Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 17 Tháng Chín, 2019, 11:50:54 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đường mòn trên biển  (Đọc 33315 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2007, 12:02:33 PM »

Đường mòn trên biển
NXB Quân đội nhân dân
Năm xuất bản : 1986
Số hóa : TramtimdungcamHP

Chương I

THAI NGHÉN

Sau thắng lợi của hiệp định Giơ-ne-vơ (7-1954), những binh đoàn vệ quốc mặc quần áo bà ba đội mũ rộng vành, những binh đoàn vận quần áo vải xita chân đi dép lốp .. từ đồng bằng Nam Bộ xa xôi, từ Liên khu 5, núi rừng Tây Nguyên lần lượt ra tập kết ở miền Bắc. Khắp nơi rợp trời cò đỏ sao vàng và cờ xanh hòa bình. Nhân dân ta, quân đội ta tràn ngập niềm vui và hy vọng. Cuộc đấu tranh kéo dài suốt một thế klủ của dân tộc đã giành lại được độc lập tự do trên một nửa lãnh thổ của Tổ quốc.
Sau khi quân đội của hai bên vừa tập kết theo những điều khoản của hiệp định, đế quốc Mỹ hất cẳng thực dân Pháp, đưa tên bán nước Ngô Đình Diệm về làm thủ tướng bù nhìn ở miền Nam, bọn Mỹ-Diêmh càng làm công khai trắng trợn cự tuyệt hiệp thương tổng tuyển cử. Chúng mưu toan biến giới tuyến quân sự tạm thời thành giới tuyến vĩnh viễn chia cắt đất nước ta. Ở miền Nam, chúng liên tiếp mở những cuộc tàn sát, những đợt “tố cộng”, “diệt cộng” bắt bớ, giết chóc hàng vạn người tham gia kháng chiến cũ và những người dân vô tội. Tội ác của bọn Mỹ-Diệm chồng chất như núi. Lòng người dân miền Nam, từ bờ Nam sông Bến Hải đến mũi Cà Mau hừng hực lửa căm thù.
“Tình thế ấy nhất định thúc đẩy nhân dân miền Nam phải đứng lên đập tan chính sách độc tài phát xít của Mỹ-Diệm để tự cứu lấy mình ..”( Trích đề cương cách mạng miền Nam của đ/c Lê Duẩn)
Nghị quyết 15 của Ban Chấp Hành trung ương Đảng đã đáp ứng nguyện vọng sâu xa của nhân dân cả nước, nhất là của đồng bào miền Nam. Những cán bộ trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh ở miền Nam lúc đó khôn xiết vui mừng. Trong sự vui mừng ấy có xen vào nỗi lo : lấy vũ khí ở đâu để xây dựng lực lượng vũ trang. Nghị quyết của Trung ương đã có hai chữ “vũ trang” , nhưng làm sao thực hiện. Ngay khi họp Trung ương xong, các đại biểu miền Nam đã gặp đồng chí Lê Duẩn, ủy viên Bộ chính trị Trung ương Đảng để hỏi việc chi viện người và vũ khí từ miền Bắc vào miền Nam như thế nào.
Lúc bấy giờ việc mở những con đường chiến lược vào miền Nam được tiến hành khẩn trương., vừa làm vừa nghiên cứu từng bước. Người được Bộ chính trị giao nhiệm vụ trực tiếp tổ chức việc mở đường là thượng tá Võ Bẩm. Mọi việc được tiến hành rất bí mật. Người nào làm việc gì biết việc ấy. Dưới sự chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, đồng chí Võ Bẩm nghiên cứu vạch ra chủ trương, kế hoạch cụ thể : bước đầu đưa vào miền Nam 500 sĩ quan từ cấp trung tá trở xuống, và 7000 khẩu súng. Trong năm 1959 cố gắng đưa hết số người, số súng đó vào Khu 5, Khu 6. Số súng, số người chuẩn bị đưa vào so với yêu cầu của miền Nam lúc đó tuy còn rất ít nhưng đưa vào bằng đường nào, bằng cách nào, vượt qua giới tuyến tạm thời mà giữ được bí mật, là việc không đơn giản.
Đồng chí Võ Bẩm đi khắp các quân khu, xin cán bộ chiến sĩ để thành lập đơn vị. Sau hai tháng, hai tiểu đoàn vận tải chiến lược ra đời. Giống như chuyện truyền thuyết “Lạc Long quân và nàng Âu cơ”, tiểu đoàn 604 vận tải bộ đi mở đường Trường Sơn. Tiểu đoàn 603 sinh từ đất tổ Phú Thọ và từ đó hành quân thẳng tới của sông Gianh.
603 được giấu trong “cái áo” “Tập đoàn đánh cá sông Gianh”. Bề ngoài, 603 giống như những tập đoàn của những anh em bộ đội miền Nam chuyển ra làm công tác kinh tế. Công việc hàng ngày của anh em là lấy gỗ đóng thuyền, khi đã có thuyền rồi thì ra khơi đánh cá.
Gần một năm “Tập đoàn đánh cá sông Gianh” đi lại đánh cá xung quanh vùng đảo Cồn Cỏ để làm quen với sóng gió. Cũng thời gian đó, đồng chí Võ Bẩm gặp bất cứ cán bộ nào từ miền Nam ra cũng thăm dò tình hình hoạt động của địch ở ven biển.
Mỗi lần nhìn lên bản đồ, thấy màu xanh lơ, tượng trưng cho biển, ôm cả chiều dài đất nước, đồng chí lại sốt lòng, sốt ruột nghĩ tới công việc của tiều đoàn 603. Nếu chờ đợi đầy đủ mọi yếu tối mới lên đường thì không biết đến bao giờ.
Việc vận chuyển trên tuyến đường Trường Sơn đã được tiến hành dựa vào tuyến đường “Thống nhất” của Liên khu 5 đi ra Bắc. Với phương châm “đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”, gùi được chuyến hàng đến vùng núi Liên Khu 5 quả là một kỳ công. Mỗi người cố gắng lắm trên lưng cũng chỉ được 20 kg; 100 tấn hàng phải có 500 người gùi , ấy là chưa kể địch đánh phá, người ốm đau và người phục vụ cho số 500 người làm công tác vận chuyển. Lấy người đâu mà rải ra từ vĩ tuyến 17 vào đến Nam Bộ ? Và bao giờ mới phục vụ đủ nhu cầu cho chiến trường ? Giá như mở thông đựoc tuyến đường chiến lược trên biển, chỉ là cần chiếc tàu nhỏ chở 100 tấn, đi 7, 8 ngày đêm là đến Cà Mau, có thể thay thế cho cả một sư đoàn mang vác gian khổ cả năm ròng.
Sau những ngày tháng đắn đo suy tính, bàn bạc trong tập thể lãnh đạo cùng với việc mở đường, chuyển hàng trên đường Trường Sơn, đồng chí Võ Bẩm hạ quyết tâm đưa một chuyến thuyền chở 10 tấn hàng đầu tiên vào Khu 5, mặc dầu còn những yếu tố nghi ngại, nhất là việc hiểu địch chưa kỹ. Nhưng có đi mới rút ra được kết luận cần thiết.
Đêm 30 Tết (1960) mưa lâm thâm, biển, trời hòa vào nhau thành một màn đen đặc quánh. Con thuyền của tiểu đoàn 603 lặng lẽ tạm biệt sông Gianh ra khơi. Nó đi mất hút trong đêm tối, và không trở về nữa. Ngày này qua tháng khác, anh em 603 chờ đợi, không có mẩu tin nào về những người đã ra đi ( Mãi hơn một năm sau mới được tin chiếc thuyền đó bị cơn lốc đánh đắm, các thủy thủ trôi giạt vào bờ đã bị địch bắt). Không lẽ đánh liều đi chuyến nữa ? Và cũng không thể để tiểu đoàn 603 ngồi chờ. Trong lúc đó, tuyến đường Trường Sơn đang phát triển. Tiểu đoàn 603 nhận lệnh tạm biệt thuyền bến, lên rừng cùng với đơn vị bạn hợp thành trung đoàn giao liên đầu tiên của Trường Sơn.
Chuyến vận tải chiến lược đường biển từ đó tạm gác lại. Nhưng biển chưa hề mất sức hấp dẫn đối với những người chỉ đạo vận tải chiến lược. Mỗi lần các tỉnh miền Nam gửi điện ra yêu cầu chi viện người và vũ khí, Trung ương, Quân ủy lại nghĩ đến con đường biển. Con đường biển sẽ tạo ra tốc độ, sẽ đáp ứng nhu cầu của chiến trường và chi phí đỡ tốn kém. Nhưng làm cách nào để nắm được quy luật hoạt động của địch trên biển; bằng cách nào vượt sóng gió hàng ngàn hải lý, lại che được mắt địch, đưa hàng tới bến an toàn ? .. Một loạt câu hỏi đặt ra vẫn chưa được giải đáp.

Phong trào cách mạng miền Nam như đống củi đang cháy âm ỉ. Nghị quyết trung ương lần thứ 15 như luồng gió lớn thổi ngọn lửa bùng lên, tạo nên đám cháy mau lẹ và rộng lớn. Chỉ trong vòng hơn một năm, phong trào khởi nghĩa từng phần đã lan rộng từ Nam Bộ ra Khu 5. Nhiều tỉnh đã phá vỡ từng mảng lớn chính quyền thôn xã của địch, tạo ra vùng giải phóng xã liền xã, huyện liền huyện . “Đi đôi với khởi nghĩa từng phần, hình thái du kích cục bộ đã xuất hiện và bắt đầu phát triển. Từ tháng 9 năm 1959 đến tháng 12 năm 1960, du kích đã đánh 1600 trận, diệt 12.563 tên địch .. thu 5476 súng. Phong trào đấu tranh vừa hợp pháp vừa không hợp pháp, vừa chính trị vừa vũ trang nói trên đã làm tan rã 50% chính quyền thôn xã của địch, trên từng mảng lớn ở nông thôn đồng bằng, phá hầu hết các khu “trù mật” và giành được 2/3 số ruộng đất Mỹ-Diệm đã cướp” .. (trích báo cáo trung ương cục Miền Nam). Tình hình ấy đánh dấu “ .. thời kỳ tạm ổn định của chế độ Mỹ-Diệm đã qua và thời kỳ khủng hoảng liên tiếp suy sụp nghiêm trọng đã bắt đầu” ( Chỉ thị củ Bộ chính trị BCH TW Đảng tháng 1/1961).
Trong nghị quyết tháng 1 năm 1961, Bộ chính trị TW Đảng còn chỉ ra nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam là “.. ra sức xây dựng mau chóng lực lượng ta cả về hai mặt chính trị và quân sự “ ..”tích cực tiêu diệt sinh lực địch, bảo tồn và phát triển lực lượng ta, làm tan rã chính quyền địch trên phạm vi ngày càng rộng lớn ..” Tạo mọi điều kiện và mọi thời cơ thuận lợi để đánh đổ chính quyền Mỹ-Diệm: ..”
Thực hiện chỉ thị của Bộ chính trị, nhiệm vụ vận tải chiến lược phải theo kịp tình hình phát triển của chiến trường; nếu có điều kiện phải đi trước một bước. Tuyến đường chiến lược Trường Sơn còn phải vài năm nữa mới vươn tới miền Đông Nam Bộ. Còn vùng đồng bằng ven biển Nam Bộ thì sao ? Thật khó có con đường vận tải bộ chiến lược nào vươn tới đó trong lúc chiến tranh ác liệt. Nhưng nhu cầu vũ khí cho đồng bằng Nam Bộ đang đòi hỏi ngày càng lớn, phải có con đường biển mới đáp ứng được nhu cầu đó. Dùng tàu, thuyền đi thẳng từ miền Bắc vào ư ? Chưa có yếu tố nào bảo đảm những chuyến đi có thể thành công. Liệu các tỉnh vùng ven biển có thể tự tổ chức đưa thuyền của mình ra miền Bắc nhận vũ khí được không ? Nếu làm như vậy sẽ có nhiều cái thuận, anh em nắm được quy luật hoạt động trên biển (ít ra cũng ở địa phương mình), qua đó để lựa chọn phương thức thích hợp.
Sau khi đã suy tính, đồng chí Ủy viên Quân ủy TW phụ trách công tác “B” đã gửi điện vào TW Cục miền Nam gợi ý viêch mở đường biển băng thuyền của các tỉnh. Khoảng tháng 2 năm 1961, TW Cục chỉ thị cho các tỉnh ven biển Nam Bộ, mỗi tỉnh tổ chức một đến hai đội thuyền đưa ra Bắc lấy vũ khí.
Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #1 vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2007, 03:21:35 PM »

( Sách mất hai trang  ..)
.. miền Bắc có khác gì hai cánh tay vòng ra ôm lấy một phần biển Đông, dù đi có chệch sang phải, sang trái mươi hải lý, cũng lọt vào cái vòng tay ấy. Tất cả tình cảm, ý chí của họ, với việc vượt biển ra miền Bắc lấy vũ khí, không có gì lay chuyển nổi. DÙ có muôn vàn khó khăn, họ sẵn sàng gánh chịu, miễn là giành phần thắng cho chuyến đi sắp tới.
Tàu nhổ neo xuất phát vào đêm trước của ngày kỷ niệm Tổng khởi nghĩa tháng 8 ( 18-8-1961) làm cho ý nghĩa cuộc ra quân càng thêm sâu sắc.
Từ lúc tàu nhổ neo, trong óc thuyền trưởng Cẩn xáo trộn nỗi niềm hy vọng, lo âu. Bao giờ tới miền Bắc ? Bao giừ đưa vũ khí trở về ? Ra miền Bắc gặp Bác Hồ, gặp bà con miền Bắc, chắc vui lắm ! Khi về thuyền chở đầy vũ khí thì sung sướng nào bằng ! Đó là niềm hy vọng chung của anh em trong đội. Hy vọng đó đến với tất cả anh em thủy thủ từ khi họ biết mình được ra Bắc.
Hàng giờ liền Cẩn ngồi im lặng. Anh nhìn ngôi sao Bắc Đẩu xa xôi trên bầu trời mông lung rồi lại nhìn khoảng đen mịt mùng của biển cả. Từng đợt sóng nhè nhẹ xô vào mạn thuyền phát ra tiếng “ộp ộp “ .. đều đều.
Anh tme thủy thủ người nằm, người ngồi trên khoang, đang bàn tán lan man từ chuyện đánh trận đến việc vận tải vũ khí.
-   Mình thiếu vũ khí quá xá, có kha khá một chút thì đánh cho bọn ngụy tới số. Ra ngoài đó phải xin Trung ương cho chiếc tàu lớn chở vô vài chuyến.
Nghe tiếng nói ồm ồm của Hai Luông, anh Cẩn ngoảnh lại, định nói : Nếu dùng tàu chở được thì Trung ương đã cho tàu vào rồi chẳng phải chờ chúng ta, thì ngay lúc đó Thăng và Thành đã lên tiếng :
-   Tàu to càng dễ lộ, mà cũng chẳng có bến cho nó đậu.
-   Ghe của chúng mình chở đầy nhóc lên cũng chỉ được mươi tấn, thấm tháp gì với yêu cầu.
-   Được ít nhưng giữ được bí mật. Chở lai rai cũng hóa nhiều.
-   Ta tìm bến, rồi dùng ghe dẫn tầu lớn vào có được không ?
-   ..
Cuộc tranh cãi lại chuyển hướng sang bàn về cách đối phó khi gặp tàu địch. Câu chuyện tản mạn dần. Tiếng maý nổ đều đều. Sóng nhè nhẹ đẩy tàu lắc lư ru mọi người vào giấc ngủ.
Một đêm trôi qua. Mặt trời như một cái mâm đỏ rực, vừa từ mặt biển nhô lên. Ánh sáng tỏa nhanh vào đất liền. Rặng núi Ô Cấp đã hiện ra trước mắt mọi người. Thuyền trưởng Cẩn mở bản đồ rồi lấy cái que tăm ướm vào chữ Bến Tre đến chữ Ô Cấp. Anh giơ que tăm lên và nói với anh em.
- Đoạn chút xíu này mà đi hết một đêm.
Cẩn lại đặt que tăm , đo đoạn đường sắp tới. Biết cái que tăm và cái bản đồ xé ở bìa vở học sinh chẳng có gì là chính xác, nhưng Cẩn vẫn phải bằng lòng với phương tiện thô sơ ấy.
Tàu dần dần đi xa bờ. Núi non vùng Bà Rịa, Phan Thiết chỉ còn lại một đường viền mờ ảo. Ngoài khơi xa lúc này chỉ có một mình con thuyền của tỉnh Bến Tre đang lao về phương Bắc.
Gần trưa, chiều hướng thời tiết có bề thay đổi. Cẩn chăm chú nhìn những đám mây màu chì ở chân trời phía đông đang đùn lên cao và tản rộng mãi. Những bước sóng cách xa nhau, mỗi lúc một lớn dần. Đàn cá mau lao xao nổi trên mặt nước. Anh nói với các thủy thủ :
-   Chuẩn bị đón một trận bão.
Anh Hai Luông, thợ máy, cười nói :
-   Bão cũng có cái lợi, bớt nhòm ngó.
Chiều tối, lời tiên đoán của thuyền trưởng Cẩn đã ứng nghiệm. Mưa gió ập tới như trời sụp. Con tàu chao đảo mạnh. Sóng nước tràn qua  mặt khoang. Nằm trong khoang, nghe thân tàu chuyển động răng rắc, như có đôi bàn tay khổng lồ nào đó đang giăng kéo bên mạn. Sau vài giờ đồng hồ, các anh Hải, Thành, Thanh đã say sóng, nằm liệt, ói mửa tại chỗ. Người ngồi lái phải buộc chặt mình vào bộ mui cho khỏi bị gió quăng xuống biển. Từ vị trí này sang vị trí khác , các thủy thủ phải bò lồm cồm cho khỏi ngã.
Đêm lại đến, biển trời đen đặc như có thể xắt ra từng miếng được. Ánh đèn pha cuả tàu bị đêm tối dồn lại còn một quầng sáng vàng ngay trước mũi tàu vài mét. Mỗi đợt sóng chồm đến, trông như một con quái vật khổng lồ, khom tấm lưng bóng loáng sắp sửa vươn tới chộp con tàu. Người lái phải căng mắt, lựa chiều vượt lên trên lưng nó.
Điều muốn tránh, đã gặp. Một ngọn sóng nặng hàng tấn bủa xuống, làm gãy ván sạp, nước ùa vào khoang máy. Tàu bỗng dừng lại và xoay ngang. Lập cố xoay tay lái để tránh sóng, nhưng vô hiệu. Bánh lái như con ngựa bất kham không chịu nghe ý chủ. Lập muốn nó đi dọc, thì nó xoay ngang.
Thuyền trưởng Cẩn xuống khoang máy để xem có giúp Luông được việc gì không. Luông vẫn ráng sức khởi động máy. Mỗi lần giật sợi dây khởi động, máy đáp lại ba tiếng « xịch xịch .. xịch «  ỉu xìu rồi im bặt. Cả thợ máy lẫn thuyền trưởng đều lo lắng nhìn cỗ máy.
Trời sáng lâu rồi mà tầm nhìn trên biển không quá vài chục mét. Mưa càng to, sóng càng lớn. Quần áo mọi người ướt sũng. Lập vẫn ra công xoay vòng tay lái, nhưng vô ích, vì đôi tay đã tê cóng, mất cảm giác.
Ở dưới buồng lái, Cẩn và Luông vẫn thay nhau khởi động máy. Con tàu liên tục nhào lên, chúi xuống làm cho các anh mệt mỏi, rã rời. Luông là thủy thủ cứng sóng nhất mà cũng đã bị sóng làm tình làm tội. Anh nôn ọe ngay trên mặt máy, nhưng tay không rời dây khởi động. Mỗi lần giật dây khởi động, cái máy khốn khổ ấy cũng vẫn đáp lại mấy tiếng mệt mỏi, uể oải như cũ. Luông đoán có nước lẫn vào trong dầu làm máy không chạy được. Giá như người thợ máy thành thạo, chỉ việc thay cái bình dầu là xong việc, nhưng Luông chẳng nghĩ ra được điều đó. Anh cứ cắm đầu, cắm cổ giật dây khởi động.
Nước trong khoang tàu đã ngập tới bắp chân. Số người chưa bị say sóng chỉ còn lại các anh Cẩn, Luông, Thắng, Lập. Bốn người, mất một lái, một quay máy và hai người tát nước, thế là vừa vặn, không còn có ai thay khi bị sóng đánh quỵ nữa. Thỉnh thoảng lại có tiếng động viên nhau “ Cố lên ,, không để tàu chìm nghe !“
Sau hơn 4 giờ liền đánh vật với con  tàu, máy đã nổ. Thật mừng. Nhưng tai họa do sóng gió vẫn còn đe dọa nghiêm trọng. Hai ngày đêm nhịn đói, nhịn khát và luôn chân luôn tay làm việc nặng nhọc, sức mọi người đuối dần. Những khối nước anh em tát ra không kịp với những ngọn sóng tràn nước vào tàu. Anh em thấy không thể tránh khỏi cảnh đắm tàu, nếu gió bão kéo thêm một hai ngày nữa. Mỗi người nhằm sẵn một cái phao, một tấm ván .. đề phòng khi cần tới. Cái gì có thể vứt đi, làm nhẹ tàu là vứt luôn xuống biển không tiếc. Đầu tiên khêng cái bếp lò, rồi xô luôn thùng nước ngọt xuống. Ngày mai ăn uống ra sao, tính sau.
Tới chiều 22-8, gió bão giảm dần. Vùng biển lạ trước mặt đã thấy thấp thoáng đôi ba cánh buồm. Đây là đâu nhỉ ? Chẳng ai biết mà trả lời.
Thuyền trưởng cho tàu phóng lại gần một chiếc thuyền đánh cá.
Luông hỏi to :
-   Bà con ơi ! Làm ơn cho biết, đây là vùng biển thuộc tỉnh nào ?
-   Đà Nẵng.
Con tàu của tỉnh Bến Tre tiếp tục đi, cho tới khi khuất hẳn những cánh buômg mình vừa gặp, mới quay mũi phóng về hướng vịnh Bắc Bộ.
Đêm hôm sau nữa, tàu đã chạm bờ cát, không biết thuộc tỉnh nào. Tàu vừa cho tắt máy, đã thấy có người xách súng, chiếu đèn pin xuống và quát to :
-   Thuyền nào ? Lên trình giấy .
-   Chúng tôi đi làm ăn, bị bão lạc vô.
Mấy người đứng trên bờ chụm lại với nhau, trao đổi gì đó rồi lại tản ra. Laị có tiếng hô to hơn :
-   Tất cả mọi người dưới thuyền lên bờ !
Nghe tiếng hô hình như tiếng xứ Bắc, anh em nửa mừng, nửa lo, không hiểu sẽ diễn biến ra sao.
Trời đã sáng rõ mặt người. Anh em bị mấy người mặc quần áo bà ba dẫn đi vào trong xóm. Trên đường đi nhìn thấy khẩu hiệu “Nhân dân Thanh Hóa quyết tâm thi đua giành vụ mùa thắng lợi “, các thuỷ thủ mừng quá. Người này nói khẽ với người kia “ Trời ơi ! Đây đúng là đất Thanh Hóa rồi !”.

Tỉnh Trà Vinh vừa đóng xong một con thuyền, chỉ chờ mua máy và lắp máy xong là có thể lên đường. Chẳng ngờ, địch càn vào căn cứ, chúng đốt cháy mất một mảng. Anh em lại hậm hụi vá lại mảng thuyền bị cháy. Máy thuyền đã mua về rồi, đang chuẩn bị lắp vào thuyền, lại nghe tiếng súng của địch nổ gần. Biết tin trận càn của địch sẽ qua nơi giấu thuyền, cán bộ lãnh đạo của tỉnh bàn với đội thuyền. Nếu chờ đợi lắp máy, e rằng địch càn tới nơi. CHúng sẽ phá thuyền như lần trước thì không biết đến bao giờ mới đi được. Anh em đội thuyền quyết tâm dùng buồm để lên đường trước khi địch càn tới.
Ngày lên đường của đội thuyền Trà Vinh khá cập rập. Nhưng trên đường đi hai ngày đầu, biển lặng sóng êm, anh em đã mừng. Đến ngày thứ ba, mỗi lúc sóng cứ lớn dần. Đêm đến không ai ngủ được, phần vì lo lắng, phần vì sóng lắc ngang, nằm trên thuyền như hạt gạo nằm trên mặt sàng. Dây lèo đã níu nghiêng buồm để thả bớt gió, mà buồm vẫn tỏ ra làm việc quá sức. Nhiều lúc con thuyền chòng chành như muốn lật úp xuống. Có người muốn hạ buồm xuống để cứu con thuyền và cứu tính mạng mình. Nhưng cũng là nghĩ quẩn thế thôi. Trước lúc xuất phát, cấp trên phải cử thêm mười người nữa mới kéo nổi lá buồm lên đỉnh cột. Ở đây một trời, một biển, hạ buồm đã vậy, nhưng muốn trương buồm lên thì biết nhờ ai.
Sáng hôm sau, mấy anh em ngồi chụm đầu xung quanh chiếc máy thu thanh bán dẫn, nghe dự báo thời tiết. Tiếng cô phát thanh viên đài Tiếng nói Việt Nam chậm rãi báo tin “ Bão đang đi vào vùng quần đảo Hoàng Sa .. gió lên tới cấp 10, cấp 12 .. Mưa to đến rất to ..”. Anh em nhìn nhau lo lắng. Có lẽ thuyền của mình đang ở khu vực đảo Hoàng Sa. Làm sao co thể biết được vị trí chính xác của con thuyền, khi trong tay chỉ có mỗi cái địa bàn quá cũ kỹ. Vì sự an toàn của con thuyền, lúc này người cầm lái chưa quan tâm gì tới phương hướng mà chỉ cốt sao luồn lách tránh được những lớp sóng trước mặt, để con thuyền khỏi bị đè xuống.
Ngay tối hôm trước, mầm mống của một cuộc tranh luận “Làm thế nào để có thể đưa con thuyền tới miền Bắc” đã nảy nở. Anh Tranh ( Đội tàu đã được tỉnh ủy đặt tên cho từng người theo khẩu hiệu “ Đoàn kết đấu tranh thắng lợi”, cho đến nay anh em vẫn mang tên đó) là bí thư chi bộ kiêm thuyền trưởng vẫn yên lặng không tham gia cuộc bàn cãi. Sáng nay anh chủ trì cuộc tranh luận ấy. Anh chủ trương cứ để buồn, khi hết bão còn đi được, nếu hạ buồm thì khác nào tự chặt đôi chân mình. Hạ buômg, có thể thuyền không bị đắm nhưng rồi cũng có thể chết đói, chết khát giữa biển. Một số anh em phản đối. Nếu không hạ buồm thuyền sẽ bị lật, mà thuyền đã đắm thì hết mọi hy vọng.
Đứng trước sự lựa chọn, tất nhiên người nào cũng muốn được cả mọi thứ : người sống và nhiệm vụ hoàn thành. Nhưng khi trạnh luận, mỗi người một ý. Có người baỏ “ thà chết để giữ được ghe khỏi đắm”. Người khác mong cố sống được mới nói tới hoàn thành nhiệm vụ. Cuộc tranh luận kéo dài bốn, năm giờ liền. Cụ thể chỉ là hạ buồm hay không hạ buồm. Lúc đang tranh kluận, thấy con thuyền nghiêng hẳn về một phía, nước trào qua be, anh em vội vã chạy ra ngoài, dùng sào chọc thủng buồm để thả bớt gió. Những lỗ nhỏ vừa được chọc thủng, lập tức gió xuyên qua như lưỡi dao sắc, xẻ dọc xẻ ngang cánh buồm.
Cơn bão mỗi lúc một hung dữ hơn. Dây lèo và những lỗ thủng trên cánh buồm cũng trở nên vô ích. Cánh buồm rách mướp kia ở bất kỳ tư thế nào cũng đủ sức lật nhào con thuyền. Cuộc tranh cãi đã đi tới thống nhất. Không hạ hết, mà hạ một mức độ rồi cuốn buồm lại. Anh Tám Kết xung phong trèo lên cột buồm để hạ buồm như ý định, nhưng vừa lên tới đỉnh cột, thì bị đợt sóng lắc rất mạnh. Cột buồm hất anh rơi xuống. Một tiếng kêu “ối” khiếp đảm, bất lực, bật ra cùng lúc với cái cơ thể nặng nề của Tám Kết rơi xuống mặt khoang. Anh nằm ngất lịm. Trên má, trên môi anh bị xước giập, máu chảy loang ra pha lẫn với nước trên mặt khoang.
Anh Tranh, anh Thắng vội vã chạy đến lay gọi Kết :
-   Kết ơi ! Kết ơi ! .. Tỉnh lại Kết ơi !
Tiếng gọi tha thiết như át cả tiếng sóng. Đôi mắt của Tám Kết từ từ hé mở.
Khi Kết vừa ngã xuống, lập tức Đầu lên thay. Đấu mỏi tay quá tụt xuống, Lợi lên tiếp .. cho tới khi lá buồm được cuộn lại theo ý muốn. Người nào từ trên cột buồm tụt xuống, mặt cũng tái ngắt, chân tay run rẩy, đứng không vững. Mỗi lần cái trục bị gió đập vào cột buồm, là một lần như bị một quả đấm đấm mạnh vào ngực đến tức thở, muốn rời tay ra khỏi cột. Khoảng chao đảo của đầu cột, từ điểm nọ đến điểm kia thành một đường cung dài tới sáu bảy mét, làm cho họ chóng mặt. Đây không khác một trận đánh, mà sức của cơn bão còn mạnh hơn địch gấp bội phần, nhưng tinh thần các thủy thủ rất kiên cường không một ai tỏ ra nao núng.
Chiếc thuyền lúc này không khác gì một cánh bèo, phó mặc cho sóng gió trôi nổi, không còn biết bến bờ là đâu.
Mặt biển đen ngòm, sủi bọt dữ tợn. Sóng không còn thành từng lớp nữa, mà từ bốn hường dồn lại, từ dưới đáy biển đùn lên những núi nước khổng lồ, rồi đột nhiên lại tan biến thành những vực sâu thẳm. Cảnh tượng thật dễ sợ, cứ tưởng như bàn tay lạnh ngắt của thần chết đang từ từ đưa từ đáy biển lên, sẵn sàng kéo chiếc thuyền xuống. Mặc cho cái chết đe dọa, không ai tỏ ra tuyệt vọng. Cái tên : Đoàn, Kết, Đấu, Tranh, Thắng, Lợi do tỉnh ủy đặt cho trước lúc lên đường, bây giờ có ý nghĩa thực tiễn
Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #2 vào lúc: 29 Tháng Mười Một, 2007, 11:44:31 AM »

Anh Hai Tranh vốn kín đáo ít nói, trong giờ phút nguy hiểm này bỗng trở thành người vui tính. Anh vào trong ngăn chạn, xách ra một chai rượu, một gói bích quy, rồi đặt trước mặt anh em :
-   Nào ta mở tiệc chào cơn bão – Tranh mở nút chai và đưa về phía Ba Đoàn – Mời chú, người nhiều tuổi nhất uống trước. Phải cố gắng uống một chút cho nóng người lên lấy lại sức. Dù gió bão thế naò đi nữa cũng phải đi tới miền Bắc để gặp Bác. Nào anh Kết nữa, uống đi để bù vào cái ngã.
Nhìn ra ngoài, thấy lá buồm đang bị gió bứt đi từng mảng lớn, anh Đấu nói :
-   Nó xé đến nát cánh buồm của chúng ta ra mất.
-   Không sao ! Mặc nó ! Như thế mới gọi là bão – Tranh nói
-   Hết buồm là hết cách.
-   Việc đời là như thế, thường khi hết cách mới nghĩ ra cách hay hơn.
Câu nói triết lý của Tranh làm mọi người cười ran.
Nghe tiếng gõ “cùng cùng ..” của trục buồm vào cột buồm, anh Ba Đoàn ra ngoài xem. Thấy một sợi dây buồm bị đứt, anh trèo lên cột buồm nối lại.
Tranh mang gói bánh cho Lợi đang ngồi lái. Một cơn gió mạnh, đẩy thuyền nghiêng hẳn về một phía, làm anh chệnh choạng xuýt ngã. Cùng lúc đó Ba Đoàn tuột tay, văng xuống biển. Xúc động đột ngột trước cảnh tượng bạn mình gặp  nguy hiểm, tay của Tranh rời gói bánh lúc nào không biết.
Không còn cách nào cứu được nữa rồi, Tranh bám chặt mui thuyền, đôi mắt anh đau đớn nhìn xuống mặt nước, nơi Đoàn vừa rơi xuống.
Nghe thấy tiếng kêu ở bên ngoài, Đấu vội vã lao ra. Anh là người lăn lộn với sóng gió đã nhiều năm, nhưng chưa bao giờ gặp cảnh ngộ này, anh lắc đầu buồn bã. Bất lực hoàn toàn. Những đợt sóng vùi lên nhau sủi tăm, dù có liều lĩnh nhảy xuống biển cũng chẳng có sức nào tìm kiếm nổi. Chỉ trong giây lát bị choáng trước tình huống, anh nhớ ra ngay, phải đi lấy phao. Chiếc phao vừa đụng đến mặt nước, lập tức sóng như cái lưỡi dài cuốn luôn phao chìm mất tăm. Làm sao bây giờ. Tất cả anh em ra đứng nhìn về phía mạn thuyền, như mặc niệm người đồng chí đã hy sinh..
Một sợi dây buồm kéo quật trên mặt nước, bỗng căng và thấy đầu của Đoàn nhô lên khỏi mặt nước.
-   Ôi, Đoàn ơi ! Sống rồi.
-   Ném thêm một sợi dây nữa cho cậu ấy. Mau lên !
Anh Đấu ném thêm một sợi dây chão nữa tiếp cho Đoàn. Mọi người xúm lại kéo Đoàn lên thuyền. Thật may. Khi Đoàn bị cột buồm hất xuống, anh đã với được một sợi dây buồm. Thật hú vía.
Nỗi lo kia chưa tan, nỗi phiền này đã tới. Thuyền bắt đầu phá nước. Toàn đội có 6 người, một người lái, còn 5 người chia nhau làm hai kíp thay nhau tát nước.
Một ngày, hai ngày rồi tới ngày thứ ba cơn bão vẫn dai dẳng không tan. Một ngày sống trong hoạn nạn dài hàng thế kỷ. Gió, sóng, mưa , bầu trời xám ngắt một màu chết, lại tiếng gõ “cùng, cùng ..” đều đều của trục buồm vào cột buồm như bào ruột, bào gan. Cây cột buồm có đường kính 400 cm. đã bị trục buồm mài mòn hai phần ba. Cứ cung cách này, cũng sắp bị bão bẻ gãy nốt.
Cơm nước không sao  nấu nổi với sóng gió. Giả dụ có thể nấu được cơm, cũng không còn nước ngọt mà nấu. Hai thùng nước có thể đủ dùng cho nửa tháng đi biển, đã bị sóng gío tát cạn tới đáy. Anh em làm việc ngày đêm không nghỉ. Mỗi ngày một ngụm rượu và miếng bánh ngọt để sống cầm hơi. Lo lắng và mệt mỏi làm mất cảm giác đói, mà chỉ thấy khát cháy cổ. Đôi lúc anh em xòe bàn tay hứng nước mưa, rồi liếm những giọt nước ở bàn tay mình cho đỡ khát. Sức mọi người kiệt dần. Anh Đấu có vóc người như một lực sĩ, một tay đưa thùng nước 10 kg từ đáy thuyền lên mặt khoang chẳng mùi mẽ gì, bây giờ đôi lúc không điều khiển được đôi tay mình nữa. Thùng nước nặng 3 kg mà anh phải dùng hai tay, có lần không còn sức để hắt nước ra ngoài.
Mệt mỏi cũng tiếp sức cho cái chết. Anh em đã bàn tính, khi thuyền chìm phải làm gì. Bàn để chuẩn bị đồi phó với cái tai họa nặng nề nhất, nhưng không để mất lòng tin. Lúc này thất vọng đồng nghĩa với cái chết. Thất vọng là chân tay rã rời, chờ cho chiếc thuyền của mình chìm dần.
Tới ngày thứ năm gió bão giảm dần. Sang ngày thứ sáu trời đẹp trở lại. Biển tím thẫm, phẳng lặng như mặt hồ và bầu trời trong xanh, không một gợn mây. Gió không còn đủ sức đẩy con thuyền đi thêm một gang tay.
Tranh nói vui :
-   Thần gió dốc cạn túi, đến bây giờ chúng ta cần có chút gió, thì lã ta nằm ngủ.
-   Khỏi lo ! Đấu đứng chống nạnh, nhìn về phía chân trời và nói khẳng đình – Biển có khi nào hết gió. Chỉ chờ một lát nữa thôi, các anh sẽ thấy tôi nói đúng.
Anh em nhìn nhau cười. Có người cười mà nước mắt cứ trào ra. Đến đây là 9 ngày đi trên biển, bây giờ mới có thời giờ nhìn nhau cặn kẽ. Khi bước xuống thuyền chuẩn bị lên đường, khuôn mặt Tranh còn phảng phất nét trẻ trai. Lúc này không ai có thể nhận ra anh ở tuổi 43 nữa. Hai hố mắt lõm xuống một quầng tối, hai gò má nhô cao, nước da đen tái xám, râu ria đầy cằm. Anh không khác ông lão 60. Đoàn lại càng tiều tụy hơn. Sự thử thách này đã vượt qua sức của tuổi 53 của anh.
Thử thách vẫn chưa hết. Không ai biết con thuyền của mình đang ở tọa độ nào, cách miền Bắc bao xa ? Liệu có đến được miền Bắc hay lại giạt sang một nước nào đó. Anh em bàn với nhau, nếu lạc sang một nước tư bản, nó sẽ trả mình về miền Nam. Trở về ắt sẽ bị bọn ngụy xét hỏi, ta sẽ nói “ bị bão trôi giạt”. Dù có bị chúng giam giữ vài tháng, khi được ra ta lại tiếp tục đi chuyến khác. Việc trước mắt là có cái gì hứng gió để đẩy thuyền đi.
Cả đội xúm lại sửa buồm. Họ đưa ra mọi thứ, cởi cái áo đang mặc, cái khăn quấn cổ, mùi xoa .. miễn là nó có thể hứng được gió, đem khâu víu với các mảnh buồm mà gió bão còn để sót lại. Chỉ trong vài giờ khâu vá, họ đã có cánh buồm rất nhiều màu sắc, một loại buồm có một không hai trên đời này.
Con thuyền như người mới ốm dậy, lừ đừ trườn trên mặt nước. Anh Hai Tranh ngồi ung dung cầm lái.
Cánh buồm tơi tả ấy, đưa anh em đi thêm 2 ngày đường nữa. Khi nhìn thấy núi non và thuyền bè qua lại, có anh reo lên :
-   Hồng Gai !
-   Có thể là Hồng Gai, cũng có thể nơi nào đó, chúng ta đã ai đến Hồng Gai bao giờ mà chắc.
Con thuyền chiếu thẳng hướng vào bờ. Anh em ngồi trên mặt khoang chuyện trò vui vẻ. Có người nhắc đến các món nước giải khát, có người bàn tới các món ăn, có người gạt mọi chuyện ăn uống, chỉ thèm một chỗ nào thật yên tĩnh để ngủ liển một ngày một đêm cho đã.
Niềm vui và hy vọng đang bồng bềnh trong trí tưởng tượng của anh em.
Một chiếc canô chạy từ trong bờ ra, tới gần chiếc thuyền Trà Vinh. Đứng trên chiếc canô là mấy người Âu đang nói và ra hiệu cho chiếc thuyền theo chiếc canô của mình.
Thuyền đã cặp cảng . Anh em lo lắng. Chẳng hiểu đây là nước nào và họ sẽ cư xử với mình ra sao. Họ r a hiệu thuyền trưởng theo họ lên phố. Tranh vừa bước đi vừa ngắm nhìn. Cái thành phố cảng xa lạ này có nhiều nhà lầu cao chọc trời, nhưng cũng còn lắm nhà ghép bằng gỗ ván thùng lụp sụp. Người đi lại trên phố rất đông. Âu có, Á có, kẻ đi xe sang trọng, người chân đất. Qua hình thức sống của nhân dân, Tranh phán đoán : đây là một nước tư bản.
Đến nhà cơ quan của họ, một người châu Âu chỉ lá cờ, rồi lại ra hiệu bằng tay, ý muốn hỏi “các anh người quốc tịch nào ?”
Tranh vẽ lá cờ “sọc dưa” rồi phùng mồm thổi bay tờ giấy đó trên mặt bàn. Bọn họ cười và gật đầu, ra điều mình đã hiểu. Một người khác lại nói một tràng dài, Tranh không hiểu. Họ lại làm các điệu bộ của người câm nói với nhau. Anh hiểu họ hỏi “ Các anh đi đâu “. Anh lấy giấy vẽ cái cần câu và một con cá. Khoangt 15 phút chuyện trò giữa những người “vừa câm vừa điếc” kết thúc. Tranh trở về thuyền của mình.
Thuyền Trà Vinh cặp mạn thuyền với thuyền dân chài của địa phương. Họ thấy anh em mình người nào cũng trần trụi, gầy guộc. Có người tò mò tới hỏi thăm, tất nhiên bằng điệu bộ của người câm. Họ hiểu anh em vừa trải qua một trận bão, mất hết đồ nghề, gạo nước và trôi giạt tới đây. Mấy chiếc thuyền ở gần đó đã quyên góp cho anh em được hơn một tạ gạo và cho đầy hai thùng nước ngọt. Qua chuyện trò với bà con dân chài , anh em biết đây là MaCau.
Ngày hôm sau, mấy người cảnh sát địa phương lấy hải đồ chỉ đường cho anh em về miền Nam Việt Nam.
Bước chân lên thuyền, Tranh cười nói :
-   Chúng ta tiếp tục đi. Chắc lần này không phải rẽ vào một nước nào để chuẩn bị thêm.
Anh em đẩy thuyền và trương cánh buồm tả tơi lên. Thuyền trưởng cầm cái địa bàn lắc lắc rồi đặt nó lên lòng bàn tay. Kim la bàn đung đưa qua lại, không chịu đứng yên một vị trí. Tranh lẩm bẩm “ hướng Bắc khoảng này. Khỉ thật, sao nó không đứng ở chỗ nào”. Anh ngoảnh về phía người lái nhắc bẻ góc lái về hướng tay anh chỉ.
Con thuyền nhằm thẳng mục tiêu – bến bờ mà con tim, khối óc của họ gửi gắm cả vào đó.

   
Các đội tàu của Nam Bộ đã lần lượt đến miền Bắc. Những thử thách khắc nghiệt nặng nề đã bị đẩy lùi về phía sau. Đội thuyền số 1 của tỉnh Bến Tre do Nguyễn Văn Tiến, bí thư chi bộ, Nguyễn Văn Hải, thuyền trưởng đến ngày 11-6-1961. Đội số 1 của tỉnh Cà Mau do bác Bông Văn Dĩa, thuyền trưởng kiêm bí thư chi bộ, đến ngày 7-8-1961. Riêng đội thuyền của tỉnh Bà Rịa gặp nhiều rủi ro nhất, lần thứ nhất ra đi đến ngang Cam Ranh gặp bão, thuyền đắm. Các thủy thủ sống sót trôi giạt vào bờ, lại quyết tâm trở về mua sắm thuyền đi chuyến khác. Chuyến thứ hai lại gặp bão thổi giạt vào đảo Hải Nam, mãi đến đầu năm 1962, anh em mới tới được miền Bắc.
Những chuyến đi ra miền Bắc của các đội thuyền Nam Bộ đã góp phần quý báu vào kho tàng kinh nghiệm của lịch sử hàng hải Việt Nam. Cái quí giá nhất đối với chúng ta lúc này là những kinh nghiệm đi trên đường biển Bắc-Nam dưới sự kiểm soát của hải quân hiện đại Mỹ - ngụy. Hơn thế nữa, những kinh nghiệm đó còn là tiền đề vững chắc cho việc thiết lập con đường biển chiến lược Bắc- Nam.
Bác Hồ, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và quân đội được tin các đội tàu thuyền Nam Bộ đã có mặt ở Hà Nội, đều tỏ ra rất vui mừng, xúc động. Bác Hồ, đồng chí bí thư thứ nhất Lê Duẩn, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Phó thủ tướng Phạm Hùng, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh .. đã lần lượt đến thăm anh em. Trung ương rất quan tâm, săn sóc tới đời sống tinh thần, vật chất của anh em.
Một số đồng chí trong Quân ủy TW được phân công trực tiếp lãnh đạo các đội tàu và nghiên cứu tổ chức mở đường chiến lược trên biển.
Ngay những ngày đầu, Quân ủy TW đã phải nghiên cứu giải đáp mâu thuẫn giữa sự đòi hỏi khẩn cấp của các tỉnh ở miền Nam với nhiệm vị chiến lược lâu dài. Anh em trong các đội tàu, không lần nào gặp cấp trên lại không nhắc tới nỗi mong mỏi như lửa đốt của quê hương mình. Nguyện vọng chính đáng của quần chúng nhân dân cũng chính là tâm tư, suy nghĩ của cấp trên. Song cách giải quyết thì vừa phải bảo đảm lâu dài, vừa phải giữ được bí mật. Vì thế, một mặt cấp trên giải thích, giáo dục để anh em thấy vai trò quan trọng của con đường biển, cần được tổ chức bảo vệ lâu dài; một mặt bí mật khẩn trương tiến hành tổ chức mở đường. Một lần nói chuyện với các đồng chí trong Quân ủy TW, đ/c Lê Duẩn đã căn dặn “ Phải tuyệt đối giữ bí mật. Nếu để lộ bí mật là mất tất cả “. Do đòi hỏi bí mật tuyệt đối và do tính chất quan trọng của nó, cho nên Bộ chính trị và Quân ủy TW trực tiếp nắm quyền chỉ đạo tổ chức mở đường mà không giao cho cơ quan của Bộ.
Sau một thời gian ngắn, guồng máy chỉ đạo tổ chức đường chiến lược trên biển được hình thành và bắt tay ngày vào hoạt động. Người phụ trách chung là Trung tướng Trần Văn Trà, Phó Tổng Tham mưu trưởng. Giúp việc cho đồng chí có đ/c Nguyễn Quang Minh và một số cán bộ của “Tập đoàn đánh cá sông Gianh”. Thời gian đầu khi chưa thành lập xong đợn vị vận tải chiến lược, các đ/c Võ Bẩm, Lưu Đức, đ/c Nhậm là người giúp Quân ủy làm những công việc tổ chức cụ thể, như lo liệu chăm sóc đời sống vật chất, tinh thần của các đội thuyền, tuyển thêm cán bộ thuyền và thuỷ thủ, chuẩn bị thành lập một đơn vị đặc biệt đảm nhận nhiệm vụ vận tải chiến lược.
Vài tháng sau, đơn vị vận tải chiến lược trên biển ra đời, mang phiên hiệu đoàn 759 ( Quyết định số 97/QP ngày 23-10-1961), Trung tá Đoàn Hồng Phước được bổ nhiệm làm đoàn trưởng. Đến ngày 12-2-192 ( QĐ số 09/QĐ) mới kiện toàn cơ quan lãnh đạo Đảng của Đoàn. Các đ/c Đoàn Hồng Phước, Phạm Thái Hòa (Ba Nhân), Lưu Đức, Phạm Tấn Khương, Đặng Văn Đồng được chỉ định vào đảng ủy, do đ/c Thái Hòa làm bí thư.
Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #3 vào lúc: 29 Tháng Mười Một, 2007, 11:45:06 AM »

Các công việc tổ chức, chuẩn bị được triển khai trong khoảng thời gian cuối năm 1961, ở nhiều địa điểm khác nhau. Mỗi việc đều đặt công tác bí mật lên hàng đầu. Nhiều đơn vị xí nghiệp nhận việc nhưng không biết mình đang phải làm ngày đêm gấp vội để chuẩn bị cho con đường chiến lược trên biển ra đời. Công an vũ trang tỉnh Quảng Bình được giao đứng tên để sửa lại chiếc thuyền có trọng tải 20 tấn của tỉnh Bạc Liêu. Công trường gỗ Quảng Bình sửa phần vỏ, xưởng cơ khí 6-1 Đông Hới sửa máy. Họ đã nhận chỉ thị của tỉnh ủy phải sửa chữa gấp chiếc thuyền và máy cho công an vũ trang của tỉnh tuần tra chống biệt kích hoạt động trên biển. Xưởng đóng tàu 1 Hải Phòng nhận nhiệm vụ sửa chiếc thuyền Trà Vinh, đóng mới 4 chiếc theo mẫu của thuyền Trà Vinh, có máy đẩy , cũng để chống biệt kích. Công an Hải Phòng cũng nhận chỉ thị của Bộ Nội Vụ làm trong sạch tình hình chính trị xung quanh bán đảo Đồ Sơn, kiểm soát chặt chẽ người và tàu thuyền qua lại trong khu vực. Trong lúc công an làm nhiệm vụ bên ngoài, công binh hải quân làm gấp cầu cảng quân sự K20 ở gần Hòn Dấu ( Đồ Sơn). Một bộ phận của xưởng quân khí Tổng cục Hậu cần nhận lệnh tảy xóa những dấu vết chứng tỏ của miền Bắc trên súng đạn được giao đóng gói ..
Việc gì có thể làm trên miền Bắc, đã triển khai thực hiện khân trương. Riêng việc mở các bến nhận hàng ở Nam Bộ, còn chưa xác định rõ ràng.
Các đội tàu thuyền khi lên đường ra miền Bắc đều nhận nhiệm vụ giống nhau “lấy vũ khí cho tỉnh mình đánh giặc”. Đối với họ , chỉ có một con thuyền, nếu đi được tới miền Bắc thì trở về vùng biển quê mình, không nhiều khó khăn lắm. Vì vậy các tỉnh chưa bận tâm đến bến bãi.
Vận tải chiến lược lại không thể giản đơn. Vấn đề đặt ra “bến đỗ cho tàu thuyền khi mang hàng vào ở đâu?”, là một bài toán khó chưa giải đáp ngay được. Bến chỉ có nhận hàng là xong, rồi tàu thuyền lại quay mũi trở vể miền Bắc, hay chọn lạo bến kín đáo để tàu có thể đậu lại ít ngày ? Nếu chọn bến được theo phương án hai (thuyền đậu lại) là thuận lợi nhất.
Qua nghiên cứu thảo luận, nắm chắc địa hình, các đ/c chỉ huy quân sự ở Nam Bộ thấy khả năng đặt bến trong đất liền hầu như không có, vì các cửa vàm, cửa rạch nào thuyền bè lớn đi lại được, địch đều kiểm soát rất chặt và cũng là nơi nhân dân làm ăn đông đúc, khó giữ được bí mật. Còn các rạch nhỏ, tuy kín đáo, nhưng thuyền cỡ hàng chục tấn không vào nổi vì hẹp hoặc không đủ mức nước cần thiết. Chỉ còn khả năng đặt bến trung chuyển trên các hòn đảo hoang. Tàu thuyền vào ném hàng xuống bến trung chuyển rồi quay ra, vượt qua khu vực địch kiểm soát ngay trong đêm. Đơn vị bến sẽ dùng thuyền nhỏ lẩn vào các thuyền đánh cá của dân để đưa hàng về đất liền.
Bến trung chuyển thực ra vẫn còn hàng loạt câu hỏi. Tổ chức thuyền hợp pháp để chuyển hàng như thế nào ? Đi lại nhiều lần tới các đảo hoang vắng, có thể tạo ra mối nghi ngờ cho địch không ? Nhưng dù sao việc đặt bến ở các đảo hoang vắng xem ra có nhiều điều hợp lý hơn.
Có lần đ/c phụ trách chỉ đạo tuyến đường hỏi bác thuyền trưởng Bông Văn Dĩa ( thuyền Cà Mau) :
-   Anh xem trong tháng tới đội thuyền của anh về có khó khăn gì không ?
-   Đi ngày nào cũng được. Anh em chúng tôi đang mong mỏi.
-   Về ghe không, không mang vũ khí đâu.
-   Sao kia ?
-   Anh cũng biết rồi đó, trong ấy ta chưa tổ chức bến. Chuyến này dành riêng cho việc tìm bến và tìm hiểu thêm về địch. Nói với khu ủy rằng : ý ở ngoài này sẽ tìm bến trung chuyển, và cũng nên trinh sát lại các ngòi rạch, nếu đặt trong đất liền càng tốt. Như những điều chúng ta đã thảo luận rồi đó. Việc này tôi nói riêng với anh. Đến ngày nào đi mới báo được với anh em.
Bác Dĩa đề nghị cho thuyền chở vũ khí về, đồng chí nói :
-   Tôi biết anh em lo nhiệm vụ của tỉnh trao, nhưng nóng vội không được đâu ! Phải nghĩ tới làm ăn lâu dài và lợi ích toàn miền.


Khoảng cuối năm 1961 đến đầu năm 1962, việc tuyển người về đơn vị vận tải đường biển chiến lược được thực hiện khẩn trương. Hầu hết những cán bộ, chiến sĩ được lựa chọn về là người miền Nam ra tập kết. Họ là những thuyền trưởng ưu tú của hải quân, của cục đường sông, đường biển hoặc ở các sư đoàn chủ lực bộ binh.
Nơi đón quân mới về được bảo vệ nghiêm mật. Hàng ngày xe com-măng-ca chở người qua cổng rồi mất hút sau những rặng cây. Người ở ngoài không mảy may biết trong đó là cơ quan gì. Người tò mò cũng chỉ có thể đoán nơi đó tiếp các đại biểu quân đội các nước anh em.
Một hôm có một chiếc xe com-măng-ca, còn đầy bụi đường, dừng trước cửa dãy nhà lá. Phần đông số khách trong xe ở lứa tuổi 50, ăn mặc giản dị. Áo sơ mi trắng, quần kaki hoặc quần áo công nhân còn nồng mùi dầu máy. Trong số khách có Lê Xuân Ngọc trẻ nhất, cũng đã 30 tuổi. Trường hợp nhận lệnh chuyển công tác của Lê Xuân Ngọc cũng giống như anh em cùng đi chuyến xe này. Anh đang công tác ở nghành vận tải quốc doanh đường sông đột ngột có lệnh thuyên chuyển. Hôm ấy, đ/c cán bộ tổ chức đến trao quyết định, không nói thêm điều gì, ngoài những chữ đã có trong văn bản. Ngọc tò mò muốn biết công tác sắp tới mình làm gì, ở đâu ? Anh cán bộ tổ chức cười nói thân tình :
-   Tôi chỉ biết đồng chí sẽ được trở lại quân đội. Còn nhiệm vụ cụ thể gì thực tình tôi không biết. Đồng chí bàn giao công tác rồi lên Ban Thống nhất TW nhận nhiệm vụ.
Trở lại quân đội, lại do Ban Thống nhất điều động, thì rõ ràng là trở về tham gia chiến đấu giải phóng quê hương miền Nam rồi. Ngọc thầm vui với suy nghĩ ấy. Ngay hôm sau, Ngọc bàn giao xong công việc và liên hoan với anh em thủy thủ của chiếc tàu kéo VTBI mà anh là đoàn trưởng.
Thời gian quá gấp, chỉ đủ cho anh tạt về qua nhà một lát để tạm biệt  người vợ mới cưới và nói mấy lời ngắn ngủi “Anh đi Hà Nội mai mốt sẽ về”. Anh chắc mẩm trước khi nhận nhiệm vụ mới, thế nào chả được nghĩ vài ngày phép.
Về tới đây, Ngọc thấy có cái gì vừa khác thường, vừa thân thiết trong sự tiếp đón. Hai đồng chí sĩ quan, một đại tá, một đại úy đón Ngọc như đón khách quý. “Chủ nhân” rất ân cần , cởi mở. “Khách” được mời vào trong một hội trường nhỏ, sáng sủa. Trong phòng đặt hàng ghế tựa xung quanh chiếc bàn dài phủ vải hoa. Trên bàn đặt vài bộ ấm chén, mấy đĩa bánh kẹo và những bao thuốc lá Thăng Long đã mở sẵn. Đ/c đại tá tự mình pha chè, rót nước, đưa thuốc lá mời mọi người và ân cần hỏi han :
-   Chắc các đồng chí chuẩn bị về đây cũng hơi vội ?
-   Dạ. Cũng đủ thời gian bàn giao công tác.
-   Các đồng chí đã được qua nhà thăm chị và các cháu ?
-   Dạ.
Qua chuyện trò hỏi thăm của đồng chí đại tá và các cán bộ khác tiếp anh em mới đến, Ngọc càng chắc chắn chuyến này sẽ được về Nam. Nhưng cũng có điều anh còn băn khoăn. Trước kia một vài người bạn của anh chuẩn bị đi chiến trường, thường trở về một đơn vị đóng ở rừng núi, rèn luyện đôi chân, đôi vai .., đằng này lại tập trung ngay ở thủ đô.
Chẳng riêng gì Ngọc mà mấy đồng chí nhiều tuổi cũng muốn hiểu ngay những điều mình băn khoăn. Bác Nhợ hỏi đ/c đại tá :
-   Đề nghị các đồng chí cho biết nhiệm vụ của chúng tôi.
-   Rồi chúng ta sẽ bàn kỹ, công việc không thể nói ngay một lúc được các đồng chí ạ ! Sau đây mời các đồng chí cứ về nghỉ ngơi đã.

Anh em mới tuyển về, lần lượt được biên chế xen kẽ với số anh em từ miền Nam mới ra. Chỉ vài ngày sau, những câu chuyện của các thủy thủ Nam Bộ đã giúp Ngọc hiểu ngay được đơn vị mình sẽ làm nhiệm vụ gì.
Hằng ngày có một vài giờ huấn luyện về kỹ thuật hàng hải, do các thuyền trưởng đã qua trường huấn luyện. Đối với phần đông các thủy thủ, kỹ thuật hàng hải chẳng khác gì cái món ăn khó tiêu. Phần vì trình độ văn hóa của anh em còn kém, phần vì thời gian chờ đợi sốt ruột, mà phải ngồi tính toán thì thật là chuyện nhức đầu. Anh em hết đề nghị rồi lại mong ngóng lệnh của cấp trên.
Một tháng, hai tháng, rồi một năm trôi qua. Có người thấy năm tháng chờ đợi dài lê thê, phát ngán. Tính bảo ra tới miền Bắc, lấy vũ khí về ngay. Thật là kỳ, trong lúc ở nhà thiếu từng viên đạn, ra đây ngồi học hàng hải và đi thăm quan ..Khi được cấp trên phân tích lý lẽ thì thông, nhưng chờ thêm vài ngày lại thấy người ngứa ngáy sốt ruột.
Đối với một số anh em ở miền Bắc vừa được bổ sung ,việc chờ đựoi cũng sốt ruột, nhưng không sốt ruột bằng ở gần nhà mà không được về thăm và không được biên thư.
Từ trước đến nay, anh em chưa bao giờ sống trong khuôn khổ kỷ luật bí mật như thế. Đoàn 759 như một thế giới riêng. Tuyệt đối không được biên thư cho  bất cứ ai. Đi ra ngoài nếu gặp người quen dù thân thiết đến thế nào cũng phải tránh né, không cho ai biết mình ở đâu, làm gì .. Có một lần, Ngọc ra phố cắt tóc, khi về tới cổng thì gặp một người bạn rất thân. Người bạn nhìn thấy Ngọc , anh ta reo lên :
-   Kia, tưởng cậu “dô” rồi, sao lại ở đây ?
Ngọc buộc lòng phải bắt tay bạn, nhưng anh rất lúng túng khi trả lời :
-   Mình .. mình xin lỗi, đang có việc cần phải đi.
Ngọc rứt bàn tay mình ra khỏi bàn tay của bạn rồi đi thẳng mà không dám vào cổng trại, sợ lộ chỗ ở của mình. Anh bạn hết ức ngạc nhiên trước cử chỉ có vẻ lạnh nhạt của Ngọc. Anh ta đứng sững, nhìn theo Ngọc một lát, không hiểu suy nghĩ thế nào, anh ta rảo bước theo Ngọc. Thật là rầy rà, Ngọc cố bước nhanh hơn và lẩn vào đám đông để vòng về nhà.
Càng ngày bộ mặt sinh hoạt của Đoàn 759 càng mang dáng dấp đặc biệt. Các đ/c Ủy viên Bộ Chính Trị thường lui tới thăm hỏi đơn vị luôn. Đời sống vật chất, tinh thần của anh em được tổ chức chăm lo rất chu đáo. Có lần anh em ngỏ lời ao ước “giá được đi Vịnh Hạ Long”, ngày hôm sau anh em lên xe đi thẳng xuống Hải Phòng. Và đến cảng đã có canô chờ sẵn để đưa ra vịnh. Có lần đội bóng đá của nước bạn sang đấu ở sân Hàng Đẫy; anh em đã xem đấu với đội hạng A của ta rồi, nhưng lúc đang ngồi chơi tú lơ khơ, có ai đó ngồi phía sau hỏi “Các cậu có thích xem đá bóng không ?” Anh em trả lời đại “ Có chứ”. Tưởng nói chơi với nhau, không dè người đặt  câu hỏi đó lại là Phó thủ tướng Phạm Hùng. Vào giờ đó, nếu khán giả bình thường của cuộc đấu, khó lòng kiếm được vé. Nhưng với đoàn 759 vẫn có chỗ ngồi ở khán đài A.
Về sau anh em bảo nhau, thôi không bộc lộ những ước muốn vụn vặt ấy nữa. Mặc dầu vậy, TW vẫn cưng chiều anh em đủ thứ. Riêng việc duy trì kỷ luật bí mật, việc giáo dục ý thức chống Mỹ, cứu nước lại rất chặt chẽ. Sự quan tâm ấy của Bộ chính trị TW Đảng khiến anh em càng thấy nhiệm vụ sắp tới của mình quan trọng, và nặng nề như thế nào, và càng háo hức đón chờ được nhận nhiệm vụ. Ngọc cũng như nhiều anh em không giấu được nỗi mong ấy. Thỉnh thoảng anh lại thăm dò các đồng chí xung quanh “Bao giờ vô trong ấy”.
Hàng ngày, giờ đọc báo buổi sớm, không khí trong đơn vị thường sôi nổi hẳn lên . Đồng chí liên lạc mang báo về là anh em xúm lại, giành nhau đọc . Bao giờ họ cũng đọc thời sự nói về miền Nam trước tiên.
“ Tháng 10 /1961, không đoàn thứ 13 Mỹ đưa bộ chỉ huy tiền tiêu đến Đà Nẵng và xây dựng hệ thống rada”
“ Kenedy triệu tập hội nghịh cấp cao bàn về vấn đề Nam Việt Nam”
“Davitxop tuyên bố sẵn sàng tham chiến ở miền Nam Việt Nam”.
“ Tư lệnh Hải quân Mỹ tới Sài Gòn ..”
v.v..
Mỗi lần đọc những loại tin tức như thế, thường nổ ra cuộc tranh luận nhỏ xung quanh vấn đề “ Mỹ có dám đưa quân vào miền Nam Việt Nam không ?” và một vài câu hỏi có liên quan tới vấn đề vận tải vũ khí sắp tới. Một số anh em cho rằng : thằng Mỹ áp dụng chính sách thực dân kiểu mới, chỉ dùng tiền bạc, vũ khí thông qua bọn tay sai để thực hiện mục đích xâm lược. CHủ nghĩa thực dân cũ đã bị lên án. Mỹ là một thằng thực dụng , nó không dại gì đưa quân vào cái đất này, khi mấy chục vạn quân viễn chinh Pháp vừa bị đánh bại. Số anh em khác lại cho rằng : bản chất đế quốc là xâm lược. Nó đang bị sa lầy. Xem ra thực dân mới không xong, thì nó cũng chẳng từ gì thủ đoạn đưa quân lớn vào. Do những suy luận khác nhau về những vấn đề lớn ấy, nên việc vận tải vũ khí vào Nam cũng có sự suy nghĩ khác nhau. Có người lo rằng mình đưa vũ khí ồ ạt vào Nam mà lộ ra, như vậy là vi phạm Hiệp định Giơnevơ , Mỹ sẽ lấy cớ đó để đưa quân và vũ khí ồ ạt vào, làm cho cuộc chiến tranh của ta càng thêm khó khăn. Số anh em khác cho rằng : Ai không dám đưa vũ khí vào miền Nam, cho rằng việc làm đó sẽ vi phạm Hiệp định Giơnevơ là tiêu cực. Mình không đưa thì Mỹ nó cũng đưa vào rồi. Đất nước của mình, mình có quyền đưa vũ khí và cả quân đội nữa để đánh bọn xâm lược và bọn bán nước. Ngọc ủng hộ loại ý kiến này. Anh đang mong mỏi được trở về Nam chiến đầu, nên khi nói tới “sợ vi phạm hiệp định” là anh đã đỏ tai, khó chịu. Tuy rằng người nêu ra cũng có lý lẽ, nhưng chẳng bao giờ làm cho anh xuôi tai.
Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #4 vào lúc: 29 Tháng Mười Một, 2007, 07:55:15 PM »

Một trong những nguyện vọng lớn của các thủy thủ Nam Bộ ra miền Bắc là được gặp Bác. Cái ao ước ấy vẫn nung nấu trong tâm tư anh em.
Hôm ấy, đại biểu thủy thủ các tỉnh được Bộ Chính trị mời dự bữa cơm thân mật. Khi trở về, anh Lê Công Cẩn vừa hé ra chuyện được gặp Bác, lập tức mọi người quây lấy anh, yêu cầu anh kể lại.
Anh Cẩn mắc một cái tật, mở đầu câu nói thường bắt đầu bằng hai tiếng “nói chung”
- Nói chung .. da dẻ Bác hồng hào. Bác đi lại nhanh nhẹn.
Một anh đứng cạnh nói xen ngang :
-   Không nên nói chung, mà nói thật kỹ heng.
-   Nói chung.
-   Đó lại nói chung rồi.
Mọi người cười ầm lên. Không khí vui vẻ ấy không phải do cách nói của anh Cẩn,mà do anh em sắp được nghe chuyện kể về Bác. Và chắc chắn sẽ được biết Bác nói gì về công việc của mình :
-   Khi chúng tôi đến thì món ăn đã bày sẵn, đầy cả bàn. Anh em đang sửa soạn ngồi thì đ/c Phạm Văn Đồng đến. Thấy còn một cái ghế liền chỗ Thủ tướng chưa có người ngồi, tôi đoán thế nào Bác cũng đến. Tôi nhanh chân tới ngồi bên cạnh cái ghế bỏ không đó. Và đúng như điều mong mỏi, Bác đã đến. Mọi người đứng dậy vỗ tay hồi lâu. Tôi vinh dự được ngồi ngay bên cạnh Bác. Bác vui lắm. Bác bắt tay từng người. Bác hỏi thăm sức khỏe của tất cả chúng ta. Bác nói về chuyến ra Bắc của chúng ta là “ .. trên thế giới này, ngoài Christọp Colombo và các chú ra , thì không ai đi kiểu này !” . Rồi Bác hỏi “ Các chú ra đây có yêu cầu gì với TW nào ?”. Hình như Bác biết được tâm trạng của chúng ta nên Bác mới đặt ra câu hỏi ấy. Tất cả chúng tôi gần như đồng thanh “Chúng cháu ra đây xin vũ khí về đánh giặc”. Anh Hai Tranh bạo dạn nêu ra yêu cầu cụ thể  “Chúng cháu muốn xin loại vũ khí gì có thể phá đồn bốt và ấp chiến lược của địch”. Bác giảng giải “Không phải chỉ có đánh đồn bốt ..Mỹ nó sẽ đưa quân vào. Phải chuẩn bị đánh lâu dài, đánh thắng quân đội và trang bị hiện đại của Mỹ nữa”. Nghe Bác nói mới thấy mình suy nghĩ còn hẹp quá. Tưởng chở về vài ghe vũ khí là xong.
Câu chuyện anh Cẩn kể đã gây niềm phấn khởi cho anh em.
-   Có thế chứ ! Thằng Mỹ rất ngoan cố. Hiệp đinh Giơnevơ mùi gì với nó. Chỉ có đánh !
Năm 1962, toàn quân, toàn dân miền Bắc dấy lên phong trào thi đua với Duyên Hải, Đại Phong, phong trào “Ba nhất” “ Tiến nhanh, bước dài, vượt mức kế hoạch”, “Tất cá vì miền Nam ruột thịt”. Ở miền Nam, ngọn lửa chiến đấu bùng lên, phá “ ấp chiến lược”. diệt ác trừ gian, chống địch càn quét, bắt lính .. thu nhiều thắng lợi. Mỗi ngày, những trang báo, đài phát thanh dồn dập đưa tới những tin vui của cả hai miền, làm tăng niềm phấn khởi, càng thôi thúc đoàn 759 ngóng chờ được cấp trên trao nhiệm vụ.
Với đội thuyền của mình, các thuyền trưởng thường nhắc tới câu nói của đ/c bí thư tỉnh ủy căn dặn lúc ra đi “Cố ra tới nơi, xin Trung ương cấp vũ khí để giải phóng tỉnh mình”. Khi nhắc đến điều đó anh em lại càng sốt lòng, sốt ruột. Đã qua đi gần một năm. Cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở miền Nam ngày càng mở rộng và ác liệt hơn, chắc anh em mình trong đó càng thiếu vũ khí nhiều, chắc họ đang đỏ mắt trông chờ. Mỗi lần nghĩ như vậy, anh em lại xin cấp trên cho chở vũ khí về sớm. Trên lại đả thông. Rồi anh em lại đề nghị. Cứ như thế lặp đi lặp lại; và anh em vẫn chờ đợi. Anh em thủy thủ vẫn chưa hiểu thật hết sự sâu xa rộng lớn của nhiệm vụ chiến lược mà đơn vị mình sắp gánh vác trên con đường biển như thế nào.
Đầu tháng 2/1962, đội thuyền Cà Mau tự nhiên biến khỏi nhà số 6 đường Quan Thánh. Nhiều anh em mừng thầm, coi đó là sự báo hiệu sắp tới lượt đội thuyền mình trở về Nam. Nhưng chỉ sau hơn một tuần lễ, đội thuyền đó lại trở về. Thực ra họ mới nhận được lệnh sửa lại thuyền.
Mọi công việc trở lại bình thản như cũ. Vẫn học hàng hải, vẫn nghe thời sự, vẫn được đi xem danh lam thắng cảnh.
Tới đầu tháng 4, bác Bông Văn Dĩa được mời vào Văn phòng Bộ Quốc Phòng. Thường trực Quân ủy TW giao nhiệm vụ cho đội thuyền Cà Mau trở về tìm nơi đặt bến và trinh sát thêm tình hình địch. Bác Dĩa báo cáo với đ/c đại diện Thường trực Quân ủy điều đ/c Mười Kỷ (bí thư tỉnh ủy Cà Mau) căn dặn lúc lên đường ra Bắc. Đ/c đại diện Thường trực Quân ủy lại giải thích ý nghĩa lâu dài của đường biển. Đối với bác Dĩa việc nhận thức cái chung rộng lớn của nhiệm vụ chiến lược không có khó khăn gì lắm, nhưng bác biết trong đội nhiều anh em chưa thông.
Bác Dĩa trở về đội, phổ biến nhiệm vụ mới nhận được. Bác đang nói tới nhiệm vụ trinh sát , thì anh Th cắt ngang :
-   Cái chính là có chở vũ khí về không ?
-   Không.
-   Nếu không chở vũ khí thì dứt khoát tôi không đi.
Anh Ch ủng hộ ý kiến của Th.
-   Nhiệm vụ của tỉnh giao đi chở vũ khí về. Bây giờ lại đưa ghe không về, coi sao được !
Bác Dĩa đem hết sự hiểu biết của mình để giải thích nhưng Th. và Ch. vẫn từ chối nhiệm vụ.
Th. và Ch. biểu lộ ý thức kỷ luật kém, dù họ cố bám vào lý do nào chăng nữa, cũng không thể đủ tin cậy đối với đơn vị đặc biệt này, cấp trên buộc phải chuyển họ làm việc khác.
Chuyến đi trinh sát mở bến vẫn được thực hiện đúng như kế hoạch dự định, xuất phát vào đêm 8  thàng 4 năm 1962 tại cửa sông Nhật Lệ.
Từ lâu đã thành thói quen, khi thuyền nhổ neo là bác Dĩa nghĩ tới những thứ mình có thể gặp trên đoạn đường sắp đến. Cái gì đã làm cho Th. và Ch. tách ra không muốn chia sẻ khó khăn với anh em, không muốn hiểu quyền lợi chung của Đảng ?
Anh Hai Tranh được chuyển sang đội Cà Mau thay vị trí của Th. vẫn đứng cạnh bác Dĩa nhớ tới cảnh chết hụt trong chuyến ra Bắc, anh hỏi bác Dĩa :
-   Bây giờ trời đẹp, không hiểu mai có được như thế này không ?
Câu  nói của anh Hai Tranh cắt ngang dòng suy nghĩ của bác Dĩa. Bác im lặng một lát rồi mới trả lời :
-   Mùa này biển lặng, rất ít giông bão.
Cả hai người lại im lặng, theo đuổi suy nghĩ riêng của mình.
Những ngọn đèn của thuyền đánh cá nhấp nhô ẩn hiện, những vì sao lấp lánh xa thẳm ở cuối chân trời, những gợn sóng lân tinh trước mũi thuyền không đem lại cảm giác nào khác, nhưng bác Dĩa vẫn nhìn về phía đó rất chăm chú. Đã quá giờ trực lái, bác vẫn không gọi người thay phiên.
Gần sáng, Dũng bật thức giấc, xem đồng hồ đã quá giờ thay ca của mình. Anh tới cạnh bác Dĩa hỏi :
-   Sao chú không gọi cháu ?
-   Tao chẳng buồn ngủ, để mày ngủ thêm một giấc.
Dũng đưa tay qua trước mặt bác Dĩa, giữ lấy vòng lái .
-   Cháu ngủ đã rồi. Chú đi nghỉ cho đỡ mỏi.
Sau 4 ngày, đội thuyền đã tới Nha Trang. Bốn ngày đi êm ả, không gặp một bóng thuyền nào ở khơi xa. Đến hôm nay mới loáng thoáng có tàu, thuyền qua lại.
Khoảng 10 giờ, anh em nhìn thấy 2 chiếc tàu đi Philipin về. Lúc đầu nó cắt chéo với hướng tàu Cà Mau thành một góc 60 độ. Vài phút sau đó, nó đổi hướng đi song song. Khi thấy hai chiếc tàu kia đổi hướng, bác Dĩa bảo anh em ra phơi lưới và chuẩn bị sẵn sàng đối phó với tình huống. Nhìn rõ hai chiếc tàu không phải tàu buôn , bác Dĩa nói với anh Hai Tranh :
-   Giấy tờ mình mang là của tỉnh Cà Mau, nếu nó kiểm soát, mình chỉ có cách nói là : đi lạc đường, và hỏi thăm nó đường về. Anh tính sao ?
-   Tôi cũng tính vậy. Ta phải xem có cái gì lộ ra để nó nghi ngờ.
Bác Dĩa chỉ vào cái la bàn nhỏ xíu :
-   Vất quách cái này xuống biển thì mới nói mình bị lạc.
Khi vứt la bàn xuống biển xong, bác Dĩa hạ lệnh cho tàu giảm tốc độ, chuẩn bị thả lưới.
Hai tàu địch lẵng nhẵng theo tàu Cà Mau gần 2 giờ liền, thấy tàu Cà Mau dừng lại thả lưới, một chiếc tàu đứng ngoài, chiếc khác chạy tốc độ chậm vòng xung quanh. Bọn lính địch đứng cả về một phía mạn tàu nhìn sang.
Anh em biết rõ địch có ý nghi ngờ mình, nhưng người nào việc nấy như bình thường, không có chuyện gì xảy ra. Rải lưới xong, tắt máy, thuyền thả trôi. Các thủy thủ người nằm người ngồi chuyện trò trên mặt khoang.
Chừng như chúng đã hết nghi ngờ, hai chiếc tàu lại quay mũi đi hướng cũ.
Suốt từ hôm đó cho tới khi cặp bến, tàu Cà Mau gặp tàu địch thêm một lần nữa, nhưng chúng coi thuyền này như các thuyền đánh cá khác.

Nhận được tin tàu của bác Dĩa đã trở về, Khu ủy giao cho anh Tư Mao ( Phan Văn Nhờ) ra cửa Vàm Lũng đón bác Dĩa về làm việc với Bí Thư Khu ủy.
Anh Tư Mao rất mưngg. Bác Dĩa với anh, hai người đã quen thân nhau từ lâu, nhất là thời kỳ làm công tác giao liên bí mật của Khu ủy. Hai người đã cùng nhau chia sẻ nỗi khó khăn nguy hiểm trên tuyến đường dây. Bác Dĩa đã để lại cho anh ấn tượng tốt đẹp về một người đảng viên trung kiên và liêm khiết. Hồi đó (1958). Anh phụ trách một đầu mối giao liên của Khu ủy khu 9. Tổ giao liên có 5 chiếc thuyền làm phương tiện đi lại. Bác Dĩa phụ trách một chiếc. Muốn che được mắt địch, cuộc sống trên thuyền phải giống như những gia đình chủ thuyền buôn (lớp dưới) khác. Bác Dĩa đã đưa vợ và hai con xuống ở thuyền. Anh Tư Mao nhớ lại : Hôm ấy anh hẹn gặp bác Dĩa ở cạnh miếu Thất Cô Nương, bên kia thành phố Cấn Thơ. Anh đi trên chiếc thuyền tam bản tới. Trong thuyền có giấu tài liệu mật ở dưới đống khoai lang và ít quả dừa. Như một bạn hàng, anh cho thuyền mình cặp mạn thuyền bác Dĩa. Hai người trao đổi công việc, làm như trả giá xong, anh Tư Mao chuyển dừa, khoai và cả tài liệu sang thuyền của bác Dĩa.
Hôm ấy, hai người ngồi trò chuyện với nhau khá lâu. Bác Dĩa xin thôi không lĩnh tiền ăn hàng tháng và trả tổ chức số tiền vay vốn. Anh Tư Mao ngạc nhiên. Các thuyền khác đều hụt vào số vốn, phải vay thêm, sao bác Dĩa lại không lĩnh trợ cấp và còn trả vốn. Bác Dĩa kể lại : mỗi chuyến đi công tác từ địa phương này sang địa phương khác, bác khóe lóe hỏi dò những bà con buôn bán, xem giá cả các mặt hàng. Khi mua hàng để ngụy trang, bác tính toán xem mua thứ gì có lợi hơn. Vì vậy, chỉ vài chuyến công tác là bác có thể tự túc được.
Việc đi lại lúc ấy không ít nguy hiểm. Bọn Ngô Đình Diệm đang tích cực săn lùng các đầu mối giao liên để bắt cán bộ lãnh đạo. Thuyền của bác chở tài liệu mật, là một đối tượng chủ yếu của bọn mật vụ đang rình mò. Bác hết sức thận trọng trong công tác bí mật, nhưng lần lần bác gái cũng biết được việc bác trai đang làm. Bác gái tỏ ra lo lắng nói với chồng “Nếu chỉ có hai vợ chồng chẳng may bị bắt hoặc bị chết cũng chẳng sao, hiềm nỗi 2 đứa con của chúng ta còn nhỏ quá” . Bác đã nói với bác gái “ Công việc của mình gắn liền với tương lai của con mình ..”. Bác đã thuyết phục bác gái yên tâm.
.. Đã mấy năm xa nhau. Ngày tháng trôi qua, từ lúc cả miền Nam còn sống trong tù ngục đen tối của bọn Mỹ-Diệm, đến nay đã có vùng giải phóng rộng lớn; bạn bè, đồng chí, kẻ còn người khuất. Anh Tư Mao hằng mong gặp lại bác Dĩa, người bạn lớn tuổi, người đảng viên laõ thành, mà anh coi như bậc thầy về tinh thần cách mạng. Suốt dọc đường đi đón bác Dĩa, chuỗi hình ảnh đẹp của quá khứ lại hiện trong óc anh. Cho mãi tới khi chiến sĩ cầm lái thuyền hỏi “Đi vào rạch Ráng chớ anh !”, anh mới để ý là sắp tới bến.
Thuyền của bác Dĩa đã đến Vàm Lũng từ chiều hôm trước. Bác đang ngồi , nâng chén nước định uống thì nhìn thấy một người lùn để râu dài, đi qua trước cửa. Nhận ra bạn cũ, bác đặt chén nước chạy ra gọi to :
-   Anh Tư.
Anh Tư Mao ngoảnh lại, thấy bác Dĩa. Vóc người to đậm, nước da đồng hun của dân biển, cả tiếng nói, tiếng cười chất phác cởi mở của bác Dĩa vẫn không có gì thay đổi. Hai người cùng chạy tới ôm lấy nhau. Cả hai chiến sĩ gan góc ấy đều ứa nước mắt vì vui mừng.
-   Anh vẫn không có gì thay đổi, vẫn khỏe và cũng chẳng già hơn.
-   Đến tuổi thượng thọ rồi.
-   Anh ba ( anh Bường, bí thư khu ủy ) giao cho tôi rước anh về.
Anh Bường rất mừng khi gặp bác Dĩa. Mở đầu câu chuyện, anh đặt ra một loạt câu hỏi : Mang được bao nhiêu vũ khí về ? Tình hình sức khỏe của anh em; tình hình địch hoạt động trên biển; chỉ thị của TW ra sao ? ..
Anh Tư Mao toan xin phép trở về, anh Bường đã chỉ tay vào chiếc ghế làm bằng mảnh gỗ chưa bào nói :
-   Anh Tư ngồi xuống đây, cùng nghe. Công việc này sẽ có nhiều liên quan tới anh.
Bác Dĩa nói chậm rãi :
-   Trung ương lệnh chúng tôi đưa ghe trở về, không đem theo vũ khí để làm việc khác. Tôi nói sau. Còn tình hình địch, chuyến đi ra, chúng tôi hai lần gặp chúng, một lần ở ngang Nha Trang. Tàu địch ở ngoài khơi vô. Thấy chúng nó đang tới gần ghe của mình, chúng tôi cho ghe của mình chạy hướng vô  bờ, làm như ghe của mình ở địa phương này. Nó theo một đoạn rồi bỏ. Lần thứ hai tới Hòn Ré, lại gặp chiếc ghe gắn máy có buồm, chúng tôi lại xử trí như vậy. Khi ra , sóng gió ít, anh em mạnh khỏe cả. Khi về, cũng gặp địch hai lần.
Căn nhà hẹp thiếu ánh sáng, anh Bường phải kéo ghế ra gần phía cửa để ghi chép.
Bác Dĩa vừa ngắt câu, anh Bường xen vào một nhận xét :
-   Cả ngàn chiếc ghe trên biển, chúng kiểm soát không xiết. Nếu ta tổ chức ghe lướt đi lẫn vào ghe làm ăn của dân, thì việc chuyển vũ khí ở miền Bắc về có thể thực hiện được.
Bác Dĩa nói tiếp :
-   TW chỉ thị : Nghiên cứu tìm bến ở một hòn đảo nào đó. Ghe ngoài kia đưa hàng vào, giao xong ra ngay. Ta sẽ tổ chức những thuyền hợp pháp ra đảo đưa hàng vào đất liền. TW nhấn mạnh : làm cách này duy trì con đường biển để vận tải suốt cuộc chiến tranh ..
Anh Ba Bường gật đầu :
-   Như vậy là có nhiều việc đó. Theo anh thì đặt bến ở đảo nào ?
Suy nghĩ một lát, bác Dĩa trả lời :
-   Đảo Thổ Chu, hồi 9 năm tôi đi mua vũ khí ở Thái Lan có qua lại. Ở đó vắng và xa đất liền , địch không chú ý, có thể giữ được bí mật.
-   Phải nghiên cứu một số đảo khác, ta tìm vài địa điểm rồi chọn ra một nơi tốt nhát. Nơi đó phải có điều kiện : tàu ngoài kia vô thuận lợi, địch ít kiểm soát, cất giấu được hàng và từ đất liền ta ra cũng có nhiều thuận lợi. Mai mốt tôi sẽ điều động thêm người. Anh và anh Tư Mao là người chủ chốt trong việc này. Các anh về bàn kỹ thêm. Còn việc đón tàu ngoài kia vào, đưa hàng vào bờ như thế nào, chúng ta sẽ nghiên cứu sau.
Nhận thêm nhiệm vụ mới, đối với anh Tư Mao không có gì là bất ngờ. Vì ngay từ khi được giao đi đón bác Dĩa, anh đã nghĩ tới điều đó. Vốn là người hoạt động , Tư Mao thích làm những việc khó khăn có phần mạo hiểm. Đường biển Nam – Bắc tuy xa lạ, nhưng đã bắt đầu thu hút sự suy nghĩ của anh.
Trên đường về, anh Tư Mao nắm chặt tay bác Dĩa :
-   Anh dạy tôi cách đi biển.
-   Tôi biết gì sẽ cố gắng nói hết với anh.
Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #5 vào lúc: 29 Tháng Mười Một, 2007, 08:06:27 PM »

Chiếc thuyền Cà Mau đã trở lại miền Bắc.
Ngày hôm sau, Trung tướng Phó Tổng Tham Mưu trưởng Trần Văn Trà tiếp bác Dĩa.
Bác Dĩa đã báo cáo với Trung ương công việc tìm bến. Sau gần một tháng đi trinh sát các đảo Thổ Chua, Nam Du ( còn gọi là Cù Choong) mở rộng trinh sát sang cả Hòn Ông, Hòn Bà rồi trở về tìm các rạch, vàm trong đất liền, anh em đã báo cáo kết quả trinh sát với Thường vụ Khu ủy Khu 9. Sau khi trao đổi với cán bộ trực tiếp trinh sát là anh Tư Mao và bác Dĩa, khu ủy kết luận : ngay trong đất liền có nhiều thuận lợi, có thể thực hiện được. Một vài cửa rạch kín đáo đã lựa chọn tuy nước cạn và hẹp nhưng dùng sức người khắc phục được. Chỉ trong vòng một tháng nữa, trong ấy sẽ làm xong bến và có thể đón thuyền ở miền Bắc vào.
Đồng chí Phó Tổng Tham mưu trưởng lấy trong tủ ra một tấm bản đồ tỷ lệ 1/10.000 trải trên mặt bàn, nói với bác Dĩa :
- Đồng chí chỉ xem những cửa nào có thể vào được.
Bác Dĩa đưa ngón tay chỉ theo đường viền màu xanh của biển Cà Mau, nói :
-   Đây là sông Tam Giang .. Đây rồi, có thể vào cửa Vàm Lũng. Vào đây rồi đi theo cái rạch này .. phải đào sâu thêm độ một mét nước nữa là bảo đảm. Ở đây rừng đước và tràm mọc cao, rất kín đáo. Có thể khắc phục mở thêm vài cửa nữa như Bồ Đề, Rạch Ráng ..
Nghe bác Dĩa báo cáo đến đâu, Phó Tổng Tham mưu trưởng đánh dấu bút chì đỏ vào bản đồ đến đó. Nhưng khi bác Dĩa nói « chiếc tàu của anh Tư Mao nếu chưa đến đây, có khả năng bị địch bắt », đồng chí lo lắng hỏi :
- Anh nói chiếc tàu nào nữa ?
Theo chỉ thị của Khu ủy, anh Tư Mao phụ trách chung cả hai chiếc ; và sẽ báo cáo với các anh ở ngoài này những ý kiến của Thường vụ Khu ủy. Đáng ra, máy tàu tôi không hư thì cùng đi, nhưng vì phải sửa máy, tôi đi chậm sau mất hai ngày.
-   Theo anh thì chiếc kia có thể gặp chuyện gì trên biển. Nếu như bị địch bắt, liệu có ảnh hưởng đến công việc của chúng ta đang làm không ?
-   Nếu như máy có hư hỏng chỉ hư nhẹ, vì máy mới, thì cũng ra tới đây rồi. Mấy hôm biển êm không thể có tình huống gì do sóng gió gây ra. Tôi nghĩ có thể bị địch bắt giữ. Nhưng cũng không có gì đáng lo ngại. Anh em có đủ giấy tờ hợp pháp và là những người đáng tin cậy cả. Anh Tư Mao là người rất thông thạo trong việc đối đáp với địch. Dù chúng có bắt giữ, có anh Tư Mao ở đó là tôi rất yên tâm. Chúng tôi đã cùng hoạt động với nhau. Tôi biết anh ấy.
Mấy ngày sau, Phó Tổng Tham mưu trưởng vẫn cứ thắc thỏm về chiếc tàu của anh Tư Mao. Đ/c đặt giả định «  Nếu bị địch bắt, có người nào khai báo sẽ có ảnh hưởng gì đến việc mở đường ? ». Sau khi suy nghĩ kỹ các yếu tố, đồng chí chỉ thấy : nếu như có diễn ra tình huống xấu nhất ở chiếc tàu bị bắt, cũng không có ảnh hưởng gì quan trọng đối với việc mở đường. Trừ anh Tư Mao biết về bến bãi và một phần chủ trương, còn anh em khác chỉ biết mỗi việc ra miền Bắc lấy vũ khí, có khai báo thì cũng chỉ có thê làm cho chúng đề phòng thêm thôi. Việc hạ quyết tâm mở đường không có gì thay đổi.

Nhà khách Quân ủy TW dựng trên nền đất rộng rãi. Tán lá của những hàng cây cổ thụ che rợp những lối đi rải bằng sỏi trắng.
Hôm nay (khoảng trung tuần tháng 8 năm 1962), tại đây có cuộc họp của Quân ủy Trung ương. Đến phần cuối của chương trình, đ/c Trần Văn Trà báo cáo tóm tắt công tác chuẩn bị mở đường vận tải chiến lược trên biển. Các ủy viên chăm chú lắng nghe. Báo cáo vừa dứt, đ/c Võ Nguyên Giáp, Bí thư Quân ủy TW hỏi ngay :
-   Liệu có thể bảo đảm chắc chắn được 50% những chuyến đi không ?
-   Đạt 100% thì khó, chứ 50% thì tôi bảo đảm một cách chắc chắn – Đ/c Nguyễn Chí Thanh nói.
-   Chỉ cần nửa số chuyến đi vào được bến, là thắng to rồi.
Đồng chí Bí thư Quân ủy lấy biểu quyết. Các ủy viên đều tán thành với thái độ phấn khởi.
Quyết nghị mở đường biển được thông qua, không khí cuộc họp bỗng náo nhiệt hơn. Các ủy viên trao đổi ý kiến ngoài lề về quyết định ấy, ai cũng tỏ ra hy vọng rất nhiều. Có con đường này, Nam Bộ sẽ giải quyết được một phần khó khăn về vũ khí. Có con đường này, cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam sẽ có bước phát triển mới. Cái giây phút quyêt nghị mở con đường biển chiến lược thật ngắn ngủi không có sự tranh cãi gay gắt, biểu thị sự trăn trở mong mỏi từ lâu của Quân ủy TW. Sự trăn trở mong mỏi của Quân ủy TW hòa với sự trăn trở của quân dân miền Nam tạo nên cái mốc đưa con đường biển Việt Nam bước vào lịch sử.
Ngày khai sinh ra con đường biển chiến lược bắt đầu.
Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #6 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2007, 10:49:14 AM »

Chương hai

MỞ ĐƯỜNG

Cùng với đường Trường Sơn, đường biển trở thành chiếc vai thứ hai của Tổ Quốc gánh nhiệm vụ chi viện từ hậu phương lớn ra tiền tuyến lớn ; nó sẽ đi suốt chiều dài của cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam. Bộ chính trị TW Đảng, Quân ủy TW đã dồn tâm trí, sức lực cho nó ra đời. Sau những ngày dài vật lộn trăn trở nó đã ra đời vào đêm 14 tháng 9 năm 1962. Một đêm động trời, động biển, gió đông bắc thổi xám đen cả tầng không. Những đợt sóng đùng đùng nổi lên vỗ vào bờ cát.
Con tàu mang tên Phương Đông 1 nhận lệnh đưa chuyến hàng đầu tiên vào bến Cà Mau.
Đêm ấy, không riêng những thủy thủ đi trên tàu Phương Đông 1 mà tất cả những ai biết sự kiện ấy, đều hồi hộp gửi gắm niềm mong đợi. Tàu Phương Đông 1 vượt  ngàn dặm sóng gió, đổ bộ an toàn lên mảnh đất tận cùng của Tổ Quốc, thì hàng trăm Phương Đông 1 khác cùng lao vào quỹ đạo.
Các đ/c Phạm Hùng, Nguyễn Chí Thanh, Trần Văn Trà đã tới tận bến, rất xúc động chia tay anh em.
Đồng chí Phạm Hùng nói :
-   Liên xô có Gagarin, Titop đưa con tàu vào vũ trụ lên quỹ đạo. Các đồng chí là người khai sơn, phá thạch con đường này ; về mặt nào đó ý nghĩa giống nhau. Các đ/c đem tình cảm của miền Bắc tới miền Nam ; đem ý chí quyết tâm đánh Mỹ giải phóng miền Nam của Đảng vào việc mở đường chiến lược trên biển. Trung ương hy vọng các đồng chí sẽ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ nặng nề vẻ vang đó. Chúc các đồng chí đi thuận buồm xuôi gió.
Không khí lúc nhổ neo trang nghiêm như buổi lễ tuyên thệ của đội quân cảm tử trước giờ xuất trận.
« Dù khó khăn, nguy hiểm như thế nào, dù có phải hy sinh tính mạng, chúng tôi cũng quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ », tàu Phương Đông 1 mang lời hứa sắt đá đó lao về phương Nam.
Tiếng máy trầm đục trong ồn áo của sóng biển. Con tàu lắc lư, nghiêng ngả. Bác Bông Văn Dĩa vẫn ngồi im lặng như pho tượng trên mặt khoang. Lửa tàn thuốc lá lập lòe. Tiếng nói quen thuộc của biển đang gợi lại ký ức xa xăm của bác. Với con thuyền nhỏ bé, bác chở đồng chí của mình ra làm cuộc bạo động ở Hòn Khoai năm 1940. Con thuyền chở vũ khí lênh đênh vượt vịnh Thái Lan về Nam Bộ. Con thuyền vượt biển Đông ra miền Bắc « xin Trung ương vũ khí » năm 1961. Bậc thang thời gian, có khoảng cách 10 năm mà hình thức, nội dung chẳng khác là bao. Vẫn đi vào cái đêm sóng gió. Vẫn có nguy hiểm do kẻ thù mang tới. Vẫn chở người, chở vũ khí đi đánh giặc. Nhưng với đất nước thì đã nhiều thay đổi lớn lao. Từ lúc con thuyền không có bến đậu, bây giờ nửa nước đang xây dựng chủ nghĩa xã hội và nửa nước đang cầm vũ khí xông lên đánh Mỹ-ngụy. Mỗi lần suy nghĩ về nhiệm vụ cách mạng trong đời mình, bác lại thấy niềm tin lớn hơn.
Những thủy thủ trẻ nằm , ngồi bên cạnh bác Dĩa. Họ đang thao thức. Một trận đánh nhau với tàu chiến địch  ở giữa biển được bàn đến. Tiếng nói, tiếng cười của họ lẫn vào tiếng sóng nghe như xa như gần.
Những giây phút họ im lặng là lúc trí tưởng tượng trào lên. Hình ảnh con thuyền của ta mở hết tốc lực, đâm thẳng vào tàu địch. Khối thuốc nổ hàng tấn đặt dưới đáy thuyền đã điểm hỏa, cả hai chiếc tàu đều nổ tung. Hình ảnh con tàu bị sóng gió xô phiêu bạt, không còn biết đâu là bờ bến, không còn gạo , nước ..
Riêng bác thợ máy Huỳnh Văn Sào, từ lúc nhổ neo đến giờ, không còn phút nào để suy nghĩ điều gì khác. Lúc đứng cạnh máy nhìn máy làm việc, lúc châm dầu cho máy, ngay cả lúc ngồi ở mặt khoang cho thoáng gió một chút, đôi tai bác vẫn không rời khỏi tiếng máy.
Khi nhận con tàu mới ở xưởng ra, bác đã chế « máy Rây 105 mã lực vượt biển không nổi đâu ». Nhưng thời gian và tiền của cách mạng chỉ có đến thế, biết làm sao hơn được. Kêu ca chăng nữa, rồi cũng đến tay mình, nên bác chỉ im lặng chờ đợi sự tiên đoán của mình ứng nghiệm. Và sẵn sàng xoay trần ra sửa chữa. Quả là như vậy. Tàu qua đảo Bạch Long Vic giữa lúc sóng lớn, thì tiếng máy bắt đầu ậm ạch, rồi tắt luôn. Bác Sao với hai thợ phụ là Bé và Luông phải sửa hai giờ liền, máy mới hồi phục.
Hai giờ thuyền thả trôi, từ thuyền trưởng tới các thủy thủ say sóng gần hết. Máy chạy, mọi người bớt say sóng, đã tưởng rằng tai qua nạn khỏi, nào ngờ lại hì hục kiểm tra xem nó bệnh tật gì. Hỏng hộp sô ! Một tình huống thật là quái ác. Sao buông xuôi tay, đứng sững một hồi lâu. Bác đã gần hết cả cuộc đời làm thợ máy trên tàu biển, chưa bao giờ gặp ca hỏng hóc như thế này.
Mấy người thợ máy lại khênh hòm phụ tùng lên mặt khoang, đổ ra, lựa từng cái khóa ròi ướm thử từng cái ốc, tìm mãi mới được một chiếc đúng cỡ của mũ ốc máy.
Bác Sao nóng tiết kêu trời lên :
-   Đi biển thế này mà không có đủ phụ tùng để mở hết máy có chết không kia chứ. Đến đây còn biết tính làm sao. ( Hồi đó công tác chuẩn bị một chuyến đi, do một bộ phận khác làm, thuyền trưởng tới các thuỷ thủ được ôtô đưa từ Hà Nội xuống bến và lên đường ngay ).
Bác Dĩa an ủi :
-   Ở ngoài Bắc không kiếm mua được đồ Mỹ. Cố gắng sửa chữa rồi vô trong sẽ sắm đủ.
-   Vào trong ấy .. nó nằm chết ở giữa khơi này thì bao giờ vào được trong ấy.
Tính bác Sao như thế. Bụng dạ để cửa miệng. Nói ào ào ra một hồi, nhưng công việc vẫn làm đến nơi. Nhìn bề ngoài, với tuổi 60, vóc người cao mảnh khảnh, ít ai có thể đánh giá đúng sức khỏe của bác. Sức chịu đựng với sóng gió thì cứ là ăn đứt bọn trai tráng, và sức làm việc của bác thì dẻo như chão dừa.
Bác Sao lấy giẻ đệm khóa, cố làm cho nó vừa cỡ, rồi dùng búa gõ hàng giờ liền,mới tháo được một cái bù-loong.
Tiếng búa đập vào thành máy « đốp đốp », « chát chát », nghe đến xót ruột, nhưng chẳng biết làm thế nào khác được.
Trời lại mưa. Đã gần trưa rồi mà cứ tưởng như trời sắp tối.
Máy tàu hỏng, máy bơm cũng hỏng nốt. Nước vào trong tàu mỗi lúc một nhiều. Bác Dĩa và các anh Thanh, Luông, Bé thay nhau dùng bơm tay để tát nước.
Mở vỏ máy kéo dài gần một ngày, một đêm mới nhấc ra được thành máy. Nếu như có đủ khóa, thì nhấc hẳn bộ phận nào cần phải sửa ra bên ngoài,  nhưng lúc này bác đành phải luồn tay vào để sửa.
Đôi mắt già của bác cứ phải nheo lại hết nghiêng bên này lại nghé bên kia. Trông bác đến tội.
Từ lúc máy hỏng, tàu chịu thua sự đùa dỡn của sóng gió, tha hồ trôi giạt, chẳng ai định hướng nổi nó nữa. Máy hỏng đã sốt ruột lại thêm mối no về thuyền trôi. Lỡ ra nó giạt vào ngay bên cạnh một cái đồn địch, bọn Mỹ-ngụy chẳng phải tốn sức tìm tòi. Chí ít nó cũng vớ được một vài tang vật nào đó của con đường vận tải biển.
Bác Dĩa gan như thép, đến lúc này cũng phải lên tiếng hỏi :
-   Thế nào, liệu có sửa được không ?
Bác Sao phát khùng :
-   Bao giờ tôi chịu đầu hàng nó, tôi sẽ báo cáo các anh.
Một lát sau, nghe tiếng máy nổ, anh em nhảy lên reo hò. Con tàu lại tiếp tục nhằm hướng Nam thẳng tiến.

Tiếp theo Phương Đông 1, thuyền mang tên Phương Đông 2 cũng từ cảng Đồ Sơn (K.20) nhổ neo đêm 16/10/1962. Đi được một đêm trong gió mùa nam thổi mạnh, Phương Đông 2 đã có tới một nửa số thủy thủ say sóng nặng.
Trước lúc lên đường, mọi người đã xác định chọn thời tiết xấu mà đi, để giảm bớt khả năng kiểm soát của địch. Đến bây giờ, nhìn sóng gió, nhìn đồng đội nằm liệt, không ai buồn ngó ngàng đến cơm nước.
Thuyền trưởng D.  Làm trên biển hàng chục năm, cũng không bao giờ gặp thứ sóng quái ác này. Sóng đã « quật đổ » D. Anh nằm nghiêng, một tay ôm lấy bụng, miệng há ra như con chim con đói mồi, cho nước xanh, nước vàng tự do chảy dài xuống.
D. cố nói trong tiếng nôn ọe khan :
- Đi thế này không chắc gì …
   Một lát sau, anh cố chống tay ngồi dậy, gọi đồng chí báo vụ :
-   Đồng chí Đạo.
-   Có
-   Đánh điện báo cáo.. đi nữa không bảo đảm.
Trần Hải Đạo suy nghĩ “nếu cấp trên nhận điện mà gọi quay về thì uổng” . Anh ngập ngừng một lát rồi cũng bò vào buồng làm việc. Nói là buồng báo vụ, thực ra nó giống như cái hang, muốn vào không có cách nào khác hơn là bò, và muốn làm việc phải ở tư thế nằm. Vì trong buồng đã xếp đầy vũ khí. Anh bật công tắc, lên máy, rồi lại tắt luôn. Nằm nghĩ ngợ một lát, Đạo lại bò ra ngoài.
Thuyền trưởng hỏi :
-   Sở chỉ huy có ý kiến gì ?
-   Không nói gì.
Lần đầu tiên trong đời, Đạo đã nói dối cấp trên. Lúc bật công tắc máy, trong óc Đạo cũng bật lên sự lựa chọn. Một là nói dối thuyền trưởng, hai là làm sai lời hứa lúc lên đường. “Dù gian khổ đến thế nào, kể cả hy sinh tính mạng cũng quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ”, thế mà sóng gió có hơn một đêm đã đĩnh rút lui. Nếu đánh điện báo cáo, cấp trên gọi về thì còn mặt mũi nào. Anh chậc lưỡi ,”nói dối lúc này không có hại gì”.
Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #7 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2007, 10:50:36 AM »

Thuyền đi ngược sóng, không khác xe bò lên dốc.
Thủy thủ trưởng Nguyễn Văn Ngọc đang ở đầu mũi thuyền, ném xuống nước một mảnh gỗ, mắt theo dõi đồng hồ. Anh Lê Công Cẩn đứng ở cuối thuyền hô “đến rồi”. Hai ba lần họ làm như vậy, Hải Đạo thấy lạ đứng xem. Vì lần đầu tiên trong đời anh đi biển, chưa hiểu đầu cuối ra sao. Mãi đến khi nghe tiếng của Ngọc nói “Mỗi giờ đi được một hải lý rưỡi !” , lúc đó Đạo mới vỡ lẽ.
Sóng vẫn lượn lên trườn xuống như lớp lớp núi non di động. Màu sắc biển tím bầm, loang lổ dễ sợ. Một bức tường sóng vừa đổ ụp xuống mặt khoang, và một bức tường sóng khác lại dựng lên ngay trước mũi tàu. Quần áo mọi người ướt sũng. Chính trị viên Lê Công Cẩn bò lồm cồm tới các vị trí, nhắc anh em đi lại cẩn thận. Những thủy thủ say sóng nằm ở mặt khoang, mỗi người cố bám lấy một cái gì đó để khỏi bị sóng hất xuống biển.
Trong khoang tàu, trừ vị trí làm việc của thợ máy, đều xếp đầy ắp những hòm súng đạn. Đúng ra buồng máy không được xếp đạn ở gần, nhưng do anh em tham chở nhiều nên chẳng kiêng cữ gì hết “ Đằng nào cũng mất công đi một chuyến, chở gằng lên một chút. Đạn để gần máy, nếu nóng quá ta thay nhau xối nước vào nó lại nguội, không sao”. Anh em đã lý sự như vậy. Và bây giờ nằm chênh vênh trên mặt khoang, chịu ướt, chịu rét cũng bấm bụng chịu.
Tới chiều, sóng gió vẫn không hề giảm. Con tàu rồ máy từng hổi mỗi khi chân vịt của nó bị sóng nhấc lên khỏi mặt nước.
Tới chiều, sóng gió vẫn không hề giảm. Con tàu rồ máy từng hồi mỗi khi chân vịt của nó bị sóng nhấc lên khỏi mặt nước.
Anh Cẩn bí thư chi bộ, triệu tập cuộc họp chi bộ. Một câu hỏi được đặt ra “ Đi hay quay trở lại ?”. Riêng anh có thể giải đáp dễ dàng. Vì chuyến ra Bắc sóng gió còn lớn hơn nhiều, anh đã vượt qua được. Điều anh hy vọng ở cuộc họp này, sẽ củng cố quyết tâm của anh em.
Thuyền phó Hấn ở vị trí lái, còn anh em người nằm người ngồi trên mặt khoang. Mỗi người phát biểu rất ngắn, ai cũng muốn biểu thị ý của mình qua giọng nói. Vì vậy cuộc họp có phần gay gắt.
Thuyền trưởng D.  phát biểu :
-   Cho quay lại, đi không được đâu. Tôi không chịu trách nhiệm.
Sau ý kiến thuyền trưởng, anh em nhất loạt giơ tay “ý kiến”, “ý kiến” ồn lên.
-   Sóng gió này vẫn đi được. Nếu chỉ có say sóng thì phải khắc phục.
-   Nếu đã quyết tâm thì khó khăn nào cũng đi.
-   Tôi đề nghị tạm giạt vào một cái đảo nào gần đây.
-   Đi là đi, không có giạt vào đâu cả, chúng ta không nhớ lời đã bàn bạc ở nhà sao. Muốn né tránh địch kiểm soát thì phải đi trong thời tiết xấu. Bây giờ lại chờ, thời tiết tốt mới đi ư ?
Anh thợ máy Lâm Văn Nhạn nói tiếp sau ý kiến của Hải Đạo, với thái độ gay gắt quyết liệt :
-   Mặt mũi nào mà quay lại, khi tàu của mình vẫn đi được. Nếu quyết định quay lại, tôi sẽ nhảy xuống biển.
Cuộc họp chi bộ kết thúc, ý kiến “tiếp tục đi” thắng.
Con taù tiếp tục tiến về hướng Nam. Một hai người muốn lui, cũng đành để cho nó cõng đi theo.
Đêm thứ bảy, tính từ ngày đi, tàu tới vùng biển Vũng Tàu. Gió xuôi, buồm dong lên cùng với máy , kéo thuyền chạy nhanh hơn. Sức khỏe của các thủy thủ đã hồi phục.
Bảy ngày đêm chỉ có thuyền phó Hấn và thủy thủ trưởng Ngọc thay nhau lái. Chân anh Hấn xuống máu phù như chân voi. Mỗi lần rời tay lái đứng dậy, anh lại ngã xuống sàn. Trên đường đi, Đạo thỉnh thoảng lại nhìn bắp chân đỏ mọng như rớm máu của phó thuyền trưởng. Đạo rất thương, giá anh biết lái thay đồng chí thuyền phó tuổi tác ấy.
Mặt biển đêm không có một đốm sáng, không có bóng dáng tàu thuyền qua lại, chỉ có Phương Đông 2 âm thầm không đèn lửa, đang rẽ sóng. Bỗng nhiên phía mạn tàu, ở trong màn đêm sâu thẳm có một hai ánh đèn. Anh Cẩn khẽ reo :
-   Đèn Ô-cấp.
-   Đến đây thì yên trí rồi.
Mọi người đang vui vẻ bàn bạc, coi như chuyến đi sắp hoàn thành,  đột nhiên có ánh đèn pha từ mạn trái quét sát mặt nước.
Anh Cẩn hô :
-   Tàu địch. Hạ buồm xuống !
Anh em lập tức hạ buồm. Cuộc hội ý chớp nhoáng bàn cách đối phó. Nếu địch phát hiện, sẽ chiến đấu đến cùng, không để người và vũ khí lọt tay địch. Bây giờ địch còn chưa phát hiện được ta, phải tìm mọi cách lọt ra khỏi vòng kiểm soát của chúng.
Anh em quan sát báo cáo, số tàu địch không phải là một chiếc. Bốn điểm sáng, mỗi bên hai, đi ngược chiều nhau. Tàu của ta đang nằm ở giữa. Các điếm sáng mỗi lúc một gần. Cách 500 , 400 rồ 300 mét .. Anh em thủy thủ đã vào vị trí chiến đấu, lên đan và mở nắp lựu đạn chờ đợi.
Ánh đèn pha trên tàu đichj cắt mặt biển đêm ra thành từng mảng. Thuyền trưởng D.  lúc này tỏ ra bình tĩnh, linh hoạt. Anh khôn khóe cho tàu ta vòng rộng ra ngoài, bọc sườn biên đội tàu địch, rút ra khỏi khu vực đèn pha địch đang quét, trở về hướng cũ.
Tàu địch đã mất hút mục tiêu, chúng dừng lại quét đèn pha ra xung quanh và đánh tín hiệu cho nhau.
Anh em hồi hộp theo dõi, cho tới khi ánh đèn tàu địch mờ dần và biến vào trong đêm, lúc đó mới thở phào hết lo.
Trời đã sáng rõ. Nhìn thấy rừng đước nhấp nhô, chạy dài theo ven biển , nhiều thủy thủ xúc động không cầm được nước mắt. Quê cũ đây rồi. Sau bao nhiêu năm xa cách bây giờ được gặp lại, vui sướng nào bằng.
Niềm vui chỉ bộc lộ phút giây, rồi lại nhường cho nỗi lo. Trời sáng rồi mà nhìn rừng đước chỗ nào cũng giống nhau. Mấy thủy thủ quê ở gần bến, được cử làm “cố vấn” cho thuyền trưởng, mỗi anh nói một phách.
-   Vòng qua cồn Nóc đi một quãng là tới.
-   Phải đi bốn hàng đáy nữa.
Tàu đã qua khá xa bốn hàng đáy, rồi vòng lại vẫn không thấy đâu là rạch Kiến vàng.
Để ngụy trang, anh Cẩn đã buộc lá cờ ba sọc kéo lên cột buồm. Tàu vẫn chạy chầm chậm theo ven bờ để tìm bến. Một chiếc thuyền nhỏ có người ngồi câu, cách Phương Đông 2 không xa lắm. Ngọc lái tàu của mình tới gần để hỏi thăm đường :
-   Bác ơi ! Rạch Kiến Vàng ở chỗ nào ?
Hình như bác ngư dân ấy đã nhận ra tàu trước mặt mình là của bộ đội Giải phóng. Bác ta tươi cười nói tiếp :
-   Anh Hai tôi cũng mới về cách đây ba bữa.
-   Ai cơ ?
-   Anh Bông Văn Dĩa.
-   Ôi! Thế chú dẫn chúng tôi vào.
Chiếc thuyền câu bơi trước, Phương Đông 2 theo sau, vừa ngoặt vào cửa vàm đã nghe thấy tiếng đạn súng trường rít trên đầu. Người đi trên thuyền câu hét to :
-   Ghe của ta .. Ghe của ta đó. Đừng bắn.
Mấy thanh niên mặc quần áo bà ba, chạy ra bờ rạch , hỏi :
-   Ghe chở gì ?
-   Buôn cá.
-   Cử người mang giấy lên xét.
-   Xin các cậu cho chạy một đoạn nữa.
Anh Tư Đức chỉ huy bến và anh em trong bến đều bất ngờ, không ai nghĩ tàu chở vũ khí ngoài kia về, lại có thể vào bến giữa ban ngày.
Phương Đông 2 đã cập bến. Anh Tư Đức vui mừng mà nước mắt chảy vòng quanh. Anh Đức lên tàu ôm hôn hết người này đến người khác. Anh em trong bến cũng theo anh Tư Đức lên tàu. Không khí khu rừng đước bỗng náo nhiệt vui vẻ. Họ hỏi thăm nhau. Họ kể vắn tắt với nhau những câu chuyện mà thèm được kể từ lâu.
Tiếng bom, tiếng đạn pháo nổ xa gần. Địch đang mở cuộc càn mang cái tên mỹ miều “Tình thương”, ỏ cách không xa khu vực bến.
Anh Tư Đức nói với anh em thủy thủ :
- Các đồng chí đưa hàng vào rất đúng lúc. Không chỉ là vũ khí, mà các đ/c đã đem theo cả tình cảm thương yêu của miền Bắc, của TW Đảng, của Bác Hồ vào giúp chúng tôi phá tan cuộc càn quét của địch.
Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #8 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2007, 04:21:23 PM »

Chương ba

TRƯỞNG THÀNH

Từ tháng 9 năm 1962 đến tháng 2 năm 1963, sau đội thuyền Phương Đông 1 o thuyền trưởng Lê Văn Một và bác Bông Văn Dĩa, bí thư chi bộ kiêm chính trị viên phụ trách, chở 28 tấn hàng vào Vàm Lũng, tiếp theo, ba chiếc, mỗi chiếc chở 30 tấn hàng vào bến Cà Mau.
Hy vọng bao nhiêu năm đã trở thành hiện thực. Những chuyến tàu chở vũ khí đến miền đất xa xôi Nam Bộ, giữa lúc các lực lượng vũ trang đang thiếu từng khẩu súng, từng viên đạn, là một thắng lợi to lớn đặc biệt. Nó đã vượt rất xa cả ý muốn ban đầu của các nhà chỉ đạo chiến lược. Nó đặt nền tảng vững chắc cho niềm tin, việc mở đường chiến lược trên biển là hoàn toàn chính xác. Nó mở ra một triển vọng lớn lao, lâu dài trong công tác vận tải chiến lược trên biển.
Được biết các con tàu đã vào miền Nam an toàn, Bộ Chính trị và Quân ủy TW hết sức vui mừng và chăm lo nhiều hơn tới tuyến đường biển. Hầu như chuyến đi nào cũng vậy : một hoặc hai đ/c Ủy Viên Bộ Chính trị , Ủy viên Quân ủy TW đến tận bến K.20 để kiểm tra việc chuẩn bị và động viên anh em lên đường. Các đ/c TW đánh giá rất cao thành tích của anh em thủy thủ. Đ/c Nguyễn Chí Thanh nói trước các thủy thủ trong một chuyến đi “ Cứ hoàn thành mỗi chuyến đi là được tặng thưởng một huân chương Chiến Công”.
Sự hứa hẹn to lớn của đường biển , đã gợi Quân ủy TW suy nghĩ tới bước phát triển mới của nó. Đến đây, 10 đội thuyền đã trở thành quá ít ỏi, không còn xứng với khả năng của nó có thể gánh vác. Không chỉ nghĩ đến đầu tư vế số lượng, mà phải làm cho công tác vận tải biển thay đổi về chất. Nhà máy đóng tàu 3 Hải Phòng thuộc Bộ giao thông vận tải đưa vào kế hoạch đóng gấp những chiếc tàu vỏ sắt, trọng tải 500 tấn, để dần dần thay thế tàu vỏ gỗ. Tuyển lựa thêm thuyền trưởng, thủy thủ trẻ có kỹ thuật khá ở hải quân đưa sang đoàn 759. Thành lập binh đoàn công tác kho, bến ở Nam Bộ, do Khu ủy Khu 9 phụ trách .. Tất cả đang chuyển động mạnh mẽ, làm cho quy mô vận tải chiến lược trên biển rộng lớn hơn. Trước mắt, đáp ứng nhu cầu tác chiến và xây dựng của lực lượng vũ trang Nam Bộ, và tiến tới đáp ứng nhu cầu vùng ven biển Khu 5.
Quy mô đường biển chiến lược thay đổi, guồng máy chỉ đạo nó không thể giữ nguyên nếp cũ. Một hai đồng chí Ủy viên Quân ủy TW phụ trách “B” chỉ còn là một đầu mối tập trung không thể ôm nổi mọi việc như những ngày đầu; nó phải dựa vào và sử dụng chức năng của guồng máy chỉ đạo chiến lược quốc gia sẵn có, để chỉ đạo. Trong Bộ Tổng Tham Mưu, Tổng Cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần đã dần dần hình thành bộ phận “B”. Bộ phận “B” ấy dành riêng cho đường biển, mọi việc làm bí mật ngay cả với cơ quan của mình. Bộ phận “B” của Bộ Tổng Tham Mưu phụ trách công tác chỉ huy; dựng kế hoạch vận chuyển; nắm tình hình ta, địch trên mặt biển. Bộ phận “B” của Tổng cục chính trị phụ trách công tác chính trị và công tác đảng. Hậu cần chịu trách nhiệm chuẩn bị các loại “mặt hàng” theo kế hoạch của bộ phận “B” Bộ Tổng tham mưu đã vạch. Bộ phận “B” của các ngành theo ngành dọc xuống trực tiếp với Đoàn 759.
Đoàn 759 trơ thành một binh đoàn, có đầy đủ các cơ quan giúp việc người chỉ huy, quân số từ 38 người đã lên tới hàng trăm người. Nó có thể chủ động làm được chức năng của mình. Việc để một đơn vị chiến thuật trực tiếp dưới sự chỉ huy, chỉ đạo của nhiều cơ quan cấp chiến lược đã và sẽ gây ra sự chồng chéo, thậm chí có việc không giải quyết kịp thời. Tháng 8 năm 1963, thường trực Quân ủy TW trao nhiệm vụ chỉ huy, lãnh đạo Đoàn 759 cho Cục Hải quân ( thời kỳ này chưa thành lập Bộ Tư Lệnh Hải quân). Và tới ngày 10/10/1963, Bộ Tổng Tham Mưu đã triệu tập một cuộc họp, có mặt đại biểu của ba cơ quan chiến lược, Cục Hải quân và đoàn 759 do Phó Tổng tham mưu trưởng Lê Đức Anh chủ trì, để xác định mối quan hệ và phương thức làm việc với Đoàn 759.
Ít lâu sau (24-1-1964), Đoàn 759 đổi phiên hiệu là 125, và nhận quyết định của Bộ Quốc Phòng (số 30/QD 29-1-1964) trở thành đơn vị trực thuộc Bộ tư lệnh Hải Quân . Từ đó, sự chỉ đạo công tác vận tải biển từ Bộ Tổng tư lệnh xuống,l chỉ có hai đầu mối : Bộ tư lệnh Hải quân và đơn vị phụ trách bến.
Một mạng điện trời tay ba được thiết lập : Bộ Tổng Tham mưu – Bộ Tư lệnh Hải quân – Đơn vị bến (Khu 9). Hàng ngày, từ những bàn tay mềm mại của các chiến sĩ báo vụ phát ra những tín hiệu rồi chuyển qua làn sóng điện. Và, ở phía xa kia, tận Cà Mau, Hà Nội, Hải Phòng cùng được nghe những tiếng “tích tà ..tích” như tiếng chim gọi bạn. Hệ thống thông tin ấy đã làm tăng thêm tính vững chắc trong mối quan hê giữa chỉ huy với đơn vị thực hiện, gắn bó giữa thuyền với bến, và cũng đã làm tăng thêm sức mạnh của con đường vận tải biển chiến lược .

Các nhà chiến lược đều nhìn nhận rằng việc xây dựng lực lượng vũ trang càng đáng càng mạnh, trong đó việc cây dựng những binh đoàn chủ lực ngày một lớn mạnh, và trở thành lực lượng chủ yếu để giành thắng lợi cuối cùng là một quy luật tất yếu của cuộc chiến tranh cách mạng. Cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam có một đặc điểm lớn, khác với thời kỳ kháng chiến chống Pháp là : ta có một nửa nước đang tiến lên CNXH và một quân đội đang xây dựng chính quy, hiện đại. Từ lý luận và thực tiễn ấy, việc chỉ đạo vận tải chiến lược không chỉ nghĩ đến trước mắt mà đã đi trước một bước.
“Đơn đặt hàng” của miền Nam lúc đó là các loại vũ khí cho du kích. Khi thấy thuyền chở vào có vài loại súng và trang bị kỹ thuật du kích không đủ sức dùng, có cán bộ lãnh đạo địa phương đã đánh điện ra Bộ Tổng Tham Mưu “đề nghị chở vào súng trường, tiểu liên, trung liên, lựu đạn ..Chúng tôi chưa cần súng lớn”. Nhưng chẳng bao lâu, những “Hoàng tử lưng gù” ( Sơn pháo 75), máy bộ đàm .. trở nên rất cần thiết cho chiến trường.
Đón trước sự phát triển của chiến trường, nhu cầu vũ khí và trang bị sẽ tăng nhanh, những chiếc thuyền gỗ trọng tải ba, bốn mươi tấn ấy sẽ không đáp ứng kịp, bộ phận “B” Bộ tổng tham mưu chủ trương đóng tàu sắt có lượng dãn nước 60 đến 100 tấn.
Việc đóng tàu không thể theo kế hoạch bình thường mà phaỉ thật bí mật , khẩn trương. Suy nghĩ đến bí mật trong việc đóng tàu, đ/c Phó Tổng tham mưu trưởng chợt nhớ tới đ/c Ngô văn Năm là một cán bộ quân giới cũ đã từng hoạt động ở chiến trường Nam Bộ cùng với mình nhiều năm. Anh Năm là người chín chắn, có tinh thần trách nhiệm cao, hiện đang là giám đốc ở xưởng đóng tàu 3 Hải Phòng. Việc đóng tàu vận tải chiến lược giao cho anh Năm có thể tin cậy được.
Sau khi liên hệ trao đổi về chủ trương đóng tàu vận tải với Bộ Giao thông vận tải, đ/c cho xe tới đón anh Năm về nhà riêng.
Đã lâu mới gặp nhau, các anh đều tỏ ra vui vẻ, cởi mở. Sau khi thăm hỏi về sức khỏe, gia đình và những người quen cũ, đ/c Phó Tổng Tham mưu trưởng nói tới việc đóng tàu.
-   Có một việc quan trọng phải nhờ đến anh.
Nghe câu nói đó, khuôn mặt tươi cười của anh Năm bỗng trở nên nghiêm trọng và chăm chú.
Phó Tổng Tham mưu trưởng nói tiếp :
-   Hiện nay công việc vận tải chi viện cho miền Nam rất cần một số tàu có trọng tải khoảng 60 đến 100 tấn, chịu được sóng cấp 7. Anh em xưởng đóng tàu của anh có giúp được không ?
-   Dạ .. làm được. Nhất định chúng tôi sẽ làm bằng được để chi viện cho miền Nam .. Tôi nghĩ rằng, việc thiết kế một con tàu lọai ấy không khó. Tôi sẽ phụ vào cùng anh em. Nhưng nếu như đóng tàu có thiết bị vũ khí và tiện nghi thông thường, thì riêng việc thiết kế cũng phải mất hai năm, rồi lại phải kiểm tra thiết kế. Việc kiểm tra thiết kế ở nước mình chưa có điều kiện làm được, phải mang ta nhờ nước bạn, có khi mất ba bốn năm mới thi công được.
-   Nếu như vậy thì chậm quá.
-   Anh yêu cầu bao lâu ?
-   Cáng nhanh càng tốt. Cố gắng trong vòng 6, 6 tháng có thể xuất xưởng được một chiếc đầu tiên.
Anh Năm đăm chiêu một vài giây rồi trở lại vui vẻ :
-   Có thể làm với thời gian ấy, nhưng không thể tiêu chuẩn hóa như những con tàu đóng theo đúng quy trình công nghệ.
-   Miễn là đi được một vài chuyến, rồi bỏ đi cũng không sao.
-   Cũng phải nói để anh thông cảm. Nếu như sản xuất mà không theo quy trình công nghệ, thì anh em kỹ sư họ khó thông lắm đấy. Phải tranh thủ được sự đồng tình của mấy kỹ sư thiết kể.
-   Công việc này đòi hỏi hết sức bí mật. Số người biết mục đích của việc đóng tàu phải thật hạn chế. Nhưng nếu xét thấy cần, cũng có thể cho anh em biết, chắc anh em sẽ không từ chối. Tôi sẽ trực tiếp nói chuyện với anh em.
-   Dạ .. như thế thì ổn rồi. Còn máy tàu, tôi mách với anh, trong kho của Bộ Giao thông vận tải có một số máy Đức mới nhập, lắp loại máy ấy đi đường dài không còn gì đáng lo. Việc xuất kho loại máy ấy phải có chữ ký của Thủ tướng Chính phủ.
Việc triển khai đóng những con tàu hoàn toàn thuận lợi . Anh em kỹ sư và công nhân xưởng đóng tàu 3 Bộ Giao thông vận tải làm việc quên mình.
Tháng 3 năm 1964, chiếc tàu đầu tiên đã ra xưởng ( chỉ trong 10 tháng, xưởng đóng tàu 3 Hải Phòng đã đóng xong 5 chiếc tàu trọng tải từ 50 đến 60 tấn ). Tàu được đưa về cảng K.20. Trung tướng Phó Tổng tham mưu trưởng Trần Văn Trà, đại tá tư lệnh Hải quân Nguyễn Bá Phát cùng đến xem chiếc tàu sắt số 1 ấy. Các anh đều tỏ ra phấn khởi.
Đ/c Nguyễn Bá Phát vừa cười vừa chỉ vào vỏ thép chỗ buồng lái :
-   Anh xem, nó vừa ra xưởng đã được thử thách.
Nhìn vết đạn trên vỏ tàu, đ/c Phó tổng tham mưu trưởng ngạc nhiên, hỏi :
-   Đạn nào bắn ?
-   Đêm hôm anh em nhận tàu ở xưởng đưa về đây, gặp anh em công an vũ trang đi tuần tra. Anh em công an thấy tàu gọi lại để kiểm soát. Sợ đứng lại thì lộ bí mật, nên anh em trên tàu đã cho tăng tốc độ rồi chạy luôn. Vốn anh em công an đã theo dõi và nghi ngờ tàu thuyền của đoàn 125, không mang biển số và thường đi lại ban đêm. Anh em công an nghi là tàu buôn lậu. Họ đã có kế hoạch săn đuổi. Đã có lần họ bắt giữ một chiếc của đoàn 125, chúng tôi phải gặp riêng đ/c giám đôc công an để xin lại. Cũng may là chưa xảy ra thương vong.
Trung tá Hồng Phước xen vào một câu nói vui :
-   Anh em đoàn chúng tôi đã nhận thêm một cái tên “Đoàn taù không số “.
Phó tổng tham mưu trưởng cười lớn :
-   Đúng. Các anh sẽ mang cái tên “ Đoàn Tàu Không Số” cho đến ngày hoàn toàn giải phóng miền Nam.

Sau chuyến đi của các tàu Phương Đông 1 , Phương Đông 2, liên tiếp nhiều chuyến khác vào bến an toàn. Có tháng, hai, ba chuyến đưa hàng vào bến Vàm Lũng (Cà Mau). Sự phát triển của vận tải đường biển với tốc độ không ngờ ấy đã tạo ra những yêu cầu mới. Một phân đội nhỏ làm nhiệm vụ bến không kham nổi. Ở bên Vàm Lũng chưa kịp cất giấu hàng của chuyến trước đã phải đón thuyền sau cặp bến.
Phải quy công tác chỉ huy, chỉ đạo kho – bến vào một đầu mối. Phải coi công tác bến là một bộ phận  quan trọng hợp thành con đường biển chiến lược. Chỉ sau vài chuyến thành công, Bộ Chính trị đã chỉ thị cho khu ủy miền Tây Nam Bộ (lúc đó chưa thành lập Bộ tư lệnh quân khu 9) tổ chức và trực tiếp chỉ đạo đơn vị bến.
Một đơn vị bến-kho tương đương cấp lữ đoàn được thành lập, mang phiên hiệu 962 đảm nhiệm tất cả các bến thuộc tỉnh Cà Mau, Trà Vinh, Bến Tre, Bạc Liêu. Các cán bộ phụ trách đoàn 962 gồm các anh : Nguyễn Văn Phán ( Tư Đức) đoàn trưởng; Sáu Toàn, chính ủy; Hai Tranh, Năm Sớm, phó chính ủy; Bông Văn Dĩa và Tư Mao là đoàn phó.
Cùng một thời gian, đơn vị bến vừa tiếp nhận hàng ở ngoài Bắc đưa vào, vừa phải tiếp nhận người để hình thành các tổ chức của đơn vị mình và tổ chức bảo đảm bí mật kho, bến.
Vừa ra đời, đoàn 962 đã phải gánh một nhiệm vụ vượt quá sức mình. Riêng việc mở bến , làm sao bảo đảm tuyệt đối bí mật cũng là công việc khá nhiều gai góc. Về nguyên tắc, bến không thể đặt ở nơi xen kẽ với dân. Với điều kiện ấy, khó có thể tìm được trong thực tế. Khu rừng dưới Rạch Gốc (Cà mau) có tới 5000 dân ở sâu vào các ngòi lạch nhỏ, làm nghề kiếm cá, đốt than, làm rẫy và tránh sự đánh phá của địch. Bến đón ở Trà Vinh, Bến Tre nằm ngay trong khu vực có nhiều cơ quan tỉnh, huyện ở.
Đoàn 962 được sự giúp đỡ của các tỉnh ủy nói trên, đã vận động các cơ quan và nhân dân nắm trong khu vực bến, dời đi nơi khác. Mỗi cơ quan, mỗi gia đình phải rời bỏ nơi mình đang “ấm chỗ” không dễ dàng. Anh em đoàn 962 đã phân công nhau đến từng cơ quan , gia đình để vận động, thuyết phục. Cuối cùng họ đã vui lòng nhường nơi ở của mình cho quân đội làm nhiệm vụ quân sự.
Có đất đứng riêng biệt, đoàn 962 đã mở nhiều bến phụ ở mỗi khu vực. Tại Cà Mau, không riêng cửa Vàm Lũng, mà các cửa rạch Kiến Vàng, Cái Bằng, Bồ Đề … cũng có thể đón tàu thuyền ra vào an toàn.
Nhiều ngòi lạch lúc đầu nhỏ hẹp, nước cạn, một con thuyền lớn cũng không thể ra vào được. Anh em đoàn 962 đã khơi rộng, đào sâu những ngòi lạch ấy, dài hàng chục km để cho tàu có mức giãn nước hàng trăm tấn đi lại.
Công tác bến ngày càng khó khăn, vất vả. Mỗi lần tàu chở hàng đến, thông thường số người bốc và dỡ, có khoảng trên dưới 20 người mà phải “giải phóng” từ ba đến sáu chục tấn hàng trong một ngày đêm. Mỗi kiện hàng trung bình 50 kg, có kiện hàng nặng tới 500 kg. Anh em chỉ có đôi bàn tay, đôi vai trần với trí thông minh, thay cho những cần cẩu hiện đại. Xong việc bốc vác , vẫn những người ấy, lại đi chặt cây ngụy trang tàu, xếp hàng vào kho ..
Bến bãi ở Cà Mau có nhiều thuận lợi hơn. Có tới 2/3 số chuyến tàu vào đổ hàng ở đây. Khắp cả khu rừng đước vùng Rạch Gốc rộng hàng trăm km vuông, nơi nào có ngòi lạch đi là nơi đó có kho hàng vũ khí cất giấu. Cái kho vũ khí Cà Mau nhanh chóng phình ra. Trong lúc đó ở miền Đông, miền Trung Nam Bộ, các lực lượng vũ trang vẫn thiếu vũ khí nghiêm trọng. Tình trạng không hợp lý ấy đã được nhanh chóng khắc phục.
Bộ tư lệnh miền Nam chỉ đạo lập một tuyến chuyên chở mới; Đoàn 962 tổ chức một phân đội thuyền gắn máy chở hàng từ Cà Máu sang lập kho ở Bến Tre. Hậu cần của Miền tổ chức một đơn vị vận tải đường sông, luồn lách qua vùng đich tới Bến Tre nhận hàng. Kết hợp với vận tải bằng gùi, thồ những kho vũ khí từ Cà Mau, Bến Tre lần lượt đưa đến căn cứ chiến khu D. Các trung đoàn 1, 2 chủ lực miền Đông và du kích đã được trang bị vũ khí của con đường biển cung cấp.
Những chuyến hàng từ kho ven biển đến miền Đông, qua biết bao nhiêu đồn bốt địch, qua bao nhiêu lưới của địch dăng ra để kiểm soát, nhưng các chiến sĩ vận tải kiên cường đã vượt mọi khó khăn, nguy hiểm đưa hàng tới đích.
Logged
TraitimdungcamHP
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 505


« Trả lời #9 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2007, 10:45:45 AM »

.. Công tác kho, bến phục vụ đường biển lúc đó được ngụy trang bằng cái tên “Bộ đội tự túc” để giữ bí mật. Trong lúc ở ngoài căn cứ bến, cuộc chiến đấu đang sôi động, nhiều bà mẹ ở gần bến, không biết việc của anh em làm, đã chê bai “Bọn bay khỏe mạnh như thế mà đi tự túc, sao không giao cho bọn con gái làm thay, ra ngoài kia mà đánh giặc. Hay bọn bay sợ chết ..”. Thậm chí có bà mẹ tìm tới gặp cán bộ chỉ huy để đòi con mình. Bà nói “Tôi cho con tôi đi đánh giặc, chứ tự túc thì các anh cho nó về”. Thêm một khó khăn là : Nói làm sao cho mọi người hiểu được việc quan trọng của mình đang làm, mà vẫn giữ được bí mật.
Việc kho, bến năngh nhọc, âm thầm, chẳng có gì hấp dẫn đối với tuổi trẻ, lại còn điều ra tiếng vào của các bà mẹ, của chị em phụ nữ coi “bộ đội tự túc” không quan trọng bằng bộ đội chiến đấu, làm cho không ít anh em phải dằn vặt, suy nghĩ và sinh ra tư tưởng không yên tâm với nhiệm vụ.
Đảng ủy, thủ trưởng đoàn 962 đã vận dụng nhiều biện pháp tổ chức, giáo dục và lãnh đạo đưa khí thế thi đua của đơn vị ngày một cao hơn. Các cán bộ của đoàn luôn là những nòng cốt của phong trào. Hầu hết cán bộ đều tỏ ra gương mẫu, lăn lưng vào gánh vác công việc nặng nhọc với anh em chiến sĩ. Cộng với những hình ảnh sinh động từ những con tàu đưa tới; những dấu vết vật lộn với sóng gió, trên đường xa xôi hàng ngàn hải lý còn để lại trên khuôn mặt, dáng người của từng thủy thủ; câu chuyện kể về tình cảm của miền Bắc đối với miền Nam; sự quan tâm đặc biệt của Trung ương; những trận đánh thắng có vũ khí của đường biển góp phần ..tất cả thực tế sinh động, giàu ý nghĩa đó làm cho anh em gắn bó với nhiệm vụ của đơn vị.

Những chiếc tàu của đoàn 125 như những cái bóng lặng lẽ, kiên nhẫn, gan góc liên tục rời bến, lặn ngụp trong sóng gió, đến bến, rồi lại rời bến .. Mỗi chuyến đi là một lần làm đẹp thêm, rực rỡ thêm trang lịch sử đường biển. Chỉ trong vòng hơn một năm (9/1962 – 12/1963) đã đưa tới các bến ở Nam Bộ hơn 1000 tấn hàng. Một kết quả “siêu kỷ lục”. Hoàn cảnh lúc đó không có con đường nào khác, không có phương pháp vận chuyển nào khác có thể đưa tới Nam Bộ số lượng hàng như vậy trong cùng khoảng thời gian. Thắng lợi thầm kín nhưng hết sức vang dội ấy khiến mọi người kể cả người lãnh đạo đến thủy thủ đều reo lên “Đây là thời kỳ hoàng kim” của công tác vận tải chiến lược trên biển.
Những chiến sĩ du kích, bộ đội Giải phóng của hầu hết các tỉnh ven biển Nam Bộ lần lượt nhận được vũ khí của con đường biển đưa tới.
Ta có thể mường tượng được phần nào tâm trạng của các chiến sĩ. Khi cuộc càn quét của địch đang đe dọa, đồn bốt của địch như cái gai nằm trong da thịt cần phải nhổ, nhưng trong tay chỉ có “ngựa trời”, đại đao và những khẩu súng trường gỉ, mà bây giờ đột nhiên nhận được những khẩu súng hiện đại và những gói đạn còn thơm mùi sơn thì mới hiểu hết được tâm trạng vui sướng của các chiến sĩ như thế nào ! Anh Năm Đởm ( hồi đó là tỉnh đội phó tỉnh đội Cà Mau) kể lại buổi lễ nhận súng ở rừng đước Rạch Gốc : “.. Tất cả anh em chúng tôi vui mừng sung sướng, nước mắt chảy tràn. Ai nấy đều hôn lên khẩu súng còn đầy dầu mỡ mà mình vừa nhận được. Với những khẩu súng đố , chúng tôi đã đánh thắng địch trong trận Đầm Dơi, Cái Nước ..”
Các đơn vị làm nên chiến thắng Ấp Bắc (Mỹ Tho) cũng vậy. Có thể họ không biết vũ khí từ đường biển đưa tới. Nhưng khi kiểm tra tại sao những chiếc trực thăng của Mỹ lại bị rơi xuống trước mũi xuồng tam bản, những chiếc xe thiết giáp M.114 bị bắn cháy ở bìa làng .. và cuối cùng trên Ấp Bắc đã đánh bại chiến thuật “thiết xa vận” và “trực thăng vận” của Mỹ, chắc chắn họ không quên nhắc đến sự góp phần của những khẩu súng mình đang sử dụng.
Được trang bị tương đối đầy đủ vũ khí, các tỉnh miền Trung, miền Tây Nam Bộ đã phá tan nhiều cuộc càn quét lớn; nhổ nhiều đồn bốt của địch và mở rộng them vùng giải phóng, đẩy mạnh phong trào cách mạng. Chỉ trong một thời gian ngắn, tỉnh Cà Mau, Bến Tre , đã tuyển được hàng nghìn quân thành lập gần hai trung đoàn để góp lực lượng xây dựng chủ lực Miền.
Thắng lợi của phong trào đấu tranh cách mạng của miền Nam, nhất là của Nam Bộ đã phá vỡ một mảng lớn chính quyền cơ sỏ địch, làm “quốc sách ấp chiến lược” của ngụy bị phá sản và “kế hoạch Stalây – Tâylo” của Mỹ bị đẩy lùi một bước hết sức nghiêm trọng. Thắng lợi ấy của cách mạng dẫn đến nội bộ chính quyền ngụy cấu xé lẫn nhau. Bọn tướng tá ngụy đã làm cuộc đảo chính, giết anh em họ Ngô – những tên phản quốc khát maú nhất trong lịch sử.
Phải tranh thủ nắm thời cơ lớn của cách mạng đang đến gần. TW Cục Miền Nam ra nghị quyết đẩy mạnh việc xây dựng và tác chiến của bộ đội chủ lực “ .. ra sức chủ động và liên tục tiến công địch trên khắp chiến trường, đẩy đich vào thế suy yếu hơn nữa .. tạo những điều kiện làm chuyển biến so sánh lực lượng giữa ta và địch ..” ( nghị quyết của TW Cục tháng 3 năm 1964).
Hiển nhiên, vận tải chiến lược đường biển đã trở thành một bộ phận sức mạnh của cách mạng miền Nam. Nhu cầu vũ khí của chiến trường Nam Bộ ngày một lớn và việc chi viện duy nhất chỉ có vận tải chiến lược đường biển có thể gánh vác được. Bộ Chính trị và Quân ủy TW đã lãnh đạo thúc đẩy nhanh tiến độ của nó. Trong quí 1 năm 1964, xưởng đóng tàu 3 Hải Phòng xuất xưởng 5 chiếc tàu có sức chở 50 tấn; và nước bạn chi viện 15 chiếc tàu, sức chở mỗi chiếc từ 100 đến 250 tấn. Từ năm 1962, đoàn 125 đã nhận bổ sung thêm hơn 300 cán bộ, chiến sĩ haỉ quân ưu tú cùng với những chiếc tàu nói trên, biên chế thành 2 tiều đoàn; xây dựng thêm cảng Bình Đông. Trên hai bến cảng Đồ Sơn và Bình Đông thời kỳ này hầu như tháng nào cũng có một con tàu xuất phát ra khơi.

Trở lại câu chuyện về những chuyến đi của những con tàu mới đầu năm 1963. Nhận được những con tàu chính nước mình đóng, anh em đoàn 125 rất phấn khởi nhưng cũng rất lo vì ngoài nhiệm vụ vận tải, họ còn là người thử nghiệm. Anh em chưa kịp tìm hiểu kỹ đặc tính của con tàu đã nhận lệnh lên đường.
Chiếc thứ nhất do thuyền trưởng Đạt và chính trị viên Tiến phụ trách đưa gần 50 tấn hàng vào bến Trà Vinh an toàn (24-3-1963).
Chiếc thứ hai do tàu 6 phụ trách, tiếp tục xuất phát.
.. Đội 6 đã đưa con tàu của mình đi được hơn một nghìn hải lý. Tàu vừa qua quần đảo Trường Sa, thợ máy phát hiện tàu hết dầu. Phó thuyền trưởng Trường Sơn và trưởng máy Tống Bửu Kiên xuống buồng máy kiểm tra. Các anh không tin có chuyện như thế. Khi đi tàu bao giờ cũng mang đủ cơ số và dự trữ thêm hàng chục tấn, đến đây chưa hết nửa đoạn đường dự đình mà hết dầu thì vô lý
Anh em dùng bơm máy, bơm tay để hút dầu. Bơm hoài không thấy dầu lên.
Thật tai họa. Hết dầu giữa biển, làm sao bây giờ ? Thuyền trưởng hạ lệnh tắt máy. Số dầu còn lại chừng một trăm lít nữa chỉ sử dụng cho máy nhỏ chạy để đánh điện cấp cứu.
Toàn đội họp bàn hàng giờ liền, không tìm ra nguyên nhân tại sao lại thiếu nhiều dầu như vậy. Hay là bộ phận xuống dầu làm ẩu, không kiểm tra kỹ nên thiếu dầu mà không biết. Hay là có bàn tay cố tình phá hoại chuyến đi. Hay là .. biết bao nhiêu giả định, rối như tơ vò, chẳng rút ra được kết luận gì. Trong đời làm thủy thủ, chưa có ai gặp tình huống như thế này. Giờ chỉ còn hy vọng cấp trên cho tàu đến cứu.
Báo vụ viên Lê Khánh Hồng vào buồng làm việc. Anh thấy nhịp của “manip” vang dội khác thường, dường như nhịp đập của quả tim mình. Bức điện nhắc lại hai lần “Hết dầu, yêu cầu tiếp khẩn cấp. Tọa độ X-Y”.
Bức điện ấy chẳng làm cho anh em dịu bớt nỗi lo lắng. Ví thử có tàu tiếp dầu tới thì tàu của mình đã trôi dạt tới nơi vô định nào đó, làm sao mà nhận được dầu. Chỉ có máy bay hoặc rađa họa may mới tìm được con tàu nhỏ xíu của mình giữa biển khơi mênh mông thế này. Nhưng ta làm gì có phương tiện ấy.
Từ mấy hôm trước, tàu đi trong sóng gió cấp 6, cấp 7 đến bây giờ lại thả trôi, cho sóng lắc ngang lắc dọc. Thuyền trưởng, chính trị viên và nhiều thủy thủ đã bị sóng đánh gục. Tiếng nấc khan, nôn ọe của hàng chục con người trong khoang gieo vào lòng những người còn khỏe nỗi ngao ngán. Đã sang ngày thứ hai rồi, không sao đặt bếo, nấu nổi nồi cơm.
Tống Bửu Kiên thấy lòng mình chẳng yên. Anh vốn là người lạc quan, nhưng lúc này cũng chẳng kiếm ra được câu chuyện gì nói cho khuây khỏa. Hát vài câu vọng cổ lăng nhăng chỉ nặng đầu thêm. Anh xuống buồng máy, đứng lặng bên cỗ máy lạnh ngắt. Ngắm máy chán lại lên mặt boong, ngắm trời ngắm biển.
Màu xám chì của bầu trời đang nứt nẻ, mở những kẽ hở cho ánh nắng mặt trời xuyên xuống. Mặt biển vẫn tím bầm giận dữ. Tất cả gợi cho anh cảm giác mung lung, như đang chờ đợi một cái gì đó xa xăm, có thể gặp mà cũng có thể không bao giờ gặp.
Từ năm 18 tuổi đến giờ, trong cuộc đời chiến sĩ, anh đã trải qua nhiều nỗi gian truân, nhưng chưa bao giờ anh gặp cảnh ngộ oái ăm như lần này. Nghĩ lại chuyến đi cách đây không đầy một tháng, con tàu vỏ sắt đầu tiên đưa hàng vào Trà Vinh, đi gần tới bến thì bị mắc cạn ở gần đồn địch. Có người nêu ý kiến, ném bớt hàng xuống biển mới mong thoát nạn. Kiên đã cùng một số anh khác kiên quyết bác bỏ. Anh đã cùng các anh Tiến, Nuôi, Mai, Thắng tình nguyện ở lại trên taù, sẵn sàng chiến đấu đến cùng để bảo vệ con tàu. Một ngày thi gan trước tình huống hiểm nghèo, cuố cùng anh em đã đưa được con tàu với số hàng mang theo vào bến an toànl
Trên đời này, chẳng có khó khăn nào giống nhau, nhưng ai là người có ý chí, quyết tâm cao, thông minh gan góc và kiên trì thì người đó sẽ thắng. Nghĩ tới bài học của chuyến đi trước, niềm hy vọng lại nảy nở trong anh. Không được phép thất vọng, anh tự nhủ và cố gắng sục tìm cho ra nguyên nhân.
Kiên xuống buồng máy đưa tay lần theo đường ống dẫn dầu, không thấy hiện tượng gì khác, anh lại lên đứng lặng người suy nghĩ.
Thôi Văn Nam, thợ máy phụ cũng mang tâm trạng như Kiên. Nam nằm nhoài người ra chui vào khoang chứa hàng, một hồi lâu rồi chui ra mặt mày nhễ nhại mồ hôi. Thấy Kiên đi tới gần, Nam nói :
-   Vô lý, không thể có chuyện thiếu dầu.
-   Mình cũng nghĩ như vậy. Cố tìm xem. Có thể có đoạn ống bị dò dầu chảy xuống đáy tàu cũng nên.
Con người tầm thường đứng trước tai biến thường suy nghĩ tìm cách cứu lấy bản thân mình trước đã. Anh em thủy thủ của chúng ta đã vượt lên được suy nghĩ bản năng đó. Trong gian nan họ càng tin nhau, cùng nhâu phấn đấu. Trong tình huống như tuyệt vọng này, họ vẫn tiếp cho nhau niềm hy vọng.
Đội tàu 6 bị thả trôi, không định hướng, sang ngày thứ ba, tàu giạt vào gần một hòn đảo, không xác định được là đâu nữa. Anh em thủy thủ nhìn thấy lá cờ sọc dưa trên đảo. Đúng là bọn ngụy đóng trên đó, không còn sai nữa. Phải làm thế nào né xa chúng được chừng nào càng tốt chừng đó. Anh em tất bật lấy mền chăn, bạt đậy hàng, buộc nối vào nhau thành một cánh buồm. Gió đông nam nhè nhẹ đưa con tàu xa dần hòn đảo.
Tàu nhờ chiếc buồm đẩy đi mỗi giờ được một hải lý, làm bùng lên hy vọng trong lòng mọi người. Có thể đưa tàu trở về được, dù có kéo dài thời gian vẫn còn hơn để nó trôi giạt tự do. Không khí trên tàu trở lại nhộn nhịp vui vẻ. Số anh em bị say sóng cũng thấy tỉnh táo dễ chịu hơn. Họ nấu cơm ăn cho lại sức.
Mấy anh thợ máy vẫn sục tìm xem dầu chảy đi đâu. Nam lại mở sạp chui xuống hầm hàng, dùng mũi ngửi, tai nghe động tĩnh dưới đáy tàu. Một hồi lâu, Nam bò ra, gọi Kiên :
-   Anh xuống mà xem, dưới hầm có mùi dầu !
Với tính hay đùa cợt, Kiên gọi mọi người :
-   Các cậu ơi ! Lại đây ! Thử đánh hơi xem mũi đứa nào tinh.
Mỗi người xuống hầm hàng ngửi một hồi lâu. Bò ra ngoài, người nào cũng nói, cảm thấy có mùi dầu.
Kiên nói với anh em :
-   Mỗi thằng một tay khênh bớt hàng lên xem sao.
-   Khênh nào .. nhanh lên.
Khênh hàng lên mặt khoang xong. Anh em thay nhau áp tai xuống lắng nghe dưới đáy tàu. Mỗi lần tàu lắc lại nghe thấy tiếng “óc ách”.
Đến lượt Kiên. Anh vừa chui ở hầm hàng ra , đã reo lên :
-   Đúng rồi , Lãng ơi ! Chẻ cho một cái sào, chẻ làm tư.
-   Sao lại chẻ sào ?
-   Để chọc xuống xem có dầu không . Mau lên.
Lãng mang thanh trúc vừa chẻ đến. Kiên cầm thanh trúc xuyên qua khe những hòm vũ khí, xuống đáy tàu, rồi nhấc lên. Đầu thanh trúc ướt một đoạn. Anh em thay nhau ngửi chỗ ướt. Người nói “nước”, người nói “dầu”.
Kiên nói với Nam :
-   Cậu xuống cho chạy máy bơm, để chúng tao theo dõi đường nước xem sao.
Máy bơm “xịch xịch” một hồi, vòi nước bên sườn tàu tuôn xuống biển, mặt nước có váng dầu.
Anh em reo ầm lên :
-   Đúng là có dầu rồi !
-   Thôi ngừng bơm. Dứt khoát 100% là dầu xuống đáy tàu. Bây giờ chỉ còn tìm cách hút lên thôi.
Nghe tiếng reo có dầu, tất cả anh em chạy đến tụ tập xung quanh cửa hầm hàng. Mỗi người nói một câu, tự nhiên thành cuộc họp, và ra nghị quyết “Tối nay cho chạy máy phụ, mắc đền lên giả làm tàu đánh cá, để có ánh sáng cho anh em chuyển hàng lên mặt khoang. Thổi nồi cơm nếp và làm thịt nốt mấy con gà để bồi dưỡng .. ».
Anh em đưa những kiện hàng lên mặt khoang, bật tấm ván đáy rồi múc nước ra được một thùng dầu. Mọi người tranh nhau xem. Bây giờ đích thực là dầu rồi, không còn nghi ngờ gì nữa. Anh em ôm nhau mà nước mắt cứ tràn ra. Cũng chỉ tại « mấy cha » xưởng đóng tàu chưa có kinh nghiệm, đặt ống dẫn dầu nối ngay trên sạp chứa hàng. Hòm hàng đè lên ống dẫn. Sóng lắc đi lắc lại, thế là ông võ toác ra. Mấy cậu hậu cần suýt nữa mang tiếng oan. Lại khổ mấy thằng mang dầu đi cấp cứu, lang thang trên biển tìm mò chẳng được tích sự gì. Đánh điện báo cáo mấy ông ở nhà biết đã tìm thấy dầu rồi chắc các ông ấy tưởng cánh này điên. Sao lại có chuyện « hết dầu : lại « tìm thấy dầu » ở giữa biển ! Rồi thành chuyện cười đến vỡ bụng ra mất.
Logged
Trang: 1 2 3 4 5 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM