Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 17 Tháng Một, 2019, 06:06:43 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Chiến khu XI  (Đọc 537 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 130



« Trả lời #10 vào lúc: 06 Tháng Một, 2019, 08:56:16 AM »

Từ tháng 8 năm 1946, Bộ cùng với đồng chí Khu trưởng Lê Quảng Ba làm kế hoạch. Khi đồng chí Vương Thừa Vũ về làm Khu trưởng thay đồng chí Lê Quảng Ba, việc làm kế hoạch khẩn trương hơn, trong đó vấn đề mấu chốt nhất là cách đánh.


Có ý kiến cho là nên đồng loạt đánh Pháp ở Thành Hà Nội như ngày 9 tháng 3 năm 1945 Nhật đã làm. Ý kiến đó không được chấp nhận vì so sánh lực lượng quân sự của ta với Pháp thì bất lợi hơn so sánh lực lượng quân Nhật với Pháp tháng 3 năm 1945. Đánh vào Thành Hà Nội là phải đánh vào một mục tiêu rất lớn ta không thể thực hiện được. Một chuyên gia người Nhật theo ta tên là Ái Việt để nghị trên đường Hà Nội - Hà Đông xây dựng 3 phòng tuyến trận địa để ngăn chặn địch, mỗi phòng tuyến cách nhau từ 2 đến 3 km. Phương án này cũng không được chấp nhận vì Hội nghị cán bộ Trung ương từ cuối tháng 7 đầu tháng 8 đã rút kinh nghiệm là: Xung quanh Sài Gòn quân ta đã lập trận địa rải mành mành nhưng không chặn nổi địch, nên kết quả là đem lực lượng tiêu phí vào việc giữ thành phố1 (Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.151). Hơn nữa phương án này chỉ đơn thuần phòng ngự và cũng không đủ người và cơ sở vật chất để thực hiện. Cách đánh của ta là phải chủ động tiến công địch.


Ta phải bảo toàn thực lực mới kháng chiến được lâu dài. Vì thế, nhiệm vụ chiến lược của chiến cuộc mở đầu kháng chiến toàn quốc được nêu trong chỉ thị Toàn dân kháng chiến được công bố ngày 22 tháng 12 năm 1946 là: "Tích cực tiêu hao tiêu diệt địch, ngăn chặn làm chậm bước tiến của chúng, vạn bất đắc dĩ phải rút khỏi một số thành phố sau khi đã đánh địch quyết liệt ở đó để bảo toàn thực lực kháng chiến lâu dài"2 (Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.151).


Nhưng ta cũng không thể bị động để địch chiếm dễ dàng thành phố, mà phải cố nắm quyền chủ động, tích cực tiêu hao tiêu diệt chúng, ngăn chặn chúng một thời gian để tạo điều kiện chuyển cả nước sang thời chiến. Sài Gòn, các thành phố, thị xã miền Nam, Hải Phòng, Lạng Sơn lúc đầu chưa có kinh nghiệm, nên chỉ đánh địch trong nội thành được mấy ngày. Trong khi đó, việc giữ Hà Nội một thời gian càng dài càng tốt có ý nghĩa chiến lược vô cùng quan trọng.


Trung tuần tháng 11 năm 1946, tại biệt thự Villa des saules3 (Tiếng Pháp, nghĩa là Biệt thự Cây Liễu, ở khu vực công ty cơ khí Hà Nội, gần Cầu Mới, Ngã Tư Sở hiện nay), trong buổi làm việc với đồng chí Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp và Bí thư Khu ủy - Chủ tịch Ủy ban bảo vệ Hà Nội Nguyễn Văn Trân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hỏi:

- Nếu vạn nhất không tránh được chiến tranh thì Hà Nội có thể giữ được bao lâu?

Đồng chí Bí thư Khu ủy XI hứa với Bác "quân và dân Hà Nội sẽ cố gắng đến mức cao nhất". Đồng chí Tổng chỉ huy nêu quyết tâm giữ ít nhất nửa tháng1 (Võ Nguyên Giáp, Chiến đấu trong vòng vây, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1996).

Tuy nhiên, Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp, Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái và các đồng chí Bí thư Khu ủy Nguyễn Văn Trân, Chỉ huy trưởng Chiến khu XI Vương Thừa Vũ đều thống nhất với nhau cố gắng giữ được một tháng hoặc lâu hơn càng tốt.


Để ngăn chặn địch dài ngày, vấn để cần giải quyết là làm thế nào để hạn chế ưu thế về xe tăng - thiết giáp của địch trong thành phố. Kinh nghiệm đánh địch ở Sài Gòn cho biết dân đã quăng bàn, ghế, sập, tủ, giường, xe cộ, ngả cây, ngả cột điện... để làm chướng ngại vật trên đường phố, nhưng chỉ chặn địch được một thời gian ngắn. Ta sẽ vận dụng kinh nghiệm quý này nhưng phải nghĩ thêm cách khác để có thể chặn địch lâu hơn.


Bộ Tổng Tham mưu đề nghị bước đầu nên theo cách làm trên, tức là sẽ đắp ụ đất (ba-ri-cát, sẽ gọi là chiến lũy đường phố), đóng cọc, đào hầm hố chống tăng nhiều tầng lớp kết hợp ngả cây, ngả cột điện, quăng đồ đạc ra đường.


Khi chưa nổ ra chiến tranh, địch còn được phép đi lại, ta chưa đắp chiến lũy và lập chướng ngại trên mọi đường phố nhưng cần dự kiến nơi làm và chuẩn bị sẵn đất, bao cát, cọc, dụng cụ, nhân lực, phân công cụ thể. Cây cối và cột điên thì khoan sẵn lỗ, khi tác chiến sẽ tra thuốc nổ vào để phá. Nhưng chỗ nào làm trước được vẫn cứ làm.


Vì trên các đường phố sẽ xây chỉến lũy, đặt chướng ngại nên để tiện việc cơ động và liên lạc, Bộ Tổng Tham mưu đề ra cần đục thông tường nhà nọ sang nhà kia.

Một vấn đề rất quan trọng nữa được đồng chí Tổng chỉ huy nêu lên vào cuối tháng 8 năm 1946 với Bộ Tổng Tham mưu và Khu XI là cần chọn một số khu vực có thể tổ chức trụ lại đánh dài ngày. Trong tháng 9 và tháng 10, Phòng Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu đã cùng Khu đặc biệt Hà Nội đi nghiên cứu tại thực địa một số khu vực của Hà Nội.


Sau khi Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái đi nghiên cứu với Khu trưởng Khu XI, vào cuối tháng 11 năm 1946 khu vực được chọn là khu vực bắc hồ Hoàn Kiếm, thuộc Liên khu 1, tức khu vực phố cổ của Hà Nội thuộc quận Hoàn Kiếm ngày nay. Khu vực này có điều kiện về địa hình, địa vật đáp ứng việc trụ lại đánh dài ngày trong lòng thành phố.


Đồng chí Tổng chỉ huy còn nhắc Hà Nội phải chọn những nhà cửa, kiến trúc ở các vị trí khống chế được những quãng đường hiểm yếu để đặt hỏa lực, bố trí lực lượng. Những nơi chưa bố trí lực lượng cũng cần chuẩn bị thiết bị sẵn. Đó là một trong những kinh nghiệm đánh Nhật ở Thái Nguyên hồi tháng 8 năm 1945.


Ngoài ra Bộ còn giao cho cơ quan tham mưu Hà Nội phải tìm hiểu hệ thống cống ngầm để có thể lợi dụng khi tác chiến. Đồng chí Tham mưu chủ nhiệm Hoàng Văn Khánh đã hai lần tổ chức 2 đoàn chui vào hệ thống cống với mục đích tìm đường tiếp tế và rút lui cho Liên khu 1 và sử dụng trong quá trình tác chiến nhưng không đạt đứợc ý định đề ra.


Vấn đề mấu chốt Bộ Tổng chỉ huy yêu cầu là phải nắm cho được quyền chủ động, làm cho địch bị động. Căn cứ vào sự chỉ đạo đó, từ cuối tháng 11 năm 1946, Khu trưỏng Khu XI Vương Thừa Vũ, vừa về nhận nhiệm vụ đã khẩn trương làm kế hoạch tác chiến cụ thể.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 130



« Trả lời #11 vào lúc: 06 Tháng Một, 2019, 08:58:49 AM »

Ngày 14 tháng 12 năm 1946, kế hoạch tác chiến của Bộ chỉ huy Chiến khu XI được Bộ Tổng chỉ huy thông qua lần cuối1 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, 50 năm Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr.37).


Trong kế hoạch, ta phán đoán địch sẽ đem quân từ cửa Bắc của thành tiến theo đường Phan Đình Phùng, Hàng Đậu ra chiếm cầu Long Biên đồng thời với quân từ Gia Lâm đánh sang nhằm làm chủ con đường huyết mạch này. Địch cũng từ Cửa Nam của Thành Hà Nội theo đường Cột Cờ, Tràng Thi, Tràng Tiền và từ Đồn Thủy theo đường Lê Thánh Tông lên cùng với cánh quân cửa Nam ra, đánh chiếm khu Bắc Bộ Phủ, Tòa Thị chính. Địch cũng có thể từ Cửa Nam theo đường Hàng Lọng và từ Đồn Thủy theo đường Trần Hưng Đạo tiến ra nhằm nối thông với ga Hàng Cỏ và ngã tư Khâm Thiên. Địch ở Gia Lâm cũng có thể vượt sông sang tăng viện cho Hà Nội.


Ý định tác chiến của ta là nắm quyền chủ động, dùng lực lượng Vệ quốc đoàn, Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu, Tự vệ Thành bất ngờ tiến công đồng loạt nhiều vị trí địch trước khi chúng tiến công ta, đặc biệt phải bất ngờ tiêu diệt ngay từ đầu các ổ chiến đấu độc lập của địch tại các khu phố, làm chúng bị động, đồng thời tích cực ngăn chặn và hạn chế sự tiến công ồ ạt, đánh nhanh thắng nhanh của chúng.


Sau ba ngày tác chiến thì:

- Cắm lại một lực lượng trong lòng thành phố ở Liên khu 1 chặn đánh dài ngày ở sau lưng địch. Các lực lượng của Liên khu 2 và Liên khu 3 kiên quyết chặn đánh địch từ trong tiến ra và lui dần, đêm luồn vào đánh du kích làm cho địch lâm vào thế trước sau đều bị ta chặn đánh phải phân tán lực lượng không thể đánh chiếm nhanh chóng thành phố.

- Phối hợp chặt chẽ các lực lượng Vệ quốc đoàn, Tự vệ chiến đấu, Tự vệ Thành, Công an xung phong, các đội cảm tử đánh tăng, các tổ du kích đặc biệt, bám sát địch chặn đánh địch khắp nơi để tiêu hao chúng làm chúng hoang mang, luôn luôn phải bị động chống đỡ.

- Vận dụng các chiến thuật đánh trong thành phố để chặn cuộc tiến công của địch, kết hợp tiến công với phòng ngự tiêu hao tiêu diệt chúng.


Căn cứ vào ý định tác chiến đó, Bộ chỉ huy Khu XI ra mệnh lệnh tác chiến cho các liên khu và các đơn vị như sau:

1. Liên khu 1:

Do đồng chí Nguyễn Hữu Mai làm Bí thư Liên khu ủy, đồng chí Lê Trung Toản làm Phó bí thư, kiêm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến, đồng chí Hoàng Siêu Hải làm ủy viên quân sự. Lực lượng có 2 tiểu đoàn Vệ quốc quân (145, 101), 5 đội quyết tử đánh tăng, một số tổ du kích đặc biệt, 1 đại đội Tự vệ chiến đấu cứu quốc Hoàng Diệu, 7 đội Tự vệ Thành của 7 khu hành chính, 1 trung đội Công an xung phong, có nhiệm vụ:

a) Tiểu đoàn 101 sử dụng một đại đội Vệ quốc đoàn, một trung đội Tự vệ chiến đấu chặn đánh địch quyết liệt bảo vệ Bắc Bộ Phủ, Nhà Hát Lớn, Tòa Thị chính, nhà Bưu điện, gây cho địch tổn thất lớn. Nếu cuối cùng không giữ nổi thì phá các nơi này và rút vào Liên khu 1 giữ dài ngày; phải đánh một trận quyết liệt ở Bắc Bộ Phủ không cho địch chiếm dễ dàng nơi này.

b) Tiểu đoàn 145: Cùng đội công nhân xung phong tiêu diệt địch và phá triệt để nhà máy điện, nhà máy nước, cầu Long Biên... cùng tự vệ tiêu diệt các ổ chiến đấu độc lập của địch.

Chủ lực của tiểu đoàn tiến công kiên quyết tiêu diệt bằng được địch ở trường Bưởi, sau đó cấp tốc chuyển sang tiến công Phủ Toàn quyền.

c) 5 đội quyết tử đánh tăng phục sẵn ở một số đường trong liên khu mà xe tăng địch có thể đi qua được. Khi gặp tăng kiên quyết phá cho bằng được.

2. Liên khu 2:

Do đồng chí Nguyễn Văn Đào làm Bí thư Liên khu ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến, đồng chí Trần Vĩ làm ủy viên quân sự. Lực lượng có 2 tiểu đoàn Vệ quốc quân (77, 212), 4 đội quyết tử đánh tăng, một số trung đội công an xung phong, có nhiệm vụ:

a) Tiểu đoàn 77 được tăng cường một đại đội của tiểu đoàn 56 Hà Đông chiến đấu bảo vệ trại Vệ quốc đoàn trung ương, Bộ Quốc phòng, Ty Liêm phóng, nhà pha Hỏa Lò, tiêu diệt địch ở nhà dầu Shell Khâm Thiên, cùng tự vệ diệt các ổ chiến đấu độc lập của địch.

Chủ lực của tiểu đoàn chặn đánh địch từ Đồn Thủy tiến sang ga Hàng Cỏ (theo đường Trần Hưng Đạo) gặp quân trong Thành đánh xuống.

b) Tiểu đoàn 212 tập trung lực lượng tiến công tiêu diệt địch ở Đồn Thủy, ở Stai-quai (Phà Đen), ở Viện Pa-xtơ, một bộ phận bố trí ở trường Đại học Dược (phố Lê Thánh Tông) đánh địch từ Đồn Thủy lên Bắc Bộ Phủ, xong cấp tốc về làm lực lượng dự bị ở khu vực trường mồ côi, Lò Lợn, Ô Cầu Dền.

c) 4 đội quyết tử đánh tăng phục sẵn ở một số đường trong liên khu để kiên quyết đánh tăng đi qua.


3. Liên khu 3:

Do đồng chí Đỗ Trình làm Bí thư Liên khu ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến, đồng chí An Giao, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 523 làm ủy viên quân sự. Lực lượng có một tiểu đoàn Vệ quốc quân (523), 4 đội quyết tử đánh tăng, một số tổ du kích đặc biệt, 5 đội tự vệ Thành của 5 khu hành chính. Trong đó:

a) Tiểu đoàn 523 cùng các đội quyết tử đánh tăng và đội tự vệ chiến đấu chặn các ngã đầu phố Hàng Bột, Cửa Nam, nhà Đúc Tiền, ngã tư Khâm Thiên, đánh các đoàn xe địch tiến công, tiêu diệt địch ở nhà ga, nhà Đê-lê-vô, cùng lực lượng tự vệ tiêu diệt các ổ chiến đấu độc lập của địch.

b) 4 đội quyết tử chống tăng phục sẵn ở một số đường đê kiên quyết diệt tăng.


4. Đội Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu:

Do đồng chí Nguyễn Anh Bảo chỉ huy. Trừ 1 đại đội đã giao cho Liên khu 1. Còn 5 trung đội được giao nhiệm vụ như sau:

a) Trung đội Ký Con bảo vệ khu Đấu Xảo thuộc Liên khu 2.

b) Trung đội Phó Đức Chính bảo vệ Đài phát thanh Bạch Mai và giúp xây dựng khu căn cứ Bạch Mai thuộc Liên khu 2.

c) Trung đội Trần Quốc Toản tách một tiểu đội tăng cường cho trung đội Vệ quốc đoàn của Tiểu đoàn 101 bảo vệ Nhà Hát Lớn. Còn chủ lực đánh địch tiến từ Thành ra Cửa Nam, Tràng Thi, Tràng Tiền, xong sẽ phối thuộc cho Liên khu 2.

d) Trung đội Tô Hiệu đánh diệt địch ở nhà Lơ-mét, chặn đánh địch từ Cột Cờ đến.

đ) Trung đội Hà Huy Tập giao cho Liên khu 3 chủ yếu đánh địch trên đường Khâm Thiên.


5. Tự vệ Thành:

Phối hợp với Vệ quốc đoàn và Tự vệ chiến đấu đánh các vị trí địch trong từng tiểu khu, diệt các ổ tác chiến độc lập, phá hoại một số nhà máy, cắt dây điện thoại, đặc biệt là tiếp tục đắp ụ, chiến lũy, xây công sự, đào đường, ngả cây, ngả cột điện, thiết lập chướng ngại đường phố, phá các đường sá ra ngoài thành, tổ chức cho dân tản cư, tổ chức đội trừ gian, diệt thổ phỉ, tổ chức tiếp tế, tải thương.


6. 36 tổ du kích đặc biệt:
Bố trí ở các ngã ba, ngã tư, các khu vực gần nơi địch đóng, các điểm địch hay đi lại để quấy rối, bắn tỉa, phục kích nhằm tiêu hao địch làm chúng hoang mang không dám đi lùng sục ta.
Logged
Trang: « 1 2   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM