Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 25 Tháng Mười Một, 2014, 12:38:49 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những bí mật về chiến tranh Việt Nam - Daniel Ellsberg  (Đọc 48397 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #120 vào lúc: 18 Tháng Mười Một, 2007, 05:24:57 PM »

     Trong thời chiến, liệu việc giết người theo lệnh cấp trên có thể coi là giết người được không? Câu trả lời là "đúng" khi tôi còn đang được huấn luyện làm lính bộ binh. Giết dân thường và tù binh trong khi đang bị giam giữ? Chắc chắn rồi. Do đó, tình cờ tôi có được một câu hỏi rộng hơn cho câu trả lời đó, bao gồm tất cả các vụ giết chóc trong một cuộc chiến phi nghĩa như cuộc chiến của chúng ta ở Việt Nam. Tôi không hy vọng là Bộ trưởng Resor hay tướng Abrams đồng ý với tôi về điều đó, nhưng trong những tình huống cụ thể như thế này thì họ bắt buộc phải đồng ý. Tuy nhiên nếu cá nhân họ không dung thứ cho một vụ giết người nào đó họ đang nói dối về việc nêu và bác bỏ những lời buộc tội. Một tầm nhìn dần dần hình thành trong óc tôi là cốt truyện của hai câu chuyện tôi vừa mới đọc: những lời dối trá về một vụ giết người.

     Thực ra lần duy nhất từ "dối trá" xuất hiện trong một, hai câu chuyện có liên quan đến cơn giận dữ của tướng Abrams khi ông ta nghĩ mình bị đại tá Rheaut lừa. Nhưng cả hai tác giả đều không cố gắng che giấu niềm tin của ông ta rằng sự dối trá chính thức đó không chỉ giới hạn trong vụ việc này. Theo thông lệ của cánh báo chí, cả hai tác giả đều không gắn chữ "dối trá" hay "không đúng sự thật" vào những tuyên bố của các quan chức. Họ chỉ đơn thuần là theo dõi những tuyên bố này với những báo cáo bình luận mâu thuẫn nhau, ví dụ như "Sự thật là… cho thấy"; "do vậy dường như là…"; "Điều hình như đã xảy ra là…", "nhưng rõ ràng là…. Tuy nhiên những uyển ngữ kiểu này không giấu được mức độ đánh giá của họ về sự thật trong các tuyên bố chính thức.

     Đồng thời, điều đó thật đáng ngạc nhiên, cho dù các nhà báo có cố gắng khách quan bao nhiêu về tất cả sự tồn tại của những sự khác nhau này, cho dù họ có cho là điều hiển nhiên đi chăng nữa.

     Bản thân tướng Abrams, trong các báo cáo của Sell và Donovan, hứa là sẽ dựng ra một câu chuyện dối trá. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Tổng thống cũng vậy. Không chỉ có đại tá Rheault mà tất cả cấp dưới của ông ta đã dựng lên một câu chuyện dối trá để đưa cho Abrams.

     Sáng thứ ba hôm đó, tôi nằm trên giường và suy nghĩ: đây là chế độ mà tôi đang làm việc phục vụ, tôi là một phần của chế độ này đã 12 năm nay - không, đúng ra là 15 năm nay, kể cả thời gian tôi phục vụ trong hải quân. Đó là một chế độ nói dối ở tất cả các cấp từ cao xuống thấp - từ hạ sĩ tới Tổng Tham mưu trưởng để che giấu tội ác giết người.

     Như tôi đã dần dần nhận thức được từ những gì tôi đọc được trong tháng đó, điều đó mô tả những gì mà chế độ đó đang làm tại Việt Nam, trên một quy mô rộng lớn hơn, liên tục trong hơn một phần ba thế kỷ qua. Và tình trạng này vẫn đang tiếp diễn.

     Tôi nghĩ: tôi không muốn là một phần của chế độ đó nữa. Tôi sẽ không là một phần của cái máy nói dối này, sự che dấu này, tội ác giết người này nữa.

     Tôi chợt nảy ra một ý rằng những gì tôi có trong két sắt an toàn ở Công ty Rand là bảy ngàn trang tài liệu minh chứng cho sự nói dối của bốn vị Tổng thống và chính quyền của họ trong vòng 23 năm để che giấu các kế hoạch và hành động của vụ giết người hàng loạt. Tôi quyết định bản thân mình sẽ không tiếp tục che giấu điều đó nữa. Bằng cách nào đó, tôi sẽ công bố tập tài liệu này.

     Trước tiên phải nhân bản tài liệu đã. Tôi không thể làm điều đó ở Công ty Rand hay cửa hàng photocopy được. Có lẽ có thể đi thuê một cái máy photocopy. Tôi ngồi dậy, sang phòng khách và gọi điện cho một người bạn thân và trước đây là đồng nghiệp của tôi ở Rand, anh Tony Russo. Tôi nói có đôi điều tôi muốn trao đổi với anh ấy.

     Tony đã từng tham gia nghiên cứu thẩm vấn những kẻ phản bội và tù nhân Việt Cộng, một nghiên cứu của Rand. Tôỉ gặp anh ta lần đầu tiên khi tôi đặt chân đến Sài Gòn năm 1965. Khi chúng tôi gặp lại nhau ở Santa Monica năm 1968, chúng tôi thường hay tranh luận vui vẻ với nhau, trong phòng làm việc của anh ấy ngay dưới phòng làm việc của tôi, về những gì anh ấy biết được thông qua các buổi phỏng vấn. Anh ấy cho tôi xem một số các biên bản phỏng vấn, có biên bản dài tới 60 trang giấy một mặt. Rất nhiều những biên bản này, thông qua phiên dịch, làm anh ấy rất ấn tượng trước tấm lòng yêu nước và xả thân vì tổ quốc của người Việt Nam, về niềm tin vào chính nghĩa trong sự nghiệp đấu tranh của họ. Thậm chí cả những kẻ phản bội, phần lớn đào ngũ vì lý do cá nhân hoặc không chịu nổi sự vất vả của cuộc sống lính du kích, cũng không hề nói xấu gì về sự nghiệp giải phóng dân tộc và lãnh tụ của họ. Konrad Kellen, người đã xử lý những tài liệu hỏi cung tù nhân trong chiến tranh thế giới lần thứ hai và chiến tranh Triều Tiên và những kẻ đào ngũ từ Đông Âu, đã đọc hàng trăm biên bản này cho dự án của Rand và nói với tôi anh ấy chưa bao giờ thấy cái gì tương tự như thế này cả "Thông thường tù nhân và những kẻ đào ngũ kể cho bạn nghe những gì mà họ nghĩ là bạn muốn nghe. Nhưng bạn không thể nào khiến những tù nhân này nói một điều gì đó chỉ trích chế độ của họ cả". Kết luận của ông ta mà ông ta hối thúc tôi chuyển tới Kissinger cho thấy đây là sự thù địch mà ban lãnh đạo và dân chúng "không thể nào bị cưỡng ép". Họ có thể bị huỷ diệt, nhưng họ không thể bị cưỡng ép.

     Tony có bằng đại học về kỹ sự hàng không vũ trụ và đã làm việc cho Cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) trước khi học khoa chính trị tại Princeton. Lúc đầu anh ta cũng là người lính như tôi. Nhưng được gặp người miền Bắc Việt Nam và Việt Cộng và đã nghe những câu chuyện của họ đã làm anh ta thay đổi hoàn toàn. Dần dần anh ta không chỉ ngưỡng mộ họ như những con người mà còn tin rằng họ đã đúng khi bảo vệ sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của mình. Tôi vẫn tập trung vào sự phi nghĩa của người Mỹ như những gì tôi được chứng kiến trước thời điểm giữa năm 1969. Tôi không có kinh nghiệm trực tiếp mặt đối mặt như anh ta - trên thực tế tôi chưa bao giờ gặp một ai trong Mặt trận dân tộc giải phóng - và tôi vẫn nghi ngờ rằng hy vọng của họ sẽ trở thành hiện thực nếu sự nghiệp đấu tranh quốc gia chính nghĩa dẫn tới việc thành lập được một nhà nước Stalinist.

     Dù thế nào, nếu không có quan điểm chính trị đó thì Tony đã bị sa thải khỏi phòng kinh tế của Công ty Rand. Tôi thấy vẻ thông cảm của anh ta đối với các Việt Cộng trong các cuộc nói chuyện khi chúng tôi còn làm việc tại Rand; anh ta không công khai điều đó và cũng không viết thành giấy trắng mực đen.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #121 vào lúc: 18 Tháng Mười Một, 2007, 05:25:56 PM »

    Nhưng tôi biết chắc chính những gì anh ta viết thành giấy trắng mực đen đã khiến anh ta gặp rắc rối với người trưởng phòng diều hâu là ông Charlie Wolf. Anh ta đã viết một nghiên cứu thống kê cẩn thận về tác động của dân số với chương trình sử dụng thuốc diệt cỏ nhằm huỷ diệt nguồn cung cấp thức ăn cho Việt Cộng nhưng có tác động rộng lớn hơn. Ngoài ra, từ những quan sát cá nhân của anh ta về các tù nhân đang bị giam giữ, anh ta đã phanh phui, trong một nghiên cứu bí mật, thói quen đánh đập và tra tấn các tù nhân Việt Cộng của quân đội Việt Nam cộng hoà, thường là có sự góp mặt của các cố vấn Mỹ.

    Wolf không thích nghiên cứu này hay một nghiên cứu khác mà Russo tiến hành về mối quan hệ giữa sự kiểm soát của Việt Cộng với các chính sách đất đaỉ và những người khác ở Rand lo ngại về quan niệm của các nhà tài trợ không quân về những nghiên cứu này. Tôi chưa biết đến Tony khi anh ta nói với tôi rằng Wolf sẽ sa thải anh ta, nhưng tôi rất ấn tượng với những công trình nghiên cứu của anh và tôi nói với Charlie rằng tôi nghĩ sa thải anh ta là một sai lầm và mất mát đối với Phòng Kinh tế. Charlie khăng khăng cho rằng quyết định sa thải là hoàn toàn vì ngân sách mặc dù Tony là người duy nhất chịu ảnh hưởng bởi lý do này.

     Sau khi Tony không còn làm việc cho Công ty Rand nữa thì tôi bắt đầu hẹn gặp Tony sau giờ làm việc. Càng ngày tôi càng thấy quý mến anh ta. Anh ta rất vui tính, có đầu óc sáng tạo, không chỉ về chiến tranh mà còn nhiều lĩnh vực khác nữa. Chúng tôi trở thành bạn thân. Anh ấy bắt đầu đọc những phân tích cấp tiến thể hiện chính sách của chúng ta đối với Việt Nam không phải như một sai lầm mà coi chính sách đó là phù hợp với các mục tiêu mà Mỹ không công nhận và các hoạt động bí mật khác tại các nước thế giới thứ ba. Lúc đó tôi chưa được đọc các tài liệu đó (mãi đến khi kết thúc chiến tranh tôi mới được đọc). Nhưng vào ngày 30-9, tôi không còn do dự quyết định rằng anh ấy là người bạn đuy nhất tôi có thể nói những gì tôi muốn làm.

     Khi tôi mặc quần áo, tôi nghĩ tới những gì hiển hiện trong đầu óc của những người mà tôi vừa mới đọc, những con người đã nói dối và giúp sức vào việc giết chóc. Do vậy nhiều người trong số họ đã nói dối (và một số người đã giúp sức vào việc giết chóc) không vì một lý do nào khác là họ bị cấp trên ra lệnh phải làm như vậy. Cấp trên nói với họ rằng điều đó có lợi cho cuộc chiến tranh, cho chính quyền, cho lực lượng đặc nhiệm. Điều đó tốt cho bản thân họ; họ chỉ cần biết có vậy. Tôi hiểu điều đó. Tôi cũng đã ở đó và làm việc trong những cương vị như thế. Nhưng họ đã sai lầm, giống tôi, khi hành động như vậy.

     Một ý nghĩ nảy ra trong đầu tôi dưới hình thức một nguyên tắc: Từ nay, không ai có thể bắt tôi phải nói dối, bắt tôi phải nói dối như một bổn phận. Không ai sẽ nói với tôi điều đó và khiến tôi tin anh ta hay nghĩ rằng tôi phải phục tùng anh ta. Tôi sẽ không nghe theo. Điều đó không còn quyền lực gì với tôi nữa.

     Nói dối công chúng, về bất kỳ điều gì, và trên hết nói dối về những vấn đề sống còn, chiến tranh và hoà bình, là một việc làm nghiêm trọng. Đó không phải là điều anh có thể dễ dàng đổ lỗi cho người khác. Tôi sẽ không làm điều đó nữa.

     Dần dần tôi nhận thức được rằng điều tương tự cũng xảy đến đối với bạo lực. Không ai sẽ bảo tôi (hoặc bất kỳ một ai khác) phải giết ai đó, rằng tôi không còn sự lựa chọn nào khác, rằng tôi có quyền hay nghĩa vụ làm cái điều mà người khác đã quyết định thay cho tôi.

      Nguyên tắc mới này, như tôi đã suy nghĩ về nó, không trả lời tất cả các câu hỏi về việc liệu người ta có nên sử dụng vũ lực hay không và nên sử dụng khi nào, những câu hỏi mà tôi đã vất vả đánh vật với kể từ khi tôi gặp Janaki và bắt đầu đọc về những người chủ trương hoà bình theo kiểu Gandhi hay Thiên Chúa giáo, nhưng nguyên tắc đó trả lời một số câu hỏi. Ví dụ về việc chấp nhận bị gọi nhập ngũ. Tôi không bị gọi nhập ngũ nhưng điều đó có thể xảy ra với con trai tôi, Robert. Tôi sẽ nói với các con rằng không ai có thể thuyết phục chúng mang súng và bắn ai đó chỉ bằng cách là bảo phải làm như vậy. Việc làm đó là sự lựa chọn của mỗi người, hoàn toàn là trách nhiệm của mỗi người.

     Nếu như tôi lại làm điều đó thì đó là sự lựa chọn của bản thân tôi hoặc tôi nghĩ rằng đó là việc làm đúng đắn, chứ không phải tôi làm theo mệnh lệnh của người khác. Tôi cũng sẽ xem xét rất kỹ lập luận của riêng mình cho việc làm đó. Tôi phải có những lý do tốt hơn, những lý do đứng trên cả cái nhìn nghi ngờ mà tôi có khi ở Việt Nam. Trách nhiệm về việc giết chóc hay sẵn sàng giết chóc không phải là cái anh có thể đổ lỗi cho người khác, kể cả Tổng thống cũng không thể làm như vậy được.

     Trong khi đó, khi tôi lái xe tới nhà Tony, tôi nghĩ cách làm thế nào để điều này sẽ ăn khớp với những gì tôi dự định làm trong tháng này. Do thấy mệt mỏi vì cái máy nói dối, việc thổ lộ điều này với Tony không phải là ưu tiên cấp bách. Mối quan tâm của tôi là về nội dung của những lời nói dối hiện nay: những lời nói dối che giấu cái gì, tạo điều kiện cho cái gì. Điều không hay là ở chỗ họ cho rằng những vụ giết chóc trong quá khứ là giết người, nhưng cá nhân tôi không muốn xét xử hay tống giam ai.

     Tôi chắc chắn không muốn xét xử hay tống giam ai để báo thù hay chỉ để làm sáng tỏ những sự thật lịch sử về Việt Nam. Tôi quan tâm tới việc làm thế nào để chấm dứt giết chóc trong những năm tháng sắp tới.

     Lúc đầu, tôi nghĩ công bố toàn bộ nghiên cứu của McNamara cho công chúng biết sẽ không đóng góp vào quá trình đó, cho dù điều đó có tính giáo dục cao đến đâu, xét về lâu về dài. Nhưng từ thời điểm buổi sáng khi tôi đã quyết định kiểu gì tôi cũng sẽ công bố, tôi bắt đầu nghĩ rằng nó có thể có ích ngay cả trong ngắn hạn.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #122 vào lúc: 18 Tháng Mười Một, 2007, 05:27:10 PM »

     Đúng là tài liệu này không chứng minh những gì cần phơi bày về chiến lược bí mật của Nixon: những gì Halperin đã nói với tôi những gì tôi đã chuyển cho các đồng nghiệp của tôi trong Công ty Rand và những quan chức quan trọng mà tôi liên lạc gần đây Nhưng đồng thời, tài liệu này củng cố những lý lẽ cho điều đó. Nó cho thấy những gì mà tôi cho rằng Nixon đang làm về cơ bản là giống các Tổng thống tiền nhiệm của ông ta đã làm. Khi tôi cho rằng ông ta sẵn sàng lừa dối Quốc hội và người dân Mỹ về những gì ông ta đang làm, mục đích chính của ông ta là gì thì nghiên cứu này cho thấy bốn người tiền nhiệm của ông ta làm đúng y hệt như vậy. Cứ cho là như vậy, ông ta ngụ ý nói rằng ông ta đã từ bỏ mục đích và ưu tiên mà tất cả họ đã hành động, nhưng tính liên tục mà nghiên cứu này cho thấy nêu ra các câu hỏi về điều đó, ít nhất là những câu hỏi mà người ta có thể thuyết phục Quốc hội Mỹ theo đuổi.

     Chỉ đơn giản công bố nghiên cứu của McNamara sẽ không thể kết thúc chiến tranh hay đến gần ngày kết thúc chiến tranh. Nhưng điều đó sẽ góp một phần nào và trong tâm trạng hiện nay của tôi thì đó là lý do để công bố. Nếu tôi công bố nghiên cứu đó - lý tưởng nhất thì sau đó sẽ có những cuộc điều trần ruóc Quốc hội dựa vào những gì được công bố, sẽ có các nhân chứng thề chỉ nói sự thật, hoặc tài liệu này sẽ được công bố - thì lúc đó Nixon sẽ phải lo lắng rằng chính sách bí mật của ông ta sẽ không thể được bảo vệ khỏi những cuộc tranh cãi và thách thức đầy nghi ngờ.

      Trên thực tế, tôi hy vọng sẽ có được tác động mà tôi đã kiếm tìm 18 tháng trước đó, nếu tôi tiết lộ nghiên cứu này cho tờ Thời báo New York. Điều đó sẽ cảnh báo Tổng thống rằng chính sách của ông ta đã mất đi tính vô hình và ông ta sẽ từ bỏ nó.

      Giờ đây khi tôi suy nghĩ tích cực về kế hoạch này, tôi chợt nảy ra suy nghĩ có một cách khác mà nghiên cứu này có thể  có ích. Điều đó sẽ tạo điều kiện cho ông Nixon, tân Tổng thống, người của Đảng Cộng hoà, đổ lỗi cuộc chiến tranh cho Đảng Dân chủ. Xét cho cùng, Đảng Dân chủ xứng đáng phải chịu trách nhiệm hơn (mặc dù động cơ của họ chủ yếu là tránh những đòn tấn công nội bộ trong nước bởi những người cánh hữu như bản thân Nixon?). Ông ta sẽ không phải thay đổi chính sách, từ bỏ sự hẫu thuận của mình cho cuộc chiến, như ông ta làm trên cương vị phó Tổng thống và khi ông ta hết nhiệm kỳ Tổng thống. Ông ta có thể nói rằng người của Đảng Dân chủ đã làm tình hình rối tung rối mù lên, không thể giải quyết nổi; bây giờ đã quá muộn không thể làm gì được nữa ngoài việc xử lý cái mớ bòng bong đó. Sự thật cũng gần giống như vậy (mặc dù tôi biết chắc rằng cái mớ bòng bong đó còn tồi tệ hơn nếu Nixon thắng cử Tổng thống năm 1960 và đã thực hiện những gì mà ông ta kiến nghị trong thời gian đó) và nếu đó là những gì cần để ơng ta từ bỏ những ý định hiện tại của mình thì tôi thấy hài lòng. Tôi biết một số đảng viên đảng Dân chủ không cảm ơn tôi về điều này, nhưng đối với tôi nó chỉ là vấn đề ưu tiên cái gì trước, cái gì sau. Tôi đã rất nỗ lực để thuyết phục một số người của họ tình nguyện chia sẻ trách nhiệm rút ra khỏi chiến tranh Việt Nam bằng cách hứng chịu sự chỉ trích vì đã dính líu vào cuộc chiến đó. Từ trước đến nay, không ai tình nguyện làm điều đó Nixon cũng không cám ơn tôi. Nhưng nếu phần lịch sử bị che giấu trong nghiên cứu của McNamara có thể làm cho người dân Mỹ ghê tởm hơn nữa về cuộc chiến tranh mà họ đã tham gia và đồng thời làm cho Nixon dễ dàng hơn khi rêu rao rằng ông ta đang giảm bót chi phí mà Đảng Dân chủ gây ra thì điều đó có thể làm cho cán cân có lợi cho ông ta nghiêng về phía chấp nhận một "thất bại được cải trang" hơn là kéo dài cuộc chiến.

      Trước đây tôi có nói với Tony rằng tôi có làm việc với một công trình nghiên cứu ở Washington về việc ra quyết định trong chiến tranh Việt Nam nhưng tôi không nói gì về nội dung của tập tài liệu cả, cho đến một buổi chiều tôi gặp anh ấy trên bãi biển sau nhà tôi. Anh ấy mô tả một mô hình nói dối về chương trình những kẻ đào ngũ của một số những người cấp trên của anh ta và về bản chất chiến tranh tại cấp thấp trong chính phủ và tôi nói rằng nghiên cứu tôi đọc được ở Washington cũng cho thấy những điều tương tự ở cấp cao nhất. Tôi không nói với anh ta và anh ta cũng không đoán rằng đó chính là nghiên cứu McNamara và tôi tiếp cận được ở Santa Monica. Tony nói: "Anh phải công bố tài liệu đó".

      Điều anh ta vừa nói thật kỳ lạ. Những ai được phép thường không khuyên người khác nên tiết lộ thông tin. Tony không biết rằng tôi đã tiết lộ thông tin cho tạp chí Times trước đó một năm rưỡi. Tôi không nói với ai về điều này cả. Nhưng tôi không kinh ngạc ước đề xuất của anh ta. Trong hoàn cảnh hiện nay của anh ta khi đã thôi không làm việc cho Rand nữa thì việc nghĩ tới điều đó cũng thật dễ hiểu (và trước đó cũng thật dễ hiểu khi anh ta không nghĩ đến việc mang theo các tài liệu mật đi cùng khi anh ta thôi việc ở Rand). Anh ta biết hiện nay tôi và anh ta có cùng quan điểm về cuộc chiến tranh và đã đến lúc còn hành động phản kháng.

      Thậm chí khi so sánh với bức thư của Rand mà tôi soạn thảo và việc tôi kết thân với các đảng viên Đảng Dân chủ thì đề xuất của Tony thực sự đáng quan tâm. Nghiên cứu của McNamara có lẽ không hoàn toàn phù hợp với cuộc khủng hoảng này. Nghiên cứu đó không nói gì tới việc Nixon là tân Tổng thống và nghiên cứu kết thúc vào ngày 31-3-1968 dưới thời Lyndon Johnson. Nixon vừa mới thắng cử nhờ vào lý do rằng ông ta không hề có dự định tiếp tục những chính sách thất bại trong quá khứ. Những gì tôi cần, nhưng không có, là những tài liệu phản bác lại điều đó. Tại Washington, vào cuối tháng tám, nếu Mort đưa cho tôi một tài liệu chứng minh rằng ông ta tin vào chính sách của Nixon, thì tôi đã dúi tập tài liệu đó vào tay Thượng nghị sỹ Fulbright hay đưa cho tờ Thời báo New York, hay cả hai, trước khi tôi quay về Haverford. Tôi không có bằng chứng đó và nghiên cứu của McNamara không thể thay thế cho bằng chứng đó được.

     Nhưng hai tuần sau, việc làm thân với Đảng Dân chủ chẳng có tác dụng gì và bức thư của chúng tôi có thể không được gửi đi.

     Trong 2 tuần đó, tôi đã đọc xong phần đầu tiên của nghiên cứu, về nguồn gốc của cuộc chiến tranh. Câu chuyện trên tờ Thời báo Los Angeles vào buổi sáng, vượt lên trên tất cả ảnh hưởng của các tháng trước đó, đã đẩy tôi qua ranh giới. Tôi cảm thấy mình sẵn sàng ngồi tù chỉ để tố cáo những lời nói dối về vụ giết người này.

     Một khi tôi bắt đầu suy nghĩ về điều đó, tôi thấy rằng sẽ có lợi nếu như công bố giai đoạn lịch sử này - giá như có thể làm nhanh, trước khi Nixon biến cuộc chiến tranh thành cuộc chiến tranh Nixon. Chỉ trong vòng vào tuần, Tổng thống sẽ làm theo cách này hay cách khác. Những tài liệu này có thể không có tác dụng như tôi muốn đối với việc gây ảnh hưởng tới sự lựa chọn đó, nhưng cùng với bức thư của Rand, đó là tất cả những gì tôi có. Đã đến lúc tôi bỏ lá phiếu của mình.

     Khi tôi đến căn hộ của Tony, tôi nói với anh ấy: "Anh biết về nghiên cứu tôi đã nói với anh cách đây vài tuần, đúng không? Tôi có được tập tài liệu đó ở Công ty Rand, trong két sắt của tôi và tôi chuẩn bị công bố nó". Như tôi đã dự đoán trước, Tony không cần phải hỏi cũng đã sẵn lòng giúp tôi rồi. Anh ấy nói: "Thật tuyệt! Chúng ta hãy bắt tay vào làm thôi!". Anh ta không đủ kiên nhẫn để nghe tất cả những lý lẽ mà tôi nghĩ ra trên đường đến đây. Tôi không biết là đã bao giờ bàn những lý lẽ đó với anh ta. Bây giờ thì điều đó không còn cần thiết nữa. Tôi nói với anh ấy rằng nghiên cứu đó rất dài và mất rất nhiều công sức mới photocopy xong được. Tôi muốn đưa một bản cho Thượng nghị viện và một bản cho báo giới. Tôi hỏi không biết anh ấy có biết ở đâu có máy photocopy không. Anh ấy nói có biết. Bạn gái của anh ấy, Lynda Sinay có mở một công ty quảng cáo nhỏ. Anh ấy gọi điện ngay cho bạn gái và cô ấy nói chúng tôi có thể sử dụng máy photocopy sau giờ làm việc. Chúng tôi có thể bắt đầu công việc ngay tối hôm sau.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #123 vào lúc: 18 Tháng Mười Một, 2007, 05:30:17 PM »

Chương 20

Nhân bản tập tài liệu



     Sáng sớm ngày 1-10-1969, tôi mở két sắt bí mật trong góc phòng làm việc và bắt đầu chọn ra những tập trong tài liệu của McNamara để nhân bản đêm hôm đó. 47 tập chất đầy hai ngăn kéo, cao khoảng 8 feet. Tôi nghĩ nên bắt đầu từ những nghiên cứu được ưu tiên hàng đầu. Tôi không biết mất bao lâu mới photocopy xong một tập và cũng không biết là có thể photocopy hết được không trước khi đến giờ phải công bố tài liệu này. Tôi muốn công bố trước ngày 15-10 và từ nay đến lúc đó cũng không còn nhiều thời gian nữa.

     "Tôi có thể bị phát hiện trước khi làm được điều đó. Thực ra có khi chỉ 10 phút nữa thôi tôi cũng sẽ bị phát hiện. Tôi không nghĩ rằng điều đó rất dễ xảy ra. Tôi không còn nhớ là bảo vệ có yêu cầu kiểm tra cặp sách của tôi khi tôi rời nhiệm sở hay không. Và tôi cũng không nhớ là chính mình đã từng nhìn thấy bảo vệ làm điều đó với ai hay là trên thực tế họ không bao giờ làm cả: Tôi chưa bao giờ có cơ hội nghĩ hoặc để ý đến điều đó. Tôi chưa bao giờ mang tài liệu mật của Rand về nhà. Ở Washington thì lại khác. Ngay cả ở đó tôi cũng chưa bao giờ mang tài liệu mật về nhà, nhưng tôi thường xuyên ra vào Nhà Trắng, Lầu Năm Góc và Bộ Ngoại giao Mỹ với các bức điện tín mật. Khi tôi rời phòng làm việc về các vấn đề an ninh quốc tế, cửa phòng làm việc luôn mở, trên bàn để những chồng tài liệu mật cao. Luôn có một, hai người thư ký ngồi phía bên ngoài, nhưng không phải lúc nào cũng vậy và cửa các phòng làm việc của khu vực các vấn đề an ninh quốc tế cũng không khoá.

     Nhưng Công ty Rand thì khác. Rất hiếm khi người ta đi ra sảnh lớn với tập tài liệu mật trên tay, trừ phi ra vào Phòng kiểm soát tối mật. Bạn không thể để tài liệu mật trên bàn hoặc thậm chí để trong két sắt khoá lại khi bạn rời khỏi phòng làm việc.

     Bạn không được phép rời mắt khỏi nó một lúc nào trừ phi bạn có một két sắt tối mật khoá lại, nhưng không phải nhiều người có két sắt như vậy. Những ai không có sẽ phải đọc nhờ tài liệu tối mật ở phòng kiểm soát tối mật hoặc trả tài liệu về đó khi rời cơ quan. Điều đó hơi bất tiện nếu như bạn thường xuyên muốn đọc tài liệu mật đó, nhưng đa phần mọi người không thưòng xuyên làm việc với tài liệu mật nhiều đến như vậy. Nếu họ cần, họ sẽ cố gắng có két sắt tối mật cho riêng mình. Những két sắt này nặng hơn két sắt bảo mật thông thường và khoá cũng khác.

     Một két sắt tối mật rất dễ nhận ra trong phòng bởi vì nó màu đen, chứ không phải màu ghi. Phần lớn các két sắt có hai ngăn kéo. Một số có 4 ngăn, tất cả đều để kín tài liệu.

     Tôi bắt đầu với tập tài liệu về giai đoạn 1964- 1965. Giai đoạn này phù hợp nhất với thời điểm hiện tại. Đó là giai đoạn lịch sử mà tôi cố gắng không muốn lập lại: một vị Tổng thống đe doạ leo thang chiến tranh, và có những kế hoạch bí mật để thực hiện điều đó; một cuộc chiến đang ngày càng mở rộng và kéo dài hơn, mà dư luận hoàn toàn không hề biết đến. Bản thân những tập tài liệu đó sẽ kể những câu chuyện cần được kể, như là những thông tin cơ bản cho những lập luận của tôi về chính sách của Nixon. Ít nhất điều đó sẽ chứng minh tất cả những gì đã xảy ra từ trước đến nay. Sự thật là điều đó đã lập đi lập lại trong vòng 24 năm. Bằng chứng của việc làm đó hiện cũng đang nằm trong két sắt của tôi: đó là toàn bộ nghiên cứu, nhưng mất nhiều thời gian để nhân bản. Tôi hy vọng chỉ trong một vài đêm tôi sẽ nhân bản được tài liệu nói về giai đoạn 1964- 1965 để tôi có thể phát tán, thậm chí nếu tôi có bị bắt trước khi kịp nhân bản số tài liệu còn lại.

     Những tập tài liệu này rất dày. Tài liệu tôi có trong két sắt bảo mật bao gồm những tập mà tôi chưa bao giờ nhập vào hệ thống. Tài liệu đó có bìa các tông màu xanh. Cả bìa trước và sau đều ghi "Tối mật" bằng chữ đen và to cả ở phía trên và phía dưới trang bìa. Tôi đút những tập tài liệu này vào cặp sách da màu nâu của mình và đi xuống dưới nhà. Tôi biết rất rõ về những gì mình đang mang trong cặp sách. Chưa bao giờ tôi đi qua bảo vệ dưới nhà với tài liệu mật trong cặp cả.

     Tôi mở cửa đi ra sảnh lớn dưới nhà. Như thường lệ có hai bảo vệ ngồi ở bàn. Tôi đeo thẻ ra vào nhưng chỉ cần nhìn là họ biết ai là ai ngay. Họ nói: "Tạm biệt, Dan", rất thân thiện như mọi ngày và tôi cũng vẫy tay chào họ khi tôi đi ngang qua bàn.

     Một bảo vệ tìm tên tôi trong danh sách và ghi lại thời điểm tôi rời cơ quan. Tôi đẩy cửa kính và bước ra bãi đỗ xe.

     Tôi đi thẳng về căn hộ của Tony Russo. Lúc đó có cả Lynda Sinay ở đó nữa. Cô ấy rất xinh, khoảng ngoài 20 tuổi và cũng rất thông minh nữa. Cô ta còn trẻ để điều hành một công ty quảng cáo. Chúng tôi lái xe đến văn phòng công ty cô ta ở góc đường Melrose và Crescent. Văn phòng nằm ở tầng 2, trên một cửa hàng hoa. Lynda hướng dẫn chúng tôi cách tắt hệ thống chuông báo động bằng một chìa khoá đặc biệt.

     Máy photocopy nằm trong phòng khách. Ngoài ra còn có hai phòng nữa, rộng hơn, có bàn làm việc, một bếp nhỏ và một nhà tắm. Lynda hướng dẫn chúng tôi cách sử dụng máy photocopy. Đó là một máy photocopy to, rất hiện đại so với thời đó, nhưng rất chậm so với tiêu chuẩn ngày nay. Mỗi lần chỉ chụp được một trang và phải mất vài giây mới xong. Tôi cố gắng ấn quyển sách xuống mặt kính, hy vọng mỗi lần chụp được 2 trang nhưng phần ở gáy sách chụp rất mờ. May sao, những tập tài liệu này được đóng gáy xoắn nên có thể dỡ tung ra. Tôi cố gắng tháo gáy xoắn thật cẩn thận để không bị phát hiện. Lúc đầu tôi dự định sao chụp thành hai bản, mặc dù sẽ mất thời gian hơn. Máy photocopy này không tự sắp xếp theo đúng trật tự được. Tony và Lynda đang ngồi nói chuyện ở phòng bên cạnh. Tôi đưa một tập tài liệu cho Tony và bảo anh ấy sắp xếp theo đúng thứ tự. Tôi quay trở lại máy photocopy và tiếp tục công việc của mình.

     Có tiếng gõ cửa trên cửa kính phía bên trái tôi. Hai cảnh sát mặc đồng phục xuất hiện. Một người vừa dùng gậy gõ vào cửa kính. Anh ta ra hiệu cho tôi mở cửa. Tôi đậy nắp máy photocopy lại, đè lên trang có đề dòng chữ tuyệt mật. Khi tôi quay ra để mở cửa thì tôi vô tình đánh rơi một tờ giấy trắng lên trên tập tài liệu có hàng chữ tuyệt mật. Tôi nghĩ: Lạy chúa! Tôi hỏi họ: "Có việc gì không, thưa các ông?"

Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #124 vào lúc: 18 Tháng Mười Một, 2007, 05:33:27 PM »

     Một người cảnh sát nói: "Hệ thống báo động của ông đã tắt".

     Tôi gọi với vào phòng bên cạnh: "Lynda, có ai cần gặp cô đây này". Tôi hy vọng Tony sẽ che những tờ giấy đó đi. Anh ta đã làm điều đó khi cảnh sát bước vào.

     Một người cảnh sát nói: "Chào Lynda. Cô lại quên không bật hệ thống báo động".

     Lynda nói: "Ôi, lạy chúa, tôi xin lỗi. Tôi hoàn toàn không biết sử dụng cái chìa khoá chết tiệt này".

     Người cảnh sát nói: "Ồ, không sao. Cô nên rút kinh nghiệm về chuyện này".

     Lynda nói: "Vâng, tôi sẽ rút kinh nghiệm". Họ chào tạm biệt. Chúng tôi nhìn nhau, thở phào nhẹ nhõm rồi tiếp tục làm công việc của mình.

     Tony thay tôi photocopy tài liệu, còn tôi thì sắp xếp theo thứ tự. Một lúc sau, Tony và Lynda về nhà. Tôi muốn photocopy được càng nhiều càng tốt. Tôi làm việc suốt đêm.

     Để cho nhanh, tôi cố gắng phối hợp các hoạt động thật nhịp nhàng. Một tay cầm tờ giấy lên, một tay đặt xuống máy, bấm nút, đợi, nhấc tờ giấy ra, để sang bên phải và đặt tờ giấy khác vào máy. Ngày nay quy trình này nghe rất quen thuộc nhưng lúc đó là cả một công nghệ mới. Hơi mất thời gian khi phải nâng nắp máy lên rồi đậy xuống và tôi không hiểu tại sao lại phải làm như vậy. Đó là để cho bản photocopy được đẹp hay là muốn bảo vệ mắt? Ánh sáng có sáng quá không nhỉ? Máy móc hoạt động ra sao? Ánh sáng màu xanh lá cây đó có gây phóng xạ không? Để tiết kiệm thời gian, tôi bắt đầu photocopy từ trên xuống - những bản sao trông rất đẹp - hy vọng rằng tôi sẽ không bị đau đầu hay mù mắt. Tôi cố gắng không nhìn thẳng vào ánh sáng, hoặc là tôi nhắm mắt lại. Nhưng thị lực của tôi thấy vẫn bình thường và tôi không còn lo lắng nữa.

     Tới 5h30 , trời đã sáng và tôi muốn nghỉ. Tôi đóng gáy xoắn lại cho tập tài liệu, rất cẩn thận để người khác không phát hiện ra là tôi đã tháo ra. Tôi hoàn thành xong việc sắp xếp các trang theo đúng trật tự vốn có. Tôi để riêng những trang photocopy mờ hay bị hỏng. Tất cả mọi trang đều đề "Tối mật" và văn phòng của Lynda không có máy huỷ giấy. Tôi cho chúng vào cặp để về huỷ tại Công ty Rand. Ở Lầu Năm Góc, người ta cho giấy tờ bí mật vào những chiếc túi lớn, cuối ngày gom các túi này lại và đem đi đốt. Tại Công ty Rand, tài liệu mật đi theo một cái máng vào trong thùng rác to ở dưới tầng hầm và được huỷ tại đó.

     Lúc đó còn quá sớm để đến cơ quan. Tôi thường làm việc rất muộn và bảo vệ không bao giờ thấy tôi đến cơ quan trước 8 giờ sáng. Trên đường về nhà, tôi dừng lại ở Zucky và ăn một bữa sáng. Tôi đợi đến 8 giờ, sau đó đi vào sảnh lớn với cặp tài liệu của mình, đi ngang qua bảo vệ, họ chào, kiểm tra và cho tôi vào. Không có vấn đề gì. Tôi cho tài liệu vào trong két sắt, khoá két lại, rời cơ quan theo một cửa khác và đi qua những người bảo vệ khác. Tôi về nhà và ngủ một lúc. Nhà tôi năm trên đường cao tốc Pacific Coast đi Malibu. Tôi không quen lái xe trên con đường đó vào giờ đó. Ánh nắng xuyên xuống từ một hướng khác, mặt trời đang mọc phía bên tay phải tôi, thay vì tay trái. Buổi sáng trời rất quang đãng, bầu trời trong xanh.

     Trước khi đi ngủ, tôi đi bơi một lúc. Tôi không biết mình còn có bao nhiêu buổi sáng được đi bơi như vậy nữa.

     Buổi chiều, sau khi tôi đã ngủ được một vài tiếng, tôi quay trở lại Công ty Rand và giải quyết tiếp công việc. Có một cuộc họp trong nhóm làm việc của chúng tôi để quyết định về bản thảo bức thư. Khoảng 7 giờ tối ngày hôm đó, tôi đút tài liệu tối mật vào cặp sách và đi qua bảo vệ an toàn. Tôi tới văn phòng của Lynda và photocopy cả đêm ở đó. Việc làm này đã thành thông lệ trong những ngày tiếp theo. Tôi không được ngủ đủ.

     Đó là một công việc mệt mỏi triền miên. Nhưng cũng có những việc khác nữa khiến cho công việc đó không đơn điệu.

     Dòng chữ đánh dấu tuyệt mật trên phía đầu và phía dưới mỗi trang ngay lập tức khiến tôi nhớ lại những hiểm nguy. Tôi chưa biết làm thế nào để tiết lộ những thông tin bí mật này trước công chúng. Nhưng dù điều đó có xảy ra như thế nào thì nó cũng sẽ làm thay đổi cuộc sống của tôi rất nhiều và nhanh chóng. Điều đó sẽ sớm xảy ra, có thể chỉ trong hai tuần nữa - vào ngày 15-10 hoặc một tháng sau đó, ngày 15-11. Khoảng một tháng nữa, tôi sẽ bị tống giam, có lẽ là đến hết đời.

     Tôi cho rằng điều hiển nhiên là tôi đang phạm luật. Trong sự nghiệp của mình, kể từ khi gia nhập Hải quân Mỹ, tôi đã ký khoảng 12 thoả thuận cam kết giữ bí mật khác nhau. Mỗi lần ký, tôi thường liếc nhìn những dòng chữ cảnh báo quy định những đạo luật của liên bang mà theo đó tôi sẽ phải chịu sự truy tố và tống giam nếu tôi "tiết lộ thông tin có liên quan tới an ninh quốc gia" cho những ai không có phận sự. Tôi chưa bao giờ đọc những lời cảnh báo đó thật cẩn thận bởi vì tôi chưa bao giờ nghĩ mình có ý định làm gì để phải chịu sự trừng phạt đó cả. Do vậy tôi không bao giờ tìm hiểu xem là những đạo luật như vậy sẽ được áp dụng như thế nào. Nhưng người ta không cần phải đọc những lời cảnh báo đó mà phải tự biết rằng công bố các tài liệu tuyệt mật không được phép là một tội ác nghiêm trọng. Điều đó quá hiển nhiên.

     Đồng thời, tôi hơi mường tượng ra rằng những vụ tiết lộ thông tin cllo báo chí, cứ cách ngày lại xảy ra một lần, không bị truy tố thường xuyên. Thực ra tôi không còn nhớ là mình đã từng biết đến một vụ truy tố nào như vậy chưa, mặc dù nhiều vụ tiết lộ thông tin đã khiến cho ngành hành pháp phát điên lên và nghe đâu là họ đã tập trung tiến hành điều tra rất sát sao: ít nhất trong một vài trường hợp như vậy, việc điều tra phải xác định được nguồn thông tin rõ ràng. Kể cả nếu các trường hợp đó không dẫn đến việc truy tố đi chăng nữa thì tôi phỏng đoán là chắc chắn phải có lý đo chính trị hay quan liêu - không quá khó để có thể hình dung ra một số lý do - mà có thể dẫn tới quyết định cố tình không truy tố. Dường như có khả năng điều đó sẽ xảy ra trong trường hợp này. Đối với tôi không sao cả. Nhưng cơ may dường như khá nhỏ, chỉ một hoặc hai phần trăm. Trong chừng mực tôi được biết, từ trước đến nay chưa có ai công bố hàng ngàn trang tài liệu tối mật cả.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #125 vào lúc: 18 Tháng Mười Một, 2007, 05:34:16 PM »

     Tôi không biết làm thế nào mà các cấp chính quyền có thể bỏ qua sự thách thức đối với một hệ thống như vậy nếu họ tìm thấy nguồn thông tin. Và trong trường hợp này, điều đó không khó khăn gì. Trong các trường hợp trước đây, có thể trở ngại đối với việc truy tố là ở chỗ khó xác định thông tin bị rò rỉ từ đâu để có thể tiến hành khởi tố. Thường là có rất nhiều mối nghi vấn tiềm tàng, tất cả đều phủ nhận đã làm rò rỉ thông tin và các nhà báo sẽ không cung cấp thông tin gì cả. Nhưng lần này tình hình lại không như vậy. Trừ phi vì một lý do nào đó tôi không thể đoán trước được rằng chính quyền quyết tâm không khởi tố vụ việc, còn nếu không chắc chắn người ta sẽ tiến hành điều tra hình sự. Ngay khi việc điều tra được tiến hành, chính quyền sẽ biết được nguồn rò rỉ thông tin, tôi dám chắc như vậy.

     Chỉ có khoảng 12 người sở hữu tài liệu nghiên cứu của McNamara bên ngoài Lầu Năm Góc và rất ít người khác được tiếp cận với nó. Trên thực tế, mỗi người trong số họ đã bị chính quyền coi là những phần tử phản đối cuộc chiến tranh Việt Nam và do vậy họ bị tình nghi. Nhưng đồng thời mỗi người trong số họ là cấp trên hoặc đồng nghiệp cũ của tôi; tôi quý trọng họ và trong đó có cả những người là bạn thân nhất của tôi. Tôi không muốn họ bị tình nghi nếu tôi có thể giúp được họ. Đem hết sức mình, tôi muốn bảo vệ họ khỏi liên luỵ về pháp luật hoặc hậu quả của cuộc điều tra. Điều đó có nghĩa là khi có những dấu hiện đầu tiên của cuộc điều tra hình sự đó, tôi sẽ tuyên bố rằng tôi là nguồn công bố thông tin duy nhất (tôi sẽ không làm điều này sớm, tôi sẽ không làm điều này để bị truy tố). Tôi sẽ nói rằng tôi hành động một mình, không những không nhận được sự hợp tác giúp đỡ của những con người cụ thể nêu trên mà còn không cho họ biết lý do nào để họ nghi ngờ rằng tôi sẽ làm một việc tày trời như vậy. Tôi muốn họ có thể qua được bài kiểm tra trên máy phát hiện nói dối. Tôi không tự lừa phỉnh bản thân rằng họ sẽ mang ơn tôi về điều đó. Một khi bản thân tôi đã quyết tâm làm việc này, tất cả họ sẽ phải trả giá cho việc trước đây họ có liên quan đến tôi và do vậy tôi mới được tiếp cận với tài liệu này. Đối với những người mà tôi thân cận nhất, gánh nặng có thể thật nặng nề. Tôi không biết cách làm thế nào để tránh được điều đó và cũng không biết cần phải làm thêm điều gì. Tất cả những gì tôi có thể làm cho họ là cố gắng hết sức giúp họ thoát khỏi vòng lao lý.

     Nếu tôi không tiên đoán rằng những gì tôi đang làm có lẽ sẽ khiến tôi vào tù và rằng tình hình đã làm cho điều đó dễ chấp nhận hơn thì có lẽ tôi đã lo lắng hơn về sự nghiệp của các bạn đồng nghiệp. Nhưng một khi tôi đã quyết định rằng, tôi xác định làm công việc này thì tôi sẽ tập trung vào làm cho thật tốt.

     Tôi không biết tương lai sẽ ra sao đối với tôi, hay đối với những người khác. Những người đang thực sự giúp đỡ tôi, bắt đầu với Tony và Lynda hiển nhiên là đang chịu những nguy hiểm nhưng họ đã tình nguyện làm điều đó. Tôi không nghĩ rằng mối hiểm nguy lớn đang chờ đón họ (tôi đã lầm). Họ không biết gì về nội dung của tập tài liệu đã photocopy. Ít nhất tôi khuyên họ không nên đọc tài liệu này, mặc dù điều đó không ngăn Tony. Thậm chí cả Lynda cũng đọc một ít.

     Những gì tôi thực sự lo ngại là các con tôi sẽ biết về những gì tôi đã làm. Chúng đã quen với việc tôi đi xa, đến Washington hay Việt Nam. Nhưng lần này tôi sẽ ra đi mãi mãi.

     Chúng có thể được vào thăm tôi trong thời gian ngắn nhưng tôi luôn hình dung ra hình ảnh những phòng thăm thân nhân trong một nhà tù an ninh nghiêm ngặt khi từ nay đến cuối đời, tôi chỉ còn được nhìn thấy chúng qua lớp kính và nói chuyện với chúng thông qua microphone luôn bị kiểm duyệt. Tôi chưa bao giờ phải ngồi tù. Khái niệm của tôi về nhà tù là có từ phim ảnh.

     Tôi biết có những nhà tù giống như những câu lạc bộ ở vùng đồng quê nhưng tôi không nghĩ đó là nơi dành cho những ai đã nhân bản 7.000 trang tài liệu tối mật. Thực ra tôi cũng không nghĩ là tôi có thể trả tiền bảo lãnh để được tại ngoại trước khi tôi bị đưa ra xét xử. Do vậy trong một vài tuần nữa, tôi sẽ vĩnh viễn mất cơ hội được nói chuyện trực tiếp với các con tôi, trừ phi qua một lớp kính. Chúng sẽ nhìn thấy tôi tay bị khoá số 8, bị dẫn vào phòng thăm thân nhân, mặc quần áo tù nhân.

     Ngay lập tức, vô tuyến truyền hình sẽ đưa tin rằng cha chúng là một kẻ phản bội, rằng cha chúng đã bị điên và làm chuyện kỳ quặc. Tôi muốn chúng nhớ tới những gì trái ngược hẳn lại việc làm đó. Nếu chúng ở cùng với chúng tôi một tối khi chúng tõi đang nhân bản tài liệu, chúng sẽ thấy rằng tôi không điên và công việc tôi đang làm không có gì kỳ quặc cả.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #126 vào lúc: 18 Tháng Mười Một, 2007, 05:35:12 PM »

     Tôi đang làm việc với các bạn của mình, làm những gì mà tôi tin rằng cần phải làm. Chúng có thể chưa đủ lớn để tự phán xét việc tôi làm là đúng hay sai, nhưng cùng với thời gian, chúng sẽ hiểu và nhớ rằng tôi đang hành động rất bình tĩnh, đang làm những gì mà tôi tin là đúng và cần thiết.

    Điều cốt lõi là như vậy. Nhưng cũng còn một điều khác nữa. Từ nay đến cuối đời, tôi không còn giúp gì được cho chúng nhiều nữa, thậm chí không giúp chúng học hết được đại học; nhưng tôi có thể mang lại cho chúng một tri thức mà không dễ gì có được. Đó là những gì tôi nhận được từ Bob Eaton và Randy Keller; tôi rất biết ơn vì đã nhận được điều đó và có lẽ đó là thứ duy nhất tôi có thể dành cho các con tôi.

     Chúng sẽ biết rằng tới một ngày nào đó bản thân chúng sẽ phải làm những điều giống như tôi đã làm. Nhớ lại tâm trạng hàng ngày của tôi khi chúng tôi làm việc và hồi tưởng lại toàn bộ câu chuyện khi bọn trẻ lớn lên và có lẽ tự chúng đọc lại toàn bộ nghiên cứu của McNamara, chúng sẽ biết rằng những gì tôi đang làm là đúng, là cần thiết, trong hoàn cảnh khi hành động có thể khiến chúng phải đi tù. Khi tình huống đó xuất hiện, chúng sẽ nhận ra, nhận ra nhanh hơn tôi. Chúng sẽ không cần phải gặp một Randy thứ hai nữa.

     Tôi muốn điều này cho cả hai đứa con tôi, nhưng tôi biết mẹ chúng sẽ điên tiết lên nếu cô ấy biết việc làm của tôi liên luỵ tới Mary. Cô ấy cũng sẽ có cùng tâm trạng với Robert, nhưng Robert đã gần 14 tuổi rồi (trong khi Mary chưa đến 11 tuổi); và tôi quyết tâm tạo cho nó một cơ hội can dự vào việc này nếu như nó muốn. Tôi tin rằng tôi đã báo trước với vợ cũ, thu nhập của tôi và tiền cấp dưỡng nuôi con sẽ bị cắt giảm, nhưng tôi muốn nói chuyện với Robert trước.

     Ngày thứ bảy, 4-10-69, ba ngày sau khi tôi bắt đầu nhân bản tài liệu, tôi đưa Robert đi ăn trưa tại chợ Brentwood.

     Đó là nơi bọn trẻ con thích nhất (và là nơi mọi người ở Công ty Rand hay ra đó ăn trưa). Khi bọn trẻ con còn nhỏ, chúng tôi thường đạp xe từ San Vicente xuống đó, cách nhà chúng tôi một dặm, Robert tự lái xe, Mary ngồi sau xe tôi. Ở đó có một khoảng sân rộng, xung quanh có cửa hàng và có những chiếc bàn picnic làm bằng gỗ. Chúng tôi thường ăn thịt gà nướng, khoai tây chiến và uống nước dứa và nước dừa, nước táo và nho ở quầy bar.

     Trong bữa trưa, tôi nói với Robert về nghiên cứu của McNamara. Tôi nói rằng tài liệu này công bố sự thật về những gì các vị Tổng thống dự định làm ở Việt Nam, trái ngược hoàn toàn so với những gì họ làm cho công chúng tin. Tôi nói với nó rằng điều đó sẽ lại xảy ra và cuộc chiến tranh sẽ có tiếp tục leo thang nhưng sẽ có tác dụng nếu chúng ta ngăn chặn trước không để nó xảy ra nếu như mọi người biết rằng trước đây họ đã bị lừa dối. Do vậy bằng cách nào đó ba sẽ công bố những thông tin đó. Nhưng vì là thông tin bí mật, ba sẽ phải ngồi tù, giống như những người trốn quân dịch vậy. Tôi kể cho con trai nghe về Bob Eaton và Randy Kehler. Tôi sẽ phải ngồi tù trong thời gian dài hơn.

     Trước đó một tháng, tôi đã mang về từ hội nghị quốc tế của những người phản đối chiến tranh tại đại học Haverford một số truyền đơn, bao gồm cả truyền đơn "Về nghĩa vụ không tuân thủ công dân" của Thoreau và "Cách mạng và công bằng" của Barbara Deưùng. Con trai tôi đã đọc tờ truyền đơn của Thoreau và chúng tôi đã trao đổi về nội dung của tờ truyền đơn đó. Tôi nói với nó rằng đó là hành động không tuân thủ công dân. Tôi hỏi nó có muốn giúp tôi không. Nó nói nó sẽ giúp tôi. Tôi đã chọn ra một số tập tài liệu trong két sắt của Rand sáng ngày hôm đó và buổi chiều chúng tôi tới văn phòng làm việc của Lynda. Lynda đang làm việc ở đó, nhưng cô ấy nói nhân viên của cô sẽ không đến cơ quan trong hai ngày nghỉ cuối tuần. Tôi chỉ cho Robert biết cách sử dụng máy photocopy và để nó nhân bản trong khi tôi sắp xếp theo đúng thứ tự. Tất cả chúng tôi cùng đi ăn tối, sớm hơn thường lệ. Sau đó chúng tôi quay lại và làm tiếp.

     Robert đang photocopy thì cảnh sát lại đến. Nó mời họ vào. Lần này có 3 cảnh sát, bất thần xuất hiện trong phòng làm việc của Lynda, nơi tôi đang ngồi trên sàn nhà cắt những dòng chữ "tối mật" khỏi phía trên và phía dưới trang giấy. Không có đủ thời gian để che đậy mọi thứ lại và đáng nhẽ ra 3 viên cảnh sát đã phải chú ý tới những mẩu giấy vụn có dòng chữ "tối mật" nằm vương vãi trên sàn nhà. Nhưng điều đó không xảy ra. Tôi đoán rằng khung cảnh lúc đó rất hợp lý: Lynda thì đang ngồi ở bàn làm việc và một đứa trẻ khoảng 12-13 tuổi gì đó đang lúi húi bên máy photocopy, một khung cảnh gia đình vào chiều thứ bảy. Ba viên cảnh sát rời đi ngay. Sau này Robert nhớ lại là hôm đó cảnh sát đến hai lần khi nó có mặt. Có thể nó nói đúng.

     Tôi nhớ mang máng là có hai nhóm cảnh sát đến để hỏi về hệ thống báo động. Hai năm sau, khi Lynda xuất hiện trước bồi thẩm đoàn, uỷ viên công tố khăng khăng hỏi cô ta ngày chính xác cô ta có mặt khi tôi đang nhân bản tài liệu. Cô ta nói "Ông có thể biết được điều đó từ hồ sơ của đồn cảnh sát về số lần hệ thống báo động ngừng hoạt động". Uỷ viên công tố nói:

     "Lynda, cô có nhớ là cô bật hệ thống báo động bao nhiêu lần trong năm đó?". "Khoảng 17 lần".

     Chính lần đầu tiên cảnh sát đến một vài đêm trước đã khiến tôi nảy ra ý định cắt các dòng chữ tối mật trên các trang giấy.

     Những dòng chữ này được in đậm bằng mực phía trên và phía dưới trang giấy. Từ phía bên kia phòng bạn cũng có thể nhìn thấy dòng chữ đó. Tôi biết đối với những ai không quen nhìn những dòng chữ đó thì hiệu quả thật đáng giật mình. Tôi còn nhớ cảm giác lần đầu tiên nhìn thấy dòng chữ "tối mật" mà đáng nhẽ ra tôi không được nhìn thấy, một bản kế hoạch chiến tranh mà một đại tá đã đưa cho tôi dưới tầng hầm của Lầu Năm Góc. Tim tôi đập nhanh, hơi thở gấp, cảm giác như có ai đang theo dõi tôi. Bây giờ, mặc dù tôi đã che dòng chữ "tuyệt mật" đi kịp thời không để cảnh sát nhìn thấy, nhưng sau khi họ đi, tôi nhìn lại nó từ nơi họ đã đứng.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #127 vào lúc: 18 Tháng Mười Một, 2007, 05:36:01 PM »

     Sự cố này khiến tôi nhận thức được một điều rằng toàn bộ quá trình nhân bản tài liệu có thể bị cảnh sát hay FBI phát hiện bất kỳ lúc nào trước khi tôi kịp công bố tài liệu. Họ sẽ tịch thu tất cả các trang tài liệu mà họ tìm thấy với tôi và bất kỳ trang tài liệu nào mà họ tìm thấy. Do vậy điều quan trọng là phải sao chụp đủ số bản cần thiết và giấu chúng tại những nơi khác nhau, để cho họ không thể tìm thấy tất cả các bản. Sau đó từ trong tù, bằng cách nào đó tôi sẽ nhắn tin ra. Người này sẽ thu thập đủ các bản tài liệu và đem đi xuất bản. Nhưng điều đó có nghĩa là đến một lúc nào tôi sẽ phải nhân bản tài liệu theo kiểu chuyên nghiệp; tôi không thể sao chụp đủ số bản bằng máy photocopy chậm như thế này được. Và tôi cũng không thể ra ngoài phố và đưa tập tài liệu có dấu "tuyệt mật" cho một nhân viên ở đó để nhân bản. Tôi phải làm cho nó giống như một tập tài liệu bình thường. Đó là lý do tại sao tôi muốn làm cho tập tài liệu không còn dấu "tối mật" nữa.

     Tất nhiên những trang giấy bị cắt ngắn ở phần trên và dưới thì trông cũng không ổn lắm. Do đó tôi photocopy lại toàn bộ trang giấy để trông cho bình thường. Có lúc Tony Russo gợi ý với tôi cải tiến quy trình. Anh ta đo những mẩu các tông để khớp vào phần phía trên và phía dưới của trang giấy nơi dòng chữ "tối mật" bị đóng dấu vào. Anh ta dán những miếng các tông đó lên trên mặt kính của máy photocopy vào đúng vị trí và tôi chỉ việc đặt trang giấy của bản gốc lên trên, bấm nút và… xong! Ngay lập tức tài liệu không còn bí mật nữa. Đó là một tiến bộ lớn. Tôi sẽ không phải dùng kéo cắt nữa. Đó là công đoạn lâu nhất trong cả quy trình. Không phải là người khéo tay, tôi rất ấn tượng với tiến bộ này.

     Nhưng thật không may, làm theo cách này không ổn. Một lúc lâu tôi không để ý nhưng hoá ra là những dấu "tối mật" vốn dĩ được đóng bằng tay, không phải lúc nào cũng nằm ở cùng một vị trí như nhau trên các trang giấy. Một số nằm ngang hoặc nằm dưới số trang. Trên một số trang, tấm bìa các tông của Tony bị chệch mất. Nếu nhân viên tại cửa hàng photocopy tinh ý - ngày đó, các máy photocopy chưa có ngăn nạp giấy tự động - anh ta sẽ phát hiện ra là cứ khoảng 20 đến 30 trang lại thấy có một trang có dòng chữ "tuyệt mật". Không ổn rồi. Lại phải quay lại cách dùng kéo cắt.

      Đêm đầu tiên nhân bản, tôi mang các bản photocopy về nhà, nhưng tôi muốn thay đổi điều đó nhanh chóng. Nhà của tôi có thể là nơi đầu tiên mà FBI sẽ lục soát, cùng với nhà của Tony và Linda. Tôi qua nhà một người bạn có một căn hộ cách chỗ tôi ở một dặm về phía nam trên đường cao tốc Pacific Coast. (Đã lâu lắm tôi không gọi điện cho cô bạn này và sau đó tôi cũng không gọi lại). Tôi nói với cô ấy tôi có một số tài liệu cần cất giữ, không để ở nhà tôi được và sẽ có thêm các tài liệu khác nữa. Những tài liệu này có liên quan đến chiến tranh, liên quan đến làm thế nào để chấm dứt chiến tranh và sẽ có những nguy hiểm nhất định nếu cô ấy định cất giữ tài liệu dùm tôi. Cô ấy vốn dĩ không phải là người quan tâm đến chính trị nhưng khi tôi nói đến chấm dứt chiến tranh thì cô ấy tỏ ra khá quan tâm.

      Điều đó cũng đúng đối với nhiều người thời bấy giờ, đúng với hầu như tất cả những ai tôi nhờ giúp đỡ. Cô ấy đồng ý giúp tôi ngay. Cô ấy có chỗ trống trên giá sách trong phòng ngủ, cạnh cửa sổ nhìn ra biển. Hàng sáng, trên đường lái xe về, tôi sẽ mang theo một ít tài liệu cho cô ấy cất giữ hộ.

      Tôi phải đối diện với người vợ cũ. Tôi nghĩ tôi phải báo trước với cô ta càng nhiều càng tốt - có lẽ không lâu, chỉ vài ngày hay vài tuần - rằng thu nhập của cô ta sẽ đột ngột bị cắt giảm. Như tôi đã nhận định, bàn bạc việc này với vợ tôi thật khó khăn Chúng tôi đã rất hoà thuận với nhau kể từ sau khi tôi từ Việt Nam trở về. Ngay từ đầu cô ta đã tỏ ra nghi ngờ về cuộc chiến tranh này. Robert chưa kể cho cô ta nghe những gì tôi và nó làm vào hôm thứ bảy. Nhưng vào chiều chủ nhật, tôi đã kể và nói rõ lý do tại sao tôi lại làm như vậy và hậu quả có thể xảy ra. Cô ta hỏi tôi ngay là những việc tôi đang làm sẽ có ý nghĩa gì đối với nghĩa vụ của tôi trước gia đình. Tôi nói tôi sẽ bị tống giam ngay khi tài liệu này được công bố rộng rãi và tôi hy vọng tài liệu sẽ được công bố sau một vài tuần nữa. Tôi sẽ không có thu nhập ngay khi tôi bị truy tố và có thể sẽ không có thu nhập đến hết đời. Và cũng có thể tôi sẽ không bị truy tố. Tôi nói với cô ấy rằng tôi biết có trường hợp để rò rỉ thông tin nhưng không bị truy tố, mặc dù điều đó không chắc chắn sẽ xảy ra đối với trường hợp của tôi. Ngay cả khi không bị truy tố đi chăng nữa, hoặc sau khi tôi hết hạn ra tù thì thu nhập của tôi từ việc đi dạy học cũng không nhiều. Tôi có thể đưa cho cô ta tiền tiết kiệm của tôi, nhưng chỉ được vài ngàn đô la. Cô ấy và hai đứa con tôi sẽ không có tiền cấp dưỡng hay khoản trợ cấp nào khác.

      Cô ấy nói thẳng: "Anh không thể làm như vậy. Anh phải có nghĩa vụ làm theo phán quyết của toà án?". Tôi nói tôi không thể tuân thủ theo phán quyết của toà án được. Tôi sẽ vào tù. Tôi không muốn điều đó, đây là những vấn đề lớn, lớn hơn bản thân tôi, lớn hơn gia đình tôi. Đơn giản là tôi thấy mình không thể làm gì cho họ được. Cô ấy cũng hỏi về việc học hành của con cái. Tôi nói chúng sẽ tự lo việc đó. Rất may là hai đứa con tôi đều rất thông minh và tôi tin rằng chúng sẽ giành được học bổng. Có lẽ họ sẽ phải chuyển đến sống ở nơi khác, trong một ngôi nhà thuê rẻ hơn. Có lẽ cô ấy nên nghĩ về điều đó ngay bay giờ; đó là lý do tại sao tôi cần nói chuyện với cô ấy. Tôi hy vọng hai đứa con tôi sẽ hiểu việc làm này. Tôi nói cho cô ấy biết Robert đã giúp tôi nhân bản tài liệu và tôi đã bảo nó đừng nói gì cho đến khi tôi có cơ hội nói chuyện riêng với cô ấy. Cô ấy rất tức giận khi biết tôi đã lôi kéo nó vào việc sao chụp tài liệu và không thèm nghe lời giải thích của tôi. Cô ấy không muốn nó làm điều đó nữa.

      Rồi tôi tới Công ty Rand để lấy thêm tài liệu và lái xe tới Melrose. Nhưng buổi tối tôi không làm việc muộn. Nhóm viết thư cho tờ Thời báo New York sẽ gặp nhau vào đầu giờ sáng ngày thứ hai để xem xét bản thảo đầu tiên của bức thư.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #128 vào lúc: 25 Tháng Mười Hai, 2007, 09:15:18 PM »

Chương 21

Bức thư của RAND

      Nhóm chúng tôi gồm 6 người trong các buổi cùng nhau soạn thảo bức thư đã thống nhất với nhau rằng chúng tôi sẽ xem qua bức thư của Harry Rowen, Giám đốc của Công ty Rand trước khi gửi nó đi. Chúng tôi không nghĩ ông ta có quyền cấm chúng tôi gửi bức thư này đi với tư cách cá nhân. Chúng tôi không muốn sử dụng biểu tượng logo của Rand và cũng không muốn xác nhận rằng chúng tôi làm việc cho công ty này. Mặt khác ông ta có thể nghi vấn về việc trước đây chúng tôi tiếp cận được với những thông tin mật. Có thể ông ta sẽ thôi không cho phép chúng tôi được tiếp cận nữa hoặc đe doạ sa thải chúng tôi.
Konrad Kellen nghĩ rằng nếu Harry không đồng ý gửi bức thư đó đi thì chúng tôi không thể gửi được và những người khác cũng đồng ý với việc này. Nếu ông ta đồng ý gửi thư đi, chúng tôi có thể đưa bức thư đó cho các trưởng phòng trong công ty, ví dụ như Fred Iklé của phòng Khoa học Xã hội hay Charlie Wolf của phòng Kinh tế. Chắc chắn họ sẽ chẳng ưa gì việc gửi bức thư này đi, nhưng vì Harry đã đồng ý nên họ không thể nào ngăn cản được. Những người cấp trên khác sẽ thể hiện sự khó chịu của họ theo những cách khác, nhưng chúng tôi nhất trí với nhau rằng điều đó cũng không thể ngăn chúng tôi được chừng nào mà Harry đã cho phép.

     Tôi là người duy nhất quen biết Harry. Tôi nghĩ rằng ông ta sẽ thông cảm với đề xuất của chúng tôi, cho dù ông ta có hay không nghĩ đó là cách tốt nhất để rút ra khỏi Việt Nam.
Tôi không dám chắc ông ta cũng chống chiến tranh như bất kỳ ai trong số chúng tôi, và rất khó hình dung ra khả năng ông ta đồng ý gửi bức thư này đi, trên cương vị giám đốc Công ty Rand. Do vậy, thoả thuận của chúng tôi là sẽ nhờ cậy vào sự đồng ý của ông ta làm cho cách này khó có tính khả thi, thiếu tính thực tế, ít nhất là đối với tôi. Tuy nhiên tôi có thể thấy những người khác cũng đã đồng ý như vậy. Họ không giống tôi ở khả năng bị mất việc. Tôi không liên quan tới những cuộc thảo luận về cách gửi bức thư này ra khỏi Công ty Rand. Thực ra sau ngày 1-10, tôi không còn tham gia nhiều vào các cuộc thảo luận của nhóm về việc soạn thảo bức thư nữa.

      Sau hàng đêm phải nhân bản tài liệu, tôi đã quá mệt. Hàng sáng, tôi chỉ được ngủ vài tiếng vì uống rất nhiều cafe, tôi cố gắng dự vào buổi chiều nhưng chẳng tham gia ý kiến gì nhiều.
Đó không phải là vì tôi nghĩ bức thư này không quan trọng bằng tập tài liệu, nếu như có thể gửi đi. Ngược lại tôi nghĩ rằng những tuyên bố công khai phản đối chính sách hiện nay và yêu cầu có một phương án khác có khả năng làm thay đổi chính sách nhiều hơn là các tài liệu lịch sử của công trình nghiên cứu, cho dù những gì được tiết lộ từ nghiên cứu đó có kịch tính đến đâu đi nữa. Tuy nhiên tôi không chỉ dựa vào một thứ để phản kháng Nixon. Không một cách tiếp cận nào mà tôi nghĩ tới lại tỏ ra nhiều hứa hẹn hơn những cách tiếp cận khác. Tuy nhiên, tôi vẫn cố gắng làm thế nào đó để chuyển một số lượng lớn tài liệu bí mật tới tay Quốc hội và công chúng trước ngày 15-10, tức là chỉ còn 10 ngày nữa. Tôi đoán là tôi sẽ bị tống giam vào cuối tháng mười. Viễn cảnh đó khiến tôi không còn phải lấn cấn với những suy tính cho công việc của mình, điều mà đang làm những người khác bận tâm.

      Cuối cùng, vào ngày thứ tư, 8-10, chúng tôi cũng có được bức thư, trên giấy trơn, không có biểu tượng logo gì của Công ty Rand, chỉ đề dẫn rằng chúng tôi là một nhóm các nhà nghiên cứu và phân tích chuyên nghiệp về Việt Nam, ngụ ý nói chúng tôi làm việc cho chính phủ. Chúng tôì hẹn gặp với văn phòng của Harry và cả nhóm cùng đến gặp ông ta. Ông ta đọc rất kỹ bức thư và gật đầu đồng ý. Dường như ông ta không tỏ ra không thích bức thư này. Ông ta bình luận thêm rằng bức thư sẽ gây nhiều rắc rối đối với Rand từ những nhà tài trợ cho công ty và đáng nhẽ ra ông ấy sẽ nói là ông ấy không muốn gửi bức thư đó đi (Những tuyên bố sau này của ông ta với các nhân viên của Rand cho thấy điều này, mặc dù tôi không nhớ cụ thể). Cầm bức thư trong tay, ông ta ngẩng cao đầu, nhìn chúng tôi qua cặp kính và hỏi: "Tại sao lại không cho logo của Rand vào bức thư này nhỉ?" Chúng tôi giải thích là chúng tôi không muốn Rand dính líu vào việc này. Ông ta nói. "Mọi người sẽ biết cả thôi. Trông như thể là chúng ta đang giấu giếm việc gì đó. Hãy đánh lại bức thư này với logo của Rand. Mọi người sẽ xì xào bàn tán nhưng nó cũng có những mặt tích cực. Nó sẽ cho thấy tại công ty này chúng ta khuyến khích nhiều quan điểm khác nhau. Chỉ cần đưa ra lời tuyên bố các bạn đang bày tỏ quan điểm cá nhân, không phải đại diện cho Rand hay những nhân viên khác của Rand".

      Đó là nhận xét duy nhất mà ông ta đưa ra. Chúng tôi rất phấn chấn khi rời phòng làm việc của ông ta để soạn lại đoạn mở đầu và đưa logo của Công ty Rand vào, rồi gửi tới toà soạn của tờ Thời báo New York. Một phần của bức thư có nội dung như sau(100):

      "Thưa các quý ông,
Giờ đây khi người Mỹ một lần nữa tranh luận về vấn đề Việt Nam, chúng tôi muốn đóng góp vào cuộc tranh luận đó bằng cách bày tỏ quan điểm của chúng tôi, những quan điểm phản ánh cả đánh giá cá nhân và nhiều năm nguyên cứu chuyên nghiệp về chiến tranh Việt Nam và các vấn đề có liên quan. Ở đây chúng tôi muốn bày tỏ quan điểm như những cá nhân, chứ không nhân danh Công ty Rand, nơi chúng tôi đang làm việc. Trong các đồng nghiệp làm việc tại Rand, có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này, giống như bất kỳ một vấn đề nào khác.

      Chúng tôi tin rằng giờ đây nước Mỹ nên quyết định chấm dứt sự can thiệp của mình vào cuộc chiến tại Việt Nam, trong vòng một năm tới phải rút hết quân đội Mỹ còn đóng ở đó. Sự rút lui của quân đội Mỹ không được đi kèm với bất kỳ một điều kiện nào đối với chính quyền Sài Gòn hay Hà Nội - điều đó có nghĩa là một trong hai bên không thể nào phủ quyết được điều này.

      Quan điểm của chúng tôi là ngoài những lập luận đạo đức thuyết phục dẫn tới kết luận tương tự, có bốn luận điểm phản đối những nỗ lực tiếp theo của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam:

     1. Chúng ta không thể tiêu diệt các lực lượng của kẻ thù tại Việt Nam bằng lực lượng quân sự được; trên thực tế "chiến thắng về quân sự" không còn là mục tiêu của Mỹ nữa. Những gì bây giờ cần được công nhận là ban lãnh đạo của phe chống đối không thể bị chiến lược hiện nay hay bất kỳ một chiến lược nào của Mỹ bắt ép phải nhượng bộ.

     2. Những lời hứa đây của Mỹ đối với nhân dân Việt Nam không thể nào trở thành hiện thực nếu chúng ta tiếp tục các hoạt động quân sự phá hoại lớn tại Việt Nam. Hoạt động này không được phép kéo dài chỉ vì dựa trên yêu cầu của chính quyền Sài Gòn. Cần kiểm tra xem chính quyền này có khả năng tự tồn tại được không dù kết quả có ra sao đi nữa.

      Sự quan trọng đối với lợi ích quốc gia của Mỹ về ý nghĩa chính trị trong tương lai của Nam Việt Nam đã bị phóng đại quá mức, cũng như tác động quốc tế tiêu cực của việc Mỹ đơn phương rút quân. Trên hết, chi phí con người, chính trị và vật chất khi chúng ta tiếp tục chiến tranh vượt xa hơn những lợi ích chúng ta nhận được và lớn hơn chi phí và nguy cơ nếu chúng ta rút quân.

      Chúng tôi không dự đoán rằng việc rút quân chỉ đem lại những kết quả tốt đối với Đông Nam Á và Nam Việt Nam (hoặc thậm chí cả Mỹ). Những gì chúng tôi thực sự muốn nói là những mối nguy hiểm sẽ không giảm bớt đi nếu Mỹ tiếp tục tham chiến tại Việt Nam thêm một năm nữa và chắc chắn tổn thất về con người sẽ lớn hơn.

     Daniel Ellsberg, Melvin Gurtov, Oleg Hoeffding, Amold Horelick, Konrad Kellen, Paul F. Langer

     Công ty Rand.

     Chúng tôi gửi một bản sao bức thư cho Fred Iklé và hẹn gặp ông ta sau khi ông ta đã đọc xong. Chắc chắn tôi cũng đã cho Charlie Wolf thấy bức thư, mặc dù tôi không nhớ rõ lắm.

     Trong khi đó, tôi gọi cho văn phòng của tờ Thời báo New York tại Los Angeles và nói chuyện với Steve Roberts, trưởng cơ quan đại diện, tìm cách tốt nhất để đưa bức thư này lên mặt báo.

     Anh ta nói chắc chắn đăng một câu chuyện trong đó và tôi nên trao bức thư trực tiếp cho anh ta. Tôi bảo anh ta đợi tôi ở bãi đỗ xe của Công ty Rand…

     Cuộc gặp với Iklé khá căng thẳng. Bốn người ký vào bức thư làm việc trực tiếp cho ông ta và họ hầu như không nói gì. Họ để cho tôi đối đáp với ông ta. Chúng tôi ký tên vào bức thư theo vần chữ cái và tên tôi xuất hiện đầu tiên. Như tất cả những ai đọc bức thư này, Fred lầm tưởng rằng tôi là người soạn thảo và tác nhân chính của bức thư. Điều này cũng không sai. Fred không đả động gì đến những người khác và chủ yếu chĩa mũi dùi vào tôi.

      Chúng tôi đã là đồng nghiệp tốt với nhau trong vòng 10 năm mặc dù tôi không thân với ông ta lắm, nhưng trên thực tế cũng chẳng có ai thân với ông ta. Ông ta là người Thuỵ Sĩ, rất kín đáo trong phong cách cũng như lời ăn tiếng nói. Ông ta không phải là người dễ gần. Giọng nói của ông ta nặng, trầm và đều đều khiến người khác thấy khó chịu, nhưng tôi quý mến và tôn trọng ông ta và ông ta đối với tôi cũng vậy.
Logged

Để gió cuốn đi...
Excocet
Thành viên
*
Bài viết: 617


Thép đã tôi thế đấy


« Trả lời #129 vào lúc: 25 Tháng Mười Hai, 2007, 09:17:38 PM »

      Fred không mất thời gian tranh luận về nội dung bức thư. Có lẽ ông ta cũng không quá phản đối nó. Giống như phần lớn những người khác ở Rand sau này, ông ta không quan tâm đến điều đó ông ta bắt đầu bằng những nhận xét khá trịch thượng, kẻ cả, muốn bác bỏ tất cả. Cách tiếp cận của chúng tôi chẳng có nghĩa lý gì cả. Gửi một bức thư tới báo chí à? Điều đó sẽ giải quyết được vấn đề gì? Ông ta không cần phải nhắc chúng tôi nhớ lại một phương án cao tay khác: tiếp cận trục tiếp với các nhân viên và các quan chức cấp cao của chính phủ trên cơ sở bí mật.
     

     Chúng tôi không cần phải tiếp xúc với họ thông qua một bức thư gửi tới báo chí, công khai với tất cả mọi người và có thể họ cũng không thèm đọc bức thư đó.

     Ông ta nói rất ít có khả năng bức thư sẽ được mọi người chú ý ông ta đuối lý khi lập luận về điều này. Tôi nói chúng tôi có lý do để tin rằng bức thư sẽ trở thành một chủ đề trên tờ Thời báo New York. Ông ta thôi không hạ mình nữa và tự nhiên cáu tiết. Điều đó thật tệ hại? Điều đó vẫn chẳng giải quyết được vấn đề và sẽ có tác động rất xấu đối với Rand. Ở điểm này ông ta phản đối việc Harry ý đã đồng ý với bức thư nhưng điều đó không có nghĩa rằng Owen đúng. Tôi nói với ông ấy là tôi không đồng ý với những ước tính của ông ta về tác động. Chúng ta phải chờ xem sao đã.

      Ông ta trở nên quẫn trí. Tóc ông ta vốn ngắn nhưng ông ta bắt đầu vò đầu bứt tai. Ông ta nói: "Tôi thực sự không thể hiểu được là tại sao các ông lại làm việc này - việc làm này sẽ không có tác dụng gì cả. Thậm chí phản tác dụng!". Ông ta quay về phía chúng tôi và hạ giọng: "Có rất nhiều việc chúng ta có thể làm mà hiệu quả lại lớn hơn. Ví dụ như các anh có thể nghiên cứu bí mật về chi phí của cuộc chiến tranh, và có thể gửi một bức thư tới tư lệnh chiến lược không quân, đề là tối mật, chỉ ra rằng việc tiếp tục chiến tranh đang thâm hụt vào ngân sách hiện đại hoá?". Ông ta đang điên tiết. Ông ta quay trở lại phía chúng tôi và nói với một giọng bình tĩnh hơn, "Bức thư này sẽ chẳng có tác dụng gì ở Washington".

      Tôi không tin vào điều đó. Tôi nói: "Fred, ai trong chúng ta biết nhiều về hệ thống hoạt động ở Washington, anh hay là tôi?"

     Ông ta nói: "Anh".

     Tôi nói: "Tôi nghĩ việc này rất đáng làm". Trông ông ta không vui khi chúng tôi rời văn phòng làm việc của ông ta, và tới 22 năm sau ông ta mới nói chuyện lại với tôi.

     Ở dưới tiền sảnh, tôi hội ý với các bạn đồng nghiệp: "Chúng ta vẫn quyết tâm làm chứ?". Mọi người đều gật đầu đồng ý, mặc dù một số người làm việc cho Fred trông hơi rầu rĩ. Ở bãi đỗ xe của Rand, tôi lấy ra bức thư và thấy Steve Roberts đang đợi trong xe hơi của anh ta. Tôi nói với anh ấy: "Hãy gửi bức thư này đi và đợi một lúc đừng trả lời điện thoại, được không? Tất cả mọi người đang quyết tâm làm việc này, từ giờ phút này trở đi và một số người đang chịu sức ép và điều đó có thể thay đổi. Bức thư này có thể chóng được đưa lên mặt báo không?" Anh ta nói tờ báo đang đợi bức thư này và ngày hôm sau thì thư sẽ được đăng trên báo, khoảng buổi trưa. Tôi về nhà, cúp máy điện thoại và đi ngủ để chuẩn bị đêm hôm đó còn tiếp tục sao chụp tài liệu.

      Sáng ngày hôm sau, thứ năm, ngày 9-10-1969, có một câu chuyện đăng trên tờ Thời báo New York, đăng ở trang bên trong, với tiêu đề "Sáu chuyên gia của Rand ủng hộ việc Mỹ đơn phương rút quân khỏi Việt Nam trong vòng một năm". Tác giả bài viết là "Steven V. Roberts", từ Santa Monica, ngày 8-10-69. Nội dung chính của bài báo nhắc lại tiêu đề và nói thêm rằng tất cả chúng tôi đã làm nghiên cứu về Việt Nam cho chính phủ liên bang. "Cả sáu người này nói rằng họ hành động như những cá nhân, chứ không phải những nhân viên của Rand. Và số người này đảm nhiệm tới 76% công việc trong bộ phận quốc phòng của công ty. Bức thư do các chuyên gia của công ty này viết muốn tránh sự chú ý của dư luận đã tạo thêm động lực cho áp lực của dư luận đòi nhanh chóng rút quân khỏi Việt Nam".

      Dưới tiêu đề nhỏ "Hai năm ở Sài Gòn", câu chuyện kể tiếp, "Theo như hợp đồng ký với Lầu Năm Góc, sáu chuyên gia này đã nghiên cứu những đối tượng từ tính hiệu quả trong việc ném bom Bắc Việt Nam cho tới việc hỏi cung các tù nhân đối phương. Một chuyên gia trong số họ là Daniel Ellsberg đã làm việc hai năm cho Bộ Ngoại giao Mỹ tại Sài Gòn trước khi chuyển sang làm việc cho Công ty Rand. Nhóm này còn bao gồm những chuyên gia phụ trách về Nga, Trung Quốc và Nhật Bản. Một chuyên gia đã ký vào bức thư, Melvin Gurtov, là tác giả của cuốn sách sắp xuất bản về tương lai của chính trị Mỹ tại Đông Nam Á".

      Roberts trích dẫn lời bình luận của một thành viên giấu tên trong nhóm: "Đơn phương rút quân là một việc làm đáng nể trọng". Câu chuyện này tiếp tục trích dẫn trực tiếp nội dung của bức thư (khoảng một nửa) và diễn đạt theo cách khác (nhưng không hoàn toàn chính xác) nửa nội dung còn lại. Tôi nghĩ là một số điểm quan trọng đã bị bỏ. Và bởi vì nó được coi như một câu chuyện tin tức nên toàn bộ bức thư không xuất hiện trên trang xã luận. Tuy nhiên quan điểm cơ bản của chúng tôi đã được thể hiện rõ và câu chuyện trên báo này kết thúc với câu cuối cùng chúng tôi viết trong thư.

      Bởi vì tờ Thời báo New York không đăng tải toàn bộ bức thư, chúng tôi gửi bức thư này tới cả tờ Bưu điện Washington. Họ đã cho đăng tải toàn bộ bức thư thật nổi bật giữa trang xã luận vào ngày chủ nhật 12-10 với tiêu đề "Một trường hợp phản đối việc tiếp tục ở lại Việt Nam". Nội dung bức thư xen kẽ với sự tố cáo trong quan điểm của chúng tôi. Phía bên phải bức thư là một bài viết ngắn của Henry Owen, người trước đây quản lý các cán bộ hoạch định chính sách trong Bộ Ngoại giao Mỹ, người đã bác bỏ việc rút quân trong thời hạn một năm, coi đó là việc làm cực đoan và không thực tế. Phía bên trái là một bài xã luận dài, trực tiếp tấn công bức thư của chúng tôi (ba lần chúng tôi bị coi là những "kẻ chỉ trích nòng cốt" và một lần bị coi là "những kẻ chỉ trích cực đoan". Không giống như bây giờ, ngày đó những từ ngữ này không có nghĩa tốt).

      Rõ ràng là những người viết bài xã luận cũng chia sẻ niềm tin của họ với Owen rằng chính phủ Mỹ đang "tiến tới việc rút quân và quá trình này là không thể đảo ngược được". Chắc chắn họ và Owen đều hiểu ý nghĩa của từ "rút quân" tức là cuối cùng phải rút quân toàn bộ, chứ không chỉ có tạm thời giảm số lượng quân. Điều đó có nghĩa là "chấm dứt sự tham gia quân sự của Mỹ tại Việt Nam". Nói một cách khác, họ tin rằng những tuyên bố công khai của Tổng thống về sự trung thành mãi mãi đối với chính quyền Sài Gòn không thể hiện dự định của ông ta. Họ nghĩ rằng, chiến lược của ông ta là chấm dứt chiến tranh - hoặc ít nhất là giảm bớt tham gia quân sự dần dần - trái ngược lại so với những gì ông ta nói - chấm dứt tham gia quân sự vô điều kiện, hoàn toàn, đơn phương, không thể đảo ngược.

      Do vậy có gì khác nhau giữa chiến lược của Tổng thống và chiến lược của "những nhà phê bình cực đoan" hay "nòng cốt" như chúng tôi? Đó là thời gian. Việc Nixon rút quân sẽ tiến hành "dần dần", kéo dài hơn 12 tháng và không có một lộ trình cụ thể và công khai nào, "với hy vọng rằng có thể đạt được một phần mục đích ban đầu của chúng ta". Họ thực sự thông cảm với "nỗ lực của Tổng thống để cứu vãn điều gì đó".
Nhưng chính xác là Tổng thống muốn đạt được mục đích nào? Cơ may ông ta đạt được mục đích đó là bao nhiêu phần trăm? Ông ta sẽ tiếp tục cho quân đồn trú ở Việt Nam trong bao lâu hơn 12 tháng hay tiếp tục duy trì lực lượng không quân?

      Liệu các biên tập viên của tờ Buu điện Washington có hình dung ra không? Ít nhất là 4 năm? Sẽ có hơn 20.000 lính Mỹ nữa và hàng trăm nghìn dân thường thiệt mạng? Đó là những gì đã xảy ra, khi Nixon theo đuổi việc giữ tướng Thiệu cầm quyền ở Sài Gòn lâu dài. Việc Mỹ ném bom kết thúc năm 1973 chỉ bằng một đạo luật của Quốc hội, không phải theo sự lựa chọn của Nixon, trong hoàn cảnh đang khủng hoảng hiến pháp dẫn tới việc suýt luận tội Tổng thống và dẫn tới kết thúc nhiệm kỳ của ông ta.
Logged

Để gió cuốn đi...
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM