Chiến khu Đ

<< < (18/18)

ptlinh:
Huỳnh Văn Nghệ là một trong những vịchỉ huy võ trang đầu tiên của Chiến khu Đ, đồng thời ông là một nhà thơ; xin cho biết sơ lược về thân thế sự nghiệp và bài thơ “Nhớ Bác” nổi tiếng của ông?


Theo nhiều tài liệu thì Huỳnh Văn Nghệ là Kho bộ phó Khu 7 dưới trướng Trung tướng Nguyễn Bình và có lúc là Khu bộ trưởng lại có thiên bẩm thơ phú, nên ông trở nên nổi tiếng không những ở miền Đông Nam Bộ mà cả nước.

Huỳnh Văn Nghệ sinh năm 1914 ở Tân Tịch, Tân Uyên, Biên Hoà (Tân Uyên nay thuộc tỉnh Bình Dương). Khi còn nhỏ ông học ở Sài Gòn rồi ra làm công chức hoả xa. Thời kỳ Mặt trận Dân chủ (1936-1939), ông sáng tác nhiều bài thơi yêu nước. Sau khởi nghĩa Nam Kỳ (1940), thực dân Pháp đàn áp khốc liệt, ông chạy sang Thái Lan, liên lạc với phong trào yêu nước ở hải ngoại. Sau đó ông trở về tham gia cách mạng tháng Tám ở quê nhà. Và khi quân Pháp trở lại xâm lược nước ta lần thứ hai, ông ra chiến khu cùng với các đồng chí thành lập lực lượng vũ trang, chỉ huy Chi đội 10 Vệ quốc đoàn Biên Hoà… làm Khu bộ phó rồi Khu bộ trưởng Khu 7, tỉnh đôi trưởng Thủ Biên (Thủ Dầu Một-Biên Hoà), trực tiếp chỉ huy nhiều trận vận động chiến giành thắng lợi.

Năm 1955, ông tập kết ra miền Bắc và được phong quân hàm thượng tá giữ chức Phó Cục trưởng Cục Quân huấn Bộ Tổng tham mưu. Năm 1965, ông được điều động về Nam làm Trưởng ban căn cứ Trung ương Cục kiêm Phó ban kinh tài. Sau ngày giải phóng miền Nam, ông chuyển ngành làm Thứ trưởng Bộ Lâm nghiệp kiêm Tổng Cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp miền Nam.

Do bệnh đau, ông đã qua đời ngày 5-3-1977, thọ 63 tuổi.

Theo Thiếu tướng Bộ Chính trị, hồi ở Chiến khu Đ, ông Huỳnh Văn Nghệ có một vài đặc điểm là chữ ký như bộ chân con dế đá và đôi môi thâm sì vì hút thuốc lá quá nhiều.

Sức hút của Huỳnh Văn Nghệ toả rộng còn ở phẩm chất và phong cách mang đậm nét truyền thống anh hùng dân tộc trong lịch sử: hiếu thảo và khảng khái. Ông có nhiều bài thơ tặng mẹ rất xúc động. Trong cuộc họp cục bộ 2 bên ở miễu Bà Cô để bàn việc thực hiện ngừng bắn theo tạm ước 6-3-1946 Đà Lạt, phía Pháp khư khư đòi yêu sách “Nam Kỳ quốc”. Biết ông là người Nam Bộ, nhưng chúng vẫn hỏi ông là người Nam Kỳ hay Bắc Kỳ. Ông đáp ngay “người Bắc”. Tên cáo già Phòng nhì hẳn chưa biết ông ra Bắc vào Nam nên mới có hai câu thơ:

Từ độ mang gươm đi mở cõi
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long.

Bảy Viên là một lãnh tụ Bình Xuyên, khi được đề bạt Khu bộ phó (một lượt với Huỳnh Văn Nghệ) đã không chịu về nhận chức. Huỳnh Văn Nghệ đích thân xuống tận sào huyệt thuyết phục mới gỡ được Bảy Viễn ra khỏi gọng kềm sắt của Phòng nhì Pháp.

“Võ tướng-Thi nhân”, người đương thời gọi Huỳnh Văn Nghệ như thế. Ông làm thơ rất ít. Đối với ông nói và làm chưa đủ mà đôi lúc phải cầu viện đến thơ mới bày tỏ hết nỗi niềm yêu thương và thù hận tận đáy lòng. Như giáo sư Hoàng Như Mai viết: “Huỳnh Văn Nghệ làm thơ không phải vì danh giá, lợi lộc, ghi tên tuổi cho hậu thế gì hết… Đọc thơ ông ta càng thấm thía câu thơi của Bác Hồ “Nay ở trong thơ nên có thép”.

Có lẽ trong “sự nghiệp” thơ văn của Huỳnh Văn Nghệ, bài thơ “Nhó Bác” được đánh giá cao nhất. Sau đây là toàn văn bài thơ:

Nhớ Bác
Ai về Bắc, ta đi với
Thăm lại non sông giống Lạc Hồng
Từ độ mang gươm đi mở cõi
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long.

Ai nhớ người chăng? Ơi Nguyễn Hoàng!
Mà ta con cháu mấy đời hoang
Vẫn nghe trong máu sầu xa xứ
Non nước rông tiên nặng nhớ thương.

Vẫn nghe tiếng hát thời quan họ
Xen nhịp từng câu vọng cổ buồn
Vẫn thương nhớ mùa vải đỏ
Mỗi lần man mác hương sầu riêng

Sứ mạng ngàn thu dễ dám quên
Chinh Nam say bước quá xa miền
Kinh đô nhớ lại… Ôi đất Bắc!
Muốn trở về quê, mơ cánh tiên.

Chiến khu Đ 1946-1958
Huỳnh Văn Nghệ

ptlinh:
Có một Thiếu tướng-nhà văn trưởng thành từ Chiến khu Đ?


Không ai xa lạ. Đó chính là nhà văn Bùi Cát Vũ-Thiếu tướng Phó Tư lệnh Quân khu 7 vào những năm của thập niên 80, thế kỷ 20. Vừa giữ rất nhiều chức vụ chỉ huy lại vừa duy trì văn nghiệp trong suốt cuộc đời binh nghiệp như ông quả là hiếm. Nhưng người ta biết đến ông nhiều nhất có lẽ là vị Tư lệnh pháo binh miền Đông Nam Bộ, mà tên tuổi ông gắn liền với những chiến công vang dội như La Ngà, Tecnit, sân bay Biên Hoà, Hớn Quản, Phước Long…

Thiếu tướng-nhà văn Bùi Cát Vũ sinh năm 1924 ở xã Hưng Mỹ huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Cha mất khi ông 11 tuổi, ông phải làm thuê phụ mẹ nuôi 3 em nhỏ. Trong thời gian lên Sài Gòn làm thợ hồ và bán báo, ông học được cách lấy tin, viết phóng sự và truyện ngắn từ các bậc huynh trưởng Văn Nguyên, Thanh Mại và học làm cách mạng từ các bậc thầy tâm huyết An Ninh, Văn Hùm, Văn Tạo, Thu Thâu, Bạch Mai… Trên con đường dấn thân, ông bị địch bắt giam. Nhờ sự bênh vực của luật sư nên ông được tại ngoại hầu toà.

Trở về con sông Cổ Chiên quê hương, Bùi Cát Vũ bắt liên lạc với Quang Đông vào thời điểm khởi nghĩa (tháng 8-1945), Quang Đông là Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chánh tỉnh, Bùi Cát Vũ làm giám đốc Cộng hoà vệ binh. Nghiệp quân sự của ông bắt đầu từ đó.

Sau khi thực dân Pháp tái chiếm Nam Bộ, Bùi Cát Vũ trở lại Sài Gòn rồi lên Biên Hoà bắt liên lạc với Chiến khu Đ do Khu trưởng Nguyễn Bình và Khu phó Huỳnh Văn Nghệ chỉ huy. Ông kết bạn với nhà quân sự-nhà thơ “mang gươm đi mở bờ cõi”. Khi được giao làm giám đốc Binh công xưởng, ông nghiên cứu chế tạo thành công mìn lõm.

Khu phó-nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ mô tả chiến công mìn lõm của Bùi Cát Vũ: Mặt nước bàu Cá Trê óng ánh như có trăng dưới rừng lá rộng… Các trái mìn lõm như những con mắt theo dõi bước đi của quân giặc. Và từ sau hốc đá trên sườn cao, chỉ huy phó vừa bấm công tắc mìn vừa ra lệnh: “Chi đội, nổ!”. Loáng một cái, đoàn xe thiết giáp từ Nha Trang vào tiếp sức cho địch ở Chiến khu Đ nổ tung trong biển lửa dậy trời. Trong số giặc bị tiêu diệt, có những sĩ quan cấp cao tử trận.

Sau cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, Phó tư lệnh pháo binh Bùi Cát Vũ theo đơn vị tập kết ra miền Bắc và được cử đi học đào tạo Phó tiến sĩ pháo binh. Ông trở về Nam và được bổ nhiệm chức Tư lệnh pháo binh Miền. Gần 20 năm lăn lộn trên chiến trường trọng điểm cửa ngõ sào huyệt địch ở Sài Gòn, Biên Hoà với đối tượng kẻ thù là mới xâm lược Mỹ, ông đã góp nhiều công sức xây dựng lực lượng pháo binh Miền không ngừng lớn mạnh và lập được nhiều chiến công xuất sắc, nhất là trong các chiến dịch lớn như Đồng Xoài, Bình Giã, Mậu Thân, xuân-hè 1972, mùa xuân 1975 kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Khi cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam hạ màn, Tư lệnh phó Quân đoàn 4 chỉ huy đồng đội tiến vào giải phóng Phnôm Pênh, chấm dứt cuộc diệt chủng đẫm máu của bọn đồ tể man rợ Polpot-Iengsary.

Chính ở thời điểm giải phóng và làm nhiệm vụ quốc tế giúp đất nước Campuchia hồi sinh trên đống tro tàn, văn nghiệp của Thiếu tướng Bùi Cát Vũ được dịp thăng hoa. Ông viết thành công các tác phẩm: Đường vào Phnôm Pênh, Vòng hoa sứ trắng, kịch bản phim “Thành phố có người” (đã dựng thành phim) và đặc biệt là phim “Cơn lốc đen” khắc hoạ tội ác tày trời của tập đoàn phản động diệt chủng Campuchia. Truyện “Vòng hoa sứ trắng” được giải thưởng văn học. Ngoài ra ông còn viết truyện thiếu nhi, trong đó có tác phẩm Cát bụi Sài Gòn được giải thưởng văn học thiếu nhi của Hội nhà văn.

Từ năm 1980-1981, ông lên giữ chức Phó tư lệnh Quân khu 7, nhưng vẫn cần cù cày xới trên những trang văn đầy hơi thở của cuộc sống. Ông viết văn hay nhưng nói chuyện thì rất “buồn ngủ”, đó là một cá tính nổi bật của vị tướng nhà văn. Sau này ông bị đau nặng và đã qua đời vào tháng 3-2002 tại thành phố Hồ Chí Minh.

ptlinh:
Chiến khu Đ đã trở thành di tích lịch sử, một “địa chỉ đỏ” của cả nước. Ta đã có kế hoạch bảo tồn, khôi phục và tôn tạo như thế nào?

Trải qua hai cuộc kháng chiến, Chiến khu Đ tuy có nhiều thay đổi, nhưng đã đi vào lòng cán bộ, chiến sĩ và nhân dân tại chiến khu, và cả với những người chưa một lần đặt chân tới. Chiến khu Đ với những nội dung lịch sử và những bài học lớn đã trở thành biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam.

Để tái tạo một Chiến khu Đ lịch sử, bảo tồn một căn cứ kháng chiến tầm cỡ làm nơi giáo dục truyền thống cho các thế hệ Việt Nam, cũng như tạo điều kiện cho việc nghiên cứu khoa học lịch sử, văn hóa nghệ thuật… ngày 26-7-1996, Tỉnh uỷ và UBND tỉnh Đồng Nai đã quyết định thành lập Ban chỉ đạo xây dựng khu di tích lịch sử và Khu tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ Chiến khu Đ. Ban chỉ đạo gồm các đồng chí Nguyễn Trùng Phương-Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Nguyễn Nam Ngữ-Giám đốc Sở Văn hóa thông tin-thể thao, Trần Đình Thành-Trưởng ban tuyên giáo Tỉnh uỷ. Bên cạnh đó, lãnh đạo tỉnh còn ra quyết định thành lập Ban tư vấn chỉ đạo xây dựng khu di tích lịch sử để giúp Ban chỉ đạo xác định địa điểm, xây dựng phương án và triển khai thực hiện sưu tầm tài liệu, hiện vật để phục vụ cho việc phục hồi, tái tạo khu di tích quan trọng này.

Trung tướng Phan Trung Kiên, nguyên Tư lệnh Quân khu 7 (nay là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng), đồng chí Lê Hoàng Quân, Bí thư Tỉnh uỷ Đồng Nai, Đại tướng Lê Đức Anh, nguyên Chủ tịch nước, Thượng tướng Bùi Thiện Ngộ, nguyên Bộ trưởng Bộ Công an, Trung tướng Nguyễn Thới Bưng, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, đồng chí Ngô Bá Cần, nguyên Bí thư tỉnh uỷ Biên Hoà… cũng đã đi khảo sát thực địa và góp ý chỉ đạo xây dựng công trình di tích lịch sử Chiến khu Đ.

Di tích căn cứ Chiến khu Đ được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử vào năm 1999. Theo quy hoạc trùng tu, khôi phục thì khi di tích kết hợp với du lịch sinh thái Chiến khu Đ, cách Sài Gòn khoảng 69km, diện tích tổng thể 60.000 ha; phạm vi bảo tồn 800 ha, bao gồm các cụm căn cứ: “Khu miền Đông thu nhỏ” 540 ha, khu bảo vệ thú hoang dã 746 ha, khu rừng gỗ quý 1.250 ha, khu du lịch dã ngoại, khu du lịch hồ Bà Hào (độc lập với hồ Trị An) 300 ha, có nhiều đảo và bán đảo, làng du lịch các dân tộc miền Đông Nam Bộ, nhà du lịch dưới tán cây và ven hồ.

Khu di tích gồm 2 cụm chính: Khu uỷ miền Đông với các hạng mục: nhà các đồng chí lãnh đạo, văn phòng Khu uỷ, cơ yếu, vệ binh, giao thông hào, địa đạo… Khu tượng đài chiến thắng Chiến khu Đ ở ngã ba Bà Hào kết hợp với rừng tái sinh, hồ Bà Hào, khu Văn hoá truyền thống, khu sinh thái, nhà nghỉ mát, ao sen… khu vực tổng thể vươn tới cả khu di tích sân bay Rang Rang, kuh bảo tồn rừng quốc gia Nam Cát Tiên, khu du lịch thuỷ điện Trị An, di tích Bộ Tư lệnh Quân khu miền Đông.

Sau một thời gian triển khai, đến cuối năm 2002, du di tích đã hoàn thành một số công trình như trùng tu di tích địa đạo Suối Linh, các cơ sở sinh hoạt và chiến đấu trong căn cứ Khu uỷ, tượng đài chiến thắng Chiến khu Đ…

Việc khôi phục tái tạo di tích căn cứ Chiến khu Đ, kết hợp với du lịch sinh thái rộng lớn, được đầu tư rất lớn của tỉnh Đồng Nai va chia thành nhiều giai đoạn sẽ đem lại những lợi ích thiết thực về lịch sử, văn hóa và kinh tế vùng Chiến khu Đ, góp phần tôn vinh truyền thống vẻ vang của một vùng đất sáng ngời chiến công, đã từng là “Việt Bắc” của miền Đông Nam Bộ anh hùng.

ptlinh:
Tài liệu tham khảo


1. Lịch sử Chiến khu Đ-Nxb Đồng Nai 1997.
 
2. Miền Đông Nam Bộ kháng chiến 1945-1975, Nxb Quân đội nhân dân 1993.

3. Ký ức miền Đông, Nxb Văn Nghệ TP.Hồ Chí Minh 2000.

4. Những trận đánh LLVT Quân khu 7 (tập 1, 2, 3), Nxb Quân đội nhân dân 2001, 2002.

5. Đặc khu Rừng Sác, Hồ Sĩ Thành, Nxb Trẻ 2002..

6. Từ điển Thành phố Sài Gòn-Hồ Chí Minh, Nxb Trẻ 2001.

7. Đồng Nai niềm tin và hy vọng, Nxb Đồng Nai 2000.

8. Đá nổi xôn xao, Hoài Tố Hạnh, Nxb Đồng Nai 1995.

9. Đồng Nai truyền thống hào hùng, Nxb Đồng Nai 2001.

10. Xây dựng hệ thống tư liệu địa chí Bình Dương, kỷ yếu 2002.

11. Bình Dương đất lành chim đậu, Nxb Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh 1999.

12. Báo cựu chiến binh TP.Hồ Chí Minh.

13. Báo Quân khu 7.

Navigation

[0] Message Index

[*] Previous page