Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 23 Tháng Mười, 2018, 08:24:43 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam - Tập 2  (Đọc 81371 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #50 vào lúc: 12 Tháng Một, 2009, 10:37:44 PM »

Năm 420, sau khi đánh tan được cuộc khởi nghĩa nông dân Tôn An, Lưu Dụ chuyên quyền và cướp ngôi nhà Tấn, lập ra nhà Tống, mở đầu triều đại Nam triều ở Trung Quốc (420 - 579); sử thường gọi là Lưu Tống hay Tiền Tống để phân biệt với nhà Tống năm thế kỷ sau. Đỗ Tuệ Độ đầu hàng Tống và được tiến hiệu phụ quốc tướng quân.
 
3. Giao châu dưới sự cai trị của nhà Tống (420-479). Khởi nghĩa Lý Trường Nhân (468)

Năm 423, Đỗ Tuệ Độ chết, con là Đỗ Hoàng Văn lên thay làm thứ sử Giao châu và tập tước Long Biên hầu. Năm 427, nhà Tống cử Vương Huy Chi sang thay Đỗ Hoàng Văn. Từ đây, chính quyền trung ương nắm Giao châu chặt chẽ hơn, thường xuyên cử thứ sử sang cai quản Giao châu.
 
Năm 471, nhà Tống tách đất Hợp Phố khỏi Giao châu và hợp với một số quận khác của Quảng châu thành lập Việt châu. Ở Giao châu đặt thêm hai quận mới Nghĩa Xương và Tống Bình (khu vực Hà Nội); việc quân sự ở Giao châu thường giao cho bọn thứ sử Quảng châu kiêm giữ; còn các chức quận huyện quan thì do thứ sử Giao châu tự ý bổ nhiệm.  Nhà Tống quản lý chặt các quan thứ sử và thái thú Giao châu vì nhìn thấy nguồn lợi từ xứ sở này.
 
Theo An Nam chí lược, Tống Hiến Đế (454 - 464) là kẻ rất tham tài lợi, thường bắt các quan thứ sử và thái thú ở đây phải dâng nộp tiền của và sản vật (1). Do đó, bọn quan lại tha hồ bóc lột nhân dân, vơ vét làm của riêng và dành một phần đút lót cho vua Tống.  Tống thư cho biết, thứ sử Đàn Dực Chi sang cai trị ở Quảng châu chỉ ba năm (462 - 465) mà khi về nước đem theo của báu có tới hàng vạn (2); thứ sử Hoàn Phiệt đời Tống Hiến Đế có gia tư tài sản nhiều không kể xiết.

Chịu tai họa vì chiến tranh giữa quan lại Trung Hoa ở Giao châu với người Lâm ấp, lại bị bọn chúng bóc lột khổ sở, nên cuối đời Tống nhân dân đã nổi dậy liên tục, tiêu biểu là phong trào do Lý Trường Nhân lãnh đạo (468). Sử Trung Quốc chỉ nói Lý Trường Nhân là một “thổ nhân”, một “Giao châu nhân” (người Giao châu). Có lẽ ông thuộc tầng lớp hào trưởng địa phương và trước đó chưa làm quan chức gì cho chính quyền đô hộ.

Khi thứ sử Giao châu chết, Lý Trường Nhân đã lãnh đạo nhân dân giết hết bọn quan quân đô hộ, bọn thuộc hạ của thứ sử cùng những người lưu ngụ từ phương Bắc sang; tự xưng là thứ sử.

Nhà Tống cử Ngô Hỷ, Tông Phụng Bá sang Giao châu, làm thứ sử nhưng bọn Hỷ, Bá đều sợ không dám đi. Tháng 8-468, Lưu Bột được cử sang làm thứ sử Giao châu, nhưng bị Lý Trường Nhân chống lại và bị chết. Lý Trường Nhân sai người sang Tống xin hàng, nhưng vẫn quản lãnh công việc ở Giao châu. Nhà Tống buộc phải chấp thuận chức thứ sử đó.
 
Khi Lý Trường Nhân chết, em họ là Lý Thúc Hiến lên thay làm thứ sử Giao châu. Năm 477, nhà Tống cử tả thái thú Nam Hải là Thẩm Hoán sang Giao châu làm thứ sử; chỉ công nhận cho Lý Thúc Hiến làm ninh viễn tư mã, lĩnh thái thú hai quận Vũ Bình và Tân Xương. Thúc Hiến đã được mệnh của triều đình nhà Tống, lại được lòng người theo phục, bèn đem quân giữ nơi hiểm, không chịu thu nạp Thẩm Hoán. Thẩm Hoán phái ở lại Uất Lâm rồi chết. Vua Tống bèn cho Lý Thúc Hiến làm thứ sử, cai trị đất phương Nam. Chính quyền của Lý Trường Nhân và Lý Thúc Hiến đã có màu sắc tự trị.


(1).  Lê Trắc: An Nam chí lược, q.8.[/i]
(2). Tống thư, q.84, t.8a.[/i]
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #51 vào lúc: 12 Tháng Một, 2009, 10:40:43 PM »


Năm 420, sau khi đánh tan được cuộc khởi nghĩa nông dân Tôn An, Lưu Dụ chuyên quyền và cướp ngôi nhà Tấn, lập ra nhà Tống, mở đầu triều đại Nam triều ở Trung Quốc (420 - 579); sử thường gọi là Lưu Tống hay Tiền Tống để phân biệt với nhà Tống năm thế kỷ sau. Đỗ Tuệ Độ đầu hàng Tống và được tiến hiệu phụ quốc tướng quân.
 
3. Giao châu dưới sự cai trị của nhà Tống (420-479). Khởi nghĩa Lý Trường Nhân (468)

Năm 423, Đỗ Tuệ Độ chết, con là Đỗ Hoàng Văn lên thay làm thứ sử Giao châu và tập tước Long Biên hầu. Năm 427, nhà Tống cử Vương Huy Chi sang thay Đỗ Hoàng Văn. Từ đây, chính quyền trung ương nắm Giao châu chặt chẽ hơn, thường xuyên cử thứ sử sang cai quản Giao châu.
 
Năm 471, nhà Tống tách đất Hợp Phố khỏi Giao châu và hợp với một số quận khác của Quảng châu thành lập Việt châu. Ở Giao châu đặt thêm hai quận mới Nghĩa Xương và Tống Bình (khu vực Hà Nội); việc quân sự ở Giao châu thường giao cho bọn thứ sử Quảng châu kiêm giữ; còn các chức quận huyện quan thì do thứ sử Giao châu tự ý bổ nhiệm.  Nhà Tống quản lý chặt các quan thứ sử và thái thú Giao châu vì nhìn thấy nguồn lợi từ xứ sở này.
 
Theo An Nam chí lược, Tống Hiến Đế (454 - 464) là kẻ rất tham tài lợi, thường bắt các quan thứ sử và thái thú ở đây phải dâng nộp tiền của và sản vật (1). Do đó, bọn quan lại tha hồ bóc lột nhân dân, vơ vét làm của riêng và dành một phần đút lót cho vua Tống.  Tống thư cho biết, thứ sử Đàn Dực Chi sang cai trị ở Quảng châu chỉ ba năm (462 - 465) mà khi về nước đem theo của báu có tới hàng vạn (2); thứ sử Hoàn Phiệt đời Tống Hiến Đế có gia tư tài sản nhiều không kể xiết.

Chịu tai họa vì chiến tranh giữa quan lại Trung Hoa ở Giao châu với người Lâm ấp, lại bị bọn chúng bóc lột khổ sở, nên cuối đời Tống nhân dân đã nổi dậy liên tục, tiêu biểu là phong trào do Lý Trường Nhân lãnh đạo (468). Sử Trung Quốc chỉ nói Lý Trường Nhân là một “thổ nhân”, một “Giao châu nhân” (người Giao châu). Có lẽ ông thuộc tầng lớp hào trưởng địa phương và trước đó chưa làm quan chức gì cho chính quyền đô hộ.

Khi thứ sử Giao châu chết, Lý Trường Nhân đã lãnh đạo nhân dân giết hết bọn quan quân đô hộ, bọn thuộc hạ của thứ sử cùng những người lưu ngụ từ phương Bắc sang; tự xưng là thứ sử.

Nhà Tống cử Ngô Hỷ, Tông Phụng Bá sang Giao châu, làm thứ sử nhưng bọn Hỷ, Bá đều sợ không dám đi. Tháng 8-468, Lưu Bột được cử sang làm thứ sử Giao châu, nhưng bị Lý Trường Nhân chống lại và bị chết. Lý Trường Nhân sai người sang Tống xin hàng, nhưng vẫn quản lãnh công việc ở Giao châu. Nhà Tống buộc phải chấp thuận chức thứ sử đó.
 
Khi Lý Trường Nhân chết, em họ là Lý Thúc Hiến lên thay làm thứ sử Giao châu. Năm 477, nhà Tống cử tả thái thú Nam Hải là Thẩm Hoán sang Giao châu làm thứ sử; chỉ công nhận cho Lý Thúc Hiến làm ninh viễn tư mã, lĩnh thái thú hai quận Vũ Bình và Tân Xương. Thúc Hiến đã được mệnh của triều đình nhà Tống, lại được lòng người theo phục, bèn đem quân giữ nơi hiểm, không chịu thu nạp Thẩm Hoán. Thẩm Hoán phái ở lại Uất Lâm rồi chết. Vua Tống bèn cho Lý Thúc Hiến làm thứ sử, cai trị đất phương Nam. Chính quyền của Lý Trường Nhân và Lý Thúc Hiến đã có màu sắc tự trị.


(1). Lê Trắc: An Nam chí lược, q.8
(2). Tống thư, q.84, t.8a.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #52 vào lúc: 12 Tháng Một, 2009, 10:49:26 PM »

4. Tình hình Giao châu dưới thời thuộc Tề

Tề Cao Đế (Tiêu Đạo Thành) lên ngôi năm 477. Hai năm sau, tháng 7-479, vua Tề xuống chiếu “xá tội” cho Giao châu, sai sứ sang tuyên dương Lý Thúc Hiến là “văn võ toàn tài” và công nhận Thúc Hiến làm thứ sử Giao châu (1). Đối với Tề Cao Đế đó là một việc bất đắc dĩ, song đối với nhân dân Giao châu thì đó là một thắng lợi lớn, là kết quả quan trọng của cả quá trình không ngừng nổi dậy chống ách áp bức đô hộ ngoại bang ở Giao Chỉ và Cửu Chân.

Cũng như Lý Trường Nhân trước đây, Lý Thúc Hiến tuy là quan thứ sử ở phương Nam, song ông có ý thức tự chủ ở Giao châu, đã đoạn tuyệt mọi cống nộp với triều đình phương Bắc. Tuy nhiên, lực lượng mới gây dựng của Lý Thúc Hiến hãy còn yếu, vì thế thành quả của cuộc khởi nghĩa nhân dân dưới sự lãnh đạo của họ Lý không duy trì dược lâu dài.

Thấy nhức nhối vì một Giao châu đang có xu hướng ly tâm chính trị, đầu năm 485, nhà Tề tổ chức cuộc chinh phục để chiếm lại Giao châu. Đại tư nông Lưu Khải dược cử làm thứ sử Giao châu, chỉ huy quân đội các quận Hiến Khang, Lư Lăng và Thủy Hưng sang đàn áp Lý Thúc Hiến và phong trào tự trị.

Lý Thúc Hiến sai sứ sang Tề tâu xin bãi binh và theo lệ vài năm lại dâng Tề Cao Đế 20 cỗ mũ đầu mâu toàn bằng bạc và dải lụa bằng lông công, nhưng vua Tề không nghe. Trước sức ép đó, Thúc Hiến phải sang đầu hàng nhà Tề (2). Lưu Khải vào trấn, Giao châu tiếp tục rơi vào ách thống trị của phong kiến ngoại bang.

Tập đoàn thống trị mới ở Giao châu mặc sức bóc lột, vơ vét của cải của nhân dân. Khi thứ sử Phòng Pháp Thừa đến trấn trị ở Giao châu thay Lưu Khải đã mượn cớ ốm đau, chỉ ngồi đọc sách, sai bọn sử lại cung đốn, phục dịch. Vì thế, viên trưởng lại Phục Đăng Chi chuyên quyền tự thay đổi các tướng lại. Quan lục sự Phòng Tú Văn đem việc đó nói với Pháp Thừa, do đó Đăng Chi bị bắt giam 10 ngày. Đăng Chi buộc phải đút lót người nhà thứ sử, nên mới được tha. Tiếp đó Đăng Chi đã đem bộ khúc bất ngờ đánh úp châu trị, bắt giam Pháp Thừa, rồi tâu về triều đình là Pháp Thừa bị bệnh tim, không thể trông coi việc chính trị ở Giao châu được. Vua Tề phế Pháp Thừa, sử dụng Đăng Chi làm thứ sử (3).

Cuối thời Tề, bọn quan lại Giao châu thâu tóm các quyền hành, có ý cát cứ Nhân dân Giao châu không chịu nổi ách áp bức thống trị của bọn chúng, đã không ngừng nổi dậy. Điều đó cũng được sách Nam Tề thư phản ánh: “Dân (Giao châu) cậy ở nơi hiểm trở xa xôi, luôn luôn thích làm loạn” (4).  Tuy nhiên, triều Tề chỉ tồn lại được 21 năm, với ba đời vua ngắn ngủi. Tướng Tiêu Diễn khởi binh giành ngôi vua, lập ra nhà Lương (502 - 557).

5. Giao châu dưới thời thuộc Lương

Đầu thế kỷ thứ VI, Lý Nguyên Khải thay Đăng Chi làm thứ sử Giao châu. Nhân khi Tiêu Diễn đoạt ngôi vua Tề, Nguyên Khải cố tình cát cứ, không chịu mệnh. Lương Vũ Đế sai trưởng sử Lý Tắc đem “Tông binh” sang đánh, giết Nguyên Khải. Từ tháng 11-516, vua Lương xuống chiếu cử Lý Tắc làm thứ sử Giao châu. Tắc dẹp yên được các dư đảng của Lý Khải.

Trước đây Giao châu gồm các quận Giao Chỉ, Tân Xương, Vũ Bình, Cửu Chân, Cửu Đức và Nhật Nam. Lúc này, nhà Lương chia nhỏ các châu, nâng số quận và huyện lên hàng châu. Năm 523, nhà Lương chia đất Giao châu, đặt Ái châu (Thanh Hóa) . Đồng thời đổi quận Cửu Đức thành Đức châu và lập hai châu mới là Lợi châu và Minh châu. Năm 535, nhà Lương cắt một phần đất miền ven biển quận Giao Chỉ, đặt ra Hoàng châu.

Thế là đến đời Lương (thế kỷ VI), miền đất nước ta bao gồm bảy châu. Đó là Giao châu, Ái châu, Hưng châu, Hoàng châu, Đức châu, Lợi châu và Minh châu. Diện tích một châu lại càng bị thu hẹp, có khi không bằng diện tích một quận trước kia. Dĩ nhiên, châu nhiều thì quan lắm, bộ máy đô hộ đã nặng nề lại càng nặng nề hơn.


(1).  Nam Tề thư, q.2, t.3a và q.58, t.7a.[/i](2). Nam Tề thư, q.58, t.7a; Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t., tr.177.
(3).  Nam Tề thư, q. 58, t.5b; Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.1, tr.177.
(4). Nam Tề thư, q. 14, t. 13a.
« Sửa lần cuối: 12 Tháng Một, 2009, 11:08:51 PM gửi bởi UyenNhi05 » Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #53 vào lúc: 12 Tháng Một, 2009, 10:52:53 PM »

Ngoài các thái thú, thứ sử và các quan được triều đình cử đến, hệ thống quan lại các cấp ở nước ta thời bấy giờ hình thành từ hai nguồn. Thứ nhất, chính quyền của bọn thống trị Trung Quốc muốn thu được nhiều Tô thuế, bắt dân lao dịch, tróc nã cống phẩm, v.v., tất chúng phải dựa vào các hào trưởng địa phương người Việt; vì vậy, chính quyền cũng bổ nhiệm một số trong lớp hào trưởng địa phương làm quan hạ cấp Trong số hào trưởng này cũng có những người vốn là cơ dân người Hán hoặc sĩ tộc từ phương Bắc di cư sang Giao Chỉ từ lâu đời, đã Việt hóa. Họ là những người có thế lực ở địa phương.

Tuy nhiên, tất cả họ không được chính quyền đô hộ trọng dụng, chỉ được xem là lớp “hàn môn” không thể sánh với các sĩ tộc Bắe phương mới. Loại thứ hai, được chính quyền Nam triều ở Trung Quốc tin tưởng dựa vào, là bọn sĩ tộc phương Bắc mới dời đến phương Nam. Bọn này có đặc quyền, đem theo cả lực lượng vũ trang, do họ hàng và bộ hạ hợp thành. Sĩ tử phương Nam nói chung bị chèn ép, địa vị chính trị thấp kém, đặc biệt là các hào trưởng người Việt, như Triệu Chỉ, Lý Trường Nhân, Lý Thúc Hiến trước đây, hoặc như Lý Bí, Tinh Thiều sau này.

Nhà Lương thống trị đất Việt, tiếp tục áp đặt chính sách thống trị và bóc lột khắc nghiệt của nhà Tề. Chế độ “sĩ tộc” được coi trọng và thịnh hành. Nội dung của chế độ sĩ tộc là: những họ lớn nhà thế phiệt được coi là “danh gia vọng tộc”, có quyền lực chính trị, được pháp luật bảo hộ, có ưu thế tuyệt đối về kinh tế. Họ nắm giữ quyền lực ở địa phương, lũng đoạn tuyển cử, yết bảng “môn đệ” của mình lên và dần dần trở thành một loại có thân phận đặc biệt. Giữa sĩ tộc và không phải sĩ tộc có một giới hạn rất chặt chẽ, như việc “cử người hiền không ngoài thế tộc, pháp luật không được động đến quyền quý”, “thượng phẩm không có người nghèo, hạ phẩm không có thế tộc”.
 
Ở Giao châu, tầng lớp sĩ tộc “danh gia vọng tộc” được làm quan to. Họ nắm đặc quyền về chính trị và kinh tế, họ chiếm dụng nhiều ruộng đất, thu thuế rất nặng, hàng trăm thứ, đến như cây dâu dài một thước cũng danh thuế, bán vợ con cũng phải nộp thuế 4%. Nhiều người bần cùng phải bán vợ đợ con mà vẫn không đủ tiền trả nợ thuế. Vì thế, hào trưởng địa phương bị chèn ép và nông dân bị bóc lột đã cùng nổi dậy chống chính quyền và bọn quan lại thống trị, trong đó tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Lý Bí. Thư tịch cổ Trung Quốc cũng viết rằng, do thứ sử Tiêu Tư “quá đỗi hà khắc, làm mất lòng dân chúng”, Lý Bí đã “liên kết các hào kiệt các châu, đồng thời nổi loạn”.


IV- KHỞI NGHĨA LÝ BÍ. SỰ THÀNH LẬP NHÀ NƯỚC
VẠN XUÂN ĐỘC LẬP (542-602)

1. Khởi nghĩa Lý Bí (542-543)

Phong trào của nhân dân chống ách đô hộ nhà Lương ngày một lên cao, mở đầu là cuộc khởi nghĩa Lý Tông Hiến (516), và đỉnh cao nhất là khởi nghĩa Lý Bí (542) bắt đầu từ phủ Long Hưng (Thái Bình) rồi tỏa lan nhanh chóng ra các châu huyện khác.

Lý Bí (còn gọi là Lý Bôn) (1), quê ở huyện Thái Bình, quận Giao Chỉ, xuất thân từ một gia đình đời đời là nhà hào hữu thủ lĩnh địa phương). Lý Bí tài kiêm văn võ, một thời ra làm việc với chính quyền đô hộ với chức giám quân ở Cửu Đức đức Thọ, Hà Tĩnh). Do lòng yêu nước, thương dân, bất bình với bè lũ đô hộ, ông đã sớm từ quan, về sống ở quê hương Thái Bình. Từ đó ông chuyên tâm vào việc chuẩn bị khởi nghĩa chống ách đô hộ của nhà Lương. Trong nhiều năm, Lý Bí đã bí mật đặt quan hệ với hào kiệt các châu, chiêu tập hiền tài, tụ họp nghĩa binh, cùng nhau bàn mưu tính kế, chuẩn bị khởi nghĩa.


(1). Theo Đại Việt sử ký toàn thư, tổ tiên Lý Bí người phương Bắc, cuối thời Tây Hán khổ về đánh dẹp, mới lánh nạn sang ở đất phương Nam; trải qua bảy đời thành người Nam. Sử Trung Quốc như Lương thư (q.3) và Trần Thư (q.1) đều gọi ông là “Giao châu thổ nhân” hay là “thổ hào”. Về quê hương Thái Bình của Lý Bí còn nhiều tài liệu phản ánh khác nhau. Theo sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục và nhiều cuốn sử cổ của nước ta, Lý Bôn người Thái Bình thuộc Long Hưng. Tên Thái Bình đặt từ đời Vũ Đức thứ tư (621) triều Đường, tên Long Hưng đặt từ đời Trần (1225-1400). ở xã Từ Đường, huyện Thuỵ Anh, phủ Thái bình, Nam Định có đền thờ Lý Bôn. Nay thuộc thôn Tứ Các, xã Thái Độ, huyện Thái Thuỵ, Thái Bình. Có tài liệu nói rằng, huyện Thái Bình quận Giao Chỉ thuộc Sơn Tây (Lịch sử Hà nh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, i I, tr.81). Báo Nhân dân (1986) đăng bài của Minh Tú cho rằng, Lý Bí quê ở châu Giã Năng, xứ Kinh Bắc. Đinh Văn Nhật, trong bài Đi tìm quê hương gộc của Lý Bí (Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 1, 1989, tr.81) đưa ra kết luận: “Lý Bí đã sinh sống trong một điền trang lớn mang tên là trang Thái Bình, trên đất Giã Năng, thuộc quận Vũ Bình, vùng ngã ba sông Công và sông Cầu, nay thuộc huyện Phổ Yên, tỉnh Bắc Thái (Thái Nguyên)”. 
« Sửa lần cuối: 12 Tháng Một, 2009, 11:18:32 PM gửi bởi UyenNhi05 » Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #54 vào lúc: 13 Tháng Một, 2009, 07:15:40 PM »

Vùng quê ông có Tinh Thiều, giỏi văn chương, đã lặn lội sang kinh đô nhà Lương (Nam Kinh) xin được bổ một chức quan (trước năm 521). Nam triều ở Trung Quốc cho đến đời Lương, có sự phân biệt tôn ti chặt chẽ giữa quý tộc (danh gia vọng tộc) với bình dân (hàn môn), chỉ coi trọng tầng lớp sĩ tộc người Hán, khinh thường người Việt. Tư Mã Quang nói rằng:

“Miền Giang Nam từ Đông Tấn trở lại đây... bọn thế tộc chèn lấn những nhà hàn môn” (Tư trị thông giám). Lại bộ thượng thư nhà Lương lúc đó là Sài Tốn cho rằng họ Tinh không phải là vọng tộc, chưa hề có người đỗ đạt, nên chỉ cho Tinh Thiều làm Quảng Dương môn lang, tức là một chức quan bé canh cổng thành phía tây kinh đô Kiến Nghiệp (Nam Kinh).  Tinh Thiều lấy làm tủi thẹn, không nhận chức, về quê, cùng Lý Bí mưu tính:việc tập hợp lực lượng chống ngoại xâm. Như vậy hai thủ lĩnh của phong trào khởi nghĩa lúc dó đều thuộc tầng lớp phú hào người Việt, bị bọn phong kiến Trung Quốc xem là hàn tộc, có hận thù lớn đối với chính quyền đô hộ.
 
Bấy giờ, cả Giao châu cũ ở dưới quyền cai trị của vũ lâm hầu Tiêu Tư. Tiêu Tư là Tôn thất nhà Lương. Họ Tiêu là một trong những cự tộc phương Bắc dời về Nam, uy quyền rất lớn. Đó là một thứ sử khét tiếng tàn bạo. Chính sử Trung Quốc như Lương thất, Trần thư đều công nhận rằng Tiêu Tư là một kẻ “tàn bạo, mất lòng dân” . Khi đi đàn áp phong trào nhân dân ở phương Nam, Trần Bá Tiên cũng phải nói về nguyên nhân những cuộc “phản loạn” ấy là do “tội ác của các Tôn thất”, trong đó có quan thứ sử.

Nhân lúc mâu thuẫn giữa nhân dân với chính quyền thống trị rất sâu sắc, Lý Bí đã hên kết với hào kiệt các châu thuộc miền đất nước ta đồng thời nổi dậy chống Lương.  Lương thư chép: “Lý Bí đã liên kết với hào kiệt vài châu đồng thời làm phản” (1). Sử cũ của ta cho biết, thủ lĩnh Chu Diên (vùng Đan Hoài, nay thuộc ngoại thành Hà Nội) tên là Triệu Túc và con là Triệu Quang Phục, khâm phục tài đức của Lý Bí đã đem quân của mình và dân binh hưởng ứng đầu tiên.
 
Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Vua bấy giờ làm chức giám quân ở châu Cửu Đức, nhân liên kết với hào kiệt mấy châu, đều hưởng ứng. Có Triệu Túc tù trưởng ở Chu Niên phục tài đức của vua, bèn dẫn đầu đem quân theo” (2). Phạm Tu (3) (có đền thờ ở Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội) cũng là một tướng tài của Lý Bí ngay từ buổi đầu khởi nghĩa.
 
Các sách Đại Việt sử ký toàn thư, Việt điện u linh, Đại Nam nhất thông chí và thần tích, bi ký, truyền thuyết ở làng Giá tức làng Cổ Sở (Yên Sở, Thanh Trì, Hà Nội) đều phản ánh Phạm Tu (có sách chép là Lý Phục Man) đã cùng dân làng tham gia cuộc khởi nghĩa giải phóng đất nước. Về sau nhân dân mở hội Giá để nhớ lại sự kiện đó.
 
Trong lễ “niêm quân” của ngày hội cho thấy, không phải chỉ Phạm Tu tham gia cuộc khởi nghĩa, mà đông đảo dân làng Giá đã vùng dậy với người anh hùng của quê hương góp phần tạo nên thắng lợi của sự nghiệp cứu nước do Lý Bí lãnh đạo.
 
Lý Bí, khi đã lên ngôi, đánh giá rất cao công lao của Phạm Tu và gả con gái cho ông. 

Sử cũ không chép rõ Lý Bí đã chiếm được các quận huyện, đánh đuổi bọn quan lại Trung Hoa như thế nào. Chỉ biết rằng, đó là cuộc khởi nghĩa rộng lớn, đã liên kết được đông đảo các hào kiệt và dân chúng các châu, nhanh chóng giành thắng lợi. Lý Bí đã không gặp phải sức kháng cự mạnh mẽ của bọn quan lại đô hộ. Sử cho biết, nghe tin Lý Bí nổi dậy, vũ lâm hầu Tiêu Tư sợ hãi, không dám chống cự, vội sai người đem vàng bạc của cải đút lót cho Lý Bí rồi chạy trốn về Việt châu (bắc Hợp Phố) và Quảng châu (4).


(1). Lương thư, q.8.
(2). Đại Việt sử ký toàn thu, Sđd, T.1, tr.179.
(3). Về nhân vật Phạm Tu, hiện vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau.  Phạm tu có phải là Lý Phục Man không? Kết quả nghiên cứu còn tồn tại ba quan niệm: là một người, là hai người và hoài nghi chưa kết luận. Do sử sách ghi chép không rõ ràng và những tư liệu thu thập được cho đến nay đều có thể khai thác, theo những góc độ khác nhau để chứng minh cho những quan niệm trên.
(4). Lương thư, q.3, t.11b; Trần thư, q.8, t.1a; Tư trị thông giám, q 158, t. 13a. Lương thư chép: Tiêu Tư chạy trốn về (Hợp Phố). Một số sách khác chép: Tiêu Tư chạy về Quảng châu.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #55 vào lúc: 13 Tháng Một, 2009, 07:26:31 PM »


Quan thứ sử bỏ trốn thì hẳn bọn quan lại còn lại trong chính quyền đô hộ kẻ chạy theo Tiêu Tư về Quảng châu, kẻ đầu hàng quân khởi nghĩa.

Nổi dậy từ tháng 1-542 (tháng chạp năm Đại Đồng thứ bảy), không quá ba tháng, nghĩa quân đã chiếm được thành Long Biên (Bắc Ninh). Bè lũ đô hộ đã bị quét sạch trước khí thế tiến công và nổi dậy khắp nơi của nhân dân ta.
   
Sau những giờ phút kinh hoàng buổi đầu, chính quyền nhà Lương lập tức có phản ứng đối phó, nhanh chóng tổ chức phản công lại nghĩa quân. Lương thư chép rằng: “Tháng ba năm Đại Đồng thứ tám (4-542) (vua Lương) sai thứ sử Việt châu là Trần Hầu, thứ sử La châu là Nịnh Cự, thứ sử An châu là Lý Trí, thứ sử Ái châu là Nguyễn Hán, cùng đi đánh Lý Bí ở Giao Châu” (1). Sự phản ánh trên của sử nhà Lương cho thấy, phía nam Giao châu lúc đó còn thuộc quyền thống trị của quan lại Trung Hoa. Trong ba tháng đầu của cuộc khởi nghĩa, Lý Bí và nghĩa quân mới làm chủ được vùng Bắc Bộ ngày nay.

Sử cũ không ghi chép chi tiết về cuộc phản công trên và ta cũng không biết được Lý Bí chống cự ra sao; song điều chắc chắn là cuộc phản công đã hoàn toàn thất bại, bởi vì nhà Lương đã phải tổ chức cuộc phản công lần thứ hai vào cuối năm 542 đầu năm 543.

Có lẽ sau khi đánh tan được cuộc phản công thứ nhất, thì ở phía nam, thứ sử Ái châu Nguyễn Hán cũng bị thất bại; nghĩa quân đã vượt Ái châu tiến thẳng vào giải phóng Đức châu, nơi Lý Bí đã làm quan trong một thời gian và đã có uy tín với các hào kiệt và nhân dân vùng này. Ta có thể khẳng định điều đó, vì như sự phản ánh của Đại Việt sử ký toàn thư, mùa hè năm 543 khi Lâm ấp đưa quân vào cướp Cửu Đức đã bị đại tướng Phạm Tu đánh tan (2). 

Sách Tư trị thông giám của Tư Mã Quang (q.158) ghi: “Mùa hè tháng tư, vua Lâm ấp tiến công Lý Bí, viên trưởng của (Lý) Bí là Phạm Tu đã phá quân Lâm ấp ở Cửu Đức”. Như vậy đến đây nghĩa quân đã toàn thắng và nắm quyền làm chủ đất nước. Từ đồng bằng Bắc Bộ, Lý Bí đã kiểm soát được tới Đức châu (Hà Tĩnh) ở phía nam, các vùng Ái châu, An châu (Quảng Ninh) và cả vùng bán đảo Hợp Phố ở phía bắc.  Bị thua đau, vua Lương lại sai thứ sử Cao châu là Tôn Quýnh, thứ sử Tôn châu là Lư Tử Hùng thống lĩnh binh mã, một lần nữa tiến sang Giao châu để tiêu diệt nghĩa quân Lý Bí. Sự kiện này diễn ra vào cuối năm âm lịch, sử của ta chép:
"Mùa đông, tháng 12 (542), Lương Đế sai Tôn Quýnh và Lư Tử Hùng sang lấn” (3).

Bọn Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng thấy cuộc phản công lần trước đã thất bại, uy thế của nghĩa quân rầm rộ, nên e ngại, dùng dằng không chịu tiến quân, lấy cớ mùa xuân lam chướng, xin đợi đến mùa thu hẵng khởi binh. Nhưng thứ sử Quảng châu là Tiêu Ánh không nghe, vũ lâm hầu Tiêu Tư cũng sốt ruột thúc giục, cho nên bọn Tôn Quýnh bất đắc dĩ phải động binh (tháng 1-543).

Chủ động đánh giặc, Lý Bí đã tổ chức một trận tiêu diệt chiến lớn ở ngay miền cực bắc Giao châu. Cuộc chiến diễn ra rất ác liệt ở Hợp Phố. Lính giặc, 10 phần chết tới 7, 8 phần; bọn sống sót đều tan vỡ cả, tướng sĩ ngăn cấm không được.  Bọn Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng thất bại, dẫn tàn quân chạy về Quảng châu.

Tiêu Tư dâng tờ khải về triều, vu cho Tôn Quýnh và Lư Tử Hùng “giao thông với giặc, dùng dằng không tiến quân”.  Thấy quân lính bị thiệt hại quá nhiều, giận vì không tiêu diệt được Lý Bí, Lương Vũ Đế xuống chiếu bắt cả hai viên tướng cầm đầu phải chết ở Quảng châu. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Quýnh lấy cớ là chướng khí mùa xuân đương bốc, xin đổi mùa thu. Bấy giờ thứ sử Quảng châu là tân dụ hầu không cho; vũ lâm hầu Tư cũng thúc giục. Bọn Tử Hùng đi đến Hợp Phố, 10 phần chết 6, 7 phần, quân tan vớ mà trở về Tư tâu vua rằng Quýnh và Tử Hùng dùng dằng không chịu đi. Vua bắt bọn họ đều phải tự tử” (4).


(1). Lương thư, q.3, t.11b.
(2). Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.l79; Sách Lịch sử Hà Tĩnh, Sđd, t.1, tr.87, chép rằng: “Nam 542,... vua Chăm pa là Rudravarman I đã đem quân vượt Hoành Sơn đánh lên Đức châu.  Năm 543, Lý Bôn đã phải cử Lý Phục Man, sau đó cử thêm Phạm Tu, đem quân vào chống cự. Chiến trận diễn ra ở đây và quân Chăm pa bị đánh bại hoàn toàn”.
(3). Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.1, tr.179.
(4). Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.1, tr.179.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #56 vào lúc: 13 Tháng Một, 2009, 07:34:17 PM »


Bọn Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng thấy cuộc phản công lần trước đã thất bại, uy thế của nghĩa quân rầm rộ, nên e ngại, dùng dằng không chịu tiến quân, lấy cớ mùa xuân lam chướng, xin đợi đến mùa thu hẵng khởi binh. Nhưng thứ sử Quảng châu là Tiêu Ánh không nghe, vũ lâm hầu Tiêu Tư cũng sốt ruột thúc giục, cho nên bọn Tôn Quýnh bất đắc dĩ phải động binh (tháng 1-543).

Chủ động đánh giặc, Lý Bí đã tổ chức một trận tiêu diệt chiến lớn ở ngay miền cực bắc Giao châu. Cuộc chiến diễn ra rất ác liệt ở Hợp Phố. Lính giặc, 10 phần chết tới 7, 8 phần; bọn sống sót đều tan vỡ cả, tướng sĩ ngăn cấm không được.  Bọn Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng thất bại, dẫn tàn quân chạy về Quảng châu.

Tiêu Tư dâng tờ khải về triều, vu cho Tôn Quýnh và Lư Tử Hùng “giao thông với giặc, dùng dằng không tiến quân”.  Thấy quân lính bị thiệt hại quá nhiều, giận vì không tiêu diệt được Lý Bí, Lương Vũ Đế xuống chiếu bắt cả hai viên tướng cầm đầu phải chết ở Quảng châu. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Quýnh lấy cớ là chướng khí mùa xuân đương bốc, xin đổi mùa thu. Bấy giờ thứ sử Quảng châu là tân dụ hầu không cho; vũ lâm hầu Tư cũng thúc giục. Bọn Tử Hùng đi đến Hợp Phố, 10 phần chết 6, 7 phần, quân tan vớ mà trở về Tư tâu vua rằng Quýnh và Tử Hùng dùng dằng không chịu đi. Vua bắt bọn họ đều phải tự tử” (1).

Sau khi đánh tan được quân xâm lược phía bắc, Lý Bí phải lo ngay việc đối phó với nước Lâm ấp ở phía nam. Biên giới phía bắc của nước Lâm ấp lúc đó là Hoành Sơn (Quảng Bình). Vua Lâm ấp Rudravarman I nhân cơ hội ở Giao châu quan lại Trung Hoa bị đuổi, nên đã đem binh thuyền đánh phá Đức châu (5-543). Lúc đó, như các tài liệu đã dẫn ở phần trên thì, Lý Bí đã cử đại tướng Phạm Tu đưa quân vào đánh tan quân Lâm ấp ở huyện Cửu Đức, vua Lâm ấp phải chạy trốn (2).
Đất nước đã được giải phóng. Biên giới phía nam và phía bắc, đều tạm thời ổn định. Khởi nghĩa Lý Bí đã hoàn toàn thắng lợi. Đó là một cuộc khởi nghĩa toàn dân, từ địa phương Thái Bình phát triển rộng ra cả nước và giành lại được độc lập tự chủ.
 
Nửa cuối thế kỷ thứ VI quả là một thời điểm đột phá lớn trong lịch sừ hơn ngàn năm thống Bắc thuộc của nhân dân ta. Nó tiếp tục và phát huy truyền thống đấu tranh giành độc lập mà Hai Bà Trưng đã phất ngọn cờ đầu tiên. Nó được đánh dấu bởi một cuộc khởi nghĩa lớn và tiếp sau đó là một thời kỳ độc lập.


(1). Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.1, tr.179.
(2). Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t. 1, tr.179; Lương thư, q 3, t.11b; Tư trị thông giám, q.158, t.13a. Theo Thiên Nam ngữ lục thì Phạm Tu đã phá tan quân Lâm ấp rồi sau đó, Lý Bí cử Lý Phục Man vào trấn thủ biên thuỳ phương Nam (?). 
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #57 vào lúc: 16 Tháng Một, 2009, 01:19:11 PM »


2. Sự thành lập nhà nước Vạn Xuân độc lập (544-602)

Sau những thắng lợi trên cả hai chiến trường biên giới bắc và nam, giành lại và bảo toàn lãnh thổ cơ bản có từ thời dựng nước đầu tiên, mùa xuân, tháng giêng năm Giáp Tý (tức 2-544), Lý Bí tuyên bố dựng nước, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, đóng đô ở miền cửa sông Tô Lịch (Hà Nội). Chính sử nước ta chép “Giáp Tý(Thiên Đức) năm thứ nhất (544). Mùa xuân tháng giêng, vua nhân thắng giặc, tự xưng là Nam Việt Đế, lên ngôi, đặt niên hiệu, lập trăm quan, dựng quốc hiệu là Vạn Xuân, ý mong cho xã tắc truyền đến muôn đời vậy” (1). 
 
Lý Bí lên ngôi hoàng đế, tự xưng là Nam Đế vua nước Nam), tổ chức một triều đình riêng với hai ban văn và võ, dựng điện Vạn Thọ để làm nơi triều hội (2). Triệu Túc làm thái phó, giữ cương vị gần như tể tướng; Tinh Thiều, nhà Nho học giỏi được cử cầm đầu ban văn; Phạm Tu, vị tướng tài vừa chiến thắng ngoại xâm được cử đứng đầu ban võ. Nam Đế phế bỏ niên hiệu nhà Lương, đặt niên hiệu mời là Thiên Đức (Đứe trời) hay Đại Đức (Đức lớn) (3). ông sai dựng một ngôi chùa mới, lấy tên là chùa Khai Quốc (mở nước). Nhớ ơn vị nữ anh hùng tiền bối, Lý Nam Đế ban sắc phong thần cho Bà Triệu . . .

Bộ biên niên sử lớn của Trung Quốc thời Tống Tư trị thông giám của Tư Mã Quang biên soạn các năm 1064- 1084, phần Lương kỷ ghi 19 sự kiện quan trọng nhất năm Giáp Tý (544), thì sự kiện đầu tiên chính là việc Lý Bí xưng đế ở Giao châu: “Mùa xuân, tháng giêng, Lý Bí xưng Việt đế, đặt trăm quan, đổi niên hiệu là Đại Đức”.

Lý Bí là người Việt Nam đầu tiên xưng hoàng đế, Việt đế theo sử Trung Quốc (Tư trị thông giám) hay Nam Việt đế theo sử nước ta (Đại Việt sử ký toàn thư). Xưng đế, định niên hiệu riêng, đúc tiền riêng, coi phương Nam là bờ cõi riêng với phương Bắc, lấy Việt đối sánh với Hoa..., những điều đó nói lên sự trưởng thành của ý thức dân tộc, lòng tin ở khả năng tự mình vươn lên, phát triển một cách độc lập. Đó là sự ngang nhiên phủ định quyền làm “bá chủ toàn thiên hạ” của hoàng đế phương Bắc, vạch rõ sơn hà, cương vực và là sự khẳng định dứt khoát rằng: nòi giống Việt phương Nam là một thực thể độc lập, là chủ nhân của đất nước và nhất quyết phải giành quyền làm chủ vận mệnh của mình. Có thể coi đó là “hành động cách mạng” của nhân dân ta kiên quyết chống sự thống trị của phong kiến Trung Hoa để giành lại quyền độc lập, tự chủ và tự do cho dân tộc.

Lý Bí (Lý Nam Đế) cũng là người đầu tiên nhận ra vị tr địa lý trung tâm đất nước của miền sông nước, phù sa Tô Lịch. Hà Nội cổ, từ giữa thế kỷ VI, bước lên hàng đầu của lịch sử đất nước, bắt nguồn từ Lý Nam Đế. Chúng ta có quyền tự hào về ý thức, về tầm nhìn của ông.
 
Cơ cấu chính quyền mới hẳn còn sơ sài, nhưng ngoài hoàng đế đứng đầu đã có các tướng văn, tướng võ. Triệu Túc giữ chức thái phó, bên cạnh Tinh Thiều và Phạm Tu phụ trách hai ban văn và võ. Có tài liệu còn chép: Lý Phục Man làm tướng quân coi giữ một miền biên cảnh từ Đỗ Động (Thanh Oai, Hà Tây) đến Ba Vì “để phòng ngừa Di Lão” (4).
 

(1). Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.1, tr.179.
(2). Điện Vạn Thọ, còn gọi là điện Vạn Xuân. Theo sách Thái Bình hoàn vũ ký của Nhạc Sử triều Tống, huyện Long Biên có đài Vạn Xuân. Đài này của Lý Bôn ở Giao Chỉ làm quan năm Đại Đồng triều Lương. Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục, đài Vạn Xuân thuộc xã Vạn Phúc, huyện Thanh Trì, có hồ Vạn Xuân gọi là đầm Vạn Phúc. Điện Vạn Xuân có lẽ ở đấy.  
(3). Sử Trung quốc gọi là Đại Đức, sử Việt Nam gọi là Thiên ‘ Đức Khảo cổ học đã tìm thấy những đồng tiền Thiên Đức đúc thời Lý Nam Đế.  
(4). Lý Phục Man được thờ ở Yên Sở (Hà Nội) và nhiều vùng đồng bằng, tương truyền ông là người Yên Sở tức làng Cổ Sở xưa.  Phạm Tu và Lý Phục Man là một hay hai người và quan hệ với nhau như thế nào, đấy là một vấn đề được đặt ra từ rất lâu, nhưng chưa đủ cứ liệu khoa học để kết luận.   
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #58 vào lúc: 16 Tháng Một, 2009, 01:22:12 PM »

Triều đình Vạn Xuân độc lập, chính quyền mới là sự mô phỏng theo hình thức nhà nước Trung Hoa, mô hình lần đầu được Việt Nam thâu hóa và áp dụng, một cơ cấu nhà nước mới theo chế độ tập quyền trung ương. Lý Nam Đế cho xây một “đài Vạn Xuân” để làm nơi văn võ bá quan triều hội.  Triều đình Vạn Xuân là khởi hình của một cơ cấu nhà nước theo chế độ tập quyền trung ương.

Lúc này Phật giáo đang phát triển mạnh ở nước ta cũng như ở Trung Quốc. Giới tăng ni là tầng lớp trí thức đương thời, chắc chắn đã ủng hộ Lý Nam Đế. Chính một người trong dòng họ ông và làm tướng dưới quyền ông đã mang một cái tên gọi đượm màu sắc sùng bái đạo Phật: đó là Lý Phật Tử.
 
Nhà nước Vạn Xuân, dù mới dựng, cũng đã rất quan tâm đến việc thờ Phật, xây chùa Khai Quốc, tiền thân của chùa Trấn Quốc ở Hà Nội ngày nay; nơi đó trở thành một trung tâm Phật giáo và Phật học lớn ở nước ta. Ngay cái tên “chùa mở nước” cũng đã hàm chứa xiết bao ý nghĩa. Và các tên gọi Vạn Xuân, Nam Đế, Thiên Đức hay Khai Quốc cũng đều hàm chứa nhiều ý nghĩa hết sức sâu sắc.
 
Việc dựng nước độc lập mang tên Vạn Xuân nói lên lòng tin vững chắc của nhân dân ta ở khả năng có thể vươn lên và làm chủ vận mệnh đất nước mình. Trước các triều đại hoàng đế phương Bắc thay nhau đô hộ, tư tưởng vạch rõ sơn hà từ thời dựng nước đầu tiên, đã trở thành ý chí của Lý Nam Đế và nhân dân Vạn Xuân. Sau gần năm thế kỷ bị đô hộ, tình cảm yêu nước Việt Nam không bị dập vùi dưới ách áp bức nặng nề và bởi âm mưu đồng hóa.  Trái lại, tình cảm ấy càng thêm sâu sắc, ý thức dân tộc càng thêm mạnh mẽ.

Tổ chức bộ máy nhà nước Vạn Xuân tuy còn sơ sài, nhưng thực có ý nghĩa lớn lao, đây là một chính quyền tự chủ của một quốc gia độc lập sau hơn 500 năm đấu tranh bền bỉ của nhân dân ta. Nó khẳng định sự trưởng thành của ý thức dân tộc, lòng tự tin vào năng lực quản lý, làm chủ đất nước của tầng lớp quý tộc bản địa, khẳng định nền độc lập tự chủ của nhân dân ta và phủ nhận quyền đô hộ, thống trị của đế chế phương Bắc đối với đất nước và dân tộc ta. Nó đánh dấu một bước phát triển của phong trào đấu tranh giành lại độc lập của nhân dân ta thời Bắc thuộc.

Về nước Vạn Xuân, sử sách cũ ghi chép thật khiêm tốn, ngắn ngọn. Lý Nam Đế còn làm vua đến năm 548 mới mất.  Nhưng thực ra nước Vạn Xuân độc lập chỉ được hưởng thái bình trong hơn một năm. Mùa hè năm 543, chính quyền Nam Kinh đã tổ chức cuộc chiến tranh chinh phục mới. Nhân dân Vạn Xuân dưới sự lãnh đạo của Lý Nam Đế và Triệu Quang Phục đã anh dũng tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ giữ nước, để bảo vệ thành quả đấu tranh của mình.

V- CUỘC CHIẾN ĐẤU CHỐNG LƯƠNG (545-550)

Đồng thời với cuộc nổi dậy của Lý Bí ở Giao châu, ở miền sơn động thuộc Quảng châu những người Lý, Lã (tức dân tộc thiểu số) cũng nổi lên nhiều. Sau khi Tôn Quýnh và Lư Tử Hùng bị giết vì lý do đi đánh Lý Bí bị thất bại, em Tử Hùng là Tử Lược, có bọn gia thuộc Giang Nam là Đỗ Thiên Hợp và em Đỗ Tăng Minh giúp sức, cùng với cháu của Tôn Quýnh nổi dậy báo thù, bắt viên đô đốc Nam Giang là Thẩm Khởi, rồi tiến đánh Quảng châu.
 
Vì Quảng châu náo động nhà Lương phải lo tập trung lực lượng đàn áp, nên chưa thể tổ chức chinh phục Giao châu ngay. Thứ sử Quảng châu là Tiêu Ánh hợp lực cùng Trần Bá Tiên, mang 3.000 quân đánh giết được Đỗ Chiêm Hợp. Đỗ Thiên Ánh buộc phải ra hàng.
 
Mùa đông năm 544, Tiên Ánh chết, nhà Lương cử Lan Khâm thay làm thứ sử Quảng châu để trù tính việc đánh Lý Bí.  Tuy nhiên, Lan Khâm chưa kịp đánh Giao châu thì đã bị Nam An hầu giết vì hận đã giành chức thứ sử của y. 
 
Đầu năm 545, nhà Lương bắt đầu tổ chức cuộc chiến tranh xâm lược Vạn Xuân nhằm chinh phục lại Giao châu mà chúng gọi là “thuộc quốc” cũ. Dương Phiêu được cử làm thứ sử Giao châu, Trần Bá Tiên - viên tướng vũ dũng xuất thân từ “hàn môn” nhưng vừa lập công đánh bọn Tử Lược dẹp yên Quảng châu, được cử làm tư mã Giao châu, lĩnh chức thái thú Vũ Bình, cùng tổ chức cuộc chinh phục Vạn Xuân.

Trong quá trình đàn áp Quảng châu, Trần Bá Tiên thu nạp được nhiều quân vũ dũng, khí giới đều tốt; vì thế Dương Phiêu rất vui mừng, cho giữ chức kinh lược sứ, phụ trách tác chiến.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #59 vào lúc: 16 Tháng Một, 2009, 01:29:27 PM »


Sử sách không ghi chép rõ số quân lính Trung Hoa trong cuộc chinh phục này là bao nhiêu. Chỉ biết đạo quân tiến đánh Vạn Xuân gồm nhiều bộ phận hợp thành: quân triều đình dưới quyền chỉ huy của Dương Phiêu, đạo quân riêng của Trần Bá Tiên lúc đánh Quảng châu đã có tới 3.000 người thiện chiến, quân của các thứ sử mấy châu ở phương Nam kề cận nước ta cùng được lệnh tập trung về Phiên Ngung (Quảng châu) .

Lúc đó, thứ sử Định châu là Tiêu Bột cũng được lệnh mang quân tới hội ở Tây Giang (Quế Lâm). Nhưng Tiêu Bột biết quân sĩ sợ đi xa, mưu dỗ quân lính và can ngăn Dương Phiêu không nên đánh Giao châu; hẳn viên thứ sử này đã biết trước được sự nguy hại nếu liều lĩnh tiến quân vào Vạn Xuân. Nhiều tướng sĩ khác cũng ngần ngại bàn lùi.
 
Dương Phiêu họp tất cả các tướng sĩ để hỏi mưu kế . Trần Bá Tiên chủ chiến, hung hăng chủ trương kiên quyết tiến binh, nói rằng: “Giao châu làm phản, tội do ở người Tông thất, để mấy châu hỗn loạn trốn tội đã nhiều năm nay. (Thứ sử) Định châu (Tiêu Bột) chỉ muốn trận yên trước mắt, không nghĩ đến kế lớn. Tiết học vâng chiếu đi đánh kẻ có tội, phải nên liều sống chết, há nên dùng dằng không tiến để nuôi cho thế giặc thêm mạnh mà làm ngăn trở quân mình hay sao?” (1). Là một viên tướng vũ dũng, hiếu chiến và đầy tham vọng, Trần Bá Tiên đã khích động Dương Phiêu, vì thế Dương Phiêu, đã cử Bá Tiên làm tướng tiên phong đem quân đi trước.

Trước nguy cơ đất nước bị xâm lược, Lý Bí cho gấp rút xây dựng lực lượng, huy động quân đội, đắp thành lũy, tăng cường bố phòng để sẵn sàng đánh giặc. Từ Phiên Ngung, thủy bộ phối hợp, quân Trần Bá Tiên hẳn đã đi theo con đường ven biển đông bắc ngày xưa Mã Viện đã mở.

Tháng 7-545, quân xâm lược tiến sâu vào nội địa lưu vực sông Hồng.  Lý Nam Đế đã đem ba vạn quân trấn giữ Chu Diên (mạn Hưng Yên), thiết lập chiến lũy, bố trì thành thế trận phòng ngự lớn để chặn đánh quân Bá Tiên ở đây. Vì quân giặc mới vào khí thế đương hăng, liên tục tiến công đột phá thành Chu Diên; vì tương quan lực lượng không có lợi cho quân ta nên Lý Bí bị thua, phải lui giữ cửa sông Tô Lịch, dựng thành lũy để chống lại quân Bá Tiên.

Chiếm được Chu Diên, Trần Bá Tiên kéo đại quân đến bao vây, tiến công thành Tô Lịch. Theo Trần thư, quân đội Vạn Xuân có khoảng vài vạn người giữ thành ở cửa sông Tô  Lịch, chiến đấu rất ác liệt, đánh bại nhiều đợt tiến công của  quân Lương. Tuy nhiên, thành đất, lũy tre gỗ, không mấy  kiên cố, mà quân địch lại dũng mãnh tiến công ráo riết, thế  trận của ta dần dần bị vỡ, Lý Nam Đế buộc phải lui binh  ngược sông Hồng, về giữ thành Gia Ninh trên miền đồi núi  trung du vùng ngã ba sông Trung Hà - Việt Trì.
   
Theo thần tích đền Thanh Liệt, trong cuộc chiến đấu ở  cửa sông Tô Lịch, lão tướng Phạm Tu, tướng trụ cột của Lý Nam Đế, người đứng đầu hàng võ quan trong triều đình Vạn Xuân, đã chiến đấu rất anh dũng và đã hy sinh vào ngày 20 tháng bảy năm Ất Sửu (8-545) (2).
 
Phạm Tu, người làng Cổ Sở, đã tham gia khởi nghĩa Lý Bí và có công lớn trong sự nghiệp giải phóng trước đây. Sau đó, được phái vào nam đánh tan quân Lâm ấp ở Cửu Đức (Hà Tĩnh), rồi trấn giữ vùng Đường Lâm (Ba Vì, Hà Tây). Khi nhà Lương phái quân tái chiếm nước ta, Phạm Tu chỉ huy một cánh quân lớn chiến đấu và hy sinh rất anh dũng. Thi hài của ông được đưa về bến Hồ Mã, an táng tại quê hương. Đó là khu Mả Thánh, cây cối mọc như rừng, nên được gọi là Rừng Giá hay Rừng Cấm nổi tiếng là thiêng: “Rừng Giá cái lá cũng thiêng” . Nhân dân thương nhớ lập miếu thờ và suy Tôn làm thành hoàng của làng.
 
Năm 1016, vua Lý Thái Tổ qua bến Cổ Sở, đã sai lập đền thờ và đắp tượng Phạm Tu. Từ đó, các triều vua đều có sắc phong và hằng năm vào ngày 10-3, tương truyền là ngày sinh của Thánh Giá, nhân dân lại mở hội Giá nhằm tưởng niệm và nêu cao công lao, sự nghiệp của người anh hùng.  Chiến đấu chống quân Lương xâm lược, Lý Nam Đế chỉ dựa vào một đội quân mới được tổ chức, co cụm ở một vài thành lũy mà cố thủ, lực lượng kháng chiến vì thế mà bị sứt mẻ, suy yếu dần.


(1). Đại Việt sử kí toàn thư, Sđd, t.1, tr.180; Trần thư, q.1, t.2a, Đê kỷ, Cao Tổ.
(2). Về cái chết của Phạm Tu chính sử không chép. Thần tích làng Thanh Liệt cho biết Phạm Tu hy sinh trong trận đánh quân Lương ở cửa sông Tô Lịch ngày 20-7 năm Ất Sửu. Truyền thuyết làng Giá và nhiều đền thờ cũng phản ánh như vậy. Nhưng sách Việt điện u linh nói rằng Phạm Tu hy sinh vào năm Đinh Mão (547) khi Lý Nam Đế rút vào động Khuất Lão. Sách Thiên Nam ngữ lục cho rằng Phạm Tu chết ở động Khuất Lão còn Lý Phục Man hy sinh trong một trận đánh nhau với Lâm ấp.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM