Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 23 Tháng Mười, 2014, 05:22:49 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Từ Ba Tơ đến chiến trường Ba Nước - Đại tá Lê Kích  (Đọc 15919 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6324

Lính của PTL


« vào lúc: 24 Tháng Ba, 2009, 08:26:05 AM »

Nguồn: website chính thức của nhà thơ, nhà báo Trần Ngọc Trác.
http://www.tranngoctrac.com/cms/index.php?option=com_content&task=view&id=21&Itemid=1

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn: Tỉnh uỷ Lâm Đồng, UBND tỉnh Lâm Đồng, Hội Văn học Nghệ thuật Lâm Đồng đã tài trợ một phần kinh phí xuất bản cuốn sách này.

CHƯƠNG I
LÀNG AN THẠCH QUÊ TÔI

Tôi sinh ra và trưởng thành từ một làng quê nghèo nằm sát biển Đông bốn mùa gió lộng. Đó là làng An Thạch, tổng Ca Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, mở ra một trang sử mới cho toàn dân tộc. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Ngày 6 tháng 1 năm 1946, lần đầu tiên người dân Việt Nam được cầm lá phiếu đi bầu Quốc hội. Sau tổng tuyển cử lần thứ nhất, các làng An Thạch, Hội An và An Thở đã hợp nhất thành xã Phổ An huyện Đức Phổ.
Con sông Thoa, một nhánh của sông Vệ nằm sát phía tây và đổ về cửa Mỹ Á. Đây là một nguồn thủy lợi đủ tưới cho trên 40 héc-ta ruộng lúa nước. Mạch nước ngầm vô cùng phong phú.
Quê tôi có nhiều đụn cát, rừng tràm sát biển, gần sông. Làng An Thạch còn có cấm (1) trước, cấm sau, gò Kiến, hòn Đá Dựng, tạo nên một cảnh quan ngoạn mục. Cứ mỗi chiều về, từng đàn cò trắng lại sà xuống, không biết cơ man nào mà kể.
Đối diện phía tây qua con sông Thoa chừng một cây số là làng Vinh Hiền còn gọi là xóm quạ kêu. Cũng như quê tôi, mỗi chiều xuống, ở làng Vinh Hiền từng đàn quạ đen, quạ khoang cổ lần lượt bay về để ngủ qua đêm. Tiếng quạ kêu, cò kêu của hai làng tạo thành một âm thanh rộn ràng khó tả.
Từ năm 1940 trở về trước, người dân quê tôi cũng lâm vào cảnh đói nghèo khổ cực, một cổ hai tròng, bị thực dân, phong kiến bóc lột nặng nề.
Thời kì chữ Hán Nôm còn thịnh hành, quê tôi cũng có một vài vị thành danh qua các kì thi Hội được tổ chức tại thành Bình Định, như cử nhân Phan Văn Điền ở làng An Thở đậu thủ khoa; ông Trần Mậu ở làng An Thạch đậu cử nhân, các cụ Ngô Khanh, Tú Cẩn … đậu tú tài.
Ngày đó trong dân gian  lưu truyền câu vè:
"Uổng công Bình Định xây thành
Để cho Quảng Ngãi vô giành thủ khoa".
Từ năm 1920 trở về sau, chữ quốc ngữ đã đến quê tôi. Cả hai làng An Thạch, An Thở đều có trường tiểu học. Mỗi trường chỉ có hai lớp.
Nhân dân xã Phổ An sống bằng nhiều ngành nghề, chủ yếu là làm ruộng, làm rẫy. Một số gia đình ở ven biển làm thêm nghề đánh cá. Các ngành nghề khác như ươm tơ, dệt lụa, làm tre cũng góp một phần cải thiện cuộc sống hằng ngày.
Đặc biệt ở làng tôi có một đội ca múa gọi là "sắc bùa", hoạt động từ tháng mười âm lịch năm trước đến tháng giêng năm sau. Đội ca múa "sắc bùa" này phục vụ bà con trong làng, trong xã, có khi cả vùng.
Quê tôi có nhiều người tham gia phong trào Duy Tân. Có 3 vị “ Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội”, đó là thầy giáo Phạm Quang Lược, cụ Phạm Khánh và cụ Nguyễn Hỷ.
Để hưởng ứng phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, tỉnh Quảng Ngãi, trong đó có quê tôi, đã nổi dậy mít tinh biểu tình cướp huyện đường Đức Phổ, cờ đỏ búa liềm treo khắp nơi, truyền đơn cách mạng nơi nào cũng có. Sau năm 1930 -1931, phong trào cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương ở hai huyện Mộ Đức, Đức Phổ cũng đã dâng lên cao.
Ở làng An Thạch có họ Trần là một dòng họ lớn. Các cụ tổ của họ Trần như ông Ban, rất quan tâm đến văn chương, võ nghệ. Trong nhà ông lúc nào cũng mở trường dạy văn, dạy võ và tổ chức một gánh hát tuồng. Nhà ông lúc nào cũng có 30 gia đinh làm việc. Ngoài công việc đồng áng phục vụ chung, các gia đình trong nhà, ai muốn học gì thì chọn.
Ông  Trần Ban là một người có chí khí. Ông rất ghét bọn tham quan ô lại, bọn bán nước như tên Nguyễn Thân- một trong tứ trụ triều đình đời vua Tự Đức. Ông Trần Mậu cũng vậy. Sau khi đậu cử nhân, ông được triều đình bổ nhiệm chức vụ quản đạo châu Ninh Thuận. Ông Trần Mậu là người đã dám nện tên Tây đoan thuế vụ mấy cái bạt tai, bị chúng thải hồi. Về quê, ông mở trường dạy học và làm nghề thuốc nam. Trước cổng nhà ông, đã mấy chục năm rồi, vẫn còn đôi câu đối nói lên khí tiết của mình:
"Đại lộ nhi hành vô hiển hối
Hoành môn chi hạ khả thê trì".
(Tạm dịch: Đã chọn đường lớn để đi thì không hối hận. Bước qua cổng không nên chậm trễ)
Trong kháng chiến chống Pháp, quân dân xã Phổ An đưa hàng trăm con em của mình vào lực lượng vũ trang, và đóng góp hàng ngàn dân công phục vụ chiến dịch lớn 1953 - 1954 trên chiến trường bắc Tây Nguyên. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, xã Phổ An kiên trì bám trụ, đẩy mạnh hoạt động diệt ác ôn, chống càn quét; là một xã được giải phóng sớm nhất của huyện Đức Phổ. Con em xã nhà tập kết ra Miền Bắc có không ít người đã góp phần tích cực cùng quân dân cả nước đánh cho Mỹ, cút ngụy nhào. Hầu  hết  các cháu được học hành, đỗ cử nhân, tiến sĩ, nhiều người có học vị cao, góp phần xây dựng đất nước.
Kết thúc chiến tranh chống Mĩ, quân và dân Phổ An đã tiêu diệt gần 800 tên địch, trong đó có 114 tên  xâm lược. Diệt 6 tên ác ôn. Bắn cháy 4 trực thăng, 1 máy bay F105.
Với thành tích trên, tháng 8 năm 1995, xã Phổ An quê tôi được Nhà nước nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

(1) Cấm : Rừng cây nhỏ, có chiều dài 1–1,2 kilômét, rộng 0,6–0,7 kilômét.
« Sửa lần cuối: 22 Tháng Tư, 2012, 09:00:00 PM gửi bởi macbupda » Logged

Tôi là người thợ lò,<br />Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6324

Lính của PTL


« Trả lời #1 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2009, 08:40:52 AM »

Cha tôi kể rằng:
Trong một đêm trời tối đen kịt, mưa bão ầm ào, gió thốc từng cơn trên mái rạ; những tàu lá cau trong vườn quất vào nhau, rít từng cơn nghe rờn rợn; mẹ tôi từ chợ về, vội đặt đôi quang gánh xuống nền nhà, hai tay ôm bụng, nặng nhọc lê tấm thân gầy guộc vào góc bếp. Mẹ tôi gọi nhỏ cha tôi, nhờ lấy hộ chiếc khăn mặt, và bảo cha tôi tìm bà Thoan - người đỡ đẻ duy nhất ở xóm trên xuống giúp. Mẹ tôi quằn quại trên nền đất, cắn chặt răng, cố rặn để đẩy chiếc bào thai trong bụng ra.
Tiếng khóc oa oa vang lên của đứa bé làm cho cha tôi vui mừng khôn xiết. Ông bế đứa bé còn đỏ hỏn trên tay, âu yếm nhìn nó không chớp mắt. Mẹ tôi đã từng mang thai mười ba lần. Nhiều lần cha tôi phải chứng kiến những chuyện hết sức đau buồn, mà mấy chục năm sau ông vẫn  không làm sao quên được. Trong ba tháng liền, cha mẹ tôi phải chịu mất bốn người con do bệnh dịch hạch hoành hành. Mẹ tôi đã khóc hết nước mắt. Anh chị của tôi chưa kịp chào đời thì mẹ đã hỏng thai. Tôi chỉ còn một người chị thứ năm, sau này là mẹ vợ của đại tá Trần Thế Tuyển. Do thương con, khóc nhiều, mẹ tôi phải chịu mù loà. Đứa bé cha tôi ẵm trên tay trong đêm mưa gió bão bùng ấy chính là tôi bây giờ. Tôi là người con trai thứ tám cũng là người con trai cả trong gia đình. Về sau mẹ tôi còn năm lần sinh nở, nhưng chỉ sống được có 3 người.
Cha tôi còn kể rõ: Đó là đêm mười bảy tháng mười một năm Canh Thân, tức ngày hai lăm, tháng mười hai, năm một ngàn chín trăm hai mươi, mẹ tôi sinh ra tôi - một thằng con trai bụ bẵm, cân nặng đến ba ky-lô-gam. Cha tôi đặt cho tôi một cái tên thật xấu xí là vì mong cho tôi sống lâu, không bị ma quỉ bắt đi.
Ở làng quê tôi, theo như các cụ lớn tuổi còn sống, sau này kể lại, thì thật lắm nhiêu khê.
Cả làng có hơn hai trăm nóc nhà. Nhân dân trong vùng chủ yếu làm rẫy, trồng sắn và đánh bắt cá. Người có được cái chữ thật hiếm hoi.
Xưa kia, làng tôi có một cánh rừng già, rất nhiều mồ mả không có người chăm sóc, gọi đó là khu mả hoang. Nó nằm cách Thái Bình Dương không đầy hai cây số theo đường chim bay, được triều đình nhà Nguyễn đặt cho cái tên An Thạch thuộc tổng Ca Đức, huyện Mộ Đức.
Làng tôi có những nóc nhà co cụm lại thành từng xóm, bà con vừa có điều kiện gần gũi giúp đỡ nhau những lúc khốn khó, vừa cùng nhau ngăn chặn thú dữ. Ông Nguyễn Cho và ông Tích ở gần nhà tôi đều có chiều cao gần một mét tám, to khỏe, nặng cả chín chục ký, là những người ấn tượng nhất trong làng. Cứ mỗi bữa, ông Nguyễn Cho ăn hơn một chục chén cơm; còn khi làm việc thì gấp ba gấp bốn lần người khác. Ông có vợ con, nhưng lại rất được mấy chị em trong làng thương mến. Ông là người khỏe mạnh, nói năng lưu loát, bốp chát, coi trời bằng vung. Đôi tay của ông gân nổi cuồn cuộn như người tập tạ thường xuyên. Có lẽ là do ông ngày ngày lao động vất vả cật lực nên có đôi tay lực sĩ như vậy. Trong làng bây giờ vẫn còn truyền lại câu chuyện về ông Cho, ông Tích, nghe có vẻ huyền thoại, li kì. Nhưng đây là chuyện có thật; chuyện thật một trăm phần trăm do chính cụ già nay đã qua tuổi chín mươi kể lại, như là chuyện mới xảy ra hôm qua. Chuyện rằng: Hôm đó, ông Nguyễn Cho và ông Tích đi vào rừng đốn củi như mọi lần. Ông Cho bị một con cọp vồ phải mông. Đau điếng nhưng ông vẫn quay lại cầm đuôi con cọp, quật mạnh. Ông Tích, tức ông Võ Cử, bồi thêm mấy gậy nữa thì con cọp chết tươi. Hai ông lôi con cọp về làng lột da phơi khô làm áo; còn thịt giao cho bà con dân làng xẻ ra, nướng lên. Cả làng được một bữa chén no nê. Vết thương ở mông của ông Cho tuy được chữa bằng thuốc nam, nhưng vẫn sưng tấy. Có người trong làng bảo là do ông đụng đến hùm thiêng của núi rừng nên bị trời đất phạt. Nhưng không phải thế, ông chỉ cần ăn ba nong tằm chín là khỏi bệnh. Theo kinh nghiệm dân gian, ông đem tằm luộc chín, sau  đó giã nhỏ, nhuyễn, viên từng viên và rán thành chả để  dành ăn cả tháng trời. Nghe đâu, ông Nguyễn Cho sống đến một trăm lẻ năm tuổi. Ông mất năm 1938. Kẻ hậu sinh như chúng tôi ai cũng ước ao có được sức khỏe như ông, nhưng chuyện ấy chẳng mấy ai đạt được.
Ở đầu làng tôi có nhiều cây sơn, cây song mã to, năm người mới ôm xuể. Dưới gốc cây cơ man nào là ông Táo, bình vôi vỡ, bát nhang… Cả làng ai cũng đem đồ cúng linh thiêng ra đây gửi ông thần cây. Không ai dám đi ban đêm vì sợ có ma quỷ, oan hồn thần cây trú ngụ. Có người thì sợ bóng sợ vía. Ai cũng kiêng cữ, không dám nói điều xằng bậy. Ban ngày nắng gắt, khi qua cây sơn đầu làng, ai cũng cúi mặt lầm lũi đi. Thế mà tôi và em tôi là Lê Hảo dám mang rìu, cưa, ra đốn cây sơn này. Mất ba ngày ròng rã, làm cả đêm trăng, anh em tôi mới đốn ngã được nó. Chúng tôi hì hục cắt thành từng khúc gỗ nhỏ, lôi từng cành cây về nhà. Mệt bở hơi tai, nhưng trong lòng vui sướng lắm. Vậy là gia đình tôi có đủ củi để đốt trong suốt mùa đông rét mướt. Những người mê tín dị đoan đều cho rằng hai anh em tôi tới số rồi. Không thể nào thoát khỏi bị trừng phạt.
Mẹ tôi bán bún tươi làm từ bột gạo. Tôi ở trong nhà phụ việc. Mỗi ngày tôi  quần quật xay mười ký gạo đã ngâm chua mới đủ bún cho mẹ bán, mặc dù mẹ tôi không bắt tôi làm như thế. Khi sinh ra tôi, mẹ tôi không thấy mặt tôi vì bị mù lòa. Ngày ngày,  tôi giúp mẹ gánh bún và dắt mẹ ra chợ. Chiều tối tôi lại đưa mẹ về. Công việc tưởng chừng như nhàm chán ấy đã giúp gia đình tôi qua cơn khốn quẫn. Lúc ấy, tôi là người con trai duy nhất, lại chịu khó, cần mẫn nên được cha mẹ yêu thương hết mực. Bây giờ khi tuổi  đã ngoài tám mươi, mỗi lần nhắc đến mẹ là nước mắt tôi cứ ứa ra, không làm sao ngăn nổi. Nhất là khi tưởng tượng tới cảnh cha mẹ tôi ra đi không còn nắm tro tàn do bom xăng của giặc Mỹ thiêu cháy nhiều khu phố ở ngã Bảy Sài Gòn ngày 4 Tết Mậu Thân (1968) là lòng tôi ứa máu!
Hôm về thăm quê, một người bà con trong họ còn nhắc chuyện ngày xưa, tôi đã mang hết liễn, sáo giăng trước bàn thờ đem đi bán và trốn mất. Tôi biền biệt 3 tháng trời, cả làng ai cũng lo, không biết tôi sống chết ở xó xỉnh nào. Có ai hỏi, mẹ tôi đều bảo rằng : “Thằng Kích không chết, rồi nó sẽ về với tôi”. Mặc dù mắt mẹ tôi không thấy gì, nhưng trong linh cảm của bà, linh cảm từ trái tim một người mẹ, mách bảo bà rằng tôi vẫn còn sống và sẽ trở về.
Thực ra ngày đó, tôi mang theo tiền bán liễn, sáo qua xã bên nhờ thầy dạy võ. Ngày ngày giúp gia đình thầy nấu cơm, giặt giũ, chịu khó làm tất cả các công việc nặng nhọc; đêm đến cùng các bạn môn sinh khác rèn kiếm, đi quyền, xuống tấn. Miệt mài trong mấy tháng, tôi có thể dùng  tay không đâm thủng cây chuối già, có thể chắp hai bàn tay lại chặt đứt bốn viên gạch nung chồng lên nhau. Việc học võ khó khăn đến đâu tôi cũng không từ bỏ một buổi nào. Nhớ mẹ, nhớ cha vô cùng nhưng quyết không về vì học chưa được bao nhiêu.
Còn việc học chữ của tôi cũng lắm đoạn trường.
Thầy giáo dạy lớp Một của tôi là cụ Phạm Quang Lược - một thanh niên tham gia trong “hội kín”. Về sau, tôi mới biết thầy là “người  cộng sản”.
Tôi học chữ Nho với một  người bạn cùng làng với thầy Trần Mậu - một cử nhân Hán học.
Thấy tôi khá đĩnh đạc, lại sáng dạ, thầy khuyên tôi chịu khó học tập, nghiên cứu về nho - y - lí - số. Sau này tôi có ảnh hưởng phong cách của thầy.
Anh bạn học cùng tôi ngày xưa ấy tên là Nguyễn Luân, vẫn còn nhớ như in. Anh tâm sự với một người bạn: “Hồi nhỏ tôi với anh Kích cùng đi học. Tôi có điều kiện hơn anh ấy. Tôi có một nguồn sách truyện dồi dào, như: Phong Thần, Thủy Hử, Tam Quốc Chí, Tây Du Kí … Khi đọc Tây Du Kí, chúng tôi ai cũng thích làm Tề Thiên Đại Thánh, tự xưng mình là Lão Tôn. Anh Kích cũng khoái nhân vật này lắm. Anh Kích là người can đảm, không chơi xấu ai. Nếu bạn mình đi đường bị kẻ khác chặn  đánh là anh ra tay ngay. Anh chỉ cần bắt được một thằng là từ đó bọn chúng sợ không dám chặn uy hiếp nữa. Can đảm, ý chí, kiên quyết như anh Kích thì bọn tôi xin nhường vì anh nói là làm, không sợ ai hết”.
Lớn lên, tôi với anh Luân không vượt qua được đệ nhất, đệ nhị, không lên nổi tiểu học, tức là không đậu được bằng Xéc-ti-phi-ca (Cetifica)… nên phải ở nhà. Nhưng  thầy của chúng tôi lại bắt chúng tôi phải “chia chữ”. Thầy nói: "Một  mình  bây biết chữ thì bọn chúng đè đầu cỡi cổ. Bây giờ phải chia chữ cho nhiều người, sau này lớn lên bọn bây không sợ, hào lý không ăn hiếp được”.
Chúng tôi thấm thía câu nói "chia chữ". Nhờ có “chia chữ” cho nhau mà về sau cả làng tôi già trẻ, trai gái, ai ai cũng có ý thức đối với vận mệnh của đất nước. Mọi người đều nhiệt tình tham gia cách mạng, ủng hộ cách mạng, nuôi giấu cán bộ, xung phong ra tuyến đầu, dũng cảm, gan dạ.
Năm tôi mười một tuổi, qua tiếp xúc với nhiều gia đình như gia đình cụ Phạm Khánh, Nguyễn Hỷ mới biết họ là những người đang hoạt động trong các “hội kín”. Riêng thầy Phạm Quang Lược, khi Quốc hội Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đầu tiên ra đời, thầy được bầu làm đại biểu. Thầỵ đã trực tiếp dìu dắt, sử dụng, giao nhiệm vụ cho tôi làm liên lạc, rải truyền đơn, treo cờ đỏ sao vàng trong tổng Ca Đức. Tuổi còn nhỏ nhưng tôi rất hăng hái, không sợ địch bắt, không sợ bị tù đày; lại cảm thấy vinh dự khi được làm những công việc ấy. Có đêm tôi nằm trằn trọc không ngủ được, mong đêm dài hơn để được đi rải truyền đơn, treo cờ, làm cho địch hoang mang, sợ hãi. Càng lớn lên, tôi càng hiểu sâu sắc hơn ý nghĩa của sự "chia chữ", cũng như ích lợi  khi mình có cái chữ để sống trong đời.
Hôm gặp mặt bà con đồng hương Quảng Ngãi ở nhà ông Phạm Phổ Thông số 19 đường Trần Văn Ơn, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, bà bác sĩ  Phạm  Thị Xuyến - vợ ông Thông kể lại:
“Ngày còn nhỏ, tôi hay cõng em tôi đi học chữ ở nhà anh Kích. Muốn vào nhà anh Kích phải đi qua một cái mương nhỏ. Cứ mỗi bận như vậy, anh Kích lại bỏ công việc đang làm ra cõng em tôi qua mương. Khi anh có gói chè, điếu thuốc là mang sang biếu cha tôi. Cha tôi thương anh lắm. Tôi nhỏ tuổi hơn anh Kích. Ngày ấy anh hay dọa đánh tôi. Nhà anh nghèo, anh đi quơ củi; còn tôi thì đi hót rác. Gặp tôi đâu, anh cũng trêu.
Tôi nhớ dạo ấy anh có quen chị Tám Tiến - hiện nay có người con gái tên là Dung, trung tá công an ở Phan Thiết, tỉnh Ninh Thuận. Chị Dung là con nuôi cụ Phạm Thuần, nguyên là chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Lâm Đồng.
Không hiểu sao ông Tu làm nghề thầy bói ở trong làng lại bảo anh Kích với chị Tám Tiến khắc tuổi, không thể lấy nhau được. Nếu lấy nhau thì gặp nhiều điều bất hạnh. Chị Tám Tiến sau đó lấy chồng, nhưng trong lòng vẫn luôn nhớ đến anh Kích. Đây là mối tình đầu của anh.
Logged

Tôi là người thợ lò,<br />Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6324

Lính của PTL


« Trả lời #2 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2009, 08:41:50 AM »

Mấy năm sau, anh Kích lấy chị Sỏi, tức là bà Nguyễn Thị Liên. Bà Sỏi nguyên là vợ lẽ một người trong làng. Chị Sỏi tính tình hiền dịu, nết na, dễ thương nhưng ngặt nỗi làm bé của người ta nên hay bị bà cả đánh đập, ghen tuông, khổ sở trăm bề. Thương cảm trước hoàn cảnh của chị Sỏi, anh Kích về nhà xin cha cho lấy chị làm vợ. Cha anh đồng ý. Anh chị lấy nhau thật đơn giản. Đó là một đêm đông, khi trời chạng vạng, anh bảo chị Sỏi ra ngã ba đường cái, anh Kích đến nắm tay dẫn về nhà. Không có tiệc cưới, không có hai họ làm lễ rước dâu, đưa dâu. Vậy mà anh chị yêu thương nhau rất mực. Anh Kích ngày ngày xay bột làm bún, chị theo mẹ anh ra chợ bán bún. Rồi chị cũng sinh hạ cho anh được ba người con. Con trai đầu là Lê Du Kiếm, đại úy về hưu; con thứ hai là Lê Du Phong, giáo sư, tiến sĩ, hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội; và người con gái tên là Lê Thị Mai Ngữ, kỹ sư sinh hóa, hiện nay đang công tác ở thành phố Đà Nẵng.
Ngày ấy tôi còn nhỏ, đầu để chỏm, chạy lon ton làm “người đưa thư” cho anh Kích gởi chị Tám Tiến. Lúc cách mạng chớm về xã, anh Lê Kích là người có uy tín biết tập hợp lực lượng và làm trung đội trưởng. Em ruột anh Văn làm trung đội phó. Tất cả chúng tôi tập luyện quân sự dưới sự chỉ huy của anh Kích. Một hôm, đang tập luyện trên bãi biển, anh Kích bảo tôi đi hái chè tươi nấu nước cho anh em uống. Tôi nghe lời anh, chui vào vườn người ta hái trộm chè. Vừa xách bó chè tươi ra, chó sủa quá, tôi bỏ chạy. Hôm ấy rồi cũng nấu được nồi nước chè cho anh em uống đỡ khát. Anh còn rủ tôi đi Tám Nhơn câu trộm con gà luộc đang cúng ở một cái miếu gần đó.
Năm 1945, một tàu chiến Nhật Bản neo ngoài khơi biển Đông bị quân đồng minh đánh chìm. Anh Kích lúc đó là ủy viên quân sự của Mặt trận Việt Minh xã, chỉ đạo chúng tôi mang theo cưa, đục, dao lặn xuống biển, nơi con tàu chiến bị chìm, lấy sắt chở về làng rèn dao kiếm chiến đấu.
Trên giường, dưới đất, trong căn phòng nhỏ của anh đâu đâu cũng chất đầy vũ khí, giáo mác. Quý anh, mến anh, tôi có làm một bài thơ tặng anh:
Thương anh áo vải, cờ đào
Xung phong chiến trận chiến hào đó đây
Ngày xưa anh đáng bậc thầy,
Đánh Pháp, đuổi Mỹ phơi thây chiến trường.
Cuộc đời gian khổ mến thương,
Tình nhà, nợ nước đôi đường anh lo.
Bao năm chiến dịch gay go,
Quyết tâm đánh thắng, đắn đo kỹ càng.
Chiến trường đứng vững hiên  ngang,
Đánh Đông, dẹp Bắc vinh quang nước nhà.
Anh sống tình cảm, đậm đà
Quê hương, làng xóm, ai mà không thương.

Lời thơ tuy nôm na nhưng tôi còn nhớ đến tận bây giờ.”
Bác Nguyễn Văn Can hiện nay đang ở Nha Trang cũng tâm sự:
- Tôi với anh Lê Kích là hàng xóm, ở sát nhà nhau. Ngày còn trẻ, anh gan dạ lắm. Bọn lý trưởng, cường hào ở xã đều sợ anh. Từ chỗ sợ Lê Kích, bọn chúng sợ luôn phong trào thanh niên của xã do anh đứng đầu.
Tôi nhớ: Một hôm họp ở nhà Nhóm. Nhà Nhóm làm bằng gỗ có sàn cao, cách mặt đất gần 1 mét. Đây là nơi bọn hào lý thường dùng để tổ chức họp dân. Khi  tên  hương kiểm lên phát biểu, nói năng ngạo mạn, khinh  khi  dân làng, lúc đó anh Kích đang ngồi cạnh chúng. Nổi giận, anh đạp cho tên hương kiểm rơi xuống đất. Bọn chúng huy động người đến bao vây, nhưng không làm gì được, phải giải tán. Anh Kích khí khái vậy đó - nên bọn cai trị địa phương vô cùng căm tức, tìm cách trả thù anh.
Không chỉ dùng chân đạp tên hương kiểm lăn từ trên nhà Nhóm xuống, anh còn tổ chức cho thanh niên chúng tôi ở trong  xã đánh bọn Đoan (thuế vụ) vì bọn chúng ức hiếp nhân dân, bày ra sưu cao thuế nặng, cùng với các loại thuế mãi lộ gian ác khác. Chúng tôi cùng anh Kích đánh dằn mặt bọn chúng ngay tại trụ sở xã; bọn chúng không thể làm gì được. Thừa thắng xông lên, chúng tôi đến đâu, bọn chúng co mình đến đấy, không dám ho he gì cả”.
Còn đại tá Nguyễn Tùng Vân công tác tại Học viện Lục quân vừa về hưu, kể lại:
Tôi là người cùng thôn, cùng xóm với anh Lê Kích. Anh Kích vốn là một trong những cán bộ Việt Minh ở xã. Anh là người từng tuyên truyền, giác ngộ cách mạng cho tôi từ cuối năm 1944.
Từ đầu năm 1945, xã tôi đã tổ chức một lực lượng bán vũ trang, hoạt động bí mật; trong đó có một đội dân quân du kích, tự vệ chiến đấu, đều do anh Lê Kích chỉ huy. Du kích, tự vệ xã hoạt động gặp rất nhiều khó khăn, không có súng đạn, phần lớn là trang bị kiếm, giáo, dao, gậy gộc. Trong khi đó, bọn chánh tổng, lý hương phản động lại hay dòm ngó gây khó dễ.
Anh Lê Kích là người chỉ huy chung lực lượng quân sự của xã. Anh đã làm những việc thiết thực như: cho anh em vào nhân dân xin dao, rựa, búa rìu cũ để rèn kiếm; tổ chức lực lượng phá gỡ tàu thủy của Nhật bị quân Đồng minh bắn chìm lấy sắt thép rèn dao kiếm. Mỗi đội viên du kích tự vệ chúng tôi đều được trang bị một thanh kiếm dài để tập tành, cũng là vũ khí quan trọng để lùng bắt bọn phản động trong xã. Đồng  thời đó cũng là vũ khí của chúng tôi chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa cướp  chính  quyền ở Quảng Ngãi ngày 14 tháng Tám năm 1945.
Bọn chánh tổng, lí hương hay gây khó khăn,  anh Kích đều có kế hoạch để quật trả. Phong  trào cách mạng ở quê tôi lớn mạnh như diều gặp gió, nên bọn phản động co cụm lại, không dám làm gì chúng tôi. Phải nói rằng, do có sự chỉ huy khá vững vàng của anh Kích nên chúng tôi yên tâm, hoạt động rất có hiệu quả”.
« Sửa lần cuối: 24 Tháng Ba, 2009, 08:45:53 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tôi là người thợ lò,<br />Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6324

Lính của PTL


« Trả lời #3 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2009, 08:51:04 AM »

Ngày 10 tháng 1 năm 1944, trở về địa phương, tôi chính thức được thừa nhận và được giao làm thường vụ Mặt trận Việt Minh xã, là ủy viên quân sự kiêm phụ trách thanh niên.
Ngày 22 tháng 12 năm 1944, đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy đã được thành lập trong một khu rừng nằm giữa hai tổng Trần Hưng Đạo và Hoàng Hoa Thám. Tin vui  lan  nhanh  đến  tận miền Nam, làm cho thanh niên quê tôi  thêm  náo  nức.  Sự chờ đợi đã bao năm - như trời nắng hạn gặp được  mưa  rào.
Ngay từ  tháng 4 năm 1944,  tôi đã tham gia phong trào Việt Minh ở xã, làm “tự vệ đỏ”. Qua nhiều biến cố của đất nước cũng như gia đình, tôi không liên lạc được với các đồng chí cách mạng. Tôi phiêu bạt vào Sài Gòn, làm đủ thứ nghề: xe kéo, xe xích lô, phu khuân vác, dạy võ, làm thuốc... để kiếm sống, qua đó lân la đi tìm các đồng chí đã bị mất liên lạc. Tôi hưởng ứng cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ, đi theo đoàn biểu tỉnh ở Ngã Sáu Chợ Lớn.
Ngày 10 tháng 1 năm 1944 trở về địa phương, tôi chính thức được thừa nhận và được giao làm thường vụ Mặt trận Việt Minh xã, là ủy viên quân sự kiêm phụ trách thanh niên.
Tháng 12 năm 1944, Tỉnh ủy lâm thời Quảng Ngãi đã được tái lập  tại thôn Bàng Chay, xã Ba Động, huyện Ba Tơ, khẩn trương chuẩn bị mọi mặt để đủ sức lãnh đạo phong trào đang phát triển mạnh. Đồng chí Trương Quang Giao được phân công phụ trách chung. Các đồng chí Phạm Kiệt, Nguyễn Đôn (tức Khâm) đi  sâu vào các vùng đồng bào dân tộc thiểu số H’re ở Ba Tơ. Đồng chí Trần Lương (tức Trần Nam Trung, còn có tên gọi khác là Trần Khuy) phụ trách cánh Nam tỉnh bao gồm các huyện Nghĩa Hành, Mộ Đức, Đức Phổ, phát triển lực lượng, liên  hệ với các phong trào các tỉnh phía Nam như Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa.
Đồng chí Trương Quang Giao (còn có tên là Trương Quang Viên) và Trần Quý Hai (còn có tên là Khê) phụ trách các huyện ở cánh Bắc Quảng Ngãi, bao gồm các huyện Tư Nghĩa, Sơn Tịnh, Bình Sơn, đồng thời có nhiệm vụ liên lạc với xứ  ủy Trung Kỳ. Ngày đó, anh Hai và anh Khuy phụ trách việc huấn luyện cán bộ cơ sở.
Đồng chí Khoách (tức đồng chí Thạnh, thượng tá công tác ở Cục doanh trại Tổng cục Hậu cần, năm 2000 đã 94 tuổi) tham gia cách mạng từ 1925, là người nòng cốt của khởi nghĩa Ba Tơ.
Mọi việc được triển khai một cách khẩn trương và thuận lợi thì tỉnh ủy Quảng Ngãi nhận được tin Nhật đảo chính Pháp.
Tại dốc ông Tài huyện Ba Tơ, tỉnh ủy lâm thời Quảng Ngãi tổ chức ngay cuộc họp bất thường vào ngày hôm sau, mồng 10 tháng 3  năm 1945 để nhận định tình hình, xác nhận thời gian khởi nghĩa là ngày 11 tháng 3 năm 1945, tức ngày 27 tháng giêng năm Ất Dậu.
Trong quyển "Bình minh Ba Tơ", Trung tướng Nguyễn Đôn kể lại :
"Cuộc  tranh luận kéo dài một lúc mà chưa ngã ngũ, có nên thực hiện theo chủ trương cũ của Tỉnh ủy hay lợi dụng thời cơ thực hành cuộc khởi nghĩa ở Ba Tơ. Anh Giao (tức Trương Quang Giao)  ngồi nghe không bỏ qua một ý kiến nào. Bấy giờ, anh mới nói:
- Các đồng chí bàn nhiều rồi. Tôi chỉ nói một số vụ việc cụ thể để chúng ta cùng quyết định thực hiện theo chủ trương nào thì đúng.
Về lực lượng quần chúng cách mạng, sao ta chỉ nghĩ đến bà con đói khổ lâu nay cam chịu cảnh sống áp bức và không có gan nổi dậy, không có người cầm đầu. Nay ta có cả một tập thể những người cộng sản đứng ra lãnh đạo họ đánh Tây, đuổi Nhật tức là khơi đúng vào cái mạch yêu nước chảy ngầm trong lòng họ bấy lâu nay, họ sẽ hăng hái đi theo. Còn anh em “an trí” (Một dạng quản thúc, người bị “an trí” phải trình diện theo quy định và tự kiếm sống), trừ một vài người mất tinh thần, thậm chí can tâm làm tay sai cho địch như tên Cừ, số đông vẫn là hăng hái. Lâu nay họ như người leo dốc, leo mãi mà chưa tới đích thì nản. Nay ta phân tích tình hình, phổ biến chủ trương của Tỉnh ủy, tức là chỉ cho họ cái đích, rồi cầm tay họ cùng leo thì anh em sẽ theo và cảm thấy gần tới đích thì càng hăng hái. Lính trong đồn kia thì sao? Thằng đồn trưởng đang mắc kẹt ở tỉnh, thằng đồn phó đang coi đồn ở đây. Lâu nay việc canh phòng lỏng lẻo. Tối bọn chúng cho lính về nhà, bảy giờ sáng mới vào trại. Lính ở lại trong đồn ban đêm chỉ có hơn chục tên. Số đông có cảm tình với người “an trí”, trong số đó có anh quyền Liệp (chức vụ thấp nhất trong lính bản xứ) là người hăng hái nhất. Mấy lần trò chuyện, tôi biết anh quyền Liệp đi lính một phần vì kinh tế, một phần vì có thù riêng với bọn hương lý ở làng. Lính ở trong thế "rắn mất đầu". Nếu ta dùng sức mạnh quần chúng áp đảo tinh thần rồi gọi ra giải thích chủ trương của cách mạng và chỉ cho họ con đường để tự cứu mình thì tôi tin họ sẽ bỏ đồn mà chạy. Tóm lại, theo tôi điều kiện khách quan rất thuận lợi. Đây là cơ hội nghìn năm có một. Điều kiện chủ quan chưa đầy đủ, nhưng tất cả chúng ta đồng lòng thì có thể khắc phục được. Tôi đề nghị: Chúng ta làm ngay cuộc khởi nghĩa cướp chính quyền ở Ba Tơ!
Hội nghị biểu quyết thống nhất như ý kiến phân tích của đồng chí bí thư  với quyết tâm cao và tin tưởng, tiến hành cuộc khởi nghĩa nhất định thành công. Cuộc họp kết thúc vào lúc nửa đêm. Theo kế hoạch, một số đồng chí trong Tỉnh ủy đi gặp anh em “an trí” còn có tinh thần, nói rõ quyết tâm khởi nghĩa Ba Tơ của Tỉnh ủy, vận động họ tự trang bị giáo mác, dao rựa… để kịp sáng mai thừa lúc bọn địch chưa đề phòng, lợi dụng trình diện, ta xông vào cướp đồn, chiếm trại lính, lấy vũ khí địch kéo sang chiếm nha kiểm lý. Số khác vào các làng lân cận huy động quần chúng kéo đến làm áp lực, ủng hộ cuộc khởi nghĩa giành thắng lợi. Riêng tôi được phân công xuống Trường An cùng cụ Trần Toại tổ chức cuộc khởi nghĩa ở đấy rồi kéo quần chúng từ Trường An, Tân Long lên Ba Tơ tăng cường cho lực lượng khởi nghĩa.
Trời còn mờ đất, tôi đã đến nhà cụ Trần Toại. Sau khi nghe trình bày vắn tắt chủ trương khởi nghĩa của Tỉnh ủy, cụ Toại liền phái cô Thoa, cô Diễm trong nhóm Thanh niên Cứu quốc đi triệu tập anh Tiểu, anh Cả, anh Sương và đồng chí Huỳnh Thanh, một cựu chính trị phạm, đến nhà mình nghe tôi trình bày kế hoạch khởi nghĩa Ba Tơ và phát động quần chúng làm ngay cuộc khởi nghĩa ở Trường An".

Khi sương mai chưa tan trên các triền núi thì trong thung lũng Trường An tiếng trống, tiếng mõ nổi lên làm chấn động cả một vùng rừng núi. Truyền đơn,  biểu ngữ của Mặt trận Việt Minh, cờ đỏ sao vàng theo anh Tiểu, anh Cả, anh Sương sang Tân An, Tân Long, ra xóm vạn chài, xuống Hóc Kè. Đoàn người vừa đi vừa đánh trống, dán biểu ngữ, rải truyền đơn, hô các khẩu hiệu, đọc lời kêu gọi "Hỡi quốc dân đồng bào! Nhật lật Pháp. Thời cơ cứu nước đã đến. Ai có súng dùng súng, ai không có súng thì dùng gươm, dao, giáo, mác, tự trang bị cho mình tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở Ba Tơ, đánh đuổi Nhật - Pháp, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc”. Đồng bào từ các ngã nhập vào đoàn biểu tình mỗi lúc một đông. Họ vừa đi vừa giục trống, hô khẩu hiệu "Đánh phát xít Nhật, đuổi thực dân Pháp! Việt Nam độc lập muôn năm!". Khi mặt trời ban mai vượt lên dãy núi đằng đông thì mọi người đã tập trung về gò Trường An. Trên mô đất cao, nhìn biển người đứng chật khoảng gò rộng, tôi càng hiểu ra sức mạnh to lớn của quần chúng một khi lòng yêu nước của họ được cách mạng khơi dậy. Tôi nói to: " Thưa đồng bào ! Hôm qua Nhật đã lật Pháp trên toàn cõi Đông Dương, lực lượng Pháp đã tan rã đang chạy trốn. Bọn Nhật  vừa lên nắm chính quyền chưa kịp tổ chức bộ máy tay sai. Đây là cơ hội nghìn năm có một. Hơn tám mươi năm mất nước, dân chịu làm thân trâu ngựa cho  thực dân Pháp và quan Nam Triều bán nước. Mấy năm qua, Nhật vào Đông Dương, dân ta phải chịu thêm một tầng áp bức nữa. Bọn chúng ra sức bóc lột đồng bào đến tận xương tủy. Biết bao nhiêu nghĩa sĩ, anh hùng cách mạng bị chúng bắt tù đày, bắn giết. Tội ác của chúng không sao kể xiết .Giờ đây thời cơ đã đến, chúng ta cương quyết đứng lên đánh Nhật, đuổi Pháp, giành độc lập cho Tổ quốc, tự do cho nhân dân. Dù phải hy sinh xương máu, chúng ta thề quyết chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng. Giờ này anh em an trí Ba Tơ, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đã đứng lên khởi nghĩa cướp chính quyền. Đồng bào mau mau xiết chặt hàng ngũ. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, tiến về Ba Tơ hợp sức với anh em an trí và đồng bào làm cho cuộc khởi nghĩa thắng lợi thành công. Việt Nam độc lập muôn năm!”
Tiếng hô khẩu hiệu vang lên như sấm dậy rung chuyển cả một vùng.
Trưa  hôm đó, một tốp địch từ Nghĩa Hành theo lộ 5A lên Ba Tơ, đã bị lực lượng khởi nghĩa phục kích tại Trường An, Ba Động, bắt được tên giám binh người Pháp.
Ngày 20 tháng 4 năm 1945, tôi được giới thiệu lên chiến khu Núi Lớn. Khu rừng Núi Lớn là nơi có loại cây dầu rái, người dân đi lại khai thác nên đường sá như mạng nhện, như một trận đồ bát quái, vào được, khó ra. Vì vậy Núi Lớn được chọn làm chiến khu để xây dựng lực lượng. Tôi ở đây tập luyện quân sự và sau đó trở về chuẩn bị tổng khởi nghĩa ở các thôn An Thạch, An Thở, Hội An, trực tiếp đi vận động cách mạng ở thôn Nghĩa Lập huyện Mộ Đức, quê của vợ tôi. Số đông bà con ở đây theo đạo Cao Đài.
Trung tướng Nguyễn Đôn, cũng kể về cuộc khởi nghĩa Ba Tơ dạo đó:
"Đêm 14, chúng tôi vượt qua đèo Suối Ngổ đi đến suối Chí, địa điểm tập hợp toàn đội. Ở đây đã có mặt các đồng chí cán bộ cũ và mới: Đức, Nhạn, Phước, Trinh, Anh, Hoa, Họa, Trần Công Khanh, Khai, Dũ, Minh, Thi, Trúng, Lê Kích, Mai Láo, Trần Hiệp, Nguyễn Văn Lịnh, Lâm Tự, Trần Công, Ánh, On, Đinh San…"
Biên chế các bộ chiến sĩ vào năm trung đội: Nguyễn Nghiêm, Cử Đình, Phạm Hồng Thái, Tư Tân, Ngô Đán và một đội dự bị, một ban thông tin tuyên truyền do đồng chí Tâm phụ trách với Hoạt, Nai, Dũng.
Mọi công việc sắp xếp, điều chỉnh vũ khí súng đạn, gươm dao đầy đủ cho các đơn vị.
Toàn đại hội tập hợp nghiêm chỉnh trước lá cờ của Tỉnh ủy giao cho tôi. Lúc này tiếng tù đã vang vọng khắp nơi"
Logged

Tôi là người thợ lò,<br />Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6324

Lính của PTL


« Trả lời #4 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2009, 07:24:14 AM »

CHƯƠNG II
TỪ QUẢNG NGÃI RA ĐI
Phong trào chống Pháp ở Quảng Ngãi quê tôi đã có từ năm 1858. Khi thực dân Pháp chiếm Đà Nẵng, đã có nhiều nhân sĩ trí thức nhà nho yêu nước chống Pháp như phong trào Cần Vương với cuộc khởi nghĩa của ông Lê Trung Đình (1885), Nguyễn Bá Loan (1885 - 1888), Thái Thú (1894), phong trào yêu nước mang nhiều màu sắc dân chủ tư sản như: phong trào Duy Tân (1904-1908), phong trào đấu tranh dân chủ (1936-1939), v.v. Phong trào tỉnh Quảng Ngãi lúc bấy giờ do ông Lê Trung Đình, Nguyễn Tự Tân, Vũ Hội, Nguyễn Bá Loan, Thái Thú, Trần Du đứng đầu.
Ở Quảng Ngãi, người dân xuống đường biểu tình chống sưu thuế, vây kín tỉnh đường, phá tan nhà đại Việt gian Nguyễn Thân ở làng Thạch Trụ, cách làng tôi khoảng hai cây số.
Khi Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, tỉnh Quảng Ngãi được đổi tên là tỉnh Lê Trung Đình. Lê Trung Đình là một nhà nho yêu nước, ông người làng Phú Nhân,  phủ Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, đậu cử nhân khoa Giáp Thân (1884). Chán nản vì triều đình nhà Nguyễn lúc đó mục nát, ông không chịu ra làm quan. Ông là một trong những sĩ phu thời ấy kiên quyết chủ chiến. Theo lệnh của Tôn Thất Thuyết, ông đã cùng các sĩ phu trong tỉnh Quảng Ngãi lúc ấy đã lập ra nghĩa hội, tổ chức các đoàn kiệt và hương binh để chống giặc. Lê Trung Đình được cử làm chánh quản hương binh. Khi phong trào Cần Vương bùng nổ, ông đã cùng Nguyễn Tự Tân lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa, chiếm được tỉnh lỵ ngày 13 tháng 7 năm 1885.
Sau thắng lợi đầu tiên ấy, phong trào chống Pháp mỗi ngày mỗi mạnh. Nhưng ngay khi đó, đại thần Nguyễn Thân làm tay sai cho giặc đã đem quân đánh chiếm lại tỉnh thành, bắt được ông Lê Trung Đình và Nguyễn Tự Tân . Quân giặc đã tìm cách mua chuộc, nhưng hai ông không chịu khuất phục. Lê Trung Đình chửi mắng giặc cho đến chết. Ông  đã  bị  chúng  xử  tử  ngày 18 tháng 7 năm 1885.
Trước khi bị giặc giết, ông đã làm bài thơ "Lâm hình thời tác". Bài thơ có đoạn: 
Kim nhật lung trung điểu,
Minh triều trở thượng ngư.
Thử thân hà túc tích,
Xã tắc ai kỳ khu

Dịch nghĩa:
Bài thơ làm lúc sắp bị hành hình:
Ngày nay là chim trong lồng,
Sáng mai là cá trên thớt.
Thân này có đáng tiếc gì đâu,
Chỉ thương đất nước đang trải qua bước đường gập ghềnh vất vả.

Sau này, nhà văn Hoàng Tạo đã dịch thành thơ:
"Nay là chim trong lồng,
Mai đã cá trên thớt?
Thân này tiếc gì đâu,
Gian nan tình đất nước"

Trong cuốn sách "Nam  Trung Bộ kháng chiến 1945 - 1975" còn ghi lại dòng chữ khẳng định: "Ở Quảng Ngãi trong đêm mồng 7 tháng 10 năm 1930, trên năm ngàn người dân huyện Đức Phổ trương băng cờ, kéo đến huyện lỵ phá huyện đường, đốt sổ sách, hồ sơ, thả tù nhân, làm chủ huyện lỵ cả ngày, làm cho tên tri huyện phải chạy trốn.
Những ngày cuối mùa đông, ở hầu hết các làng, tổng, huyện, hàng vạn người dân mít tinh biểu tình, trấn áp cường hào gian ác, bộ máy thống trị của địch ở các làng, xã tê liệt. Người dân tự tổ chức giữ trật tự thôn xóm; xây dựng đoàn thể cách mạng, luyện tập quân sự, giúp nhau sản xuất. Tổ chức Đảng phát triển mạnh. Cả tỉnh chỉ có chín mươi chi bộ với ba trăm ba mươi đảng viên. Thường vụ Trung ương Đảng cũng đã có nhận xét phong trào đấu tranh của nhân dân Quảng Ngãi là mạnh nhất ở Trung Kỳ lúc bấy giờ"
.
Chúng tôi nhớ́ như in, cuộc khởi nghĩa Ba Tơ bắt đầu từ cuộc nổi dậy của nhân dân Trường An. Tiếng trống mõ vang lên liên hồi làm khuấy động một vùng rừng, cờ đỏ sao vàng phất phới tung bay trong gió.
Những tiếng hô dậy trời dậy đất: "Đả đảo thực dân Pháp, phát xít Nhật. Việt Nam độc lập muôn năm!". Cùng lúc này, tên đồn trưởng của địch thất thểu chạy từ thị xã Quảng Ngãi về đến Trường An. Vì thiếu kinh nghiệm nên nhân dân Trường An đã không bắt giữ nó để làm con tin. Khi tên Bùi Danh Ngũ, Nha Kiểm lý Ba Tơ, cùng đám lý hương đang bàn định kế hoạch đón Nhật, thì bị nhân dân tấn công, tước mười khẩu súng. Bọn chúng phải cúi đầu nhận tội bán nước, thế là cuộc tấn công áp đảo chiếm Nha Kiểm lí Ba Tơ xảy ra êm thấm, không phải nổ súng.
Hồi kí của trung tướng Nguyễn Đôn ngày 21 tháng 8 năm 1994 kể lại:
“Cả châu Ba Tơ đêm ấy sáng ngời ánh đuốc, 28 lính khố xanh trong đồn địch hạ súng đầu hàng.  Khởi nghĩa Ba Tơ thắng lợi. Đội du kích Ba Tơ lúc mới ra mắt nhân dân ngày 12 tháng 3 năm 1945 chỉ có 17 chiến sĩ với 28 khẩu súng do đồng chí Phạm Kiệt làm đội trưởng, đồng chí Nguyễn Đôn làm chính trị viên. Sau đó con số tăng lên 28 người.
Ánh bình minh vừa rạng, thung lũng Ba Tơ còn phủ kín sương mù, cuộc mít tinh chào mừng thắng lợi bắt đầu. Đồng bào kinh thượng từ Trường An, Đá Vách đổ về khí thế hiên ngang, rừng rực, uy vũ. Trong cuộc mít tinh, đồng chí Phạm Kiệt đã phân tích tình hình đất nước và phong trào cách mạng tỉnh nhà, kêu gọi nhân dân đoàn kết đánh Tây, đuổi Nhật. Đồng chí Nguyễn Đôn tuyên bố xóa bỏ chính quyền do Pháp dựng lên. Ủy ban nhân dân cách mạng Ba Tơ được thành lập. Đội du kích Ba Tơ cũng ra đời. Tiếng hoan hô vang dậy một góc trời. Cuộc diễu hành đi qua các thôn xóm cùng với tiếng hát của hàng vạn người như thác lũ trong hành khúc : “Cùng nhau đi hồng binh, đồng tâm ta đều bước, đừng cho quân thù thoát. Ta quyết chí hi sinh ...”

Thượng tướng Trần Lương (tức Trần Nam Trung) là một trong những nhà lãnh đạo khởi nghĩa Ba Tơ, nhận xét: "Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Ba Tơ đã tác động mạnh đến phong trào đấu tranh chống Nhật vừa thay chân Pháp ở khu vực Tây Nguyên và Nam Trung Bộ".
Trong hồi ức "Những năm tháng không thể nào quên", Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể lại:
"Tinh thần của đồng bào hai tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi rất cao. Ai cũng nói quyết tâm đánh Pháp, cũng đòi ra mặt trận chống quân thù. Các cô gái đều cắt tóc ngắn. Hoạt động của kẻ địch, của bọn phản động,cái tơ cái tóc cũng không qua mắt nhân dân.
 Quảng Ngãi và Quảng Nam rất phấn khởi khi nghe truyền đạt những chỉ thị mới của Bác và Trung ương Đảng. Đồng  thời  với  việc  tích cái tơ cái tóc cũng không qua mắt nhân dân.
 Quảng Ngãi và Quảng Nam rất phấn khởi khi nghe truyền đạt những chỉ thị mới của Bác và Trung ương Đảng. Đồng thời với việc tích cực chuẩn bị kháng chiến lâu dài khi chiến tranh lan tới, các đồng chí lãnh đạo ở hai tỉnh bàn bạc ngay việc gửi thêm bộ đội ra mặt trận.
 Mỗi làng xóm nho nhỏ bên đường đều như trỗi dậy, quật cường hẳn lên với những hoạt động của quân dân. Đâu đâu cũng thấy quân dân áo vải, quần nâu bình dị, trong tay khi thì khẩu súng, khi là thanh mã tấu, khi chỉ một cây tre vát nhọn nhưng khí thế lạ thường".
Logged

Tôi là người thợ lò,<br />Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6324

Lính của PTL


« Trả lời #5 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2009, 07:26:52 AM »

Đội du kích Ba Tơ là lực lượng vũ trang chủ yếu, là lực lượng nòng cốt của nhân dân Quảng Ngãi trong cuộc Tổng khởi nghĩa. Sau này, đội du kích Ba Tơ đã có mặt trên hầu hết các chiến trường từ Huế trở vào.
Đó là một đơn vị bảo vệ xứ ủy Trung Kỳ ở Huế. Đơn vị đồng chí Phan Phong, đồng chí Hiệp tăng cường cho Plei-ku. Một đơn vị do đồng chí Trịnh Anh phụ trách đi Kon Tum. Một đơn vị tăng cường cho hai tỉnh bạn Quảng Nam, Bình Định. Ngoài ra còn bốn chi đội nữa. Một chi đội lúc ấy tương đương một tiểu đoàn bây giờ. Một chi đội do đồng chí Bùi Trường Nga (Nghĩa Dõng) làm chi đội trưởng, phụ trách quân sự ; đồng chí Hoàng Minh Thi, người huyện Mộ Đức, làm chính trị viên (sau này là thiếu tướng tư lệnh, chính ủy Quân khu 4), một đại đội do đồng chí Tàu lãnh đạo, chi viện cho Buôn Mê Thuột. Một đại đội mang tên liệt sĩ Phan Điệt (Đề Xi). (Đồng chí Điệt hi sinh trong trận chạm trán với quân Nhật ở Xuân Phổ, huyện Tư Nghĩa ngày 16 tháng 8 năm 1945). Đại đội này do tôi chỉ huy và đồng chí Nguyễn Tấn Việt làm chính trị viên, vào Nha Trang. Một đơn vị do đồng chí Cao Thanh Trà chỉ huy vào Ninh Thuận.
Nói về liệt sĩ Phan Điệt (Đề xi) trong tập sách "Đội du kích Ba Tơ, nhớ lại và suy nghĩ" có ghi:
"Trong trận đánh quân Nhật lên Xuân Phổ chiều 16 tháng 8, Ban chỉ huy đại đội Phan Đình Phùng chỉ định anh Phan Long và anh Phan Điệt trực tiếp chỉ huy trận đánh có ý nghĩa then chốt này. Theo ý định của trên, đây là một trận phục kích đánh giáp lá cà với quân Nhật tại khu vực Cống Bàu Sắt. Đúng như dự kiến, khi trời vừa nhá nhem tối, quân Nhật đã dẫn xác lọt vào trận địa phục kích của ta. Hiệu lệnh xung phong vừa vang lên, anh Phan Điệt xông ra dẫn đầu quân ta lao thẳng vào quân Nhật. Trận đánh giáp la cà bằng kiếm, bằng súng với quân Nhật diễn ra rất ác liệt. Quân Nhật bị đánh bất ngờ, hoang mang chống đỡ, vừa đánh vừa tháo chạy, bỏ xác đồng bọn tại trận địa. Bên ta, anh Phan Điệt đã anh dũng hy sinh. Anh Bột bị thương nặng. Anh Phan Điệt được an táng tại ngã ba thôn 1, làng Xuân Phổ".
Đơn vị chúng tôi thật sự tự hào khi được cùng nhau đứng trong đội hình mang tên người anh hùng Phan Điệt.
Chúng tôi không làm sao quên được cái hôm nhân dân thị xã Quảng Ngãi và vùng phụ cận làm lễ tiễn đưa hai đơn vị Vệ quốc đoàn của tỉnh nhà lên đường tăng viện cho cuộc kháng chiến của đồng bào thành phố Sài Gòn và Nha Trang, cũng như đón mừng các đoàn quân từ các tỉnh phía bắc trên đường Nam tiến.
Đoàn tàu hỏa dài 14 toa từ từ tiến vào sân ga, không khí sôi động hẳn lên. Các đơn vị từ phía Bắc vào như Hà Nội, Hà Tĩnh, Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Chiến khu Đông Triều, Bắc Ninh, Bắc Giang,  Thái Bình,  Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Quảng Bình, Quảng Trị, Thuận Hóa, Thừa Thiên Huế, Nghệ An, ... mặc đồng phục, súng đạn, lưỡi lê sáng quắc. So với chúng tôi - những người con của Thái Phiên (Quảng Nam - Đà Nẵng), Lê Trung Đình (Quảng Ngãi) thì các anh to khỏe hơn. Họ không ngớt hát vang lên khúc ca "Diệt phát xít" của nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Thi...
Không còn giữ được trật tự khi con tàu vào đến sân ga. Nhân dân thị xã tề tựu đón mừng đoàn quân Nam tiến vào, tiễn con em mình ra mặt trận. Không biết cơ man nào là quà, là lương thực thực phẩm của các đoàn thể, các mẹ, các chị mang tặng đoàn quân.
Trong không khí ấy, đồng chí Nguyễn Chánh thay mặt Quân khu 5 và cụ Phương - chủ tịch Quảng Ngãi - đã ra lệnh và chỉ thị cho hai đơn vị Vệ quốc đoàn của tỉnh nhà " Phải quyết thắng". Tôi và anh Hoàng Minh Thi cũng như hàng trăm cán bộ, chiến sĩ chỉ biết hứa hẹn, xúc động, nghẹn ngào, không ai nói được nên lời.
Cùng với việc tăng cường lực lượng chiến đấu, Liên khu ủy 5 cũng đã thành lập Khu 6 để phụ trách các tỉnh phía Nam Trung Bộ và Nam Tây Nguyên. Cấp trên giao cho đồng chí Phạm Kiệt (có bí danh là T 2) phụ trách về quân sự; đồng chí Trương Quang Giao, ủy viên thường vụ, phụ trách chính ủy và anh Nguyễn Đôn làm tham mưu trưởng. Lực lượng vũ trang Khu 6  và quân dân thành phố Nha Trang do  các đồng chí Phạm Kiệt, Trương Quang Giao chỉ huy và đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của tỉnh Đảng bộ Khánh Hòa.
Đoàn quân Nam tiến ấy là một hình ảnh cao đẹp, hình ảnh của những thanh niên trí thức khí thế bừng bừng hiên ngang "xếp bút nghiêng lên đường chiến đấu". Trừ một số chiến sĩ anh dũng hy sinh, còn hầu hết sau này trở thành những chỉ huy  tài trí, những tướng lĩnh của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Hai đơn vị mang tên nhà chí sĩ yêu nước Lê Trung Đình gồm những thanh niên đầy nhiệt huyết, những nông dân cần cù chất phác, lớn lên từ phong trào du kích Ba Tơ, ăn nói chắc nịch, áo cộc quần đùi, đã lên đường với một quyết tâm sắt đá "Một lòng ra đi, nào có mong chi đâu ngày trở về". Ngày 25 tháng 9 năm 1945, hai đơn vị Lê Trung Đình nam tiến vào Nha Trang và Thủ Đức.
Ngày hội của nhân dân thị xã Quảng Ngãi trong buổi tiễn đưa hai đơn vị Phạm Điệt và Trần Thành ra mặt trận là hình ảnh không lúc nào quên trong tâm trí tôi suốt chặng đường trường chinh đánh giặc.
Cả thị xã Quảng Ngãi là một rừng cờ tung bay trước bầu trời gió lộng của một buổi sáng Mùa Thu tháng 9  năm  1945. Từng đợt, từng đợt những đoàn người ùn ùn tiến vào ga, tiếng trống ếch của đội thiếu nhi nhịp nhàng với lời ca nhịp bước.
Những đội nữ du kích tay gươm, tay súng hùng dũng trong bộ trang phục áo cộc tay, quần soóc, tóc cắt ngắn, ca-lô đội lệch, cũng đổ dồn ra sân ga, tay bắt mặt mừng. Tôi bùi ngùi xúc động, tận đáy lòng mình. Với tâm trạng của người vinh dự được lên đường, tôi ngẫu hứng viết những lời tha thiết tặng nữ du kích của quê hương tôi:
Áo cộc, quần dài
Tay gươm, chân đất
Đầu tóc ngắn
Calô đội lệch
Dáng hiên ngang
Như những nữ thần.

Chị Thu, trung đội trưởng trung đội nữ du kích dùng luôn bài thơ này làm vũ khí tinh thần cổ vũ đồng đội.
Phải mất trên hai tiếng đồng hồ, đoàn tàu mới từ từ lăn bánh. Hai bên toa tàu cũng như toa cuối của con tàu đầy ắp các em nhỏ bu theo, suốt một quãng đường dài. Vào đến ga Hòa Vinh Tây - Mộ Đức - Sa Huỳnh,  nhân dân đông như trẩy hội, nồng nhiệt đón tiễn những con em của mình ra mặt trận.
Đặc biệt ở thị xã Tuy Hòa, từng đoàn múa lân, từng tốp những cô nàng cưỡi ngựa, không ít đồng bào dân tộc vùng cao trong trang phục nhiều màu sắc, tay cầm giáo dài, nỏ nhọn biểu diễn bắn cung tên. Tại ga Diêu Trì - quê hương của người anh hùng áo vải cờ đào Nguyễn Huệ lại có những cuộc đón tiếp mang đầy khí thế màu sắc của truyền thống Tây Sơn: từng tốp các cụ võ sư chít khăn đầu rìu, dải điều thắt  ngang lưng, trình diễn võ thuật. Những cô gái An Dinh - An Thái đánh gậy múa đao, nụ cười duyên dáng, từng đợt tiến sát đoàn tàu, lưu luyến không nỡ rời xa.
Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng Bộ Tư lệnh Khu 5 và nhân dân tỉnh nhà đã tập trung bảo đảm những trang bị cần thiết nhất cho con em mình và cho hai đơn vị đầu tiên của quân khu ra mặt trận. Chúng tôi được trang bị đầy đủ súng, từ Mút-xcơ-tông (Mousqueton) đến súng Phu-sin-gra (Fusilgra - súng hai nòng), số ít còn lại mang mã tấu. Lần đầu tiên trong cuộc đời của một người dân vừa thoát khỏi vòng nô lệ, chúng tôi được ngẩng cao đầu, góp sức mình vào công cuộc giải phóng quê hương. Tôi rất xúc động và tưởng như mình được chắp thêm đôi cánh. Nhiều lúc bâng khuâng tự hỏi: giấc mơ hay sự thật đâ ? Tôi và các đồng chí chỉ huy được nhận mỗi người một khẩu tiểu liên (Mitraillette). Đơn vị chúng tôi cũng được đón tiếp hết sức nồng nhiệt tại Ninh Hòa và chúng tôi ở lại đây đến hết ngày 29 tháng 9 năm 1945 thì vào Nha Trang.
Hai  đơn  vị Lê Trung Đình, một vào Thủ Đức, một đến Nha Trang. Tôi và anh Hoàng Minh Thi sát cánh bên nhau lòng đầy tự hào tin  tưởng.  Đoàn  quân chúng tôi ra đi mang theo hồn sông núi, đâu có sá gì gian khổ, hiểm nguy. Tạm biệt đơn vị đi Sài Gòn tại ga Ninh Hòa, các anh Nam Long, Lư  Giang, Hồng Việt, người lên Đắc Lắc, kẻ vào Nam. Con tàu lại lăn bánh. Nhân dân vẫy chào đoàn quân Nam tiến, chào các bạn đi Buôn Mê Thuột trong không khí  ngỡ ngàng tạm biệt.
Logged

Tôi là người thợ lò,<br />Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6324

Lính của PTL


« Trả lời #6 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2009, 07:31:28 AM »

CHƯƠNG III
101 NGÀY ĐÊM NHA TRANG  KHÁNG CHIẾN
Ngày 29 tháng 9 năm 1945, chúng tôi đến Nha Trang. Nha Trang vẫn đông người, náo nhiệt như mọi lần. Ngoài biển khơi, thuyền bè vẫn ngược xuôi. Các trường học đều mở cửa. Nhưng bên cạnh đó, một không khí chuẩn bị chiến tranh cũng rất khẩn trương. Thực dân Pháp đã điều thêm quân đến vịnh Cam Ranh và chiến hạm Ri-chơ-li (Richelieu) là một chiến hạm thuộc loại tân tiến nhất của nước Pháp đế quốc đã có mặt ngoài khơi Khánh Hòa, Bình Thuận. Bọn lính Nhật ngày đêm tuần tiễu khu vực chúng đóng quân.
Ở Nha Trang lúc bấy giờ cũng đã xây dựng được hai đội Ký Con và Ngô Thông. Theo lệnh của Ủy Ban quân sự tỉnh Khánh Hòa và của Chi 3 do anh Trần Công Khanh chỉ huy, chúng tôi một mặt tập luyện, nghiên cứu địa hình chuẩn bị công sự, một mặt phân công nhau huấn luyện dân quân du kích làm công tác dân vận.
Những hàng tiếp tế từ khu 5 không ngừng được chuyển vào. Riêng nhân dân Quảng Ngãi vẫn theo dõi sát sao con em mình. Mùa đông ở Nha Trang rét đậm, nhất là Vạn Giã, Tu Bông, Hòa Huỳnh gió lộng, sương nhiều. Đơn vị tôi nhận được từ tỉnh nhà gởi vào 178 bộ quần áo si-ta, áo trấn thủ. Chúng tôi cấp phát cho đơn vị và dành lại một phần gởi tặng các chiến sĩ địa phương. Ngày 23 tết năm ấy các mẹ, các chị từ Quảng Ngãi mang vào những quà tết đặc sản của quê hương làm ấm lòng người chiến sĩ xa nhà. Những đoàn úy lạo không ở lại lâu vì không khí chiến tranh lúc này đang căng thẳng.
Quân và dân thành phố Nha Trang dưới sự lãnh đạo của liên khu 5 và trực tiếp của tỉnh đảng bộ Khánh Hòa, được sự động viên cổ vũ của cả nước, được sự chi viện to lớn từ các địa phương trong đó có tỉnh Quảng Ngãi, đã vững vàng trong khói lửa.
Về những ngày đáng nhớ ấy trong cuốn “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa” có ghi:
"Mặt trận Nha Trang có vị trí quan trọng nhất đối với phía Nam. Trong khi quân Anh chưa đến, thì Nhật và Việt Minh hòa hoãn không xâm phạm lẫn nhau, nhờ đó mà sự vận chuyển liên lạc không bị trở ngại. Khi quân Anh đến Nha Trang thì tù binh Pháp được Nhật thả ra và trang bị lại, bắt đầu gây hấn từ ngày 22 tháng 10 năm 1945. Quân Anh bắt quân Nhật đi trước yểm hộ cho Pháp - Anh tiến công vào công sở ta trong thành phố (quân Nhật phải thi hành lệnh của Anh, đồng thời báo cho ta biết trước).
Trong trận tấn công nội thành, ngày đầu tháng 10 năm 1945, bọn Pháp - Anh bị thiệt hại nặng phải co về cố thủ. Đến ngày 10 tháng 10 tàu chiến Pháp xuất hiện và cho lực lượng đổ bộ. Ngày 22 tháng 10 chúng lại nổ súng tấn công. Ta kiên quyết chiến đấu chung quanh vùng viện Pát-xtơ (Pasteur). Nhà đèn, nhà ga ta vẫn giữ vững".
4 giờ sáng ngày 23 tháng 10 năm 1945, ta nổ súng tiến công hầu hết các khu vực chiếm đóng của địch. Một cuộc chiến đấu không cân sức xảy ra nhưng quân dân Nha Trang đã vững tâm bền chí, duy trì cuộc chiến đấu suốt 101 ngày đêm, gây cho địch nhiều tổn thất.
Đến đầu tháng 11 năm 1945, đơn vị Lê Trung Đình do đồng chí Hoàng Minh Thi chỉ huy từ Thủ Đức trở về mặt trận Phú Vinh, cây Đa -quán Giếng. Lần lượt đơn vị Bắc Bắc, đơn vị Hải Hồ (đơn vị của Sài Gòn) do đồng chí Vĩnh chỉ huy cũng có mặt tại phía Diên Khánh, suối Dầu và lực lượng không ngừng được tăng viện. Khí thế quân dân càng cao.
Vào thượng tuần tháng 11 năm 1945, Liên khu 5 lại tăng cường cho mặt trận cánh Bắc một đơn vị pháo binh gồm 75 ly, 70 ly và cao xạ 25 ly. Đây là đơn vị pháo đầu tiên của quân đội ta trên tuyến đầu của Liên khu 5 do chúng tôi phụ trách.
Ngày 27 tháng 11 năm 1945, tại đồi La San, khẩu pháo 75 ly này của ta đã bắn chìm một tàu vận tải của địch trước khách sạn Bô Ri-va-gơ ( Beau Rivage ) nay là khách sạn Hải Yến trên đường Trần Phú - Nha Trang. Tại sở chỉ huy, qua kính viễn vọng, lần đầu tiên tôi đã ra lệnh nã pháo vào tàu giặc.
Đến Nha Trang, đơn vị Lê Trung Đình tích cực chuẩn bị chiến đấu, tham gia huấn luyện dân quân tự vệ và được bố trí tại một số nơi xung yếu nội ngoại thành, khu vực nhà thương, trường Kim Yến, bưu điện, miếu Sinh Trung, khu Mã Vồng.
Sau ba ngày chiến đấu ở nội thành, chúng tôi về giữ Xóm Bóng - đồi La San, đèo Rù Rì, Lương Sơn và hình thành thế trận cánh Bắc Nha Trang. Tôi là chỉ huy trưởng, đồng chí Võ Quang Hồ là chỉ huy phó.
Lúc này, ở cánh Bắc Nha Trang, ngoài đơn vị Lê Trung Đình, còn có lực lượng̣ tăng cường của  các tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng, Quảng Trị, Thuận Hóa và một đại đội pháo binh. Hiệu lệnh pháo tấn công là một khối mìn lớn do đơn vị Quảng Ngãi gây nổ. Tôi lệnh cho đồng chí Biên, người xã Phổ An quê tôi, phát hỏa. Theo kế hoạch, chúng tôi đánh vào khách sạn Bô Ri-va-gơ , bưu điện. Lực lượng Nhật do sĩ quan Pháp điều khiển đã đánh trả quân ta ngay trước cổng khách sạn Bô-ri-va-gơ. Đồng chí Phạm Rồi (cũng là người xã Phổ An) đã dũng cảm hi sinh. Máu của các chiến sĩ  đơn vị Lê Trung Đình đã chảy vì sự nghiệp cách mạng của nhân dân thành phố Nha Trang.
« Sửa lần cuối: 25 Tháng Ba, 2009, 09:56:56 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tôi là người thợ lò,<br />Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6324

Lính của PTL


« Trả lời #7 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2009, 10:01:23 AM »

Tại Mã Vồng (nay là Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hòa), lúc 2 giờ sáng ngày 26 tháng 10, một trung đội Nhật tập kích vào trận địa ta. Trung đội do đồng chí Binh và Hoàng Công Minh chỉ huy dựa vào địa  hình có lợi, chủ động đánh địch và mấy lần đánh bật chúng xuống tận đường sắt. Đồng chí Hoàng Công Minh bị thương nặng ở chân, gặp hai tên lính Nhật xông tới. Lúc đó tôi vừa chỉ huy vừa dùng tiểu liên và lựu đạn tiêu diệt địch, thấy Minh bị thương, vội cõng đồng chí về phía sau.
Mấy chục năm sau chúng tôi mới gặp lại nhau. Anh Hoàng Công Minh kể lại những kỷ niệm một thời hai người gắn bó với nhau. Hoàng Công Minh hết sức cảm kích (Đồng chí Hoàng Công Minh hiện ở số 42 đường Nguyễn Huệ, thị trấn Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa).
Trong khi đó, chiến hạm Ri-sơ-li-ơ (Richelieu) cùng 3 hộ tống hạm  khác  ngày  đêm  bắn  phá dữ dội vào các trận địa ta.
Về ban đêm, pháo sáng của giặc Pháp chiếu khắp một vùng rộng lớn, từ Cam Ranh đến đền Cả, vào tận Đồng Trăng, km 13 đường 21. Đơn vị do đồng chí Hoàng Minh Thi tại cầu Phúc Vinh - cây Đa quán Giếng đã giữ vững trận địa nhiều ngày.
Trong trận tấn công quyết liệt của hải-lục-không quân địch ngày 25 tháng 1 năm 1946, anh Hoàng Minh Thi bị thương ở phần tiểu não phải lui về phía sau. Cấp trên chỉ định tôi thay anh. Hôm sau tôi trở về mặt trận cánh Bắc, và lệnh lui quân cũng đã từng bước thực hiện.
Theo những tài liệu sử của Nha Trang - Khánh Hòa, trong suốt 101 ngày đêm kháng chiến đó, quân Pháp bị thiệt hại lớn nhưng chúng vẫn ngoan cố. Rõ ràng kẻ thù xâm lược không muốn nhân dân ta được hưởng tự do độc lập. Chúng âm mưu mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược hòng đặt lại ách đô hộ lên đầu, lên cổ nhân dân ta một lần nữa.
Ngày 23 tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp gây hấn ở Sài Gòn-Chợ Lớn, mở rộng chiếm đóng các tỉnh Nam Bộ và chuẩn bị tiến công các tỉnh Nam Trung Bộ.
Đầu tháng10 năm 1945, địch đưa thiết giáp hạm Ri-xơ-li-ơ tới phong tỏa vùng biển Khánh Hòa.
Từ ngày 6 đến ngày 10 tháng 10 năm 1945, địch đổ bộ gần một ngàn quân lên bãi biển trước khách sạn Bô Ri-va-gơ (Beau Rivage) - đồng thời tổ chức chiếm các vị trí then chốt trong thị xã, tăng cường một số phương tiện chiến tranh.
Tình hình Nha Trang được Xứ ủy và Ủy ban nhân dân Trung Bộ đặc biệt quan tâm theo dõi. Xứ ủy nhận định và ra chỉ thị: Thực dân Pháp xâm chiếm Nha Trang là uy hiếp trực tiếp con đường chi viện của các lực lượng miền Bắc, miền Trung vào Nam Bộ. Cho nên vây chặt giặc Pháp tại Nha Trang, giữ con đường chi viện cho Nam Bộ là một yêu cầu bức thiết. Trung ương đã giao nhiệm vụ nặng nề này cho Đảng bộ và chính quyền cách mạng Miền Trung, trực tiếp là Đảng bộ và quân, dân tỉnh Khánh Hòa - Nha Trang.
Cuối tháng 9 năm 1945, Ủy ban Quân chính Nam phần Trung Bộ được thành lập và quyết định : Giữ vững giao thông thông suốt để chi viện cho Nam Bộ kháng chiến. Huy động quần chúng tuần hành thị uy chống quân Pháp xâm lược, đồng thời tấn công uy hiếp quân Nhật bằng quân sự và binh vận. Lập Bộ chỉ huy mặt trận Nam Trung Bộ.
Ngày 27 tháng 1 năm 1946, đồng chí Võ Nguyên Giáp cùng với đồng chí Nguyễn Sơn, Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Miền Nam Việt Nam, đi xem xét tình hình mặt trận Nha Trang. Đồng chí Võ Nguyên Giáp đã chuyển lời thăm hỏi, khen ngợi của Bác Hồ đến đồng bào và chiến sĩ.
Với mặt trận Nha Trang, đồng chí Võ Nguyên Giáp nhận xét và góp ý kiến chỉ đạo như sau:
Từ thực tiễn mặt trận Nha Trang có thể rút ra những bài học bổ ích. Rõ ràng khi địch tiến công ào ạt, lực lượng chúng còn hạn chế, việc lập phòng tuyến vừa đánh, vừa chặn địch với quyết tâm cao là tốt. Song, sắp tới thực dân Pháp sẽ tăng viện, mở cuộc tiến công mới, ta cần thấy trước và điều chỉnh ngay sự bố trí, cách tác chiến, không thể giữ mãi các phòng tuyến hiện nay mà phải chủ động rút ra một bộ phận chủ lực, chỉ để một bộ phận nhỏ bám sát địch, sẽ tổ chức những đơn vị cơ động đánh địch bằng các hình thức tập kích, phục kích, tiêu hao sinh lực địch, cho biệt động hoặc du kích thâm nhập đánh phá. Toàn dân đánh giặc, mọi vùng, mọi làng đều thành làng xã chiến đấu. Đồng thời, tỉnh nên chủ động xây dựng căn cứ kháng chiến ở vùng Đồng Trăng.
Tài liệu của Thành ủy Nha Trang, ấn hành năm 1986 nói về căn cứ địa Đồng Trăng này, như sau:
"Căn cứ địa Đồng Trăng được thành lập do kỹ sư nông nghiệp Đặng Văn Vinh phụ trách. Tại căn cứ này có hai bộ phận:
- Một bộ phận chuyên phục vụ cho công tác huấn luyện quân sự, như một trường huấn luyện tân binh bổ sung cho các đơn vị.
- Một bộ phận sản xuất vũ khí gọi là xưởng quân giới Đồng Trăng. Xưởng được đặt trong các kho chứa mũ, cán ép cơrếp của đồn điền cao su Đồng Trăng cũ. Các bàn tiện, bàn nguội, bể rèn, sắt thép, dụng cụ chủ yếu do ông Phan Hữu Lộc hiến và tháo gỡ từ các ga-ra Sac-ne, Đờ Mông-phơ-rếch ... di chuyển lên. Anh em công nhân Nha Trang tình nguyện gia nhập tự vệ được động viên lên đây làm việc. Xưởng quân giới do hai đồng chí Nguyễn Xuân Thắng và Phan Bá Đồng phụ trách. Ngoài việc sửa chữa súng, dập lại đạn, xưởng còn nghiên cứu chế thuốc nổ và sản xuất lựu đạn".
Thừa lệnh Chính phủ và Bác Hồ, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã có chuyến đi vào miền Nam thị sát lại tình hình. Trong hồi ức của mình, đồng chí ghi lại:
"Ở Khánh Hòa, chúng tôi đã nhận thêm nhiều tin tức về tình hình khẩn trương của mặt trận Nam Bộ.
Đúng là địch đang tìm cách giải vây cho Nha Trang, cố gắng đánh chiếm thêm một số tỉnh dọc bờ biển Nam Trung Bộ, cắt con đường tiếp viện từ miền Bắc vào.
Ở đây đã thấy rõ vì sao Nam Bộ và Nam Trung Bộ đã đứng vững qua bốn tháng trời trước lửa đạn. Về cách đánh địch, chúng ta đã rút được, và dĩ nhiên còn phải tiếp tục rút thêm, những kinh nghiệm xương máu. Nhưng điều đã thấy được rõ ràng, là cái tinh thần "thà chết tự do hơn sống nô lệ" ở mỗi người dân. Nam Trung Bộ đang ở vào những giờ phút khó khăn. Với tinh thần đó, nhất định Nam Trung Bộ sẽ cùng Nam Bộ mãi mãi đứng vững và sẽ chiến thắng".
« Sửa lần cuối: 25 Tháng Ba, 2009, 10:05:00 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tôi là người thợ lò,<br />Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6324

Lính của PTL


« Trả lời #8 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2009, 10:05:59 AM »

Sau này khi ghi lại những  năm tháng hào hùng đó, tập sách "Nha Trang 23 tháng 10 năm 1945"(2) của Thành ủy Nha Trang đã có những nhận xét đánh giá cao về đơn vị Lê Trung Đình (Quảng Ngãi).
"Bộ đội Nam tiến đầu tiên tăng cường cho Nha Trang là chi đội giải phóng quân Lê Trung Đình. Đại đội do đồng chí Lê Kích chỉ huy lập phòng tuyến ở bờ bắc sông Cái Nha Trang. Đại đội do đồng chí Nguyễn Thế Lâm chỉ huy đóng quân ở Chợ Mới và đại đội do đồng chí Nhụy chỉ huy đóng quân ở khu vực Đoan. Một đại đội pháo binh do Xứ ủy điều vào đây dựng trận địa trên đồi La San thuộc xóm Bóng (nay là trường Đại học Thủy Sản). Đại đội này có hai sơn pháo 75 li và một pháo 25 li phòng không. Công việc chuẩn bị chiến đấu được tiến hành hết sức khẩn trương, sôi nổi.
Ở vòng trong, lực lượng võ trang ta siết chặt vòng vây xung quanh các khu vực địch đóng quân:
+ Một đại đội tự vệ do đồng chí Võ Duy Tâm chỉ huy được trang bị thêm trung liên, áp sát bao vây quân Nhật đang canh giữ kho vũ khí Bình Tân phía đông nam thành phố.
+ Một đại đội tự vệ do đồng chí Nam chỉ huy có sự phối hợp của một đơn vị cứu quốc (đơn vị gồm anh em lính khố xanh giác ngộ theo cách mạng) và một tiểu đội nữ cứu thương tổ chức tuyến bao vây các vị trí địch ở phía nam thành phố tại Xóm Mới, hướng chính nằm trực diện với đồn lính khố đỏ và nhà tên trung úy Béc-na (Berna).
+ Một đơn vị tự vệ phối hợp với một đơn vị thuộc đại đội Nam tiến Lê Trung Đình được phân công bao vây quân địch đóng lẻ tẻ tại nhà ga, nhà đèn, sở thuốc, khách sạn Bô Ri-va-gơ (Beau Rivage Hotel) và bọn địch ở rải rác trong trung tâm thành phố.
Ở vòng ngoài, tại các điểm xung yếu ven nội thành, quân ta tổ chức trận địa bao vây sẵn sàng đón đánh khi địch bung ra.
+ Một đại đội tự vệ phối hợp với trung đội Nam tiến Lê Trung Đình bố trí hình cánh cung ven sườn điểm cao đồi trại Thủy, khống chế khu  vực Mã Vồng. Đây là cửa ngõ phía tây thành phố, nơi tập trung đầu mối nhiều đường giao thông ra ngoại ô, lên Diên Khánh...
+ Một phân đội bộ đội Nam tiến Lê Trung Đình được phân công chiếm điểm cao Núi Một án ngữ khu vực ngã Sáu và đề-pô xe lửa giữa trung tâm thành phố.
+ Một phân đội bộ đội Nam tiến Lê Trung Đình được phân công chiếm lĩnh điểm cao núi Sinh Trung án ngữ khu vực đầu cầu Hà Ra bên hữu ngạn sông Cái, ngay cửa ngõ phía bắc thành phố.
... Đúng 3 giờ sáng ngày 23 tháng 10 năm 1945, tại hầm xe lửa số 1, lệnh tiến công được phát ra bằng khối thuốc nổ cực mạnh do đơn vị Lê Trung Đình đảm trách. Đơn vị này do đồng chí Lê Kích chỉ huy.
... Đồng chí Lê Kích, đại đội trưởng đại đội Nam tiến Lê Trung Đình chỉ huy phòng tuyến phía Bắc, đặt sở chỉ huy ngay tại khu di tích Pô -Na-ga (thường gọi là Tháp Bà) trên đỉnh núi Cù Lao. Trận địa súng cối 81 ly của đơn vị đặt dưới chân núi về phía Bắc.
... Từ khi ta chủ động nổ súng tiến công tiêu hao địch, mở đầu cuộc bao vây đến khi ta rút bỏ phòng tuyến Brơ-ten - chợ Mới thời gian đúng một tháng tròn (23 tháng 10 đến 23 tháng 11 năm 1945).
... Bộ  đội ta ngày đêm củng cố công sự, tăng cường quan sát tuần tiễu  sẵn sàng đánh địch. Phòng tuyến bao vây từ sườn núi Thống Nhất (thuộc dãy Chín khúc) vòng sau cây Đa - quán Giếng (trên quốc lộ Nha Trang - Thành) kéo dài đến phòng tuyến của đại đội Lê Trung Đình ở bờ bắc sông Cái, vẫn đứng vững từ đầu cuộc bao vây.
     ... Mãi đến cuối tháng 12 năm 1945, Pháp mới cho quân tăng viện hòng giải vây Nha Trang. Suốt bảy ngày đêm liền, quân ta được lệnh liên tiếp đánh quân đổ bộ đường biển.
Sau khi được tăng viện, giặc Pháp tập trung lực lượng đột kích mạnh, đánh chiếm khu chợ Mới và cố đẩy ta ra khỏi Phú Vinh (tuyến tiền tiêu của phòng tuyến cây Đa - quán Giếng). Sau mấy ngày giằng co quyết liệt, để bảo toàn lực lượng, ta rút bỏ Phú Vinh. Đến đây, Pháp dừng lại củng cố, gấp rút xây dựng Phú Vinh thành một tiểu khu quân sự (Quartier) tụ tập tay chân lập tề hòng kiểm soát khu vực Vĩnh Xương và tạo bàn đạp tiến công lên vùng hậu phương Diên Khánh.
Theo lệnh của Ban Chỉ huy Mặt trận Nam Trung Bộ, đơn vị Lê Trung Đình và đơn vị pháo binh đang án ngữ trên phòng tuyến Bắc sông Cái rút về lập phòng tuyến phía Bắc Khánh Hòa.
Ngày 29 tháng 1 năm 1946, địch chiếm M’Đắc. Ba ngày sau, chúng chiếm tiếp Ninh Hòa. Từ Ninh Hòa, một bộ phận nhỏ quân địch theo đường số 1 đánh chiếm thị trấn Vạn Giã. Ở phía nam, cánh quân từ Cam Ranh ra giải vây Nha Trang. Bộ đội, tự vệ và nhân dân dựa vào hầm hào với súng trường, chai xăng crếp, tạc đạn, giáo mác, chiến đấu ngoan cường tiêu diệt nhiều tên địch ... Đương đầu với xe cơ giới, xe bọc thép địch trên đường số 1, một tiểu đội huyện Vạn Ninh chiến đấu đến người cuối cùng tại đèo Ninh Mã. Chi đội 2 chặn đánh xe cơ giới, xe bọc thép địch ở Hòa Tân, Suối Dầu. Chi đội Bắc Bắc và tự vệ diệt hàng trăm tên địch ở bến Đò Thành, bến đò Phú Cốc. Ngày 2 tháng 2 năm 1946, quân Pháp mới giải vây được cho bọn kẹt ở Nha Trang."
Anh Võ Quang Hồ (trung đội trưởng trung đội Thuận Hóa của tỉnh Thừa Thiên) trong bài "Từ xóm Bóng đến xóm Hèo" kể lại:
"Trung đội Thuận Hóa Nam tiến của anh Nguyễn Trung Lập có hai chị cứu thương (chị Tăng Vinh, chị Tôn Nữ Lan Huê) lên thay phiên. Trung đội tôi rút lên Phú Vinh nghỉ, sau đó được lệnh chuyển sang Xóm Bóng. Tôi giao quyền chỉ huy trung đội cho đồng chí trung đội phó và cùng anh Lê Kích chỉ huy chung mặt trận phía bắc : Xóm Bóng, Lương Sơn. Anh Kích và tôi có cảm tình với nhau ngay, cùng nhau hoạt động rất chủ động, rất ăn ý, sau này còn cùng nhau chiến đấu trong thành phố Đà Nẵng, ở Hòa Vang, Đại Lộc thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp ở Mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng 1946-1947. Rồi cùng nhau chiến đấu giải phóng hàng loạt để phối hợp với Điện Biên Phủ 1953-1954. Bây giờ tuổi đã "cổ lai hy" vẫn quý nhau, thương nhau, giúp đỡ nhau như anh em ruột thịt.”
Chủ tịch Hồ Chí Minh tự tay đánh máy bức thư gửi chiến sĩ, đồng bào Nam Bộ và Nam Trung Bộ trao cho đồng chí Lê Văn Hiến, đặc phái viên của Chính phủ đi nắm tình hình các địa phương miền Nam đang kháng chiến và tổ chức bầu cử Quốc hội khóa 1 ngày 6 tháng 1 năm 1946. Tiếp sau đó Hồ Chủ tịch cử đồng chí Võ Nguyên Giáp vào kiểm tra tình hình mặt trận Nha Trang và truyền đạt chỉ thị " Kháng chiến kiến quốc". Điều này vừa phản ánh tầm quan trọng chiến lược của Mặt trận Nha Trang, vừa thể hiện sự quan tâm sâu sắc, tình cảm tha thiết của Bác Hồ của Trung ương Đảng và đồng bào cả nước đối với miền Nam ruột thịt.
Logged

Tôi là người thợ lò,<br />Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6324

Lính của PTL


« Trả lời #9 vào lúc: 26 Tháng Ba, 2009, 07:08:49 AM »

Hơn 101 ngày đêm kháng chiến, quân dân Nha Trang - Khánh Hòa đã lập nên một kỳ tích ngoài khả năng mà lúc đầu không ai có thể lường hết được.
Bài học thắng lợi có thể nêu lên:
Giữ vững được thế trận lâu ngày, diệt và tiêu hao lực lượng địch, tạo điều kiện cho công việc chuẩn bị kháng chiến lâu dài; giữ vững được con đường sắt Bắc Nam, bảo đảm cho tiếp vận từ Bắc vào Nam. Thành công lớn nhất là xây dựng được lòng tin trong nhân dân, phát động được khí thế của cả nước. Xét về mặt quân sự, cho đến nay trong lịch sử chiến tranh Việt Nam, đánh một kẻ địch có ưu thế hơn hẳn ta về cả hải-lục-không quân, thì Nha Trang là một trận chiến rất chênh lệch, nhưng ta vẫn giữ vững và duy trì được khá lâu so với Hà Nội - Hải Phòng - Đà Nẵng. Điều này rất có ý nghĩa khi nghiên cứu nghệ thuật chỉ đạo tác chiến.
Trong chiến công giữ vững Nha Trang, hai đơn vị mang tên Lê Trung Đình đã có phần đóng góp nhất định. Các cán bộ, chiến sĩ Quảng Ngãi đã lưu lại nơi đồng chí và đồng bào Nha Trang - Khánh Hòa cái dũng khí, nhiệt tình của con em quê hương Ba Tơ lịch sử, đã để lại trong lòng nhân dân những kỷ niệm sâu sắc về tình quân dân. Mỗi khi có dịp trở lại chiến trường xưa: Xóm Bóng - Lương Sơn - Diên Khánh, .v.v. chúng tôi vẫn còn nghe không ít đồng chí đồng bào nhắc lại tấm gương hy sinh của đồng chí Phạm Rồi, kể chuyện tàu địch bị đánh chìm, những lần đầu địch nã pháo, những trận đánh  trong nội thành ...
Tại Nhà Bảo Tàng 23 tháng 10 năm 1945 của tỉnh Khánh Hòa ở số 65 đường Y-éc-xanh (Yersin) thành phố Nha Trang còn lưu giữ hàng chục tấm ảnh của đại đội Phan Điệt do nhà báo, nhà nhiếp ảnh Nguyễn Bá Khoản ghi lại được; trong đó có tấm ảnh chụp ở lễ tiễn đưa đoàn quân Nam tiến tại ga Quảng Ngãi. Hình ảnh qua thời gian tuy không còn sắc nét nữa, nhưng thật ấn tượng. Các đồng chí thân yêu của tôi trong ảnh đều đã hy sinh, nay chỉ còn lại một mình tôi! Trong bức ảnh, tôi mặc áo sơ mi cộc tay, quần đùi. Các bạn khác thì trông tươm tất hơn. Có anh được mặc áo quần bộ đội, đầu đội mũ ca-lô. Nhìn vào các bức ảnh ấy, lòng tôi xao xuyến làm sao, thương nhớ làm sao! Có bức ảnh, tôi đang chỉ huy đơn vị pháo. Dọc theo hành lang nhà Bảo tàng, chân tôi đi mà lòng rối bời, nhung nhớ. Làm sao quên được những tháng ngày gian nan, khổ cực ấy, lúc đơn vị Lê Trung Đình chúng tôi đã kề vai sát cánh cùng đồng bào Khánh Hòa - Nha Trang chiến đấu kiên trường trên 100 ngày đêm.
Một sự việc xảy ra ngay trong những ngày Nha Trang kháng chiến năm đó suốt đời tôi không bao giờ quên được.
Hôm ấy, tôi và đồng đội đi tuần tra từ Tháp Bà, Xóm Bóng xuống đến bờ sông, chợt thấy phía Cù Lao có một số người ngồi trong ghe. Tôi cho đơn vị của mình đưa thúng tre ra đón vào.
Trong một bài viết đăng trong tập hồi ký “Mặt trận Nha Trang Khánh Hòa”; đồng chí Nguyễn Thị Hợp lúc đó là một nữ trinh sát đã kể lại:
 “Sáng hôm sau tôi đi tiếp đến Cầu Xóm Bóng thấy có bót gác ở đầu cầu bên này, nhìn xuống sông Cái thấy rất ít ghe thuyền qua lại, tôi quay về đi xuống biển cũng thấy ít người qua lại, trên đường toàn xe jeep và xe tải Nhật chạy qua lại nhiều.
Đến ngày các anh trong đội họp bàn kế hoạch đánh phá thành phố, hôm đó anh Vượng cho tôi tiền đi lên Thành chơi, lúc quay về các anh gặp tôi và nói: Tối nay cô ở nhà trông nhà để anh em về Thành hoạt động. Tôi nhất định không chịu ở nhà, cứ đòi đi cùng các anh. Sau đó, anh Vượng giải thích là trong đội chỉ có tôi là nữ, tôi còn nhỏ đi nguy hiểm lắm. Tôi nòi không cho tôi đi, tôi cũng đi theo. Cuối cùng anh Vượng đành phải cho tôi đi theo tổ của các anh  để đốt phá đồn bót Nhật đóng ở Xóm Cồn. Cả đội chia làm bốn tổ về phía nhà đèn, nhà ga, Khách sạn Beau Rivage, Xóm Cồn, cùng thống nhất hành động lúc 12 giờ khuya.
Chiều đó tôi đi men theo vào xóm đến sau chân Tháp bà, trước khi đi nấu nồi cháo gà cùng ăn và hứa khi hoàn thành nhiệm vụ mới được trở về.
Đúng 12 giờ khuya, bốn anh em, gồm: Vượng, Sanh, Ca và Hợp lên đường lội dưới chân cầu xóm Bóng, bơi ra sông vào Xóm Cồn, đặt mìn đốt xong cùng chạy ra, vừa lúc ấy có vài gịot mưa lâm râm, anh Vượng sợ ngòi nổ không cháy nên chạy vào kiểm tra cẩn thận một lần nữa rồi mới chạy ra ghe.
Trong lúc vội, thấy chiếc ghe của đồng bào neo vào cây sào, còn dầm tre họ giấu hết rồi. Chỉ còn một cây sào. Anh em vào ghe. Anh Vượng chống sào; sào bị mục gãy, đêm khuya nước lại dâng cao, ghe trôi ra cửa biển. Thấy có mấy Cù Lao nổi, anh Vượng bơi nhanh vào, chúng tôi vứt dây neo kéo vào. Bốn chúng tôi ngồi sát vào nhau vì lạnh quá. Lúc đầu còn giữ ghe lại, sau thấy sóng dập vào ghe sợ bể ghe. Anh Vượng bảo thả cho ghe trôi đi. Chúng tôi ngồi sát vào nhau và hát thật to. Vui nhất khi nghe thấy có tiếng nổ to, lửa phụt cháy cao, rồi tiếp máy chỗ khác cháy, mừng quá chúng tôi la hét thật to cho đỡ lạnh. Một lúc sau thì có anh Lê Kích và đơn vị của anh đưa thúng tre ra đón chúng tôi vào bờ”.
Người phụ nữ ấy tên là  Nguyễn Thị Hợp, là một trinh sát của ta đã dũng cảm  cùng đồng đội đốt mấy bồn xăng ở sân bay của Pháp trong thị xã.
Logged

Tôi là người thợ lò,<br />Sinh ra trên đất mỏ
Trang: 1 2 3 4 5   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM