lần nữa các nhà sử học quan tâm đến Cuộc chiến Việt Nam phải đào bới tìm kiếm từng mẩu thông tin trong các ấn phẩm chính thức của Liên Xô, sách vở, các báo cáo của các giới chức thẩm quyền về hồ sơ lưu trữ của Nga trong nhiều hội nghị ở nước ngoài, và một số tài liệu được dành riêng cho các khách du lịch trong Trung tâm lưu trữ trên.

Trong bối cảnh như vậy, nhu cầu viết một cuốn sách dựa trên cơ sở chủ yếu là các tài liệu mật của Liên Xô cũng như các tài liệu được đưa ra công khai mới đây của hồ sơ lưu trữ Mỹ ngày càng trở nên cấp bách hơn. Hai mươi năm đã trôi qua kể từ khi kết thúc Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai, và chúng ta cần phải có sự đánh giá, phân tích khách quan và toàn diện về kết quả, cùng hậu quả của cuộc xung đột này đã ảnh hưởng khủng khiếp đến như thế đối với sinh mệnh của hàng ngàn người Mỹ và Việt Nam, cũng như đối với các quan hệ quốc tế trong Chiến tranh Lạnh.

Cuốn sách này không phải là sự liệt kê toàn diện các sự kiện xảy ra trong suốt những năm tháng của Cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai. Nó càng không phải là sự khái quát chung về chính sách của Liên Xô trong giai đoạn đó. Thay vào đó, để phân tích được chính sách ngoại giao của Liên Xô đối với cuộc xung đột ở Đông Nam Á. Tôi xin tập trung phân tích các nhân tố, xu hướng và động cơ hành động đã ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định chính của Liên Xô trong những năm đó. Một sự phân tích như vậy bao trùm tổng thể quan hệ Liên Xô với một số nước. Hiển nhiên là các mối quan hệ với Bắc Việt Nam và với Mỹ chiếm một vị trí quan trọng trong các kế hoạch của Matxcơva đối với cuộc chiến tranh. Việc quan hệ với Trung Quốc ngày càng xấu đi, và tình trạng thù địch giữa hai cường quốc cộng sản này càng tăng cũng ảnh hưởng lớn đến phương hướng, chính sách của Liên Xô, và đôi khi quyết định quan điểm về chiến tranh của Ban lãnh đạo Liên Xô cùng các giải pháp ngoại giao của họ. Hơn nữa, trong chính sách Việt Nam của mình, Liên Xô còn phải xem xét đến các nước đồng minh Đông Âu; Anh-là nước đồng chủ tịch Hội nghị Geneva; Pháp là nước tham gia Cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất vào những năm 50 và nước chủ nhà tổ chức Hòa đàm Paris về Việt Nam trong giai đoạn 1968-1973.
Logged

Chân lý thuộc về kẻ chiến thắng
hoabinh101
Thành viên
*
Bài viết: 90



« Trả lời #5 vào lúc: 16 Tháng Mười Hai, 2007, 02:32:34 PM »

Cuốn sách của tôi bắt đầu từ 1964, một năm quá độ cho cả Mỹ lần Bắc Việt Nam. Lúc đó vẫn có thể tránh một cuộc đối đầu quân sự thông qua việc tiến hành hội đàm đi tới thỏa hiệp hoặc ít ra cũng tạo sự hiểu biết lẫn nhau giữa hai nước này. Lúc đó thực ra không có một cản trở nào đối với một tiến trình như vậy, trừ những định kiến mạnh của các nhà lãnh đạo Mỹ về Chiến tranh Lạnh và ý chí quyết tấm chặn đứng chủ nghĩa cộng sản. Các cuộc ném bom của Mỹ chống Bắc Việt Nam sau này đã làm tiêu tan các khả năng đi đến một giải pháp hòa bình sớm sủa cho cuộc xung đột này.

Năm 1964 cũng là một năm quá độ đối với phía Liên Xô. Thái độ của Liên Xô đối với cuộc xung đột ở Đông Dương chuyển biến dần dần từ một chính sách không can dự vào các sự kiện xảy ra đến chính sách ủng hộ mạnh mẽ những người cộng sản Việt Nam và cuộc đấu tranh của họ. Bước ngoặt trong thay đổi chính sách này chính là cuộc khủng hoảng Vịnh Bắc Bộ hồi tháng 8 năm 1964.

Việc nghiên cứu dừng lại ở thời điểm 1973, năm mà các bên ký Hiệp định chấm dứt chiến tranh và vãn hồi hòa bình ở Việt Nam. Việc này chấm dứt sự dính líu trực tiếp của Mỹ vào cuộc chiến và mở ra một giai đoạn mới của cuộc xung đột là giai đoạn đối đầu giữa hai thế lực thù địch người Việt mà không có sự can thiệp nước ngoài. Giai đoạn sau năm 1973 cũng được đánh dấu bằng hàng loạt những diễn biến mới trong quan hệ quốc tế và quan hệ tay đôi giữa các nước này-và cần được phân tích trong một cuốn sách khác.

Tôi không hề có ý muốn đánh giá có tội hay vô tội đối với mỗi nước tham gia cuộc xung đọt này hoặc để tìm ra kẻ thù ác trong quá trình Chiến tranh Việt Nam. Những nước tham chiến xác định hành động của mình bằng các hệ thống giá trị khác nhau đến nỗi đôi khi khó có thể tìm ra được sự tương đồng nhỏ nhất giữa các giá trị này. Điều mà bên này cho là đúng đắn lại hoàn toàn không thể chấp nhận được đối với bên kia. Chính phủ Mỹ coi hành động của họ là đúng đắn vì mục đích của họ là nhằm ngăn chặn sự chà đạp của người cộng sản đối với quyền tự do của nhân dân Nam Việt Nam. Còn Hà Nội thì tuyên bố cuộc chiến tranh của mình là chân chính và vì phẩm giá trên cơ sở chủ quyền quốc gia, thống nhất nước Việt Nam, và giải phóng nhân dân miền Nam khỏi ách thống trị tư bản. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc và Liên Xô lại có các động cơ riêng, tuy gần gũi với các động cơ của Bắc Việt Nam nhưng vẫn không hoàn toàn tương đồng. Mỗi bên tham gia trong cuộc xung đột đều có thể đưa ra hàng ngàn những ví dụ chứng minh cho hành động vô nhận đạo của phía đối phương. Nhưng các nhà lãnh đạo của bất cứ nước nào tham gia cuộc xung đột này đều được hướng theo những xem xét, cân nhắc về đạo lý. Đặc biệt trong trường hợp ngoại giao, đạo lý được coi là cơ sở chủ yếu cho các hoạt động tuyên truyền.

Để cố gắng thấu hiểu được động cơ và chính sách của các nhà lãnh đạo chính trị, tôi hoàn toàn chia sẻ kết luận của nhà sử học người Anh F.A.Simpson rằng: “Cách thức dễ dàng nhất để viết sử hay để xây dựng lên những người anh hùng hoàn hảo và những kẻ hung đồ thực sự. Đó không chỉ là sự tìm tòi khám phá ra các đặc điểm nhân vật vô giá về nghệ thuật mà việc phát hiện ra chúng thực sự là quá trình loại bỏ các bằng chứng. Nhiệm vụ thẩm tra các bằng chứng thật tẻ nhạt, và kết quả thu lại là có thể làm mất đi hình tượng người hùng và gần như chắc chắn là mất đi chất hung đồ của con người”.

Để thấu hiểu được các động cơ trong chính sách của Liên Xô đối với Việt Nam, toi không thể lẩn tránh nhiều vấn đề quan trọng: mức độ Matxcơva nghiêng về tăng cường quan hệ với phương Tây, đặc biệt là với Mỹ ảnh hưởng đến các quyết định của Kremlin ủng hộ Bắc Việt Nam trong Cuộc Kháng chiến chống xâm lược Mỹ như thế nào? Việc lo củng cố uy tín trong Phong trào cộng sản thế giới và cuộc cạnh tranh với Trung Quốc có ảnh hưởng quyết định đến thái độ của giới lãnh đạo Liên Xô đối với Cuộc chiến tranh ở Việt Nam không? Liệu có sự mâu thuẫn giữa việc Liên Xô viện trợ quân sự cho Hà Nội và Liên Xô khuyến khích một giải pháp thông qua đàm phán đối với cuộc xung đột này không?

Tôi không hề ngần ngại để đưa ra các câu trả lời có tính chất khẳng định đối với các câu hỏi này cũng như các câu hỏi khác. Không phải toàn bộ các tài liệu về vấn đề trên đều sẵn có cho tôi nghiên cứu phân tích, ngay cả khi hồ sơ lưu trữ ở Nga đã có lúc được công khai mở cửa cho nghiên cứu hơn hiện nay. Một số tài liệu chứa đựng các bằng chứng trực tiếp về quá trình ra quyết định ở cấp cao nhất hiện được lưu giữ ở Kremlin và không thể tiếp cận được. Những người hy vọng tìm kiếm được thêm nhiều chi tiết về nội dung, về việc hợp tác về kinh tế, quân sự giữa Liên Xô và Bắc Việt Nam, cũng như về các chiến dịch tuyên truyền ủng hộ nhân dân Việt Nam, có thể bị thất vọng, vì cuốn sách này chỉ tập trung nghiên cứu phân tích về mặt ngoại giao của cuộc xung đột này và dành lại tất cả các lĩnh vực khác để mọi người nghiên cứu đánh giá thêm.

Về mặt nào đó, quyển sách này chỉ là một toan tính để phụ họa thêm cho biểu tượng lịch sử đáng chú ý của Cuộc chiến tranh Việt Nam hiện vẫn tồn tại sinh động trong thế giới Tây phương, với cái nhìn từ ”phía bên kia chiến tuyến”. Cách nhìn này có thể là lần đầu tiên, chỉ dựa trên các bằng chứng hồ sơ tài liệu. Nhưng có nhiều vấn đề, mối liên hệ cùng các khoảng cách khác nhau trong nhìn nhận vấn đề cần phải giải quyết. Khi việc mở kho hồ sơ lưu trữ ở Nga, cũng như ở Việt Nam và Trung Quốc vẫn tiếp tục, thì sẽ có nhiều cơ hội để nghiên cứu viết thành một lịch sử quốc tế toàn diện về cuộc xung đột này và để đóng góp giúp hiểu biết sâu sắc hơn về Kỷ nguyên Chiến tranh Lạnh với đầy rẫy những nghịch lý của nó…
Logged

Chân lý thuộc về kẻ chiến thắng
hoabinh101
Thành viên
*
Bài viết: 90



« Trả lời #6 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2007, 09:37:06 AM »

Chương I: “Đêm trước" của cuộc chiến

Chiến tranh giống như một tấm thảm kịch, có đoạn mở của nó. Nhưng thật bất hạnh là ít người có thể nhận ra được điều đó trước khi quá muộn. Mặt khác, ai biết được có bao nhiêu cuộc chiến tranh có thể đã được tránh không xảy ra.

Đầu năm 1964, không một ai có thể dự đoán được rằng, thế giới sẽ nhanh chóng chứng kiên một cuộc xung đột ở Đông Dương có tác động đến nhiều quốc gia và hệ thống lớn các mối quan hệ quốc tế. Mặc dù, nhiều nhà quan sát đã rất lo ngại về tình hình ở Đông Nam Á và báo động về những phát triển nguy hiểm ở trong khu vực, nhưng đa số các chính trị gia và các nhà phân tích chính trị hy vọng là có thể tránh được bước ngoặt chết người của các sự kiện trên. Trong số đó có các nhà lãnh đạo Xô Viết, những người có lý do riêng của họ để đặt nhiều hy vọng về vấn đề này.

Năm 1964, ở Liên Xô người ta bắt đầu xuất bản một thứ của Nikita S.Khrushchev, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô gửi nguyên thử các quốc gia trên toàn thế giới vị Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng này dự định (theo cách đặt vấn đề của ông) là “thu hút sự quan tâm tới một trong những vấn đề (theo quan điểm của chúng tôi) rất quan trọng cho sự nghiệp củng cố hòa bình” đó là về những cuộc tranh chấp lãnh thổ giữa các quốc gia và các biện pháp giải quyết của họ.

Bức thư này là một sự khởi đầu mang tính hòa bình rất đặc trưng của Xô Viết tập trung vào việc miêu tả Liên Xô là một chiến sĩ đấu tranh cho hòa bình một cách bền bỉ. Đồng thời bức thư cũng thể hiện quan điểm của Liên Xô về tình hình quốc tế lúc đó. Bức thư cũng bao gồm những đoạn nói về Việt Nam, mặc dầu điều này không rõ ràng là vấn đề về tranh chấp lãnh thổ, Khrushchev viết: “Xét theo một vài khía cạnh thì một vấn đề nữa liên quan đến lãnh thổ. Đây là vấn đề sự thống nhất đất nước ở Đức, Triều Tiên và Việt Nam. Sau chiến tranh (Thế giới thứ II), mỗi nước này đã bị chia làm hai nước với những hệ thống xã hội khác nhau.
Mong muốn thống nhất đất nước của nhân dân ở các nước đó đáng thông cảm và tôn trọng. Tất nhiên, nguyện vọng thống nhất đất nước phải được giải quyết bởi chính người dân trong các nước đó và bằng chính quyền của họ, chứ không phải bằng sự can thiệp quân sự từ bên ngoài hoặc xâm lược, ví dụ như đã xảy ra ở Nam Triều Tiên và Nam Việt Nam”…
Logged

Chân lý thuộc về kẻ chiến thắng
hoabinh101
Thành viên
*
Bài viết: 90



« Trả lời #7 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2007, 09:37:43 AM »

Mặc dù Việt Nam được đề cập đến ở đoạn cuối trong phần bức thư của Khrushchev, nhưng tình hình ở Đông Dương vẫn là mối lo ngại chủ yếu đói với Matxcơva và được coi như là một sự khác nhau cơ bản so với những diễn biến ở Đức và Triều Tiên. Trong bức thư của mình ông đã khẳng định quan điểm sau: “Để giải quyết được vấn đề này thì việc tránh sử dụng vũ lực, cho phép người dân ở những nước đó giải quyết những yêu cầu về thống nhất đất nước một cách hòa bình là cần thiết. Tất cả các quốc gia khác phải khuyến khích cách làm này”.
Rõ ràng là tình hình bất ổn ở Việt Nam đã làm các nhà chính trị Xô Viết lưu tâm khi họ đề cập đến Việt Nam ở hai đoạn trên trong bức thư của Khrushchev. Nhưng liệu lời phát biểu này có phải là sự quan tâm của một nước xã hội chủ nghĩa này đối với nước xã hội chủ nghĩa khác? Xét theo một vài khía cạnh nào thì điều này là đúng bởi vì nghi lễ xã giao đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống chính trị của Matxcơva.

Nhưng các nhà lãnh đạo Xô Viết dường như cũng đã lưu tâm đến các sự kiện ở Việt Nam từ năm 1964.

Không có điều gì bí mật đối với Matxcơva rằng kể từ năm 1959 các nhà cộng sản Việt Nam đã tập trung vào việc thống nhất đất nước bằng quân sự. Những tài liệu chính thức của Đại hội Đảng lao động lần thứ 3 (Đảng của những người công nhân ở Việt Nam, được tổ chức vào tháng 9 năm 1960) đã được in ấn tại Liên Xô vào năm 1961, đã chứng tỏ sự xác định của Đảng đối với việc tăng gấp đôi nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam, đó là sự công nhận Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc Việt Nam và Công cuộc giải phóng miền Nam khỏi “sự thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai” và Công cuộc thống nhất đất nước.

Theo nghị quyết của Hội nghị lần thứ 15 của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam năm 1959 và cuộc họp đặc biệt của Bộ Chính trị diễn ra vài tháng sau đó, thì nhiệm vụ này bao gồm cả việc định hướng cho các đảng viên Cộng sản Việt Nam về một cuộc đấu tranh quân sự để thống nhất đất nước. Hà Nội tin rằng sẽ có “một tình thế cách mạng” ở Nam Việt Nam. Do vậy mà người ta quyết định tăng cường những nỗ lực quân sự ở miền Nam kết hợp với “một cuộc phản công chống lại kẻ thù trên mặt trận chính trị”. Ủy ban Trung ương Đảng Bắc Việt Nam đã đưa ra một kế hoạch hành động cụ thể để hoàn thành nhiệm vụ này.

Tất cả những biện pháp này cũng với sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (viết tắt là NLFSV, hoặc Việt Cộng, một tổ chức mang tư tưởng và được sự trợ giúp của Bắc Việt Nam) tháng 12 năm 1960, đã cho những người Xô Viết thấy rằng có một số phát triển mới đang được hình thành trong khu vực. Đầu tiên, những sự kiện ở Đông Nam Á dường như rất có ý nghĩa đối với Matxcơva. Khu vực này chưa bao giờ là mối quan tâm chính của giới lãnh đạo Xô Viết bởi sự xa xôi và yếu kém của phong trào cách mạng trong khu vực. Sự trợ giúp của Liên Xô cho Việt Minh đối với cuộc chiến Đông Dương đầu tiên và đối với Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau năm 1954 là một ngoại lệ. Nhưng trong cả hai trường hợp này, viện trợ của Liên Xô vẫn ít hơn so với Trung Quốc, là nước mà các lãnh đạo Việt Nam có những quan hệ chặt chẽ hơn.

Điều này cũng đúng khi xem xét đến sự hợp tác quân sự giữa Liên Xô và Bắc Việt Nam. Trong Cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp của người Việt Nam, Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã viện trợ cho Việt Nam vô số vũ khí đạn dược. Sau năm 1954, Liên Xô tham gia vào việc tổ chức lại các lực lượng vũ trang của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đã gửi tới Việt Nam các cố vấn quân sự và vũ khí, một số đã được chuyển cho Việt Cộng. Nhưng sự giúp đỡ này là không đáng kể.

Vì vậy, trước năm 1964, Liên Xô chủ yếu vẫn là một quan sát viên trước những diễn biến ở Việt Nam. Với vai trò này đã phục vụ cho chiến lược cùng tồn tại hòa bình của Khrushchev với phương Tây và tránh những cuộc xung đột giống như cuộc khủng hoảng tên lửa ở Cuba năm 1962. Với vị thế này có thể thực hiện được trong bối cảnh ở Đông Dương vẫn tồn tại một cuộc đấu tranh giữa các phe nhóm khác nhau của xã hội Việt Nam. Thậm chí việc các cố vấn quân sự Mỹ được phái tới miền Nam Việt Nam cũng không thể hiện mối quan ngại nhiều đối với Matxcơva bằng sự lớn mạnh về ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực. Liên Xô có thể tiếp tục đưa ra những bài phát biểu và những tuyên bố kêu gọi một giải pháp hòa bình đối với vấn đề thống nhất đất nước, Liên Xô có thể đảm bảo với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về sự ủng hộ của họ trong cuộc kháng chiến của những người yêu nước ở miền Nam Việt Nam, Liên Xô có thể cung cấp cho họ (thông qua Hà Nội), viện trợ hứa hẹn dưới dạng vũ khí của Đức, cung cấp dược phẩm y tế và như vậy có thể xây dựng những mối quan hệ ổn định với phương Tây. Thế nhưng quyết định của Trung ương Đảng Lao động vào năm 1959 và 1960 đã thách thức những chiến thuật này của Kremlin.
Bằng việc thay đổi những quan điểm của Liên Xô vào đầu năm 1964 cũng nhanh chóng làm sâu sắc mối bất hòa giữa Liên Xô và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Sự xung đột giữa hai Đảng cộng sản lúc đó đã phát triển tới một sự kình địch công khai và những giai đoạn ngừng xung đột ngày càng trở nên hiếm hoi. Sự bất hòa Trung-Xô đã tác động mạnh mẽ đến những cân nhắc của Liên Xô đối với khu vực Đông Nam Á.
Logged

Chân lý thuộc về kẻ chiến thắng
hoabinh101
Thành viên
*
Bài viết: 90



« Trả lời #8 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2007, 09:38:35 AM »

Ảnh hưởng của Trung Quốc vào khu vực này luôn luôn mạnh mẽ, không chỉ bởi lý do địa lý duy nhất. Vào đầu những năm 60, vị trí của Trung Quốc trong khu vực, đặc biệt đối với Việt Nam, thậm chí còn phát triển mạnh mẽ hơn. Các nhà cộng sản Trung Quốc và Việt Nam phát hiện ra rằng họ có nhiều điểm chung trên con đường đi tới phong trào cộng sản thế giới, về vai trò của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và về việc cùng tồn tại hòa bình với các nước tư bản chủ nghĩa. Họ có chung một tình cảm rất sâu nặng về Chủ nghĩa dân tộc mà điều đó đã thống nhất quan điểm của họ về thái độ đối với các “đồng chí” Liên Xô.

Do có những triển vọng về mọt nước Việt Nam thống nhất, nên Hà Nội và Bắc Kinh có một sự nhất trí rằng đấu tranh chính trị, quân sự là những biện pháp chính để đạt được mục đích này. Những bất đồng nhỏ về những vấn đề như thế này là: Liệu Bắc Việt Nam có nên gửi lực lượng quân sự để giúp đỡ lực lượng Giải phóng dân tộc miền Nam Việt Nam trong Cuộc kháng chiến chống Mỹ và “bè lũ tay sai” hay không? Liệu Việt Cộng có nên trông cậy vào lực lượng quân sự riêng của mình hay không? Đã ít được để ý đến.

Sự phát triển ảnh hưởng của Trung Quốc ở Đông Nam Á xảy ra đồng thời với sự giảm đi một cách tương đối lợi ích của Liên Xô trong khu vực. Khrushchev dường như đã được thuyết phục rằng cách thức tối ưu để giải quyết với những hoàn cảnh trên là để cho chúng tự phát triển với sự dính líu ít nhất của Liên Xô, giới hạn chủ yếu ở sự ủng hộ về tinh thần. Quan điểm này vẫn giữ nguyên, không thay đổi cho đến khi có chuyến viếng thăm của đoàn đại biểu Đảng Lao động Việt Nam tới Matxcơva vào tháng 1, 2 năm 1964.

Đoàn đại biểu Việt Nam tới Mát-xcơ-va vào ngày 31 tháng 1 do Lê Duẩn dẫn đầu, cùng với những đại diện lỗi lạc của giới lãnh đạo Hà Nội như Lê Đức Thọ và Hoàng Văn Hoan (cả hai là Ủy viên Bộ Chính trị và là Bí thư Trung ương Đảng Lao động Việt Nam). Báo Pravda đăng một bài ngắn gọn về chuyến thăm của những người Việt Nam này mà không có một lời tiết lộ nào về mục đích của chuyến đi. Độc giả đã có thể cho là những con người Việt Nam này đến chủ yếu là để thăm quan Matxcơva-Lăng Lê-nin, Cung điện Thanh niên, Nhà hát lớn.

Nhưng vào ngày 9 tháng 2, báo Pravda đã in trên trang nhất về cuộc họp ở Điện Kremlin giữa đoàn đại biểu Việt Nam và Bí thư thứ nhất Đảng cộng sản Liên Xô Khrushchev cùng với một bức ảnh chụp nhà lãnh đạo Xô Viết đang mỉm cười và những gương mặt rạng rỡ của các vị khách. Bài báo nhận xét rằng, cuộc gặp đã diễn ra trong bầu không khí “thắm tình hữu nghị” và những vấn đề về lợi ích chung đã được thảo luận.

Quan trọng hơn là đoạn tiếp theo đã nhấn mạnh rằng: “Cả hai bên đã thể hiện sự đoàn kết của Phe xã hội chủ nghĩa và Phong trào Cộng sản thế giới, tăng cường tình đoàn kết và hữu nghị của CPSV (Đảng cộng sản Liên Xô) và PTV (từ Nga chỉ Đảng của giai cấp công nhan Việt Nam) của Liên Xô và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lê nin và những nguyên tắc cơ bản của phong trào vô sản quốc tế. Cả hai Đảng đã đặt chính sách của họ dựa trên những nguyên tắc của cương lĩnh và tuyên bố của các Đảng cộng sản vì công nhân”. Câu cuối cùng này ám chỉ rằng không có sự khác biệt giữa hai đảng đối với vấn đề trên và đó là trung tâm của sự bất đồng giữa Liên Xô và Trung Quốc. Theo bài báo đó thì Đảng Lao động Việt Nam dường như là người ủng hộ mạnh mẽ cho những người Xô Viết.
Nhưng tình hình thực tế thì phức tạp hơn. Tháng 3 năm 1964, trong một bức điện của Ban bí thư Trung ương Đảng cộng sản Liên Xô gửi Đại sứ Liên Xô ở Paris đã đưa nội dung chi tiết của những cuộc thảo luận trong chuyến thăm của Lê Duẩn và các đồng chí của ông ta ở Liên Xô. Nội dung của bức điện đã thể hiện rõ ràng rằng chuyến thăm này đã được các nhà lãnh đạo Hà Nội chuẩn bị với mục đích là khuyên các đối tác Xô Viết của họ hãy ủng hộ những quyết định của Đảng Lao động tại Hội nghị lần thứ 9 Ủy ban Trung ương tháng 12 năm 1963 và xem xét lập trường của Liên Xô đối với những quyết định này, để đạt được mục đích trên, những người Việt Nam đã chuẩn bị một bài phát biểu dài bảy mươi ba trang để giải thích quan điểm của họ về “những vấn đề chiến tranh và hòa bình, về phong trào giải phóng dân tộc và về sự thống nhất của Hệ thống cộng sản thế giới và Phe xã hội chủ nghĩa”. Hơn nữa, Lê Duẩn cũng lưu ý rằng phái đoàn của ông ta chỉ đề cập đến những vấn đề có sự khác nhau về mặt quan điểm giữa Đảng Lao động Việt Nam và Đảng cộng sản Liên Xô.

Hội nghị lần thứ 9, Đảng của những người công nhân cũng đã đưa ra một quyết tấm to lớn nhằm chuẩn bị một cuộc tổng khởi nghĩa ở miền Nam và đã dưa ra một chiến lược cho cuộc khởi nghĩa này. Hội nghị này đã nhấn mạnh đến nhu cầu hình thành những đơn vị vũ trang hùng mạnh và “định rõ việc đấu tranh ở ba khu vực chính của miền Nam: vùng núi, nông thôn và thành thị. Những người Cộng sản Việt Nam cũng tin rằng “sự phối hợp của các lực lượng” đã trở thành lợi thế cho sự thành công của cuộc cách mạng ở miền Nam Việt Nam. Mặc dù thắng lợi cuối cùng của cuộc cách mạng này có thể giành được chỉ sau một giai đoạn chuyển tiếp”.

Quyết định theo đuổi một cuộc đấu tranh quân sự của Hội nghị 9 đòi hỏi không chỉ sự huy động tất cả các nguồn lực của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà cả sự giúp đỡ của các đồng minh, đặc biệt là từ Trung Quốc và Liên Xô. Các nhà lãnh đạo Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam đến Matxcơva dưới dạng một phái đoàn thăm dò để khẳng định thái độ của Liên Xô đối với Việt Nam.

Trong những lần gặp gỡ với các nhà lãnh đạo Xô Viết, các sứ giả Việt Nam không bó hẹp trong những vấn đề của Việt Nam và Đông Nam Á. Họ muốn biết quan điểm của Liên Xô trên phạm vị lớn của các vấn đề vì họ hiểu rằng bất kỳ một sự bất đồng nào đều có thể cản trợ hoặc làm phức tạp nghiêm trọng đến sự hợp tác giữa hai nước. Ấn tượng của Matxcơva trong những cuộc thảo luận này là quan điểm ở các đồng nghiệp Việt Nam của họ, thể hiện sự ảnh hưởng rất mạnh từ Bắc Kinh nhưng mềm dẻo hơn.

Lê Duẩn và các đồng nghiệp của ông ta đã không ngần ngại chỉ trích lập trường của Liên Xô trên những vấn đề như cùng tồn tại hòa bình với các nước phương Tây, việc giúp đỡ của Liên Xô cho Ấn Độ trong cuộc xung đột giữa Ấn Độ và Trung Quốc, việc Liên Xô từ chỗ giúp đỡ Trung Quốc chế tạo vũ khí hạt nhân và sự kiém nhiệt yình của Liên Xô trong việc giúp đỡ các Phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Những người Việt Nam tin rằng có một hiểm họa thật sự về cuộc chiến tranh hạt nhân và rằng nền hòa bình chỉ có thể được bảo vệ thực sự bằng những cách thức của một cuộc đấu tranh cách mạng. Cùng tồn tại hòa bình với các nước tư bản sẽ làm hạn chế tính triệt để của cuộc đấu tranh với “chủ nghĩa tư bản cố hữu” và đánh bại nó từng bước. Các nhà lãnh đọa Liên Xô đã kết luận: “Nói cách khác, các nhà lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam thực sự đã loại bỏ cơ hội theo đuổi một chính sách cùng tồn tại hòa bình”.
Theo phía Matxcơva, khi thể hiện quan điểm của họ về Phong trào giải phóng dân tộc, Lê Duẩn đã cường điệu hóa vai trò của họ trong “sự nghiệp cách mạng” vào các nước thuộc thế giới thứ ba và tin rằng khả năng thành công của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở châu Á, Phi và Mỹ La tinh sẽ sâu hơn so với các nước phát triển ở phương Tây. Do vậy, nhiệm vụ chính của các nước xã hội chủ nghĩa và Phong trào Cộng sản quốc tế là tập trung những nỗ lực của họ để tạo ra “một bước đột phá vào sự liên kết yếu ớt giữa các mắt xích của chủ nghĩa đế quốc”. Các nhà lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam tin rằng hầu như không có một điều kiện thích hợp nào cho việc tổ chức những cuộc cách mạng dân chủ toàn quốc và tiếp tục tiến lên chủ nghĩa xã hội một cách hòa bình.
Logged

Chân lý thuộc về kẻ chiến thắng
hoabinh101
Thành viên
*
Bài viết: 90



« Trả lời #9 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2007, 09:42:47 AM »

Những người Xô Viết kết luận: “Các nhà lãnh đạo Việt Nam tin rằng, chính các Phong trào giải phóng dân tộc (chức không phải hệ thống xã hội chủ nghĩa), đóng một vai trò tiên phong trong tiến trình cách mạng thế giới”. Như vậy, các vị khách từ Hà Nội đã “coi nhẹ tầm quan trọng của sự giúp đỡ mà Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác đã cung cấp cho những người đấu tranh cho tự do và độc lập dân tộc”. Các đại diện của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng nhấn mạnh đến cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa xét lại và sự đoàn kết với phong trào cộng sản thế giới-Họ ủng hộ ý tưởng về một Hội nghị của các Đảng cộng sản và Đảng Công nhân quốc tế-nhưng khăng khăng yêu cầu về cuộc đàm phán sơ bộ giữa Đảng cộng sản Liên Xô và Đảng cộng sản Trung Quốc.

Các nhà lãnh đạo Xô Viết đã không thỏa mãn với lập trường của Hà Nội. Khrushchev đã cho phía Việt Nam hiểu rằng sẽ không có triển vọng cho việc hợp tác chặt chẽ giữa hai nước nếu Hà Nội không thay đổi lập trường của họ, khi Lê Duẩn và các đại biểu khác ở Kremlin, ông ta đã nhấn mạnh “một cách thẳng thắn và thân tình” sự thiếu nhất quán giữa các bài phát biểu của các nhà lãnh đạo Việt Nam thể hiện sự thông cảm đối với Đảng cộng sản Liên Xô và Liên bang Xô Viết với các hành động thực tế của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam.
Khrushchev đã cảnh báo các đối tác của ông rằng, những hành động như vậy là đi ngược lại sự đoàn kết và hợp tác giữa Đảng Lao động Việt Nam và Đảng cộng sản Liên Xô và cũng không phù hợp với lợi ích của xã hội chủ nghĩa và phong trào cộng sản thế giới.

Các nhà lãnh đạo Xô Viết đã công khai thể hiện sự quan tâm đối với những Nq của Hội nghị 9 Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam và cảnh báo về hậu quả xấu có thể xảy ra trong chính sách của Hà Nội. Thực sự những ấn tượng do báo Pravda tạo ra về cuộc gặp giữa Khrushchev và đoàn đại biểu Việt Nam chỉ là sự lừa bịp. Giữa hai nước có nhiều bất đồng hơn là nhất trí. Tuy nhiên, Matxcơva vẫn lạc quan về chuyến thăm của đoàn đại biểu Việt Nam. Sau khi nhận ra ra điều này, các nhà lãnh đạo của Đảng Lao động đã thực thi rõ nét lập trường ủng hộ Trung Quốc, một Bí thư của Ủy ban Trung ương Đảng cộng sản Liên Xô đã viết trong bức điện gửi đến Pháp: “Cùng với việc đó, cách cư xử của các đại biểu Việt Nam, cách thức trình bày các vấn đề của họ làm cho ta có thể kết luận rằng Đảng cộng sản Liên Xô và các đảng anh em khác có thể duy trì và phát triển các mối liên hệ với Đảng Lao động Việt Nam trong khi vẫn kiên trì giải thích cho họ về đường hướng chung của Phong trào cộng sản thế giới, đó là đồng ý với các ý kiến tại các Hội nghị quốc tế năm 1957, 1960, và nêu lên mối hiểm họa của tình hình chia rẽ bè phái hiện tại của Trung Quốc và những người ủng hộ các bè phái này”.

Rõ ràng là, mặc dù không đồng ý với các quan điểm của các đồng chí Việt Nam, người Xô Viết không mong muốn loại bỏ triển vọng của sự hợp tác. Nhưng điều đó có nghĩa là sự hợp tác này phụ thuộc vào sự thay đổi thái độ của Hà Nội đối với Matxcơva. Trong khi đó những người Xô Viết chỉ hạn chế sự giúp đỡ của họ đối với Việt Nam về mặt tinh thần. Vài ngày sau chuyến thăm, một chương trình tuyên truyền mạnh mẽ này có thể đã được thiết kế để bù lại sự thiếu thiện chí của Matxcơva trong việc giúp đỡ về vật chất nhiều hơn đối với Việt Nam.
Ngày 12 tháng 2 năm 1964, chỉ hai ngày sau khi đoàn đại biểu Việt Nam rời Matxcơva, báo Pravda đã đăng một bài báo với tựa đề: “Không ai có thể chiến thắng những người yêu nước Nam Việt Nam”, với chữ ký đầy ý nghĩa là “người quan sát”. Tác giả dấu tên này đã đảm bảo với “những người yêu nước” rằng Liên Xô ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam và rằng Liên Xô vẫn là “một người bạn đáng tin cậy của tất cả những ai đấu tranh cho hòa bình, tự do và giải phóng dân tộc”.

Hai tuần sau, tờ Pravda lại đăng một bài báo về Việt Nam, nhưng lần này là một bài viết chính thức do TASS đưa ra, tuyên bố rằng “Nhân dân Liên Xô không thể thờ ơ với những biến chuyển ở Đông Nam Á”. Bài báo một lần nữa nhấn mạnh rằng nhân dân Liên Xô là “những người ủng hộ trung thành chính sách đoàn kết với những ai đấu tranh cho tự do và độc lập và rằng Liên Xô sẽ tiếp tục cảm thông sâu sắc với Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc chính nghĩa của những người yêu nước miền Nam Việt Nam và sẽ có thể có sự giúp đỡ cần thiết cho Cuộc đấu tranh này”.

Lời hứa về sự “giúp đỡ cần thiết” có thể đã được nghĩ ra không chỉ cho những người bạn Việt Nam của Matxcơva, mà còn dành cho cả Mỹ. Các nhà lãnh đạo Xô Viết hiểu rằng những diễn biến nguy hiểm ở Đông Nam Á có thể được ngăn chặn khi có sự kiềm chế của cả Hà Nội và Washington. Đó là lý do tại sao mà Matxcơva nhắc đi nhắc lại không mệt mỏi về việc chấm dứt sự dính líu của Mỹ ở Việt Nam là cần thiết cho việc bình thường hóa tình hình troỏng khu vực Đông Nam Á.

Những lời hứa giúp đỡ Việt Cộng để biện hộ cho vị trí của Liên Xô với các đồng minh cộng sản của họ mà bằng chứng là chuyến thăm Matxcơva tháng 7 năm 1964 của đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã được Ủy ban đoàn kết Á-Phi của Liên Xô mời. Sự kiện này đã chứng minh rằng các nhà lãnh đạo Xô Viết tránh những tiếp xúc chính thức với Việt Cộng ở cấp nhà nước. Trong các cuộc gặp với đại diện của Ủy ban đoàn kết Á-Phi, những người Cộng sản ở Nam Việt Nam đã đưa ra một số những yêu cầu, bao gồm cả những yêu cầu về việc tăng viện trợ vũ khí, đạn dược. Đặc biệt là họ yêu cầu viện trợ y tế và tiền (bằng đô la Mỹ). Họ cũng chuẩn bị mở một phái đoàn thường trực của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ở Liên Xô, nếu như có được một lời mời sẵn sàng từ phía Chính phủ Liên Xô.

Ủy ban đoàn kết Á-Phi đã đề nghị Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô tiếp đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và đề nghị này cũng như những yêu cầu từ phía các đại biểu miền Nam Việt Nam đã được Ban đối ngoại Trung ương Đảng cộng sản (Liên Xô) cân nhắc. Ban đối ngoại đã chuẩn bị một bản dự thảo để đáp lại những người yêu nước Việt Nam. Ban này đề nghị rằng Ủy ban đoàn kết Á-Phi và các tổ chức quần chúng của Liên Xô sẵn sàng cung cấp thuốc men cho Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam, mời một nhóm bệnh binh mới đến chữa ở các bệnh viện của Liên Xô, cho phép thanh thiếu niên từ miền Nam Việt Nam tới học tại các trường trung học chuyên nghiệp và đại học ở Liên Xô. Về việc viện trợ quân sự, Ủy ban này đã thông báo với các đại biểu rằng đây là vấn đề thuộc trách nhiệm của Nhà nước và phải được quyết định ở cấp Nhà nước giữa Liên Xô và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và việc vận chuyển vũ khí cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam phải thông qua Hà Nội. Nhưng Ủy ban này đã từ chối đón tiếp đoàn đại biểu ở cấp trung ương, bởi vì nếu trường hợp đó xảy ra thì “các nhà yêu nước” có thể “lại một lần nữa” yêu cầu được viện trợ vũ khí và tài chính và đồng thời phải trả lời một cách dứt khoát. Ủy ban này cũng đề nghị tránh trả lời vấn đề thành lập phái đoàn thường trực của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ở Liên Xô. Các nhà lãnh đạo Xô Viết đã đồng ý với những đề nghị trên.
Chính sách của Liên Xô đối với Việt Nam có một số hạn chế, đó là chỉ ủng hộ trên lĩnh vực tuyên truyền và hạn chế trên tất cả các lĩnh vực hoạt động khác. Rõ ràng là Hà Nội không thỏa mãn với lập trường của Matxcơva. Để biến những kế hoạch thống nhất đất nước thành hiện thực, Bắc Việt Nam cần sự giúp đỡ vật chất dưới dạng vũ khí, đạn dược, lương thực và các phương tiện vận tải từ các đồng minh của họ. Vào mùa hè năm 1964, chỉ có Trung cộng là sẵn sàng cung cấp những viện trợ như trên, mà việc làm này phần nào đó trùng khớp với những quan điểm của Trung Quốc về những diễn biến đang xảy ra ở Đông Nam Á. Kết quả là, vị thế của Liên Xô đối với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam nhanh chóng bị phai mờ, trong khi đó ảnh hưởng của Trung Quốc phát triển vững chắc. Matxcơva đã có thể bằng lòng với vị thế này để duy trì sự ổn định trong khu vực. Nhưng tiến trình của các sự kiện ở Đông Dương dần dần đã dẫn đến cuộc chiến. Nếu Liên Xô hy vọng tháo bỏ giải pháp quân sự của Bắc Việt Nam bằng cách từ chối không cung cấp tất cả sự giúp đỡ từ bên ngoài thì thực sự họ đã bị thất bại. Hà Nội vẫn kiên trì trong quyết tấm đạt tới mục tiêu của mình bằng tất cả các biện pháp, trong đó có quân sự. Thep Spasovski (đại diện của Ba Lan ở Ủy ban kiểm soát quốc tế vè Việt Nam), lập trường của Hà Nội đã được khẳng định. Trong một lần nói chuyện với Konstatin (Đại sứ Liên Xô ở Campuchia), Spasovski, người vừa đến thăm Hà Nội, đã nói với đồng nghiệp Xô Viết của ông ta rằng Bắc Việt Nam đã sẵn sàng tham chiến với Mỹ và chế độ Sài Gòn để giành thắng lợi hoàn toàn, mặc dù điều đó có nghĩa là sẽ xảy ra một cuộc chiến kéo dài nhiều năm.
Bắc Kinh đã khuyến khích quyết tấm của các nhà lãnh đạo Việt Nam tiến hành cuộc chiến lâu dài. Khoảng đầu năm 1956, Mao Trạch Đông đã nói với các nhà lãnh đạo Việt Nam: “Không thể giải quyết vấn đề chia cắt đất nước trong chốc lát. Nó cần một thời gian… nếu mười năm không đủ, chúng ta sẵn sàng đợi đến một trăm năm”. Sau đó ý kiến này đã được các cố vấn Trung Quốc đã liên tục nhắc đi nhắc lại.
Tương tự như vậy, hy vọng của các nhà lãnh đạo Xô Viết rằng việc tuyên bố ủng hộ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam bằng quân sự có thể hạn chế Mỹ leo thang trong cuộc chiến ở Đông Dương hóa ra là vô ích. Cũng trong cuộc nói chuyện với Krutikov, Spasovski đã trích lời của Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng rằng, Bắc Việt Nam có thể tạo ra những điều kiện thuận lợi cho một cuộc rút lui của Mỹ trong danh dự, nếu như chính quyền Mỹ mong muốn điều đó. Nhưng thật không mau, theo nhận xét của Spasovski, người Mỹ đã không biểu lộ mong muốn như vậy.

Sự e ngại của Matxcơva tăng lên khi tình hình ở Đông Nam Á ngày càng phức tạp. Điều đó đã thể hiện trong diễn biến hoạt động của Chính phủ Liên Xô ngày 27 tháng 7. Việc Liên Xô đe dọa rút khỏi chức Chủ tịch Hội nghị Geneve về Lào là một lời cảnh báo rõ ràng từ phía Matxcơva đối với các bên tham chiến ở Đông Dương. Nhưng thậm chí sự thể hiện này của Liên Xô cũng đã không làm chậm lại được tốc độ của cuộc xung đột mà điều đó trở nên thực sự nguy hiểm vài ngày sau đó ở Vịnh Bắc Bộ, khi Mỹ buộc tội Bắc Việt Nam rằng tàu phóng ngư lôi của Bắc Việt Nam đã tấn công hai trong số những tàu tuần tiễu của Mỹ khi đang làm nhiệm vụ:

Logged

Chân lý thuộc về kẻ chiến thắng
Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM