Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 22 Tháng Một, 2019, 04:46:39 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Khoảng trời Ban-Tích  (Đọc 2485 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 17631


« Trả lời #50 vào lúc: 13 Tháng Một, 2019, 11:53:11 PM »


        Cứ như vậy, họ xuyên qua đoàn máy bay địch nhiều lượt, từ trên xuống, từ dưới lên. Thỉnh thoảng Lu-nin thoáng trông thấy tụi Mét-séc-mít khi thì ở dưới, khi thì ở trên đầu, nhưng anh lẩn tức thì vào trong cái đám oanh tạc, dùng chúng làm lá chắn. Hoảng hốt, gioong-ke thả bom xuống bãi băng, xuống bãi đất trống, và từng cái một quay mũi về tây nam. Nhiều cái bốc cháy, nhưng Lu-nin không thể biết ai đã bắn trúng - có lẽ bản thân anh, hay bạn anh, nếu không phải là cao xạ vẫn bắn liên hồi.

        Khi đoàn oanh tạc đã tản khắp bốn chân trời, Lu-nin lại thấy Mét-séc-mít - thoạt tiên thì hai. Chúng tiến thẳng về phía anh và Sê-rốp. Anh lia một băng làm chúng tản ra và lúc đó chợt thấy hai cái khu trục khác từ trên cao bố nhào xuống. Anh tránh luồng đạn nhưng bọn Mét-séc-mít không rời anh. Phải hai chọi bốn. Cái khổ nhất, là tụi Đức đã tách họ được. Lu-nin chống cự với hai Mét-séc-mít và Sê-rốp, rất xa, đang mắc với hai cái khác.

        Lu-nin vừa đánh lùi một, thì cái khác đã tấn anh đằng sau. Phải lái cho chặt. Lu-nin lên thẳng, bổ nhào, ngoặt vút sang phải sang trái, lộn cánh. Nhưng chúng không ngừng săn anh, tìm cách đánh vào sườn, đợi anh ra khỏi vòng ngoặt, và không cho anh thoát. Không có hai mươi năm lái máy bay, thì anh không thể tránh nổi những luồng đạn lập loè.

        Tất cả đều quay tít, cái khuôn mờ mờ của mặt trời mùa đông lên lên xuống xuống, khối nhà Xanhl-da-ắc "nhảy cầu" với mũi tên dinh thủy sư Đô đốc; cả thành phố, nhà, phố, cầu và dải rộng sông Nê-va - nhảy vọt lên trời rồi lại tụt xuống vực thẳm. Cái thảm trắng mặt Vịnh cong lên trước khi rơi ụp xuống Lu-nin. Cách khoảng bảy trăm thước, anh thoáng thấy trong một khoảnh khắc máy bay của Sê-rôp vẫn đang mắc với Mét-séc-mít. Rát-sô-khin và Ka-ban-kốp đã biến. Họ không ở đâu xa, nhưng chắc chắn họ cũng mắc, nếu không thì họ đã đến tiếp viện, vả lại anh cũng không rảnh mà quay đầu tìm họ. Nhất định hạ anh cho được, bọn Mét-séc-mít lăn xả vào với một quyết tâm chưa từng thấy.

        Những phút nối tiếp nhau, và Lu-nin bắt đầu thấy mệt nhọc với sự căng thẳng kinh khủng ấy. Anh vừa tránh được một băng thì một băng khác đã rình anh. Anh lộn cánh, lật sấp, xoáy trôn ốc, ngoặt vút, lên thẳng, lia băng trong tầm súng... Một Mét-séc-mít vừa phải tránh ra, thì cái khác đã tức thì ở sau lưng.

        Khi nhìn xuống đất, Lu-nin không thấy thành phố cũng chẳng thấy vịnh, nhưng là một cánh rừng mà bóng đen lẫn những khoảng đã đốm cây màu trắng. Mình ở đâu đấy? Tại sao từ dưới đấy có người bắn lên mình?

        Có phải bọn Mét-séc-mít đã lôi cuôn anh quá Pê-tê-rốp sang bên kia trận tuyến không? Đạn anh gần cạn. Nếu trong hai phút nữa anh không bị hạ thì chỉ còn cách đâm vào chiếc máy bay Đức gần nhất để kết thúc.

        Kiệt sức, anh thoáng thấy máy bay Ka-ban-kốp không biết từ đâu tới, Ka-ban-kốp lao vào cái Mét-séc-mít đang bắn Lu-nin và bắn chúng nó. Phủ khói đen, nó ngoặt đường về phía tây nam. Ka-ban-kốp vụt đuổi nó bay cách Lu-nin mấy thước. Lu-nin trông thây dưới mũ, cái mặt nhỏ cương quyết và kích thích vì trận đánh. Nhưng rồi một băng của địch đã lia vào giữa lưng anh.

        Máy bay Ka-ban-kốp lái tách ra, vừa xuống vừa lượn thành một vòng xoáy trôn ốc mỗi lúc một hẹp dần, mỗi vòng, mặt trời chiếu vào thân máy bay một tia lấp lánh rồi lại mất ngay. Và Ka-ban-kốp biến vào khoảng sâu khủng khiếp đâm xuồng giữa rặng tùng, trong cánh rừng mà quân thù chiếm đóng.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 17631


« Trả lời #51 vào lúc: 15 Tháng Một, 2019, 11:37:22 PM »


V

        Mỗi khi ở nhà tắm về, Sô-ni-a bao giờ cũng tìm cách để ở lại một mình với Ang-tô-ni-a. Không phải lúc nào em cũng đạt được mục đích, vì các cô gái khác cũng cùng ý nghĩ ấy. Nhưng nếu gặp, thì hai người trao đổi với nhau những câu chuyện mà Sô-ni-a không quên được. Thường thì chỉ Sô-ni-a nói. Ang-tô-ni-a chỉ lắng nghe, đặt một vài câu hỏi, thêm đôi ba tiếng. Theo lệ thường, Sô-ni- a chỉ kể cho chị nghe cái gì đã làm em chú ý trong mấy ngày hôm nay.

        Cái chết của ông gác cửa A-bra-ham chẳng hạn... Ông chẻ củi, để bà có cái đốt lò, rồi thay áo chào mọi người, duỗi cái thân dài trên ghế, nhắm mắt lại, và nửa giờ sau, ông chết. Trong sân các bà kể lại như vậy và tỏ ra rất kính cẩn đôi với cái chết nghiễm nhiên ấy. Khi Sô-ni-a vào trong buồng, ông A-bra-ham nằm trên bàn. Bộ mặt đẹp, nghiêm nghị, giống như trong tranh đạo hơn bao giờ hết. Nhỏ xíu, bà vợ goá của ông ngồi trên ghế bên cạnh, vẻ mặt cũng nghiêm nghị như ông. Rất bình tĩnh, bà kể lại cho khách đến thăm những phút cuối cùng của ông, thỉnh thoảng lại quay lại ông nói vài tiếng Tác-ta, cứ như ông còn sống.

        Ang-tô-ni-a hỏi Sô-ni-a xem em có biết hết dân phố và em có hay lại thăm họ không?

        - Trước đây em đi thăm mọi người. - Sô-ni-a trả lời. -  Nhưng bây giờ thì ít. Phải có bánh đem đến cho họ, mà em thì không có. Chảng lẽ đến tay không, hả chị?...

        - Không, em cứ đến. Chảng ai nghĩ là em sẽ đem bánh lại. Em lấy ở đâu được? Vì họ không đứng được nữa, trong khi em còn đi được thì em phải đến thăm họ. Không được để họ có cảm giác là bị bỏ quên...

        Chị nhất quyết là mỗi cô gái của chị phải đến thăm các nhà hàng xóm. Từ ngày sửa soạn hầm, Sô-ni-a đã quen tất cả nhân dân trong dãy phố. Bây giờ, hễ trông thấy người này người nọ trong sân là em tức khắc chạy đi lấy tin.

        Em đi từ cầu thang nọ đến cầu thang kia, từ tầng nọ đến tầng kia. Chăng còn phải giật chuông cửa, vì mọi người cũng thôi khoá cửa, chẳng còn gì mà lo cho của cải. Qua những buồng đằng trước, và những hành lang lạnh ngắt trông vào những buồng trống rỗng không ánh sáng và có những tiếng vọng thê thảm, Sô-ni-a tìm đến cái xó tít đằng xa nơi sự sống còn duy trì. Khuyết đi đã nhiều người, nay họ thành thói quen ở tập trung trong một buồng hay trong bếp để chỉ phải đốt nóng một buồng. Sô-ni-a gặp họ đủ mặt dưới ánh sáng ngọn bấc dìm trong cái hộp thịt cũ. Họ đang lấy những mảnh đồ gỗ vụn hay là ván sàn để nuôi lửa, cái lò quỷ quái bao nhiêu ngôn cũng hết. Ống lò ngoắt cánh khuỷu tuồn ra ngoài cửa sổ con.

        Những người còn đứng được vững như Sô-ni-a khi mà chân còn bước được, vẫn tiếp tục làm việc trong các nhà máy sửa chữa xe tăng và ca-mi-ông, hoặc chế tạo đạn dược bằng số than củi dự trữ cuối cùng. Trong mỗi nhà đều có những người không đứng dậy được nữa. Tuy trong tình trạng ấy, nhưng họ vẫn cười khi nghe được câu chuyện vui, vẫn khóc những người của họ đã chết, vui mừng với mỗi lá thư ở mặt trận về, chia nhau từng mẩu ruột bánh làm thức ăn nuôi thân, đọc báo, tranh luận, suy nghĩ. Ở ngay sát ranh giới của thẩn chết, cuộc sống của họ đã không nghèo nàn. Họ sung sướng khi trông thấy Sô-ni-a, khi mà họ không còn đi đến nhà bạn hữu được nữa, và nằm 24 trên 24 tiếng, họ chỉ còn nói chuyện lẫn với nhau. Sô-ni-a đọc thư cho họ, nghe họ kể chuyện nằm mơ, xem ảnh, và cô giúp đỡ họ với hết sức em.

        Tuy vậy không phải là em không còn phải lo đến Sla-va và ông... Ông, phải,... mê mẩn trong việc sửa chữa nhà tắm, em chỉ thỉnh thoảng gặp ông và không còn đủ thì giờ chăm lo cho ông nữa. Em tự trách mình. Dạo này ông thay đổi quá, -  sao ít chuyện trò thế, mà ngủ liên miên... nhưng ông vẫn cứ đi thư viện. Ngộ xảy ra cái gì ở dọc đường thì sao? Không thể để ông đi một mình được. Em sẽ đi theo ông. Ngày mai, dẫn ông và Sla-va đến nhà tắm kể cũng hay.

        Nhà tắm đã gần có thể nhận được khách. Trong hai phòng, nhiệt độ lên tới 15 độ, và các vòi nước cung cấp nước tuy không sôi hẳn, tất nhiên, nhưng cũng là nước nóng. Ra-đi-ô nheo nhéo khắp nơi: chị phụ trách lắp loa phóng thanh khắp các xó. Ngày mở cửa ấn định vào hôm sau. Ang-tô-ni-a đề nghị: các chị nào đã tham gia vào việc sửa chữa chiếc nhà tắm, thì được tắm trước tiên, coi như là một phần thưởng.

        Ang-tô-ni-a, chị phụ trách và các cô gái cởi áo ngay trong phòng - vì buồng thay quần áo còn lạnh lắm. Riêng bà đốt lửa vắng mặt: bà không chịu rời những nồi súp-de của bà. Các chị đều vui sướng vì đã thành công, vì thấy hơi ấm, bể tắm sạch, và thấy nước. Nhưng rộn rịp tắt hẳn sau khi họ bỏ quần áo. Gầy còm đến thảm hại. Các cô gái và chị phụ trách như những bộ xương. Và thân thể chị Ang-tô-ni-a cũng sưng húp lên như bộ mặt bà đốt lửa. Họ im lặng và quay mặt đi.

        Tuy nhiên, họ cũng thấy khoan khoái khi tắm rửa trong một căn nhà tắm tự tay mình đã gây dựng lại. cảm giác ấm, sạch, và chiến thắng choán ngập hết. Khi đã phủ quần áo lên thân hình gầy gò, thì họ lại vui vẻ. Sáng hôm sau nhà tắm mở cửa; họ tranh cãi về những biện pháp cần thi hành để tránh phải sắp hàng lâu quá và để phân phối thật đúng vé tắm trong các nhà máy và khu phố.

        Họ mặc áo gần xong thì âm nhạc ở loa phóng thanh truyền ra bỗng im bặt. Họ im lặng, lắng tai nghe: lại báo động, chắc thế? Nhưng tiếng đồng chí phát thanh cao giọng: một thông báo đặc biệt.

        Và thế là họ được tin cuộc thất bại của bọn Đức ở Mát- scơ-va, kinh thành đã giải thoát và kẻ thù đang rút lui.

        Hơi thở ngừng lại, họ nghe những tên thị trấn ngoại thành được giải phóng, những tên thân yêu biết bao đối với tai người Nga. Rồi đến thông kê các sư đoàn Đức bị tiêu diệt. Rồi đến các con số: bao nhiêu là tăng, máy bay, ca-mi-ông. Và sau cùng, cái kết luận rất gọn: "Cuộc phản công tiếp tục".

        Chị phụ trách nhảy vào cổ Ang-tô-ni-a Trô-phi-mô-ra và hôn chị trên môi. Các cô gái ôm chặt lấy nhau chạm đôi má ướt nước mắt... Mát-scơ-va giải thoát! Những giọt lệ vui sướng long lanh trên khoé mắt. Họ nôn nao lên: phải về nhà cấp tốc, tìm người thân để chia sẻ hạnh phúc này.

        Ông đã nghe thấy chưa? Và Sla-va? Sô-ni-a nhớ lại khi em ra đi thì ra-đi-ô không mở. Ông chắc lại ngủ. Phải đánh thức ông dậy ngay, kể cho ông nghe... Tóc còn ướt, nhưng Sô-ni-a không thể đợi được nữa. Em quàng cái măng-tô, trùm khăn, và quàng chân lên cổ mà chạy.

        Cái ngày mùa đông ngắn ngủi đã sắp tàn khi em leo bốn bực thang một và mở cửa... Tất nhiên rồi! Ra-đi-ô im bặt, và Sla-va không có nhà.

        - Óng ơi! Có tin.

        Ớ nhà bếp, cái gì cũng vẫn thứ tự. Ông ngồi trong ghế bành, bộ mặt bình tĩnh thành một chấm trắng mơ hồ trong bóng tôi. Nhưng Số-ni-a hiểu ngay lập tức.

        - Ông ơi!

        Ông không động.

        Em nhẩy xổ đến cầm lấy tay ông. Tay cứng đờ, lạnh ngắt. Không rời tay ông, em oà lên khóc nức nở và ngồi xuống sàn...
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 17631


« Trả lời #52 vào lúc: 16 Tháng Một, 2019, 11:51:35 PM »


VI

        Từ khi được tin chiến thắng Mát-scơ-va, ở Lê-nin-grát một ánh sáng mới chiếu các bộ mặt. Tuy ở đây chẳng có gì thay đổi; cái thòng lọng vẫn không mở thêm được ít nào, đói vẫn chưa bớt. Nhưng một sự việc đã hiển nhiên: là trong mấy ngày số người chết giảm đi.

        Ở chỉ huy sở của Rát-số-khin, cũng cái ánh sáng đó rạng rỡ trên mặt các phi công.

        Họ chỉ còn ba người.

        Bỏ nhà ngủ, họ sống trong hầm, không muốn rời nhau, đêm cũng như ngày, vả lại, cần gì? Dù nhỏ thì chỉ huy sở cũng chứa được hết quân số bay. Họ cũng chẳng đến cả nhà ăn nữa. Hin-đa đem cơm lại cho họ, trong cái cà-mèn. Bữa cơm mỗi ngày một gầy guộc. Mặt họ sắt lại trong cuộc chiến đấu với bọn Mét-séc-mít; những miếng da thừa đen sạm lùng thùng ở má và mũi. Rát-sô-khin thì phải đặc biệt chịu đựng, và những vết đen đó làm cái mặt rộng gồ ghề với đôi mày màu nâu, càng thêm dữ dội.

        Mỗi tối, sau một ngày băn khoăn chờ đợi, họ nghe ra-đi-ô những tên thành phố, tên làng được giải phóng: Rát-gát-sốp, I-a-crô-ma, Son-nét-nô-goóc... Trước kia, Son-nét-nô-goóc gọi là gì nhỉ? Trước kia, liệu cái thành phố đó đã có chưa? I- stra, Vê-nép, Sta-li-nô-goóc, Mi-khai-lô, E-pi-phan. Rồi đến Vec-khô-vi-ê, Đup-nô gần Tu-la, rồi Kơ-lanh - trên đường xe lửa Mát-scơ-va Lê-nin-grát, I-a-snai Pô-li-a-na - quê hương nhà văn hào Lép Tôn-stôi... Ki-li-nin - sinh quán của Kô-li-a Sê-rôp hay cũng gần như thế, vì anh ta đẻ trong một cái làng cách đó quãng hai mươi cây số và học Trung học ở Ka-li- nin... ở đấy có thân thích của anh không? Không, chẳng có ai, chỉ có bạn hữu... Những thông báo đó làm cho họ thấy cái chiều sâu của sự tiến quân của bọn Đức. Rồi sau ra sao? Cốt là đánh bại được chúng, còn kệ chúng tha hồ tiến sâu! Chúng đại bại ở Mát-scơ-va! Nhưng ở Lê-nin-grát yên lặng quá. Chẳng nhúc nhích một tí nào. Liệu rồi có sắp sửa không?

        Sự việc duy nhất của những ngày gần đây ở phi đội là Sê-rốp nhận được một lá thư. Người ta đem nó tới chỉ huy sở và chính Lu-nin cầm lấy đầu tiên. Thật là cái bì thư từ trước chiến tranh, trên đó tên Sê-rốp được viết bằng một nét chữ xinh xắn, chắc là chữ đàn bà. "Của cô ta đây" Lu-nin  nghĩ, và tưởng đến cái vui của bạn, mặt anh cũng nóng bừng vì sung sướng. Khi Sê-rốp run run xé bì thư thì Rát- sô-khin, từ xó anh ngồi, nhìn chăm chăm y như nhìn cái gioong-ke vậy.

        - Không, không phải của cô ta, - Sê-rốp nói nhanh. - Không phải chữ cô ta.

        Trong ánh đèn yếu ớt, cũng thấy anh tái đi. Anh đọc cái thư ngắn đến cùng rồi lại đọc lại một lần nữa, rồi đọc lần thứ ba, như không hiểu.

        - Thế sao? - Cuối cùng Rát-số-khin hỏi.

        - Thư bà giám đốc của cô ta. - Sê-rôp nói và chìa tờ giấy.

        Đó là trả lời cái thư mà Ka-ban-kốp đã bắt anh gửi cho nhà trường - một bức thư trả lời kiểu công văn có tiêu đề, trong đó báo là đồng chí giáo sư Nga văn mà anh hỏi tin tức thì không đi với trường lúc trường dọn, và hiện nay thì địa chỉ đồng chí ấy không biết ở đâu.

        Sê-rốp không đả động gì đến bức thư nữa. Rát-sô-khin và Lu-nin cũng vậy. Và cuộc sống lại như cũ. Tuy nhiên, vài ngày sau, ngồi một mình với Sê-rốp, Lu-nin hỏi:

        - Đồng chí đã viết?

        - Viết đi đâu?

        Thấp giọng, tiếp thêm như nói thầm:

        - Để làm gì nữa?

        - Sao vậy?

        - Để làm gì, vì cô ta đã nhờ bà láng giềng báo là cô ta đi rồi, khi mà trường còn ở Lê-nin-grát.

        Sê-rốp có lý lắm... Lu-nin tự nhủ nếu còn Ka-ban-kôp thì chắc anh còn bắt Sê-rốp viết nữa. Và, nhìn mắt Sê-rôp, Lu-nin hiểu rằng anh cũng đang nghĩ đến Ka-ban-kổp.

        Mọi cái đều gợi đến Ka-ban-kốp. Vết thương còn nóng hổi, và họ không thể tưởng tượng là anh không còn nữa. Họ luôn nhớ đến những câu đùa của anh, dáng điệu anh, và tiếng nói của anh còn vẳng bên tai họ. Trong tưởng tượng họ như vẫn trò chuyện với anh, hỏi ý kiến anh, kể lể nỗi lòng với anh. Sê-rốp còn không tin là anh đã chết: Ka- ban-kốp còn lang thang đâu đây ở hậu địch; chắc chắn một ngày nào đó anh sẽ vượt trận tuyến về chỉ huy sở. Lu-nin không phủ nhận ý nghĩ đó, nhưng cũng không tin lắm.

        Mỗi ngày, họ cất cánh bộ ba, tìm kiếm đến cùng bọn Lốp-táp. Họ muốn bay chiến đấu, nhưng bầu trời vắng tanh, tất cả máy bay địch đã dồn về phía Mát-scơ-va nơi bộ tư lệnh của Hít-le đang cố chết cố sông ngăn lại cuộc phản công. Ở Lê-nin-grát chắc kẻ thù không muốn tiêu phí ét-xăng, tiêu phí phi công, tiêu phí máy bay vô ích. Ở phi dội, những ngày ngắn ngủi xám xịt tiếp theo những đêm dài vô tận. Chẳng có gì xảy ra.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 17631


« Trả lời #53 vào lúc: 17 Tháng Một, 2019, 11:58:43 PM »


*

*        *

        Tuy vậy, những sự việc đang sửa soạn trong bóng tối. Ai nấy đều cảm thấy nó đến gần với một hy vọng băn khoăn, cố tìm kiếm một dấu hiệu nhỏ của những thay đổi tất nhiên và chưa rõ ấy.

        Thoạt đầu là những tiếng điện thoại từ trung đoàn và sư đoàn gọi xuống muốn biết hiện trạng đúng về các phương tiện vận tải của phi đội. Rồi một đồng chí thợ máy của phi dội 3 đóng ở Cơ-rông-stát đi ngang qua vào thăm. Cóng tê vì cuộc hành trình trong khoang ca-mi-ông qua eo biển đóng băng, anh uống nước chè nóng ở chỉ huy sở cho ấm người lại. Suốt dọc đường, từ Cơ-rông-stát đến dải Lưỡi cáo, pháo Đức không ngừng bắn xả vào ca-mi-ông của anh; anh bị kích thích vì cảm xúc và đang muốn nói. Nghe chuyện anh, đoán được là phi đội 3 sắp rời Cơ-rông-Stát, và người ta gọi anh về sư đoàn về những vấn đề cung cấp liên quan với cuộc rời đi ấy.

        - Về quân số bay, các đồng chí chỉ còn ba thôi à? - Anh hỏi lần lượt nhìn Rát-sô-khin, Sê-rốp và Lu-nin. - Bên tôi, còn bốn người, nhưng chỉ còn ba máy bay.

        Vài ngày sau, giữa hai trận bão tuyết thì đồng chí Prốt- cua-ri-a-kốp chỉ huy trưởng trung đoàn đến thăm. Một hộ pháp mặt rộng, mắt xanh, răng rất trắng và giọng nói ồm ồm. Đồng chí thiếu tá đến bằng khu trục, một I-16 của phi dội 1 đi hộ tống. Trước chiến tranh, anh đã nổi tiếng, vì đã thử lửa ở Khan-khin-gôn, và được tặng huân chương ở đó. Lu-nin chưa trông thấy anh lần nào. Hầm chỉ huy sở trở nên bé nhỏ quá khi Prốt-cua-ri-a-kốp cúi đầu bước vào, và các sĩ quan đứng nghiêm phải dán mình vào tường.

        Đồng chí nghe Rát-sô-khin giới thiệu phi đội, dang đôi tay kếch sù và ôm hôn anh đẫy tay, rồi bắt tay Lu-nin vẻ kính trọng rõ rệt, cái bắt tay gớm ghiếc quá làm Lu-nin dù bàn tay đã lớn mà cũng đau gần muốn nhăn mật. Rồi, theo sau là Rát-sô-khin, anh đi kiểm tra máy móc, Lu-nin và Sê-rốp ở lại trong hầm.

        Trở về, sau chừng bốn mươi phút, Rát-sô-khin mặc vội quần áo, mặc tất cả những gì ấm nhất. Lu-nin hỏi:

        - Đồng chí trung đoàn trưởng ở đâu?

        - Đồng chí đợi tôi ở ca-mi-ông. Chúng tôi lên sư đoàn. Đêm tôi về.

        Sau khi nhìn xem có chắc chắn rằng chỉ có Lu-nin và Sê-rốp trong hầm, anh thêm khẽ:

        - Trung đoàn di chuyển đến địa điểm mới.

        - Bao giờ đi?

        - Sắp.

        - Chúng ta cũng đi chứ?

        - Tất nhiên.

        - Đi đâu?

        - Tôi không rõ.

        - Đồng chí Prốt-cua-ri-a-kôp biết chứ?

        - Có thể.

        Còn lại hai người, Lu-nin và Sê-rốp đoán già đoán non. Đi đâu? Chắc xa. về hậu phương để nhận tiếp viện phi công và máy bay chăng? Không chắc. Phi công và máy bay có thể gửi đến đây. Mặt trận khác ư?

        Họ thấy là họ không muốn đi. Chưa làm được gì ở đây cả. Thành phố vẫn bị vây, chưa trông thấy đoạn cuối của cuộc phong toả. Ở đây họ đã chiến đấu cạnh Ka-ban-kốp, Sê-pen-kin, Bê-sây-tốp. Bỏ Lê-nin-grát mà đi thì đáng xấu hổ.

        Sáng, Rát-sô-khin trở vế với Prốt-cua-ri-a-kốp. Đồng chí Prôt lại cất cánh bay. Tuy thức suốt đêm ở sư đoàn, Rát-sô-khin vừa phấn khởi vừa lo việc. Lu-nin và Sê-rốp không hề bao giờ hỏi anh về những lệnh đã nhận được. Nhưng tự anh báo cho họ biết:

        - Sắp rồi!

        - Bao giờ? - Sê-rốp hỏi.

        - Đợi lệnh. Phải chuẩn bị. Nhân viên dưới đất đi trước. Chúng mình theo sau bằng máy bay.

        - Xa không?

        - Không xa lắm. Chúng mình là không quân thuộc Hải quân, không bao giờ xa Hạm đội quá.

        Họ thở ra. Sao không nghĩ đến cái ấy từ trước nhỉ? Hạm đội ở Lê-nin-grát, thì họ không thể xa thành phố được. Rát-sô-khin nói:

        - Ở đây hiện nay thì yên tĩnh. Chẳng có gì làm. Có những khu vực quan trọng hơn.

        Anh cau mày dáng có ý nghĩa, cúi xuống và nói thêm trong một hơi thoảng:

        - Con đường.

        Lu-nin hiểu ngay lập tức và reo lên:

        - Vậy là có một con đường?

        Rát-sô-khin gật.

        - Qua hồ La-đô-ga?

        Rát-sô-khin lại gật và nói thêm, một tia chớp đắc thắng trong khoé mắt:

        - Tôi vẫn biết từ trước là sẽ có một con đường.

        Ở phi đội, tiếng đồn đã mấy ngày nay là người ta làm trên băng hồ La-đô-ga, một con đường nối Lê-nin-grát với hậu phương. Lu-nin không biết có nên tin không nhưng nếu thật có con đường đó, thì dù khả năng đi lại được bao nhiêu, cái mộng cuối cùng của bọn Đức cũng tan vỡ. Tuy vậy anh không tưởng tượng được ra con đường: làm sao làm được đường trên cái hồ mà hầu hết các bờ đã ở trong tay quân Đức và quân Phần Lan? Làm thế nào bảo vệ được cái dải hẹp, dài, trông, lại ở trên băng mà trên đó thì không thể dựng được bất cứ một công sự nào. Rát-sô-khin nói:

        - Chúng ta phải có trách nhiệm báo vệ con đường ấy.

        Anh không nói được gì hơn, vì cũng không hiểu gì hơn và đã mắc hết tâm trí vào cái khối việc rất bận rộn là chuẩn bị cho nhân viên chuyên môn và máy móc lên ca-mi-ông.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 17631


« Trả lời #54 vào lúc: 18 Tháng Một, 2019, 11:25:38 PM »


*

*       *

        Vấn đề không đến nỗi rắc rối lắm nếu không đẻ ra ngay cái chuyện mà Rát-sô-khin có vẻ rất lo ngại: về Hin-đa thì làm thế nào?

        Cũng như nhân viên khác ở nhà ăn, Hin-đa phụ thuộc vào nhân số trường bay và phải ở lại tại chỗ. Nhưng khác cái là cô từ Ét-tô-ni về với phi đội, và cô nói với Rát-sô- khin là cô không muốn rời phi đội. Một hôm, cô còn oà lên khóc nức nở khi đem cơm đến chỉ huy số và tất tả chạy trốn, lấy tay che mặt. Rát-sô-khin quyết định đem cô đi bằng được. Anh nói:

        - Không thể bỏ đồng chí ấy được. Chúng ta đều quen đồng chí ấy rồi. - Đó là câu nói của đồng chí Ka-ban-kốp. -  Đồng chí ấy biết hết chúng ta... Đồng chí ấy còn nhớ cả đồng chí Ku-lê-sốp...

        Thoạt đầu anh tưởng là cũng chẳng khó. Nhưng anh lầm. Chẳng ai muốn giữ Hin-đa ở lại trường bay, chẳng ai phản đối việc cô đi, nhưng nguyên tắc nó chọc gậy vào bánh xe. Phụ thuộc nhân số trường bay, Hin-đa không thể phụ thuộc vào phi đội. Trở ngại càng khó vượt thì Rát-sô- khin càng hăm hở tìm cách vượt.

        Mặt đỏ gay - cái đó càng làm nổi bật thêm những chấm hung hung và những miếng da thừa đen sạm anh gọi điện thoại về trung đoàn, vể sư đoàn, về bộ tham mưu hải không quân và về sở quản lý các trường bay. Người ta sẵn lòng nghe anh, chỉ cho anh chỗ tìm hỏi, nhưng chẳng ai muốn vơ lấy cái trách nhiệm giải quyết vấn đề.

        Buổi tối, anh nói rõ cho Lu-nin và Sê-rốp nghe là đem Hin-đa đi thì được bao nhiêu việc cho mọi người. Bên kia hồ La-đô-ga, đồng chí ấy sẽ không phải kể vào trong số nhân dân của Lê-nin-grát bị bao vây. Như vậy là bớt một miệng phải lo nuôi. Thế vào chân đồng chí đó, sẽ lấy một phụ nữ trong thành phố và chị ta được một khẩu phần nhà binh thì sẽ được ăn vào lúc đói. Cái lý luận ấy giúp anh tự chứng minh là việc anh làm rất phải. Lu-nin và Sê-rốp tán thành: họ thấy rõ ràng là sự việc choán tâm trí anh, và cả họ nữa cũng ràng buộc với cô em gái. Sau rốt Rát-sê-khin lên sư đoàn để "thu xếp", nhưng chẳng thu xếp được gì, và không nói đến chuyện đi của Hin-đa nữa, như là trong bụng anh đã có quyết định rồi.

        Ban tham mưu trung đoàn và phi đội 1 đã ở trên hồ La- gô-đa. Rồi phi đội 3 - đóng ở Cơ-rông-stát - đi theo sau. Cuối cùng, lệnh đến cho phi đội 2 di chuyển.

        Tuyết khô lốc trên bãi khi nhàn viên chuyên môn ra đi bằng ba ca-mi-ông. Xe đậu một lát trước chỉ huy sở. Lu-nin  ra chào anh em, mặc áo lông da, đội mũ lông đen quàng kín tai dây mũ thắt dưới cầm, thủy thủ và thợ máy ai cũng giống ai, và Lu-nin chỉ hơi nhận được mặt họ trong đêm tối. Gần cái ca-mi-ông cuối cùng, Rát-sô-khin đỡ một cái bóng đen nhỏ trèo lên khoang xe. Té ra Hin-đa, mặc áo ca-pốt hải quân, một cái rương nhỏ ở tay. Rát-sô-khin bắt cóc cô đi!

        Cô đã ở trong khoang xe thì bỗng Rát-sô-khin kêu lên:

        - Sao đồng chí không mặc áo da lông? Đồng chí không có à? Thế thì đồng chí chết rét mất!

        - Không đâu, đồng chí đại uý đừng lo.

        - Một phút! - Rát-sô-khin gọi người lái xe đã ấn vào nút mở máy.

        Lộc sộc đôi ủng, anh tụt thang nhà hầm và một giây sau trở lên với cái áo da lông mà anh vẫn mặc khi lên sư đoàn. Anh đợi cho Hin-đa phải trùm kín quá đầu mới ra hiệu tay và ra lệnh:

        - Lên đường!

        Sáng hôm sau các phi công sẽ đi. Nhưng một trận bão tuyết ngăn trở, rồi cả hôm sau nữa. Đêm sau, hàn thử biểu xuống, trời sáng ra, và đến sáng thì lấp ló mặt trời.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 17631


« Trả lời #55 vào lúc: 19 Tháng Một, 2019, 11:39:05 PM »


VII

        Gió mạnh muốn đứt cả hơi, lùa tuyết bạc quay lốc trên mặt đất, Lu-nin cất cánh sau Rát-sô-khin. Lần cuối cùng, anh nhìn từng ngọn tùng quen thuộc. Đằng sau kia là vịnh mầu trắng loá. Họ quay lưng vào vịnh và hướng mũi về Đông. Rát-sô-khin bay đầu, theo sau là Lu-nin và Sê-rốp.

        Trước hết phải vượt qua bốn mươi cây số của eo Ca-rê- li. Trong màn sương tái nhợt, rừng thấp thoáng qua cơn bão tuyết ở mặt đất. Dưới đó tuyết cuộn bốc ngoằn ngoèo quá ngọn cây. Bên phải, về phía nam, chỉ hơi nhận được sông Nê-va trong lớp sóng trắng lồng lộn trên mặt sông. Bên kia sông là bọn Đức. Gió thổi các bông tuyết rất cao, đến cả ở trên bảy trăm thước cũng thấy tuyết óng ánh. Nhưng Rát-sô-khin muốn bay khá thấp để không mất mục tiêu trong cái hành lang chật hẹp và quen thuộc ấy. Gió lạnh cuốn từng mảng mảy mù lẫn lộn, mà mặt trời chiếu thành những chấm vàng mờ: về phía đông nam, mặt trời thấp tận chân trời chiếu sáng loé mắt.

        Phía nam sông Nê-va, vẽ thành một cái khuỷu rộng và biến mất, để rồi lại hiện ra nơi xa xa. Đằng sau những rặng cây nhấp nhô bao phủ dưới một màn bụi mầu bạc là khoảng trắng bao la vô tận.

        Chính chỗ sông Nê-va ra khỏi hồ La-đô-ga, Lu-nin thấv một hòn đao nhỏ, và trên đảo một khối không ra hình thù gì, như chồng đá dưới tuyết. Chắc đây là pháo đài nổi tiếng Sơ-luýt-sen-bua đã từng chắn lối vào sông và nằm dưới lưới đạn của đại bác Đức suốt từ tháng tám. Anh muốn nhìn gần hơn chút nữa, nhưng Rát-sô-khin bỗng lái về bắc, rời sông Nê-va để men theo bờ hồ. Họ bay như vậy đến mãi cái mũi đất có cây che nơi sừng sững một tháp cao mầu đỏ, như ngón tay chỏ nhô ra khỏi mặt tuyết quay lốc: đèn pha Ot-si-nô-vét. Bay qua tháp, họ lộn lại phía đông, cốt ngang qua hồ.

        Từng cuộn tuyết chạy, và bốc khói trên mặt hồ. Ở đấy, gió còn thổi mãnh liệt hơn nữa. Bờ hồ thấp đã biến, và nhìn đâu cũng chỉ thấy băng và lốc. Lu-nin tìm con đường. Và đột nhiên, anh nhìn thấy...

        Một dãy ca-mi-ông tiến chậm trên băng, từ đông sang tây, về Lê-nin-grát. Ca-mi-ông như bốc khói; từng cột khói thỉnh thoảng lại trùm lên chúng, che lấp mắt. Quan sát kỹ, Lu-nin thấy chúng tiến theo một hàng cọc tiêu như nhảy múa trong gió. Đấy, con đường duy nhất nối liền thành phố với hậu phương. Xe cộ nhiều. Một phút sau, anh thấy một dãy ca-mi-ông thứ hai hướng về đông. Từ trên cao, không biết là nó động đậy hay bị sa lầy trong tuyết.

        Anh không rảnh mà nhìn được lâu: với linh tính nhà nghề anh ngẩng đầu lên, thì thấy quãng năm trăm thước trên cao hai Mét-séc-mít. Rát-sô-khin cũng đang nhìn chúng: thấy mũ anh động đậy thì biết. Tụi Mét-séc-mít bay trên đường, và khó đoán được ý muốn của chúng. Vả lại không phải lúc giao chiến, phi đội sẽ mất một thời gian quý báu và hết mất ét-xăng. Lu-nin nhẹ người khi thấy khu trục dịch chĩa về nam và biến trong khoảng không.

        Trên băng, hai bên dường, anh thấy những thủy thủ mặc áo da lông, chắc là bộ phận bảo vệ. Họ làm thế nào mà đứng vững được suốt ngày đêm trong tuyết, phơi gió phơi lạnh không một chút gì che, cũng không thể đào hầm mà ở? Vài người lấy tay chào máy bay và Lu-nin muốn nhìn họ gần tí nữa. Nhưng không thể được: mỗi lúc tầm mắt lại bị hạn chế. Mặt trời chỉ còn là một cái vòng rộng, đục. Da trời tái đi. Hơi sương che mỗi lúc một dày. Đến cái máy bay của Rát-sô-khin có khi chỉ vào trăm thước đằng trước mà cũng biến vào sương mù. Lu-nin luôn ngoái cổ để dò trời. Có lúc anh tưởng như lại thấy bọn Mét-séc-mít, bay trên. Có lẽ là một ảo ảnh. Nhung anh vẫn lo bị chúng rình.

        Bay ra xa đường: Rát-sô-khin bây giờ dẫn họ hơi về phía bắc một chút. Dưới, chỉ thấy băng và những cuộn tuyết lướt trên đó. Chỉ còn vài phút bay thì đến bờ trước mặt mà nếu trời quang hơn thì đã nhìn thấy bờ. Nhưng Lu-nin chỉ thấy tuyết lốc trên mặt đất và vòng mặt trời hung hung trên cao, máy bay Sê-rốp đằng sau và máy bay Rát-sô-khin đằng trước.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 17631


« Trả lời #56 vào lúc: 21 Tháng Một, 2019, 12:16:29 AM »


        Bốn vệt thon dài bỗng lừ lừ đàng trước: bọn Mét-séc- mít. Chúng tiến lại với đội hình chiến đấu, với ý định rõ rệt là chặn dường không cho ba chiếc máy bay Xô Viết đến bờ phía đông.

        Chúng chỉ còn cách 1000 thước, cần quyết định tức khắc, không còn đủ ét-xăng để lái tránh chúng. Rát-sô- khin xông thẳng.

        Họ gần chạm trán. Tất cả là do ý chí quyết thắng, lòng tự tin, kỹ thuật lái và bắn chính xác.

        Đến giây thứ 30, bị Rát-sô-khin hạ, một Mét-séc-mít rụng xuống băng, và cái luồng khói đen của nó quyện vào những cuộn tuyết trắng.

        Cái Mét-séc-mít thứ hai nhào nghiêng, gượng lên được khi sắp đụng vào băng, và lảo đảo chuồn về phía nam. Còn lại hai cái lên thẳng về phía mặt trời và biến trong những đám mây màu hung.

        Đường đã mở.

        Lúc đó, Lu-nin nhận thấy máy bay Rát-sô-khin lảo đảo một cách kỳ lạ và chúc xuống đất.

        Anh mồt chiều cao một cách mau lẹ, chìm vào trong bụi tuyết mờ. Máy của Rát-sô-khin không chạy nữ "Một Mét-séc-mít đã bắn trúng anh? Lu-nin nghĩ thầm. Cốt sao Rát-sô-khin không bị thương, và hạ được cánh!".

        Máy tắt mà hạ cánh trên băng không phải là an toàn với cái gió này. Giữa lốc tuyết, máy bay đụng đất, vọt nhảy rất cao, lại đụng đất, chạy một ít và đứng lại, nghiêng hẳn đi.

        Nếu Rát-sô-khin xuống máy bay để ra xem máy thì Lu-nin không đến nỗi quá lo. Nhưng Rát-sô-khin không nhúc nhích khỏi khoang. Lu-nin và Sê-rốp bay đi bay lại không ngừng trên chỗ rơi, trông thấy rõ cái đầu im phắc dưới mũ, và cái im phác ấy làm họ hoảng. "Anh làm sao? - Lu-nin tự hỏi. Chắc anh còn sống. Nếu không thì không thể hạ cánh được".

        Để nhìn rõ hơn, Lu-nin mỗi lúc xuống một thấp, lao vào trong tuyết lốc. Có một lúc, đại uý ngẩng đầu, rồi giơ tay, nhìn Lu-nin và vẫy.

        Cử chỉ đó chỉ có nghĩa là cứ tiếp tục bay đi. Đó là cái lệnh, nhưng thi hành cái lệnh đó vượt quá sức của họ. Khộng thể bỏ đồng chí ở chỗ này, không có gì cứu, không biết cả đồng chí làm sao? Lu-nin lượn một vòng rộng. Khi anh lượn một vòng nữa để bay ngay trên đầu đại uý, anh thấy đồng chí ra khỏi máy bay, đi hai ba bước vể phía nam - con đường cách đó mấy cây số - ngã vật xuống tuyết rồi bắt đầu bò.

        Chắc là Rát-sô-khin bị thương. Không thể bò mà đến nơi được. Bỏ đồng chí ở đây thì đồng chí sẽ bị Mét-séc-mít bán hoặc nửa giờ nữa cùng sẽ chết cóng với 22 độ dưới không này. Phải quyết định tức khắc. Là là trên băng, Lu-nin  tìm chỗ hạ cánh.

        Anh hiểu tại sao máy bay của Rát-sô-khin khi hạ cánh đã nhảy vọt lên thế: vì ở dây chỉ là sự xếp đống của những tảng băng nhỏ đứng dựng lên như chướng ngại vật chống xe tăng. Thử hạ cánh vào đấy với cái gió này thì chắc chắn là máy bay sẽ bửa đôi. Lu-nin mãi mới tìm được một góc hơi phăng cách Rát-sô-khin chừng hai trăm thước, và hạ cánh được sao hay vậy.

        Trên sông, Sê-rốp liệng vòng dể bảo vệ họ. Sau khi hướng cái I-16 cho gió khỏi xô đẩy, Lu-nin nhảy xuống. Một cục tuyết khô quất vào mặt anh. Máy bay của Rát-sô-khin thành một chấm đen giữa cái luồng gió lốc. Lu-nin chạy lại.

        Rát-sô-khin đã cách máy bay của anh ta đến ba mươi bước và vẫn cố bờ về phía nam. Lu-nin kêu lên, gọi anh, nhưng Rát-sô-khin không quay đầu lại: với cái gió này thì anh nghe thấy sao được? Và bỗng nhiên, anh ngẩng đầu, rõ ràng là tìm cách đứng dậy.

        Thoạt đầu anh chống một đầu gối. Rồi, im lặng hồi lâu, anh chống hai tay xuống băng và đứng thẳng dậy.

        Anh đứng một phút giữa đám lốc tuyết, cái bóng rộng và mờ mờ, chân dạng ra một cách kỳ lạ. Rồi anh giơ hai nắm tay như để đe ai và ngã vật xuống.

        Khi Lu-nin đến nơi thì anh đã chết, nằm trên tuyết đỏ những máu, mắt ngửng lên trời. Một viên đạn đã xuyên qua ngực anh. Hai bàn tay lớn của anh vẫn nắm chặt. Lu-nin  bế anh đến cái máy bay mà xung quanh băng dã bắt đầu đóng, trùm cái dù lên người, và đặt anh dưới một cánh.

        Rồi Lu-nin cất cánh. Sê-rốp theo sau. Một phút sau, một bờ thấp lướt trên cánh. Lại đến cánh rừng trong tuyết mù. Lu-nin tìm mục tiêu không khó lắm: một quãng rừng đốn cây có trồng cột xung quanh. Anh bay thấp theo đó. Anh muốn bay mãi mãi để không phải nói, không phải thuật lại... Nhưng bãi rừng đôn cây dẫn đến một làng, đến một quả đồi trọc màu trắng và đến một cánh đồng trên đó có chữ T hạ cánh.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM