Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 18 Tháng Một, 2019, 02:04:33 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trận Chư tan Kra  (Đọc 107580 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
do hoi
Thành viên
*
Bài viết: 6


« vào lúc: 05 Tháng Năm, 2009, 11:35:53 AM »

http://thethaovanhoa.vn/306N20090428091839176T132/nhung-vong-hon-tren-dinh-chu-tan-kra-bai-1.htm

Trong dịp 30-4 vừa qua bác TT-VN có đăng loạt bài này. Viết khá là cảm động nhưng đọc tôi vẫn cảm thấy có một số vết gơn mong các bác chỉ giáo
Trích dẫn
“Lính mũ sắt” là một trong những đơn vị được tuyển chọn đặc biệt, sức khỏe A2 trở lên, lý lịch ít nhất phải là Đoàn viên, và đều là người Hà Nội gốc. Sau khi luyện quân kỹ lưỡng ở Thái Nguyên như cõng đá ngay cả lúc nghe điều lệnh để rèn sức bền thể lực, đánh trận giả ở Hòa Bình… đơn vị bộ binh này được trang bị tối đa các quân trang, khí tài hiện đại nhất thời đó, như mũ sắt của Liên Xô, là đơn vị đầu tiên được sử dụng B41, và chuyển quân bằng xe Giải phóng vào chiến trường
Sao chưa bao giờ thấy nhắc đến đơn vị " Lính Mũ sắt" này nhỉ. Mục đích thành lập đơn vị như thế này để làm gì. Hình như B41 đã được đưa vào đánh nhau với Mỹ từ 66 thì phải.
Trích dẫn
Chiến lệ là các trận đánh, có thể thành hay bại, được tổng kết và biên soạn lại thành bài giảng cho các sĩ quan học, minh hoạ cho một chiến thuật hay một vấn đề nào đó trong trong thực hành chỉ huy chiến đấu, đầy đủ sa bàn, lực lượng hai bên, diễn biến trận đánh cũng như thương vong và dư luận sau đó. Nhưng Chư tan Kra – trận đánh chấn động nước Mỹ (xin nhấn mạnh) - không có chiến lệ. Nó chỉ có trong ký ức mãi mãi không thể nào quên của chừng một trăm người còn sống của tiểu đoàn 7, sư 312 ngày ấy.
Tại sao một trận đánh lớn như thế mà lại không có chiến lệ? Vì lý do gì ?
Trích dẫn
B41 bắn khiếp thật, tầm bắn 500 – 600m trên mặt đất, nóng tới 4.000 – 4.5000C. Các con giời bên kia cứ nghe tiếng B41 là biết ngay đang ở gần các Anh Hai Bắc Kỳ. Đoành tiếng nổ đầu nòng, rồi không cần nhìn, chỉ cần nghe bùng một phát là trúng rồi. Cứ mỗi lần bóp cò xong là một lần bị lộ vị trí, pháo của nó dập tới như mưa, bọn tớ toàn phải đặt súng lên cái chạc rồi buộc giây vào cò giật nổ, rồi chui ngay vào hầm. Vãn tiếng pháo lại chui lên làm phát nữa. Không biết có phải vì thế mà tớ còn sống không, chứ bom đạn mù trời có tránh mình thì tránh chứ mình làm sao mà tránh được? Nó không tránh thì giờ cũng xanh cỏ cả rồi.
Đọc đoạn này .... tuy rất cảm động về sự hy sinh của " lính mũ sắt" nhưng nếu quả thật như thế này thì các anh làm xấu cho bộ đội và không xứng là những người lính được tuyển chọn và luấn luyện ngặt nghèo ( như đã nói phía trên.
Cuối cùng xin các bác ở đây có tư liêuh gì về trận đánh này và " linh mũ sắt" cho cho mọi người biết với.


Sửa lại đường link + đổi tên topic cho dễ theo dõi.
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Năm, 2009, 01:49:16 PM gửi bởi Tunguska » Logged
chiangshan
Thành viên
*
Bài viết: 3406


No sacrifice, no victory


WWW
« Trả lời #1 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2009, 11:46:25 AM »

Trích hồi ký cụ N.H.An:

Khoảng tháng 2 [1968] Bộ tăng cường cho B3 trung đoàn 209, chuyển quân bằng ô tô. Trung đoàn này được trang bị mạnh, cả tiểu đoàn đều trang bị mũ sắt, khá đông trong số quân nhân được tuyển trong nhà máy gang thép Thái Nguyên, thể lực tốt, tinh thần hăng hái. Lúc đó người chỉ huy nào nhìn thấy cũng đều trầm trồ ước ao. Tháng 3 năm 1968 một tiểu đoàn của trung đoàn 209 được đưa vào thí nghiệm chiến thuật "vây lấn" ở Chư Tâng, đơn vị bị thương vong khá nặng nhưng đã trở thành bài học tốt cho việc thực hiện chiến thuật "vây lấn" sau này.
Logged

Dân ta phải biết sử ta
Cái gì không biết cần tra Gúc gồ
tuaans
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 3774


« Trả lời #2 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2009, 11:54:06 AM »

Rừng tại ngọn núi này đang bị chặt để lấy gỗ, đốt để trồng sắn !


(nguồn: xem properties của hình)
Logged
ktscuong
Thành viên
*
Bài viết: 27


« Trả lời #3 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2009, 11:58:18 AM »

Em cũng đã đọc hồi ký của cụ NHA, đơn vị này khi mới vào B3 được tung ngay vào trận để thí điểm chiến thuật vây lấn sau đó bị thiệt hại khá nặng. Thời điểm đó sau 1968 ta chịu thiệt hại rất nhiều trước sự phản kích của địch, đọc hồi ký của cụ NHA và Đặng Vũ Hiệp là ta có thể hiểu được phần nào...
Logged
chiangshan
Thành viên
*
Bài viết: 3406


No sacrifice, no victory


WWW
« Trả lời #4 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2009, 01:24:50 PM »

http://thethaovanhoa.vn/306N20090429011542936T132/nhung-vong-hon-tren-dinh-chu-tan-kra-bai-2.htm

Những vong hồn trên đỉnh Chư tan Kra (Bài 2)
Ghi chép của Việt Thường

Bài 2: Quân Anh Cả Đỏ Mỹ đụng độ Lính Mũ Sắt Hà Nội

4. Anh Ngọc kể: các cậu biết không, trước mỗi trận chống càn, nghe tiếng cánh quạt trực thăng lạch phạch bay lấm chấm như ruồi trên đường chân trời dội tới, hoặc tiếng pháo bầy rít trong gió, tim tớ như thắt lại. Xe tăng đi sau, xe ủi đi trước, bao nhiêu mìn chống tăng bọn tớ cài đều bị ủi tung lên cả. Loại mìn này phải đủ trọng lượng đè lên thì mới nổ, không thì phải dùng kíp. Còn loại mìn định hướng DH 10 mà tớ mất toi con mắt trái, ông mãnh đi cùng tớ để dây cháy chậm dài quá, đã thế lại chôn cách hầm có 2m, tớ thụp xuống đếm đúng đến 5 thì chồm dậy quạt AK, ai ngờ 2 giây sau mới nổ, thổi bay cả trung đội địch phía trước nhưng dội mảnh về sau toi luôn cả con mắt trái của tớ.


“Tập kết” thông tin sau khi chia nhau tìm kiếm

Nghe tiếng nghiến của xích sắt, nhìn lính lố nhố đi sau, bộ binh có, bắt tỉa thi thoảng cũng có, mười trận cái cảm giác sợ ban đầu ấy giống như nhau cả mười. Nhưng khi đạn bắt đầu nổ thì tớ bình tĩnh lại, đầu hoàn toàn trống rỗng. Đánh địch vận động, mình cứ nổ súng xong là trực thăng nó ùa tới. Anh em túm tụm chạy một đường, còn tớ thì chạy một đường. Bao giờ nó chả đuổi theo đám đông? Không biết có phải thế mà tớ sống sót không? Lỡ có lạc, tớ phải kiếm chỗ nào ngủ phát cho tỉnh táo đã, rồi 1h chiều bắt đầu đổ bóng mặt trời tớ cứ cắt hướng Tây mà về, là tới đơn vị. Đi giữa trưa, la bàn không có thì chỉ có lạc thôi. Chống càn chính mắt tớ trông thấy anh em có đứa bị sập hầm, xe tăng của nó biết bên dưới có lính mình, cứ chà đi chà lại trên nóc. Bây giờ thi thoảng bố nó lại đến hỏi tớ, cậu có tin gì về em nó không? Tớ toàn phải trốn, không dám gặp. Hòa bình rồi mà tớ vẫn còn phải nghe tiếng súng đấy. Dạo tớ mới ra quân, đi câu cá trộm, bị một chú bắn chỉ thiên. Đòm được một phát thì thấy chú ta loay hoay loạch xoạch. Tớ đứng bên này hồ cười to: bị kẹt đạn là khổ lắm em gì ơi. Anh Đồng nói: bọn mình có đi như thế này mới hiểu về nỗi ám ảnh chiến tranh của các cựu binh.

Anh Vĩnh kể: Hồi bọn mình nhập ngũ phiên hiệu đơn vị là C5, D7, E209, F312, nhưng vào đến chiến trường thì đổi tên thành Công trường 320, Nông trường 1. Công trường là tiếng lóng của cấp Trung đoàn, Nông trường là của Sư đoàn. Tớ nằm trong đại đội hỏa lực B41, nhưng ban đầu chỉ được phân công vác tòng teng mỗi ba quả đạn cùng mấy trái lựu đạn và thủ pháo. B41 bắn khiếp thật, tầm bắn 500 – 600m trên mặt đất, nóng tới 4.000 – 4.5000C. Các con giời bên kia cứ nghe tiếng B41 là biết ngay đang ở gần các Anh Hai Bắc Kỳ. Đoành tiếng nổ đầu nòng, rồi không cần nhìn, chỉ cần nghe bùng một phát là trúng rồi. Cứ mỗi lần bóp cò xong là một lần bị lộ vị trí, pháo của nó dập tới như mưa, bọn tớ toàn phải đặt súng lên cái chạc rồi buộc giây vào cò giật nổ, rồi chui ngay vào hầm. Vãn tiếng pháo lại chui lên làm phát nữa. Không biết có phải vì thế mà tớ còn sống không, chứ bom đạn mù trời có tránh mình thì tránh chứ mình làm sao mà tránh được? Nó không tránh thì giờ cũng xanh cỏ cả rồi.


Mỹ đổ quân chỉ có thể ở nơi này

5. Lại anh Vĩnh kể: Bọn tớ vào Kon Tum đợt ấy là được giao nhiệm vụ đánh cứ điểm Kleng – một trung tâm huấn luyện biệt kích, thám báo của Việt Nam Cộng Hòa. Không hiểu trong lúc hành quân để lại nhiều dấu chân hay có ông nào đánh rơi vỏ bao thuốc lá Bắc gì đó khi bò vào trinh sát hay không, nhưng bị lộ. Mỹ lập tức pháo kích, điều B52 ném bom rải thảm vào những chỗ nghi bọn tớ ém quân, rồi khoảng 10h sáng nhảy ra tạo một cứ điểm chặn đường tấn công. Đó chính là Chư tan Kra. Chúng thả chất độc hóa học trên các đỉnh núi xung quanh, còn cứ điểm chính thì ném bom phát quang trước để đào công sự và ném bom cháy để không bị rừng cây rậm rịt hạn chế tầm nhìn. Sau đó, chúng cho cần cẩu bay CH 47 Chinook trước hết cẩu máy ủi tới, rồi cẩu pháo tới lập trận địa, sau đó là dây thép gai và cả lô cốt di động đúc sẵn. Chỉ trong hai ngày, cứ điểm đã xong, chót vót trên đỉnh núi khoảng 1 tiểu đoàn lố nhố cả da trắng lẫn da đen. Bọn tớ nấp trên sườn đồi bên này còn nghe rõ tiếng xì xồ của công binh Mỹ. Buổi chiều, trực thăng mang nước tới, cả tiểu đoàn Mỹ thay nhau trần như nhộng tắm dưới nước thả từ trên không xuống. Rất ngạo mạn. Về sau này mới biết, đó là lính của Sư đoàn Anh Cả Đỏ Mỹ. Bọn tớ lính mới, trang bị tới tận chân răng, dọc đường hành quân thương binh chuyển ngược ra Bắc ai cũng bảo, các ông không đi nhanh thì vào Sài Gòn nhặt ông bơ à, nhìn thế nóng máu lắm.

Thời điểm này Mỹ thường xông ra tiền tuyến để “làm gương” cho lính Việt Nam Cộng Hòa. Tiểu đoàn 7 xin nổ súng vì nhận định rằng, nếu không đánh Chư tan Kra sẽ không thể đánh được Kleng, và nếu không đánh sớm thì đỉnh núi này sẽ ngày càng kiên cố hơn, hàng rào dây thép gai mỗi lúc một bò xuống sát chân núi hơn. Càng đánh sớm, càng bớt xương máu. Trên cho phép 3 đại đội của tiểu đoàn 7 mật tập, công kiên vào Chư tan Kra. Anh Đồng nói: nguyên tắc công kiên – tấn công trận địa kiên cố - là lực lượng phải từ 3 đến 5, thậm chí là 10 đánh 1. Vậy mà lính mũ sắt Hà Nội xin đánh một tiểu đoàn Mỹ trong lô cốt, chiến hào, công sự. Dám “chơi” như thế cơ mà! Có lẽ sau Tết Mậu Thân, truyền thông Mỹ thổi phồng việc Việt Cộng đã kiệt quệ trên mọi chiến trường, nên cũng không ngờ có thể bị đánh một trận vỗ mặt như vậy.

6. Đó là đêm 25/3/1968. Các đơn vị của tiểu đoàn 7 im lìm nằm phục trên các triền đồi của đỉnh Chư tan Kra, hướng lên phía cứ điểm Mỹ trên cao. Trong tay là súng, trước ngực là cơ số đạn cá nhân, thắt lưng là lựu đạn, buộc chéo trên vai là chiếc võng dù bất ly thân, chiếc “áo quan di động” sẽ được quấn quanh người nếu chẳng may chủ nhân nằm xuống. Thời gian như dài cả trăm năm. Cỏ Chư tan Kra mọc trên đất đỏ thật sắc, nhưng đọt cỏ vẫn ngọt và mềm. Chỉ có tiếng súng bắn cầm canh hú họa từ lô cốt, và vài quả đạn pháo từ hướng sân bay Kleng vu vơ bay tới. Khoảng 2h sáng ngày 26/3/1968, một phát pháo hiệu của chỉ huy trận đánh bay vụt lên bầu trời đêm, ngay sau đó vang lên tiếng kèn xung phong, đúng như bài tập. Lập tức tiếng mìn DH10 dựng chếch để thổi tung hàng rào dây thép gai thi nhau nổ. Cửa mở. Đồng loạt những tiếng thét xung phong vang lên bốn phía. Tiếng cối 60, cối 82 thi nhau rót vào cao điểm, tiểu liên AK nổ đanh gọn từng loạt ngắn, tiếng đại liên bắn lên như xé vải, tiếng lựu đạn, rồi tiếng thủ pháo chuyên dùng để diệt hầm ngầm thi nhau nổ. B41 bắt trượt lô cốt phụt thẳng lên trời, súng phun lửa tạo nên các quầng sáng chói mắt, chạy loằng ngoằng trong công sự. Xung phong, lớp nọ đến lớp kia.


Đường rừng

Tiểu đoàn Mỹ trên Chư tan Kra hỗn loạn. Tiếng hét, tiếng tiểu liên cực nhanh AR15, tiếng các ụ đại liên khai hỏa. Pháo dù bắn tứ tung bốn phía sáng như ban ngày, mìn định hướng Claymore thổi ngược xuống chân núi. Chỉ ít phút sau pháo bầy ùa tới dập xuống khắp bốn phía chân cao điểm, rồi máy bay tiêm kích Mỹ lao tới cắt bom. Một chiếc máy bay vận tải C130 chở súng máy có tốc độ bắn 6.000 phát/phút được điều tới, điên cuồng vãi đạn xuống xung quanh Chư tan Kra theo hình xoáy trôn ốc, càng lúc càng thu dần lên đỉnh. Ai đó ở tiểu đoàn đã chĩa thẳng đại liên lên trời bắn C130 mà không biết rằng không bắn tới.

Ròng rã tới khi trời hửng sáng, cả tiểu đoàn Mỹ giờ chỉ còn co cụm lại duy nhất trong chiếc lô cốt mẹ trên đỉnh Chư tan Kra. Trực thăng Mỹ bắt đầu ùa tới đổ thêm quân, tái chiếm cao điểm. Pháo bầy vẫn không ngừng bắn, thêm cả bom B52 rải rung chuyển các hẻm núi xung quanh.

Buổi sáng ngày 26/3 năm ấy, mấy người lính anh nuôi bầy cơm nắm ra la liệt mà chẳng thấy mấy người về ăn, hu hu khóc: “Chúng mày ơi, đi đâu hết cả rồi?” 70% lính mũ sắt Hà Nội tham gia trận đánh đầu đời đã không trở về nơi dấu quân, một số người đã chết trong bệnh xá tiền phương, còn tuyệt đại đa số họ, hơn 200 người đã nằm lại đỉnh Chư tan Kra trước lúc bình minh lên.

Một sỹ quan của huyện đội Sa Thầy, Kon Tum khẳng định, Chư tan Kra ở đây chứ không thể ở huyện nào khác cả. Bản đồ quân sự tuyệt mật được mở ra để cùng nhau xác định lại cao điểm mà, Mỹ đã từng đổ quân chặn hướng tấn công. Hóa ra Chư tan Kra hùng vĩ dài tới gần chục km, và có tới 7 đỉnh núi lớn. Chiến trường xưa ở chỗ nào? Huyện cắt cử hai trung úy và hai binh nhất vừa để dẫn đường vừa mang vác hộ đồ đạc tới bất cứ nơi nào mà các anh muốn tới. Dốc ngược. 5 người thương binh dè sẻn từng bước một. Nắng gắt, xói đỏ những phần da thịt để trần. Ngày 25/3/2009, chúng tôi chia nhau thành hai hướng, lang thang trên triền Chư tan Kra, đi qua hết cơn mồ hôi này đến cơn mồ hôi khác. Các ký ức được lục soát, mọi giác quan được đánh thức. Hồi ấy tớ chuyên lấy góc phương vị cho cối 82 từ dưới chân ngắm lên đỉnh, sau trận này tớ còn đi vòng quanh nã hơn trăm phát vào cứ điểm trả thù, tớ nhớ thế này; tớ đi điều nghiên trinh sát tớ nhớ thế này; hôm ấy tớ là liên lạc cho thủ trưởng đại đội, tớ nhớ thế này… Có phải đây không, giữa vùng đất bạt ngàn cổ thụ ngày nào giờ chỉ còn là một thung lũng hoang tàn đất đỏ. Chỉ còn 24h nữa thôi, phải tìm cho được, ngày mai đã là cái giỗ đầu tiên sau 41 năm hiu quạnh của “tụi nó” rồi.

Trên một con dốc, tôi quay lại thấy anh Ngọc đứng thở dốc và lẩm bẩm với một con châu chấu voi đang giã gạo trên tay: Châu chấu voi ơi, mày có biết đồng đội tao nằm ở nơi nào không? Sóng di động chập chờn. Anh Đồng gọi: hẻm bên này dân sơn tràng bảo từng nhặt được hàng trăm mũ sắt, chắc chắn là nơi bọn mình đã ém quân. Cuối chiều, anh Vĩnh gọi về từ một mỏm núi: tớ tìm thấy công sự của Mỹ rồi.

(Còn nữa)
Logged

Dân ta phải biết sử ta
Cái gì không biết cần tra Gúc gồ
chiangshan
Thành viên
*
Bài viết: 3406


No sacrifice, no victory


WWW
« Trả lời #5 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2009, 01:26:30 PM »

http://thethaovanhoa.vn/306N20090430085030473T132/nhung-vong-hon-tren-dinh-chu-tan-kra-bai-3.htm

Bài 3: Bí mật trong lòng đất

7. Tờ tin “Lập công” của các lực lượng vũ trang giải phóng Tây Nguyên số ra ngày 28/3/1968 viết: “Đêm 25 rạng sáng ngày 26/3/1968, K4 (mật danh Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 209) đã đánh một trận tập kích tốt, tiêu diệt gần hết một Đại đội bộ binh, một đại đội pháo binh và một tiểu đoàn bộ Mỹ. Giặc Mỹ đã phải thừa nhận: “Đây là một trận đánh rất táo bạo, phía Mỹ đã bị thiệt hại vừa”. (Thiệt hại nặng phía Mỹ mới thừa nhận như vậy). Để đánh thắng, các chiến sỹ K4 đã nêu cao tinh thần dũng cảm, kiên cường vượt qua hy sinh ác liệt, quyết tâm xốc tới tiêu diệt quân thù.
 

Tàn hương thắp trong ngày giỗ

Đó là xung phong chớp nhoáng, mãnh liệt và đồng loạt của bộ binh C1 và C2 ngày từ phút đầu nổ súng, đã vượt qua cửa mở xông thẳng vào đánh chiếm các ụ súng, rồi nhanh chóng phát triển vào trung tâm đánh phá các trận địa pháo và chỉ huy sở địch, với lối đánh táo bạo bằng thủ pháo, lựu đạn, tiểu liên bắn gần, bất chấp sự chống trả điên cuồng của địch trong cơn tuyệt vọng đã oanh tạc bừa bãi bằng mọi thứ bom phá, bom bi, bom lân tinh. Đó là sự hiệp đồng rất đẹp của các phân đội trợ chiến chi viện đắc lực cho bộ binh xông lên diệt địch. Đại liên bắn điểm dừng từng đoạn ngắn vào hỏa lực địch. Xạ thủ Phạm Ngọc Thái bị thương lùi về phía sau băng bó xong lại băng lên chiến đấu. B40, B41 lần lượt hạ hết các ụ súng này đến các ụ súng khác và luôn có mặt ở bất cứ chỗ nào cần có mặt. Xạ thủ Trần Đức Chính luôn luôn động viên thương binh “các đồng chí cứ bình tĩnh, chúng tôi sẽ trả thù cho các đồng chí”. Xạ thủ Trực sau khi đã hạ được 3 ụ súng đã ngồi hẳn lên trên xác Mỹ tiếp tục dùng tiểu liên diệt địch; đó là hành động cụ thể, dũng cảm và tiên phong của những cán bộ đảng viên như đội trưởng Ân, chính trị viên Bắc, như phân đội trưởng Ngô Xuân Lâm, phân đội phó Nhạc; như Lê Sĩ Nhật luôn xông xáo chỉ huy đơn vị xốc tới, như Nguyễn Văn Kháng một mình đánh địch bảo vệ thương binh diệt hàng chục Mỹ bằng tiểu liên, lựu đạn. Đó là tình yêu thương đồng đội và quyết tâm tiêu diệt địch của các đồng chí phục vụ như y tá Bắc, văn thư Tứ, đưa hết thương binh ra ngoài an toàn rồi quay lại dùng tiểu liên, lựu đạn diệt địch. Tinh thần dũng cảm của cả một tập thể dũng cảm kết hợp với lối đánh gần, đánh nhanh, đánh thọc sâu đã đem lại cho K4 một trận thắng lớn mở ra nhiều triển vọng cho đơn vị và cho toàn đoàn. Hoan hô K4! Hoan hô các binh chủng phối thuộc, chắc chắn trong những ngày tới các đồng chí sẽ lập nhiều thành tích xuất sắc hơn nữa”.

Cuốn “Lực lượng vũ trang Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước”, NXB QĐND năm 1980, trang 135 viết: “Nổi bật trong đợt này là trận Chư tan Kra ngày 26/3/1968, diệt gọn 2 đại đội và một trận địa pháo Mỹ. Tại đây diễn ra nhiều cuộc giáp chiến giữa ta và địch. Chiến sĩ ta dùng lựu đạn, thủ pháo giành giật với địch từng khẩu pháo, từng mỏm đồi dưới tầm bom đạn ác liệt để giữ vững các điểm cao”.

Cuốn “Lịch sử trung đoàn 209, Sư đoàn 7”, NXB QĐND 2004, trang 94 – 95 viết: “Trong trận tiến công tiêu diệt quân Mỹ ở cao điểm 995 (thuộc núi Chư tan Kra), 204 lính Mỹ đã bị tiêu diệt, ta bị thương và hy sinh hơn 200 đồng chí. Trận đánh Mỹ đầu tiên tại cao điểm 995, trung đoàn không dứt điểm nhưng là trận đánh mở màn của trung đoàn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ trên chiến trường Tây Nguyên và Nam Bộ. Trận đánh đã thể hiện rõ ý chí kiên cường, tinh thần chiến đấu gan dạ, không sợ hy sinh của cán bộ, chiến sĩ trung đoàn 209, đó chính là truyền thống của một trung đoàn đã được xây dựng từ những ngày đầu chống thực dân Pháp xâm lược. Hôm nay, truyền thống đó lại tiếp tục phát huy trên chiến trường chống Mỹ. Nhiều gương chiến đấu anh dũng đáng được nêu gương học tập như đồng chí Nhạc (đại đội phó đại đội 1) bị thương lòi ruột, tự tay mình nhét ruột vào để tiếp tục chỉ huy bộ đội chiến đấu; như đại đội trưởng Ngô Xuân Lâm một mình ôm bộc phá xông lên diệt lô cốt địch cho bộ đội xung phong, rồi sau đó chỉ huy bộ đội chiến đấu liên tục cho đến lúc hy sinh”.


Chiếc xe Reo chở nhóm đi tìm đồng đội tới nơi cùng kiệt của đường mòn.

Cũng trong cuốn sách trên, trang 99 viết: “Ngày 28/3/1968, trung đoàn được lệnh cơ động về vị trí tập kết ở dọc sông Sa Thầy để củng cố, bổ sung quân, rút kinh nghiệm và nhận thêm súng đạn, lương thực, thuốc men… Trong khi trung đoàn đang tập trung rút kinh nghiệm thì trên thông báo: Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Thường trực Quân ủy Trung ương “nhiệt liệt khen ngợi những thành tích vừa qua của quân dân Tây Nguyên”, đồng thời chỉ thị “hãy thừa thắng xông lên, đánh mạnh, đánh trúng, đánh giòn giã hơn nữa”.

8. Tại thôn 4 thị trấn Sa Thầy, Kon Tum, chúng tôi gặp Ka Pa Rối, 62 tuổi, cựu cán bộ của huyện đội H67, thương binh ¼ cụt cả hai chân, đang ngồi hóng mát trên xe lăn ở hiên nhà. Ka Pa Rối hỏi ngay, mấy cậu vào đây tìm anh em hả? Tớ biết đêm tháng 3 năm ấy anh em mình hi sinh ghê gớm lắm, bò vào đến hàng rào thứ 3 chúng nó mới biết. Đã có cựu chiến binh Mỹ về đây tìm hài cốt, qua hỏi tớ có chôn ai người Mỹ không, tớ bảo đồng đội tao còn chưa chôn được kia kìa. Quanh Sa Thầy đây, mà tớ quen gọi là “Sa Lầy”, B52 rải ác liệt vô kể, một nhát xẻng xúc lên thấy 3 – 4 anh cùng nằm dưới một gốc cây. Ka Pa Rối bắt cả đoàn vào nhà uống rượu cần, rồi giải thích bằng tiếng Gia Rai: Chư tan Kra nghĩa là “núi chính giữa”.

9.  Sáng sớm 26/3/2009, chúng tôi qua chợ Sa Thầy sắm đồ lễ cho đám giỗ tập thể đầu tiên sau 41 năm. Mấy anh đã đặt nhà hàng ở huyện hai nồi xôi nếp, hai con gà luộc, ở chợ mua thêm hương nến, vàng mã, hai nải chuối còn xanh, bó cúc vàng, túm muối, mấy gói thuốc lá Ngựa, cân chè… Lính chết trẻ chưa biết yêu là gì, bọn mình có nên mua trầu cau không? Cái gì cũng hỏi nhau, bàn bạc cẩn thận. Chúng tôi leo lên một chiếc xe Reo chuyên đi nương của bà con để thuê chở tới nơi cùng kiệt của đường mòn. Lại dốc ngược. Lại nắng đổ lửa. Lại những cơn mồ hôi thấm đẫm sống lưng. Chiến trường đi vẫn khó nhọc như xưa, chỉ khác là hòm đạn pháo vác trên vai ngày nào giờ được thay bằng thùng bia Hà Nội. Anh Vĩnh chia cho các bạn mấy lát sâm Hàn, còn anh Đồng thì chia thuốc viên tăng lực. Đường rừng lúc bạc phếch nắng, lúc bóng ngả âm u. Những triền đồi rải chất độc hóa học, sau bao năm tháng vẫn vàng ệch một mầu cỏ cháy. Tiếng cưa bằng máy của lâm tặc liên tục dội tới, xót xa. Hẳn thợ sơn tràng không biết nơi này từng thấm máu biết bao người. Dãy nhà những người Thái – người Mường Thanh Hóa di cư vào ở giữa thung lũng Chư Mom Ray mỗi lúc một bé lại sau lưng. Càng lên gần tới đỉnh cao 995, công sự, hố bom, lô cốt, hầm cá nhân càng dầy đặc. Mưa rừng Tây Nguyên dù dữ dội, vậy mà bao nhiêu năm tháng qua nơi đây dấu tích vẫn còn nguyên, dường như các vong hồn vẫn có ý chờ đồng đội tới.


Lớp  lót mũ sắt Mỹ bị đạn xuyên thủng nhặt được trên đỉnh núi

Ở một rừng cây gần sát đỉnh, chúng tôi hạ trại, mắc võng theo cách mắc thời chiến, càng ngồi càng chắc, nếu có lệnh di chuyển chỉ cần với tay giật đầu dây cuốn lại là có thể tiếp tục hành quân. Chúng tôi chọn nơi có hai thân cây đổ vắt lên nhau, chặt cành xếp lên thật chắc chắn, làm một cái bàn thờ dã chiến. Hương nhanh chóng bay lan tỏa. Năm người lính mũ sắt Hà Nội đều chảy nước mắt, xếp hàng khấn: bọn tớ là Đồng, Chúc, Ngọc, Vĩnh, Tứ, xin được thay mặt anh em trung đoàn 209 vào thắp nén nhang cho các cậu. Ngày mai 27/3, anh em ở Hà Nội sẽ họp để tập hợp danh sách các cậu còn nằm lại ở đây. Các cậu bàn nhau xem, nếu muốn được quy tập về thì bọn tớ sẽ công bố thông tin, làm việc với các cơ quan chính quyền, quân đội, nhờ giúp đỡ. Còn nếu chỉ muốn ở đây với nhau thì bọn tớ sẽ dựng một tấm bia dưới chân núi đề tên từng người một.

Sau trận đánh Chư tan Kra, Mỹ giữ quyền làm chủ trận địa nên đã thu gom xác lính Hà Nội lại một chỗ, dùng xăng đốt để giữ vệ sinh chiến trường, rồi ủi hố chôn tất cả ngay trên đỉnh núi. Vong hồn hơn 200 người các anh chỉ quanh quẩn ở đâu đây thôi, dưới lớp đất này, hoặc gốc cây kia, lặng lẽ như một bí mật trong lòng đất mẹ. Tôi không biết xương người cháy, lại chôn tập thể, liệu còn có thể xét nghiệm được AND hay không? Và tôi khó mà có thể quên được cái giật mình của một cán bộ huyện Sa Thầy: ở Chư tan Kra này mà mấy anh chết nhiều đến thế ư? Sự kinh ngạc đó không hề có lỗi. Thời gian mà. 41 năm cũng đủ dài để một đời cây xum xuê tỏa bóng, ngay trên gốc rễ bị bom phát quang phạt cụt ngày nào. Tôi sinh ra trong thời bình, và chưa bao giờ cảm thấy mình “ở gần chiến tranh” đến vậy. Tôi xin được là người hóa vàng mã, tại đỉnh Chư tan Kra hôm ấy. Trên mấy tấm lá chuối rừng, suốt gần một giờ đồng hồ, vàng mã cháy mãi. Trời đột nhiên ngưng gió. Các tàn hương cong trĩu nặng. Kể từ ngày hôm nay, các anh không còn là những vong hồn nữa. Vì bè bạn vẫn còn đây, đồng đội vẫn còn đây.

(Còn nữa)
Logged

Dân ta phải biết sử ta
Cái gì không biết cần tra Gúc gồ
chiangshan
Thành viên
*
Bài viết: 3406


No sacrifice, no victory


WWW
« Trả lời #6 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2009, 01:28:00 PM »

http://thethaovanhoa.vn/306N20090504054559871T132/nhung-vong-hon-tren-dinh-chu-tan-kra-bai-cuoi.htm

Những vong hồn trên đỉnh Chư tan Kra (Bài cuối)

10. Biết chúng tôi ở Chư tan Kra về, Thượng tướng Nguyễn Thế Trị, Giám đốc Học viện Quốc phòng vừa nghỉ hưu, nhắn qua nhà. Ông nói: các cậu vào tận Tây Nguyên tìm anh em, ở lại ăn với anh chị bữa cơm, vừa ăn ta vừa nói chuyện.
 
Cùng luyện tập, cùng hành quân với nhau vào Nam, thời điểm xảy ra trận chiến Chư tan Kra, tướng Trị là chính trị viên đại đội của tiểu đoàn 8. Ông nói: Ai có vào Nam ngày ấy mới thấy câu thơ này chính xác: Trường Sơn mây núi lô xô/ Quân đi, sóng lượn nhấp nhô, bụi hồng. Bọn mình phải gọi là lính trung đoàn mũ sắt mới phải, toàn giục nhau đi nhanh nữa lên, không mũ sắt chưa bong sơn thì đã giải phóng rồi. 
 

Thượng tướng Nguyễn Thế Trị tiếp đồng đội tại nhà riêng
 
Chư tan Kra có lẽ là trận đánh duy nhất ở miền Nam thổi kèn đồng xung phong, và là trận đánh đầu tiên của cả trung đoàn, chủ công là tiểu đoàn 7, tiểu đoàn 9 dự bị, tiểu đoàn 8 không tham gia, do còn cách khoảng 1 - 2 trạm giao liên. Nếu tổng công kích Mậu Thân đợt 1 là đánh vào sào huyệt diệt Ngụy ở các thành phố lớn, thì trận này là đánh Mỹ, mở ra một hướng không chỉ đánh địch vận động bên ngoài đồn bốt mà ngay cả trong căn cứ, buộc Mỹ phải tung quân ra ngoài sông Sa Thầy, tạo điều kiện cho các đơn vị khác đánh vận động, đánh điểm diệt viện.

Tướng Trị ngậm ngùi: Sau trận này, B52 ném bom phá đường tiếp tế, anh em bị bao vây đói nửa tháng trời. Lính Hà Nội mà phải bắt cua, hái môn thục, đọt sắn, lá tàu bay, rau dớn để ăn. Không chỉ có người dương đi tìm người âm đâu các cậu ạ, mà người âm cũng đi tìm người dương đấy. Khi các cậu đi tìm mộ, tôi ở nhà cũng bàn với cậu Toàn - trợ lý quân lực trung đoàn, phải lấy cho được hồ sơ của anh em nằm lại ở trận này.

Cách tiến hành là lọc danh sách qua ngày hy sinh (26/3/1968) và ngày nhập ngũ (27/3/1967), lại là con em gốc Hà Nội thì đúng rồi. Tôi sẽ vào Kon Tum làm bia, đưa vong linh anh em về nghĩa trang liệt sĩ.

Tướng Trị đưa các đồng đội cũ qua nhà vị Trung tướng Lê Hữu Đức, người nổi tiếng với biệt danh “hổ cụt Tây Nguyên”. Tướng Đức ngày ấy là Sư phó, trung tá, và là người trực tiếp đốc chiến (Thay lời kết cho loạt bài “Những vong hồn trên đỉnh Chư tan Kra”) trận Chư tan Kra. Ông nói: Tôi được gọi về để chuẩn bị cho trận đánh Kleng, tôi và 3 đặc công bò vào trinh sát, đến đêm thứ 3 thì bị lộ, một trinh sát bị pháo hi sinh. Mỹ thấy động, nhảy ra tạo cứ điểm Chư tan Kra. Tôi điện cho anh Hoàng Minh Thảo, tư lệnh mặt trận Tây Nguyên: “cá đã vào lờ, xin đánh”. Khi trung đoàn 209 vào, anh em báo với tôi là có đơn vị chân đi ghệt, đầu đội mũ sắt, mặc áo Tô Châu, tưởng là địch. Khi tôi nhìn thấy ông Toàn thì mới biết là không phải, bí mật tới cỡ đó. Sau Mậu Thân đợt 1, tướng tá Mỹ ở miền Nam rêu rao, chiến tranh chỉ cần 5 - 6 tháng nữa là kết thúc.

Chư tan Kra phải gọi đúng là tập kích chiến lược, trận đánh hay nhất của toàn miền Nam đợt 2, đánh bại đơn vị con cưng địch; kết quả của nghệ thuật quân sự và ý chí quyết thắng vượt sự tưởng tượng này đã khiến cho nước Mỹ chấn động, và từ đây bắt đầu bùng nổ phong trào phản chiến.
11. Trong quá trình ráp nối tư liệu, chúng tôi gặp lại khá nhiều lính mũ sắt Hà Nội đã tham gia trận Chư tan Kra, mà mỗi người trong số họ thực sự là một cuốn tiểu thuyết sống.
 
Đinh Tiên Phong, người bị Mỹ bắt trong trận này kể: “Sau khi đơn vị nổ súng khoảng 30 phút, tớ qua được hàng rào thì dính đạn AR15 vào tay trái. Khi cậu Linh đang băng cho tớ thì pháo dập tới, tớ gãy tiếp cả hai chân. Tớ bảo Linh đi đi, tớ chắc không sống được. Khi tớ tỉnh dậy khoảng lờ mờ sáng thì đã thấy xác lính ta, lính Mỹ nằm đầy xung quanh. Tớ cố bò xuống chân núi, bò qua cả xác ta và xác Mỹ, được khoảng 100m. Tớ cứ bò được mấy mét thì lại một lần ngất. Đến lòng suối cạn, tớ bị vướng một cái cây đổ không bò qua nổi, cứ trườn lên lại trượt xuống. 4h chiều ngày 26/3/1968, tỉnh lại tớ thấy mình đang nằm dưới rệ, xung quanh có tiếng Mỹ xì xồ. Nhắm mắt nằm im, thôi thế này mình chết chắc rồi. Lật lên thấy tớ còn thở, 4 thằng cắt võng sau lưng tớ, khiêng ngược lên đỉnh. Xung quanh không thấy xác Mỹ nữa, chỉ thấy xác anh em. Tụi nó tiêm cho tớ một mũi, rồi quẳng lên trực thăng đưa về bệnh viện Pleiku, khoảng 7h tối thì bác sĩ Mỹ gây mê và làm phẫu thuật. Sáng hôm sau tỉnh dậy thì đã thấy quấn băng đầy mình, nằm giữa không biết bao nhiêu là lính Mỹ, cả da trắng lẫn da đen, cũng quấn đầy băng như tớ. Hai ngày sau, tớ bị chuyển về Quy Nhơn. Thằng Mỹ hỏi cung qua phiên dịch người Việt, thi thoảng lại vặn cái chân bị thương của tớ một cái, nhưng bác sĩ Mỹ đứng cạnh can thiệp, không cho làm như thế. Tớ khai tên là Vũ Thế Hải, người Hà Nam, lính mới chả biết gì. Cái tên ấy tớ phải cố mà nhớ lấy nó, lần sau khai khác đi thì chết. Sau 5 tháng, các vết thương của tớ lành thì bị chuyển về nhà tù Biên Hòa, rồi nhà tù Phú Quốc. Vào tù rồi thì bị cai ngục Việt Nam Cộng hòa đánh cho cẩn thận, chi tiết lắm. Tớ được trao trả tù binh năm 1973, bay bằng C130 từ Phú Quốc ra vĩ tuyến 17. Đời mình kể cũng lạ, vào chiến trường bằng xe Giải phóng, ra khỏi chiến tranh bằng máy bay. Lính Mỹ mà không tìm thấy thì tớ cũng đã chết trên đỉnh Chư tan Kra ấy rồi”.

Đặng Nhiên, Trung đội phó trinh sát trung đoàn kể: “Tớ bò vào trinh sát Chư tan Kra, thấy hớ hênh lắm, và còn tranh thủ lôi ra được một tải đồ hộp đánh chén. Không biết tiếng Anh nên tớ đưa nhầm cho ông Cảnh một thùng thìa, bị ông ấy mắng mỏ là tớ chơi đểu. Trận này mình diệt gọn nhưng cũng chết gần gọn, riêng 5 trinh sát bọn tớ đã lôi được gần 10 anh em bị thương ra khỏi trận địa, dọc đường gặp vận tải Miền lôi đỡ. Trên đài quan sát M2, tớ nhìn thấy Mỹ sau đó đã đánh bom suốt gần 3h, thả cả bom xăng để hủy trận địa, rồi lại cẩu máy ủi lên, làm lại chiến hào, công sự”.

Đỗ Đức Văn, trung đội đại liên K57 kể: “Tớ bị thương nằm ở trận địa gần 3 ngày mới được anh em đi mò xác lôi ra. Tớ thấy anh em tử sĩ bị thu gom lại, đẩy xuống hố bằng máy ủi, rồi dùng xăng đặc đốt, sau đó lấp đất. Độ sâu anh em nằm khoảng 2m”.

Đến thăm nhà, những người lính mũ sắt vẫn gọi ông Hoàng Đăng Dỹ, chính trị viên phó tiểu đoàn 7 năm ấy là “thủ trưởng”, như ngày nào còn trong đơn vị. Trong giải phóng Điện Biên, ông Dỹ là chính trị viên của đại đội bắt sống tướng De Castries. Trận Chư tan Kra, ông Dỹ khi đang ra lấy thương binh ngay đêm ấy cùng trưởng ban tác chiến trung đoàn thì cảm thấy ngực trái bị đập rất mạnh, sờ thấy máu. Khương ơi, tao bị pháo rồi. Rồi phải lần theo đường dây thông tin về hầm chỉ huy trận đánh.

Râu tóc bạc phơ, ông Dỹ vẫn giữ được phong độ thủ trưởng ngày nào. Như tướng Trị, ông Dỹ lắng nghe anh em báo cáo chuyến đi, rồi bảo với các cấp dưới của mình: Chúng ta nhìn lên thì thiệt thòi rồi, nhưng phải nhìn xuống đồng đội mà sống. Còn sức thì đi tìm anh em đi, chưa đưa về được thì phải vào gặp già bản, cho gửi đồng đội mình ở đó. Đồng đội mình nghĩ về trận này đều hận, vì chết nhiều quá, nhưng phải có lúc tìm và nói lại để thấy rằng, mạng đổi mạng, 204 Mỹ lấy hơn 200 Việt Cộng, anh em đã không nằm xuống vô ích.
Mà này, có đứa nào thích cây cảnh ra vườn mà đánh. Vợ tớ thích hoa, nhưng tớ chỉ thích xương rồng. Xương rồng phải trồng trong cối đá mới gọi là xương rồng đá, nhé.
 
Trung tướng Lê Hữu Đức (phải) trao đổi với Thượng tướng Nguyễn Thế Trị về trận Chư tan Kra
 
12. Chư tan Kra là trận đánh đầu đời của lính mũ sắt Hà Nội. Nhiều người còn sống sau đó đã đi sâu mãi vào chiến trường miền Nam, rồi sang Campuchia, lên biên giới phía Bắc đánh tiếp cả trăm trận, người thì khi ra quân lao vào kinh doanh trở thành Tổng giám đốc, có người chỉ đơn giản làm nghề lái xe ôm. Họ giản dị, lẫn vào đám đông, lẫn vào dòng đời vĩ đại. Nhìn bề ngoài không thể nào đoán được họ đã một thời hào hùng, máu lửa.
 
Có người kể với tôi rằng: Tớ ra quân năm 1979, xin đi học lái xe, hồ sơ của tớ tụi phường ỉm béng đi phần tớ đã đi lính, chỉ còn trơ trụi mỗi bản khai và tờ đơn. Mất một năm ở nhà suông, bạn tớ thấy tớ đang đứng lơ ngơ ở bản tin phường, mới hỏi ngọn ngành, rồi xui lên đòi lại giấy tờ. Tớ lên phường, hồi ấy vẫn còn hay đội chiếc mũ vải mềm gắn sao, thằng bảo vệ nó bảo, các ông tưởng các ông là cái đếch gì, rồi giật mũ tớ vứt xuống đất. Tớ chỉ mặt: Này, Tổ quốc tao đội trên đầu, sao mày dám làm thế? Rồi tớ nhảy lên bàn đấm nó.
 
Có người kể: Con tớ thi đại học thiếu nửa điểm, nó xin tớ đưa hồ sơ thương binh cho nó. Tớ lục tủ, bày tất cả lên bàn và nói, con hãy đứng trên đôi chân của mình, chứ đừng dựa dẫm vào quá khứ của bố. Đời bố vì chiến chinh đã bị coi là thất học rồi, con phải có thành quả học vấn từ học lực của chính mình. Nó không dám cầm cậu ạ. Giờ nó làm cho Pháp, thu nhập cũng ổn lắm. Cũng lại có người để yên tất cả kỷ niệm đời lính trong hộp sắt, chưa một lần mở ra xem lại.
 
Lính mũ sắt Hà Nội như tôi biết là như vậy, một chút về những người còn sống và cả những người nằm xuống.
 
Ghi chép của Việt Thường
Logged

Dân ta phải biết sử ta
Cái gì không biết cần tra Gúc gồ
chiangshan
Thành viên
*
Bài viết: 3406


No sacrifice, no victory


WWW
« Trả lời #7 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2009, 01:36:06 PM »

Theo tổng kết tháng 3/1968 của MACV thì Chư Tan Kra rất có thể là trận này:

Ngày 26/3
Chiến dịch MacArthur: lúc 03h30, khoảng 2-3 tiểu đoàn đối phương tấn công căn cứ hỏa lực của Lữ đoàn 1 Sư đoàn bộ binh số 4 cách thị xã Kon Tum 31km về phía tây với hỏa lực bộ binh, B40, cối 60mm và súng phun lửa. Một bộ phận chọc thủng vành đai phòng thủ phía tây căn cứ. 2 đại đội [Mỹ] bắn chặn trong khi 1 đại đội tiến hành phản kích và khôi phục trận địa lúc 07h10. 2 đại đội khác được không vận vào khu vực chiến sự và bố trí chốt chặn. Pháo binh và không quân bắn phá các vị trí địch trong suốt cuộc tấn công. 135 lính địch chết; 19 lính Mỹ chết và 51 bị thương.


http://www.vietnam.ttu.edu/star/images/1683/168300010793.pdf

« Sửa lần cuối: 17 Tháng Bảy, 2009, 10:12:14 PM gửi bởi Tunguska » Logged

Dân ta phải biết sử ta
Cái gì không biết cần tra Gúc gồ
tuaans
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 3774


« Trả lời #8 vào lúc: 06 Tháng Năm, 2009, 09:27:49 AM »

Khu vực trại huấn luyện Kleng (Pơlei Kleng). Từ đây Mỹ nống ra lập cứ điểm Chư Tan Kra để chặn quân ta đánh Kleng.
Logged
tuaans
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 3774


« Trả lời #9 vào lúc: 06 Tháng Năm, 2009, 09:30:29 AM »

Không ảnh căn cứ Kleng với sân bay và căn cứ phòng thủ hình tam giác.





(nguồn ảnh: xem properties của hình)
Logged
Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM