Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 22 Tháng Một, 2019, 05:27:08 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bức thư giải oan  (Đọc 2464 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 17631


« Trả lời #10 vào lúc: 24 Tháng Mười Một, 2018, 12:22:53 AM »


*

        Sau ngày đi thi đại học trở về, Hoành hoàn toàn tự do ăn ngủ, đọc sách. Đến lúc này anh mới thấy mình khao khát được yêu hơn bao giờ hết. Anh mong muốn được gặp Giang để biểu hiện một tình yêu không vụng trộm, trẻ con, sợ thầy cô biết. Anh mong giấy báo nhập học của Bộ Đại học và mong Giang đến chơi. Anh thực sự yêu Giang. Những ý nghĩ đó anh chưa nói thành lời với Giang vì không hiểu Giang có yêu mình hay không.

        Rồi một chiều thu, bác đưa thư chuyển cho anh giấy báo vào tập trung tại Đại học Ngoại ngữ để đi học nước ngoài. Giấy báo của Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp là cái giấy chứng nhận sự cố gắng hơn mười năm học của anh. Đối với Giang, anh cho đó là động cơ thúc đẩy cho tình yêu.

        Tối đó, anh đến tìm Giang báo tin. Hai người sóng vai nhau bước đi trên đường Thanh Niên. Gió trên hồ cứ như đùa bỡn làm bay làn tóc cô gái chưa đầy hai mươi tuổi.

        - Giang có yêu Hoành không?

        Giang lắc đầu:

        - Em chưa thể.

        Sau một tuần tập trung ở trường Đại học Ngoại ngữ trở về, tối thứ bảy, Hoành lại đến tìm Giang. Lần này Giang không chịu đi ra khỏi nhà.

        - Chỉ còn một tuần nữa mình đi học xa rồi, Giang trả lời mình đi.

        - Cứ từ từ đã. Trước lúc anh lên đường một ngày, Giang sẽ nói.

        Hoành buồn buồn nói:

        - Thôi được. Tối thứ bảy, ngày mười sáu tới nhé.

        - Ừ, mười sáu.

        - Đợi Giang ở đâu?

        - Ở đầu đường Quán Thánh.

        Suốt hai tuần lễ, Hoành nóng lòng chờ đến ngày mười sáu. Chiều hôm đó, học xong anh đạp xe ngay về nhà. Lúc ngồi ăn cơm, mới năm giờ anh đã tưởng hơn sáu giờ. Cơm nước xong, anh vội đạp xe lên chỗ hẹn sớm hơn nửa giờ. Hoành dắt xe dựa vào gốc xà cừ ở giữa vườn hoa và đứng quan sát. Từng phút, từng phút chậm chạp qua đi. Càng đến gần giờ hẹn máu nóng trong người bốc lên nóng bừng mặt. Lần đầu tiên trong đời Hoành thấy thời gian trôi quá chậm.

        Đúng giờ hẹn, Giang đến.

        - Chờ Giang có lâu không?

        - Sợ xe hỏng đến sớm nên thấy lâu.

        Giang cười rồi dắt xe đi về phía vườn Bách Thảo. Hai người ngồi xuống gốc cây bên hồ trong sự im lặng, trong tình cảm vốn đã ước ao. Họ ngồi đến tận khuya. Khi nhiều đôi trai đã đứng dậy ra về mà chưa ai tìm được cớ gì để bộc lộ tình yêu đang rạo rực trong người.

        - Hoành bảo nhé.

        - Bảo gì nào?

        - Giang có yêu Hoành không?

        Hoành nói ấp úng đến tội nghiệp, nhưng mắt anh luôn nhìn về phía Giang như thúc giục.

        - Tại sao Hoành lại yêu Giang?

        Bị hỏi bất ngờ, Hoành không sao trả lời được. Anh ngồi như một kẻ tội lỗi không biết làm gì.

        - Anh nói đi!

        - Hoành chẳng biết nói thế nào, chỉ biết Hoành yêu Giang hơn ai hết.

        - Nhưng đi xa có quên Giang không?

        - Hoành chỉ còn thiếu nước đập vào cây này chết đi nếu như không được Giang yêu.

        - Thế thì nhớ ghi thư đều cho Giang nhé.

        Sự xúc động thực sự đến lặng đi trong Hoành. Thế là Giang đã yêu mình. Song anh vẫn muốn được nghe Giang nói thành lời:

        - Giang nói đi, có yêu Hoành không?

        Giang rụt rè nhìn vào màn sương đêm và ánh mờ mờ phủ trên mặt hồ.

        -Có!

        Hoành bàng hoàng xúc động trước câu trả lời ngắn gọn, thiêng liêng mà anh hằng mong đợi. Anh cầm tay Giang và có cảm giác cả hồ nước, cây cối, ánh đèn điện đều ngả nghiêng chao đảo. Và đó là sự gần gũi đầu tiên của hai người bắt đầu yêu.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 17631


« Trả lời #11 vào lúc: 24 Tháng Mười Một, 2018, 12:23:52 AM »

       
6

        Anh Phú đi được một lúc lâu, có lẽ khoảng mười phút. Giang cũng từ bệnh viện về. Cô đang đứng gọi cửa thì ông Cương xuống xe. Bà Cẩn mở cửa. giọng niềm nở:

        - Hai bố con ông cứ như hẹn nhau ấy.

        Ông Cương không nói gì, đi thẳng vào nhà trong đặt cặp tài liệu lên bàn, bắt đầu moi tất cả các loại giấy tờ, sổ sách lần lượt ném ra giữa nhà. Ong lục bới tất cả các gầm giường, ngăn kéo tìm kiếm bản tài liệu theo lời khuyên của một số bạn bè nhưng vẫn chẳng thấy bản Nghị quyết đâu.

        Bà Cẩn đi ra đi vào vẻ lo lắng. Giang liếc mắt nhìn. Ông Cương không chịu nổi cái nhìn lén lút, sợ sệt của đứa con gái, mặc dù ông không muốn nhìn.

        - Giang!

        -Dạ.

        - Hôm qua mày có lấy bản Nghị quyết của tao để trong cặp đem đi đâu không?

        - Không. Con không biết nghị quyết nào cả.

        - Tối qua, trước lúc ăn cơm bố còn đọc. Tối không ai đến nhà này và không ai đi ra khỏi nhà ngoài con ra. Thế mà sáng nay mở cặp ra không thấy đâu. Vậy thì không phải con thì ai lấy?

        Giang nhìn bố rầu rĩ. Bà Cẩn nhìn chồng lo lắng, chỉ sợ ông giận dữ mắng con gái. Đối với bà, Giang là niềm vui, niềm hạnh phúc. Bà nói thanh minh:

        - Suốt tháng trời các con nó giận nhau, tối qua mới đi chơi một buổi, hôm nay ông lại nỡ mắng con như thế sao?

        Giang tiếp lời:

        - Bố vu oan giáng họa cho con hay sao?

        - Mày có im mồm đi không nào. Người ta điều tra ra mày lấy thì mày là đồ phản trắc. Lúc ấy mày đừng có về cái nhà này nữa.

        - Ông Cương! Ông định đuổi con đi đâu?

        Ông Cương gieo mình xuống ghế, giọng gay gắt:

        - Thật không ngờ! Thật không ngờ, nuôi cho mày ăn học đến bác sĩ, thế mà bây giờ mày đền ơn bố mày như thế đấy? Mày có biết không. Mất bản Nghị quyết này, bố mày sẽ bị kiểm điểm, sẽ bị cách chức và có thể còn bị đi tù - Ông Cương nắm tay đấm mạnh xuống mặt bàn khiến cốc chén nhảy lên như múa rồi rơi xuống sàn vỡ loảng xoảng - Mày không thương bố mày hay sao? Mày định làm gì bản Nghị quyết ấy để cho bố mày chịu hình phạt?

        Giang vẫn đứng bên tường, hai tay thõng xuống, người run lên. Hình như máu đã nén xuống làm sắc mặt cô nhợt nhạt. Đôi mắt cô dại đi để mặc cho nước mắt chủ động tràn ra.

        - Ông ơi, tôi chẳng mong muốn gì hết. Tôi có lỡ mồm lỡ miệng nói điều gì làm ông giận thì xin ông tha cho chứ đừng quát ầm lên, đừng mắng con nữa.

        - Nhưng bà có biết tác hại của việc mất bản Nghị quyết đó không? Đó là đường lối đối ngoại của Đảng ta, Nhà nước ta trong giai đoạn sắp tới. Muốn bảo vệ tốt, không cho lọt vào tay kẻ xấu, người ta đánh số thứ tự từng bản và giao cho từng người để nghiên cứu. Ngày mai đã phải nộp trả lại Ban Tổ chức Trung ương. Nếu ngày mai không có nộp nghĩa là tôi ngồi viết kiểm điểm, vào tù. Thế mà bà còn bênh con gái bà hay sao?

        Ông Cương quát lên như muốn trút hết nỗi bực tức lên vợ con và không thèm nhìn vào ai trong nhà, chỉ nhìn ra phía cửa sổ. Tất cả đều im lặng. Nhưng sự im lặng đó chỉ được trong giây phút, nó bị phá vỡ bởi tiếng khóc của Giang.

        Trước cảnh con gái tội nghiệp hoảng sợ, đầm đìa nước mắt; trước cảnh người bạn đời trăm năm đang bối rối vì mất bản tài liệu mật, lòng bà Cẩn tái tê, tan nát. Vào lúc ấy, ở người đàn bà miền núi tốt bụng nhưng thần kinh yếu đuối như bà Cẩn, không còn con đường nào khác là để cho sự khổ đau theo dòng nước mắt trào ra, nức nở.

        - Tôi xin ông, tôi van ông đừng nghi cho con gái mình.

        - Không nó thì còn ai! - Ông hét to không hề giảm cơn thịnh nộ. Khi nghe thấy tiếng vợ và con gái khóc quá to, ông mới quay lại và nhìn hai gương mặt đều thất sắc, run rẩy sợ hãi mà cảm thấy động lòng. Ông chợt yên lặng, hoảng hốt vì việc làm vừa rồi của mình. Tiếng nức nở từ hai góc nhà tiếp tục dội vào ngực ông, đè nén cơn thịnh nộ đó lại. Dường như tất cả lòng yêu thương vợ con trong giây phút vừa qua bị tan biến đi bây giờ có dịp ùa vào trong lòng mà không một sức mạnh nào kìm hãm nổi khiến cho toàn thân ông tê liệt.

        - Xin ông xem lại kẻo oan cho con gái, ông ơi! - Bà Cẩn nức nở kêu lên.

        - Nếu vậy tôi hỏi bà, ai vào nhà để lấy cắp? - Nỗi tức giận lại nhân lên. Ông nói một câu không suy nghĩ - Hay bà lấy?

        - Trời đất ơi, ông lại còn nghi ngờ lung tung thế nữa hay sao?

        - Còn nghi ngờ gì nữa. Cứ nhảy nhót, cứ đi với cái thằng Hoành ấy để rồi hư thân - Ông Cương thét lên giận dữ - Không nghe theo lời bố mẹ thì cứ đi theo cái thằng ấy.

        - Vâng con đi cho bố vừa lòng - Giang nói trong tiếng khóc và lao ra cửa.

        - Trời đất ơi! - Bà Cẩn thét lên - Con, con! - Bà Cẩn lao ra cửa theo con gái nhưng vừa bước được mấy bước thì quỵ xuống, bám tay lên cánh cửa ra vào, đầu cúi gục vì kiệt sức.

*

        Từ ngày Giang bỏ đi, chồng lại đi công tác biền biệt, bà Cẩn ủ rũ.

        Đêm đêm, bà thấy có mùi gì đó thoang thoảng buồn bã, chợt tỉnh, bà nhận ra đó là hương khói ở gốc cây đa Nhà Bò, nơi Giang sinh ra. Bà thấy nôn nao đến choáng váng. Thôi đúng rồi, từ ngày con bé sinh ra, mình không năng lui tới đây thắp hương, có lẽ thần giận đã cướp hồn con bé đi. Nghĩ thế, bà quyết định mua chuối, hương hoa, bí mật thuê một chuyến xích lô đi đến đấy cầu thần phù hộ cho con gái.

        Miếu cây đa Nhà Bò có từ bao giờ, tại sao lại gọi như thế, không ai hay biết. Chỉ biết rằng, ở cuối phố Lò Đúc quận Hai Bà Trưng, Hà Nội có một cây đa to, cành lá xum xuê, gốc cây nhẵn thín. Trên thân cây, cách mặt đất khoảng hai mét có một chỗ lõm sâu, không biết ai đã đặt một bát nhang vào đó. Nhiều bà mẹ trước và sau khi ra vào trạm bảo vệ bà mẹ trẻ em gần đó thường tiện tay thắp nén hương cầu mong mẹ tròn con vuông. Lâu ngày, nơi đó trở thành nơi khói hương nghi ngút và trở thành nơi có thần thiêng nổi tiếng Hà Nội, thu hút hàng ngàn vạn bà mẹ qua đây cầu cúng.

        Chiếc xe xích lô dừng lại bên đường, bà Cẩn bước xuống, rút tiền đưa trả người đạp xích lô rồi lập cập bước đến bên gốc cây đa. Bà bật diêm đốt hương, mắt dại đi.

        - Lạy "ngài", con từ Lạng Sơn về đây sinh sống, nếu có gì không phải, xin "ngài" dạy bảo.

        Linh tính như mách bảo bà, "thần” từ trong thân cây đa bước ra. Bà không sao kìm được nỗi khiếp đảm.

        - Lạy "ngài", hãy tha thứ cho cháu Giang nhà con còn trẻ người non dạ, và bù trì cho cháu cuộc sống trăm năm!

        Bà run lên như đang cơn sốt. Mặc dù vậy, bà vẫn còn đủ trí óc minh mẫn đưa những ngón tay như tê cóng rút tiền trong túi nhét vào kẽ gốc cây đa. Bà chắp tay vái liên tục, mắt không rời bát nhang. "Lạy “ngài"! Mong "ngài" phù hộ độ trì cho chồng con và cháu Giang qua cơn hoạn nạn này".
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 17631


« Trả lời #12 vào lúc: 24 Tháng Mười Một, 2018, 12:26:08 AM »


Chương ba

Cầm tấm hộ chiếu trong tay, Mỉhara rời Đại sứ quán Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Tokyo lặng lẽ đi ra xe ô tô trở về nhà. Suốt dọc đuờng, ông không nói, không cười, mặt tái đi như người bị ốm.

        Mihara đã nhận hộ chiếu đi ra nước ngoài gần hai mươi lần. Nhưng trong cuộc đời đi ra nước ngoài buôn bán thì đây là lần thứ hai ông lo nghĩ ghê gớm.

        Sau khi từ bỏ CIA chuyển sang nghề kinh doanh, ông đã bắt tay ngay với các công ty ở Đài Bắc. Đi lại Đài Loan nhiều, ông đã quen thân với dân Đài Loan, sinh hoạt hòa nhập trong cuộc sống thương mại. Lần nào đến Đài Bắc ông cũng đến Long Sơn sì sựp lễ bái cầu thần phù hộ. Ông cũng không quên ở gần đó, trong một khu ngõ hẹp, những ả mày ngài đang ưỡn ờ lấy bộ lấy điệu dưới ánh đèn nê-ông ở nơi "hang viện". Ông cũng cùng dân địa phương xúm quanh xem mấy anh chàng làm tiền ở cửa hàng mổ bụng những con rắn độc hãy còn sống và cho tiết chảy vào một thứ hũ rượu thuốc mà họ đảm bảo có công hiệu cường dương. Ông cũng đã cùng các thương nhân Đài Loan, Hồng Kông, Singapo ngồi chơi mạt chược và tán chuyện với các cô hầu bàn xinh như trong mộng.

        Cuộc buôn bán với các thương gia Đài Loan đang vui vẻ, ông bỗng nhận được tin Tổng thống Mỹ Catơ đang thăm Trung Quốc và Oa-sinh-tơn sẽ bình thường hóa quan hệ với Bắc Kinh. Nhận được tin này ông và các bạn đồng nghiệp bỏ bàn mạt chược lo lắng trước một tương lai gần sẽ bị mất một trong những nước buôn bán lớn nhất với mình. Oa-sinh-tơn quan hệ với Bắc Kinh có nghĩa là bỏ rơi Đài Loan. Sự lo lắng và tình hình bất trắc về tương lai của Đài Loan đem đến cho Mihara tính toán, giảm buôn bán với Đài Loan, tăng cường buôn bán với Việt Nam.

        Nhưng lần này, nhận tấm hộ chiếu, ông có cảm giác như một gánh nặng khủng khiếp đè lên vai, cho nên về đến nhà ông đổ xuống giường như một cái xác. Gần như ngay lúc đó vợ ông, bà Hana cầm bó hoa từ ngoài lao vào. Bà đang chuẩn bị cho bữa liên hoan tiễn chồng đi sang Việt Nam.

        - Ông sang giường bên nằm để tôi dọn - Bà nói vui như hát.

        -Tôi vừa nằm - Ông nói chậm.

        Bà Hana tỏ ý ngạc nhiên trước thái độ lạnh lùng của chồng. Đột nhiên, bà Hana ý thức được chồng mình đang có điều gì buồn phiền, cảm giác lo âu buồn phiền bắt đầu len lỏi tâm hồn bà không rời ra được. Mở ti vi chăng? Chồng bà im lặng quá, bà không dám hỏi.

        Sống với chồng gần trọn đời bà hiểu, những lúc chồng suy nghĩ như lúc này, tốt nhất không nên hỏi chuyện, không làm ồn ào.

        Đêm đó, bà nằm yên bên chồng. Hai người hầu như không nói chuyện với nhau. Thỉnh thoảng bà cắt ngang sự im lặng:

        - Sáng mai tôi tiễn ông ra sân bay quốc tế nhé?

        - Ừ.

        - Đến Hồng Kông ông điện cho tôi.

        - Ừ.

        Mihara sau những lần đáp "ừ" hoặc "không" gọn lỏn lại chìm ngập trong lo âu. Ông giữ kín nỗi lo không nói cho vợ biết. Đường biên giới không cho ông nói việc mình đi gặp H80 ở Việt Nam là quy định của Cục Tình báo trung ương Mỹ. Đường biên giới ấy rất rõ, không một người Mỹ hay người nước ngoài nào nhận làm việc cho CIA có thể bước qua được. Lần đầu tiên trong đời ông mới ý thức được rằng, nỗi lo âu khép kín đã tăng theo cấp số nhân, đè nặng lên vai mình. Và đêm ấy, lần đầu tiên, ông nhìn lại một cách đầy đủ cuộc đời hơn năm mươi năm đã qua.

        Tất nhiên quá khứ trong năm mươi năm qua có thể có chỗ lu mờ, nhưng năm mốc chính của cuộc đời ông không sao quên được.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 17631


« Trả lời #13 vào lúc: 24 Tháng Mười Một, 2018, 12:33:38 AM »


*

        Mihara sinh ra và lớn lên ở thành phố Hirôsima. Khi cuộc chiến thế giới thứ hai sắp kết thúc, tổng thống Mỹ cho ném bom nguyên tử xuống thành phố này. Bố mẹ và anh em ông đều chết, chỉ còn ông sống sót. Hội chữ thập đỏ Nhật Bản đưa ông về Sibia Tokyo nuôi - Đó là thời gian ông chỉ nghe người lớn kể lại.

        Rồi ông trưởng thành và biết yêu. ông thuê một căn phòng nhỏ trong ngõ hẻm. Một nửa căn phòng kê giường, phần còn lại bày đủ các thứ bát đĩa, xoong nồi. Mỗi chiều đi làm về, đúng 5 giờ ông thường xuống bến xe buýt ở đầu phố rồi thơng thả cuốc bộ về nhà. Một sự tình cờ như duyên số đã xe. Có một cô gái không lấy gì làm đẹp lắm, khuôn mặt hơi thô một chút nhưng thân hình uyển chuyển ưa nhìn cũng đi về cùng đường với ông. Thế rồi hai người quen nhau. Nơi dừng xe buýt trở thành nơi hẹn hò cho đôi bạn. Từ bến xe, Mihara đưa bạn gái về nhà. Khi hai người vừa bước vào nhà, ông đã nóng vội ôm lấy Hana một cách cuồng nhiệt bất ngờ. Cô có vẻ cố vùng ra vì ngượng ngùng nhưng mắt nhìn Mihara âu yếm như bảo rằng: anh ghì chặt nữa vào. Mihara sung sướng nhìn không chớp mắt làn da trắng của Hana - cô gái vùng đảo Hôckaiđô giá lạnh đang ửng hồng lên nói:

        - Anh yêu Hana1 vì em là hoa cho anh ngắm, là mũi cho anh thưởng thức mùi thơm.

        Từ ngày đó, Hana dọn hẳn đến ở chung với ông, thực sự đem lại cuộc sống tinh thần, động viên Mihara lúc thiếu thốn, khó khăn, thực sự đem lại cuộc sống vật chất hàng ngày cho bữa ăn vợ chồng.

        Thế rồi Hana sinh con trai, một năm sau lại sinh con gái. Vợ không công ăn việc làm, cuộc sống thiếu thốn đủ thứ, ông đành xin vào làm thuê cho Mỹ tại quân cảng Yôkôsuka. Ở đó, Cục Tình báo trung ương Mỹ tuyên bố ông làm điệp viên theo kiểu hàng trinh thám tư nhân, giúp việc cho Machưmôtô Maxaki theo dõi những người chống đối - những người của sứ quán các nước cộng sản đóng tại Tokyo. Theo lệnh của những người chóp bu cơ quan tình báo Mỹ ở Lengli2, Mihara có nhiệm vụ hỗ trợ cho Machưmôtô Maxaki bắt cóc ông Pokơlôpxki - Bí thư thứ nhất của Đại sứ quán Liên Xô tại Tokyo đêm 26-3-1966, nhưng không thành công. Sau vụ tai tiếng đó, Bộ Ngoại giao Liên Xô đã gửi công hàm phản đối Chính phủ Mỹ và Chính phủ Nhật Bản.

        Machưmôtô Maxaki và Mihara buộc phải thôi việc. Trong ba năm ròng, Machưmôtô Maxaki ngồi viết cuốn “Ở trong đó có CIA” do Nhà xuất bản Thaidên, Tokyo xuất bản năm 1970, kể lại công việc bẩn thỉu mình đã làm cho CIA. Còn Mihara quyết định chấm dứt giai đoạn hoạt động dính líu tới chính trị, chuyển sang nghề kinh doanh và trở thành một thương nhân bằng cách lập nên công ty buôn bán mang tên vợ "Hana". Con đường buôn bán đưa ông trở thành một nhà tư sản đánh giá sức mạnh của đồng tiền có thể mua được tất cả. Năm 1975, Việt Nam hoàn toàn giải phóng. Ông tìm mua hàng chồng sách nói về lịch sử, đất nước, về các mặt hàng ở Việt Nam, nhờ người Việt di tản sang Nhật dạy tiếng Việt. Có chí làm quan, có gan làm giàu. Quá nửa đời người, ông mới ý thức được rằng muốn làm giàu phải bám lấy thị trường chưa mấy ai khai phá - thị trường Việt Nam.

        Sau ngày Mihara ký giấy thôi không làm việc cho CIA, cam đoan không tiết lộ công việc đã làm, ông mong rằng mình đã hoàn toàn tự do. Trái lại, CIA vẫn cử người theo dõi giám sát một cách khá chặt chẽ, biết được cả tham vọng và quyết định bám chắc, bám lâu dài lấy thị trường Việt Nam của ông.

        Theo sự thỏa thuận giữa công ty của ông và Phòng thương mại nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mihara rời Tokyo đến Việt Nam vào trung tuần tháng 7. Sau khi xuống sân bay quốc tế Hồng Kông. Mihara về nghỉ tại khách sạn Đông Phương. Vừa mới bước ra khỏi thang máy tầng bảy, Mihara đã gặp Jon Smit, trung tá CIA mà một thời là ông chủ thuê Mihara làm thám tử tại Nhật Bản. Jon Smit và Mihara đi vào căn buồng ngoài cùng, nơi có cô gái người Hoa mặc chiếc váy mini có tên là Tiểu Hồng đang tra chìa khóa vào ổ.

        - Xỉnh chin3!

        Cô gái ngửa lòng bàn tay chỉ về gian buồng cánh cửa đã mở.

        - Aligatô gôgiaiimaxư4.

        Mihara cúi người chào theo phơng tục người Nhật. Cô gái người Hoa lại tiếp tục chìa tay mời Jon Smit.

        - Thanh you5.

        Jon Smit liếc nhìn cô gái có vẻ như đã quen nhau từ trước.

        Ba người thuộc ba dân tộc khác nhau nói bằng ba thứ ngôn ngữ khác nhau nhưng họ đều hiểu đó là những câu chào xã giao.

        Jon Smit có thân hình to, béo phệ, thở khò khè như con trâu mộng ăn no.

        "Thật lạ kỳ, CIA cử cái thằng cha ấm ớ này đến đây làm gì?" Mihara nghĩ như thế, nhưng không biết rằng Jon Smit từ Matxcơva đến đây đã gần nửa năm để tìm chọn điệp viên trong số người Việt Nam di tản sang Hồng Kông. Lần này, theo lệnh của Lengli, Jon Smit gặp Mihara để mặc cả về chuyến đi của ông sang Việt Nam.

        Jon Smit giải thích:

        - Hoạt động kinh doanh không thể tách rời chính trị. Muốn buôn bán với nước nào phải hiểu được đường lối đối ngoại của nước đó. Nếu Bộ Chính trị Trung ưong Đảng Cộng sản Việt Nam ra quyết định buôn bán toàn diện với Liên Xô, không buôn bán với Nhật Bản hoặc chỉ buôn bán một số mặt hàng nào đó mà lao vào chèo kéo họ, liệu có kết quả không? Theo tôi chỉ là sự tốn công vô ích, có khi bị phá sản...

        Thực lòng mà nói, lúc đầu Mihara vốn có định kiến với CIA, không muốn nghe Jon Smit nói. Nhưng về sau, những lời lẽ lải nhải của Jon quả là thứ thuốc hiệu nghiệm. Mihara không chỉ chăm chú ngồi nghe mà còn hỏi lại:

        - Tôi với các ngài đã đoạn tuyệt với nhau mười mấy năm nay rồi. Ngài còn nói chuyện chính trị với tôi làm gì?

---------------------
        1. Tiếng Nhật: từ Hana có nghĩa là hoa, nếu đọc sai ngữ điệu lại có nghĩa là mũi.

        2. Đại bản doanh của cơ quan tình báo trung ương Mỹ.

        3. Tiếng Trung Quốc nghĩa là "mời vào".

        4. Tiếng Nhật nghĩa là "cảm ơn".

        5. Tiếng Anh nghĩa là "cảm ơn".
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 17631


« Trả lời #14 vào lúc: 24 Tháng Mười Một, 2018, 12:34:06 AM »


        Jon Smit cười sặc sựa, rung cả phần thịt dưới cằm.

        - Vì tình vì nghĩa, vì ngài đã từng cộng tác với chúng tôi nên tôi để ngài tính toán đường làm ăn. Tôi biết, bây giờ ngài cũng như tôi, cần có đô la, có đồng Yên. Không có nó chúng ta đều trở nên vô nghĩa.

        - Chính vì vậy, tôi mới đi sang Việt Nam.

        - Nhưng ngài quên mất yếu tố chính trị.

        - Lại chính trị.

        - Đúng. Tôi biết hơn mười năm nay ngài đã từ bỏ con đường hoạt động chính trị. Nhưng dĩ nhiên đó là ý nghĩ riêng của ngài. Còn thực tế, nếu buôn bán mà không biết tình hình chính trị thì thua lỗ cầm chắc trong tay.

        Mihara không ưa Jon Smit vì hắn hút quá nhiều thuốc, nghiện uýt-ki và theo ông đánh giá thì ông ta không có tính cách bông đùa - dấu hiệu đầu tiên của người Mỹ. Chính vì Jon Smit chỉ chăm chút vào công việc, không thích bông đùa nên Mỉhara cho rằng lời Jon Smit không thể coi nhẹ. Nhưng với tính cẩn thận của người Nhật Bản, Mỉhara hỏi lại:

        - Ngài không đùa đấy chứ?

        - Không đùa tí nào cả! Chính trị và buôn bán gắn chặt với nhau. Hay như các nhà triết học cộng sản nói, nó quan hệ ràng buộc lẫn nhau.

        Jon Smit im lặng hồi lâu và trầm ngâm uống cạn chỗ rượu Mao Đài trong chiếc cốc pha lê nhiều cạnh, đáy dầy.

        Mihara tỏ vẻ suy nghĩ nhưng vẫn giữ vẻ thâm thúy, bình tĩnh của người Nhật.

        - Nghĩa là ngài khuyên chúng tôi từ bỏ buôn bán với Việt Nam?

        - Không. Thế thì ngài nhầm. Nước Mỹ và nước Nhật là hai anh em sinh đôi. Tôi và ngài là những đứa con của người anh và người em. Chúng ta phải có trách nhiệm giúp đỡ nhau để làm ăn chứ! - Jon Smit chậm chạp kéo hoi thuốc, xoay chiếc cốc không còn rượu trong tay - Dù buôn bán hay hoạt động chính trị chúng ta cũng phải hợp tác với nhau. Chúng tôi có ý định, ngài cứ sang Việt Nam tìm hiểu thị trường và giúp chúng tôi một việc.

        - Các ngài không tự làm được sao?

        - Vì nước Mỹ chưa có quan hệ ngoại giao với Việt Nam, nên chúng tôi không có điều kiện thực thi nhiệm vụ - Jon Smit rót đầy cốc rượu, uống cạn và có cảm giác như đang ngồi trong chiếc máy bay tròng trành trong cơn bão - Ngài có điều kiện tới Việt Nam hãy giúp chúng tôi nhận một tài liệu mật.

        Kinh nghiệm đã mách bảo Mihara biết đó là công việc gì. Ông nói chậm:

        - Hoạt động gián điệp.

        - Đúng như vậy.

        Câu trả lời khẳng định của Jon Smit làm Mihara giật mình trong suy nghĩ. Mihara nghĩ, quá nửa đời người, từng đi với CIA, từng vùng vẫy khắp đất Nhật, Hồng Kông, Đài Loan, Thái Lan... để giết chóc, lừa gạt và cũng gặp bao điều may mắn mà chẳng lúc nào được nghỉ ngơi. Chỉ có từ khi chuyển sang nghề kinh doanh ông mới yên một bề buôn bán, kiếm tiền. Chả lẽ giờ đây lại để cho mọi cố gắng kiếm nhiều tiền lại thui chột chỉ vì nhận làm việc cho CIA hay sao? Không. Ta phải có nhiều đô la, phải trở thành công ty lớn, trở thành ông chủ buôn bán khắp thế giới.

        - Tôi không thể nhận lời các ngài được.

        - Bình tĩnh đã! - Jon Smit ngả lưng ra thành ghế - Tôi hỏi ngài, công ty ngài hiện có bao nhiêu vốn, kể cả trong nước và ngoài nước.

        - Hai mươi triệu đô la.

        - Xoàng - Jon Smit cười hết cỡ - Ky cóp hơn mười lăm năm trời mới có hai mươi triệu đô la thì mèng quá. Ngài cứ làm việc cho chúng tôi, chúng tôi sẽ trả công ngài một cách hậu hĩnh

        - Trả bao nhiêu? - Mihara hỏi theo bản năng của một kẻ đi buôn.

        - Mươi lăm năm, hai mưoi triệu - Jon Smít cố dằn giọng - VỊ chi một năm cả vốn lẫn lãi ngài thu được - Jon Smit nhẩm tính trong đầu - hơn một triệu đô la - Jon Smit suy ngẫm và trả lời một cách chắc chắn - Trả ông ít nhất một triệu.

        Mihara nhăn mặt vẻ khó chịu.

        - Có lẽ ngài chê ít?

        - Đúng thế.

        - Thế thì bao nhiêu?

        Mihara bước vào nghiệp buôn bán muộn mằn, vốn lãi so với nhiều công ty ở Nhật Bản cũng chưa đáng là bao nên con số một triệu kia đã làm cho ông run lên, làm rung tất cả các cơ bắp trên mặt. Nỗi đam mê đô la đã làm đầu óc Mihara điên dại, không phân biệt chính trị hay buôn bán.

        - Ngài có thể nói cụ thể công việc được không?

        - Ngài Mihara thân mến! Ngài sẽ gặp điệp viên H80 của chúng tôi nhận tài liệu.

        -Tài liệu gì?

        Jon Smit cười độ lượng:

        - Về nguyên tắc, chúng tôi không được nói. Nhưng đối với ngài, tôi chẳng giấu làm gì. Đó là bản Nghị quyết mật của Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam đối với Liên Xô, Trung Quốc và một số nước - Jon Smit bắt đầu giải thích - Cách đây hơn một năm, Trung Quốc và Việt Nam có cuộc đụng độ ở biên giới, từ đó đường lối đối ngoại của Việt Nam hoàn toàn thay đổi buộc Chính phủ Mỹ và Chính phủ Nhật phải định lại đường lối đối ngoại của mình đối với Việt Nam, Đông Dương, Đông Nam Á. Về thực chất, sự kiếm tìm kết luận này đã được bắt đầu. Nhưng tất cả mới chỉ là tư liệu, phân tích rồi rút ra kết luận theo chủ quan của người Mỹ. Mấy năm qua, chúng tôi có đào tạo được điệp viên H80. Anh ta có khả năng tiếp cận tài liệu. Ngài đến Hà Nội thay chúng tôi chỉ huy H80 đánh cắp và chuyển giao tài liệu này. Như vậy, việc định ra đường lối đối ngoại với Việt Nam của Mỹ và Nhật Bản phụ thuộc vào chuyến công cán của ngài. Như lúc đầu tôi nói, chính nó định đoạt cả việc buôn bán của công ty ngài với Việt Nam từ nay về sau. Có đúng thế không?

        - Đúng - Mihara trả lời một cách quả quyết - Hoạt động của tôi cho các ngài trước đây ở ngay trên quê hương tôi, tổ quốc tôi, đã là việc khó, huống hồ lần này lại ra ngoài biên giới Nhật, đến tận Việt Nam chắc sẽ khó khăn hơn nhiều. Tôi sợ rằng tên H80 kia đã đầu thú ở cơ quan an ninh Việt Nam, hoặc do một sơ suất nào đó, tôi có thể bị sa lưới. Vậy thì một triệu đô la đổi lấy cả tính mạng và công ty tôi thì quá rẻ.

        - Theo ngài, bao nhiêu mới vừa?

        - Hai triệu! - Mỉhara trả lời cụt lủn.

        Jon Smit thấy con số đó vẫn nằm trong khung mà những người chóp bu ở Lengli cho phép, y trả lời ngay:

        -Tôi chấp nhận!

        Thế là sự mua bán đã ngã giá. Mỉhara bước vào giai đoạn thứ năm của cuộc đời: vừa làm ông chủ vừa làm thuê cho CIA. Co quan tình báo trung ưong Mỹ tổ chức một lóp huấn luyện cấp tốc cho Mỉhara tại trung tâm của CIA tại Hồng Kông.

        - Theo lịch, sáng thứ sáu sẽ có chuyến bay đi Băng Cốc. Từ nay tới ngày đó ngài còn cần gì ở chúng tôi không? - Jon Smit hỏi:

        - Tôi chỉ lo H80 của các ngài làm hỏng việc.

        - Không. Anh ta trẻ, đẹp trai, rất thông minh - Jon Smit dừng lại suy nghĩ - Ngay từ lần gặp đầu tiên, ngài chuyển cho anh ta chìa khóa mã mới và chuyển tần số đài phát thanh đã ghi trong chỉ thị.

        Hai ngày sau, đúng 8 giò sáng thứ sáu, Jon Smit thân chinh lái xe đưa Mihara đến sân bay quốc tế Hồng Kông. Đợi cho máy bay rời khỏi đường băng, lẫn vào trong mây, Jon Smit mới quay về.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 17631


« Trả lời #15 vào lúc: 24 Tháng Mười Một, 2018, 12:35:53 AM »

        
*

        Suốt đêm Mihara không ngủ được. Ông nghĩ lại những ký ức đã qua rồi tự chia ra, lúc thì bốn giai đoạn, lúc thì năm giai đoạn. Dù chia ra bao nhiêu giai đoạn ông cũng cho rằng giai đoạn từ lúc yêu, rồi cùng Hana đi làm thuê (làm công việc không dính líu tới hoạt động chính trị) để kiếm tiền nuôi con là giai đoạn hạnh phúc nhất. Còn bây giờ, vừa là ông chủ, vừa đi làm thuê, tiền kiếm được nhiều nhất so với bất kỳ thời gian nào trong năm mươi năm đã qua, song ông cho là thời kỳ lo sợ nhất. Sự lo sợ đó bắt đầu nảy sinh từ sự nghi ngờ về lòng trung thành của một người nước ngoài làm thuê cho CIA.

        Mihara tự hỏi: Mình và Jon Smit là những đứa con của hai anh em Mỹ - Nhật nhưng mình cũng không tin gì Jon Smit, không tin vào CIA, vậy thì H80 và cô gái kia là người Việt Nam, đã từng chứng kiến cảnh người Mỹ giết hại đồng bào họ thì liệu rằng họ có thực lòng đi theo CIA không? Nếu như lúc nào đó họ phản lại hay do sơ suất có lẽ mình sẽ bị còng tay đầu tiên. Hay là không làm việc cho họ nữa?

        Mihara lại tự phản bác: Không được. CIA sẽ tìm cách bao vây công ty của mình đến phá sản, thậm chí thủ tiêu cả gia đình mình.

        Mihara tự an ủi: Mình tiếp tục làm theo hợp đồng đã ký nhưng phải thận trọng, khôn khéo.

        Nhưng Mihara không biết rằng, đó là sự an ủi, tự tin mù quáng. Từ sau bức điện thứ tư của chuyến công cán đầu tiên sang Việt Nam gửi cho công ty Hana, ông đã bị cơ quan an ninh Việt Nam bám sát chặt chẽ. Tất nhiên lúc đầu vẫn chỉ là sự nghi ngờ.

        Chiếc máy bay chở Mihara nhỏ như một con chim nhạn bay giữa bầu trời mùa thu trong xanh rồi biến mất. Lúc đó, Jon Smit mới rời sân bay trở lại khách sạn Đông Phưong. Gã vui mừng thấy cô phục vụ buồng Tiểu Hồng vẫn đang chờ ở chân cầu thang máy.

        - Nỉ hảo1 - Jon Smit nói vui

        - Nín hảo2 - Giọng Tiểu Hồng vui, giễu cợt.

        - Ừ thì chào "bà em"! - Jon Smit quàng tay vào bờ vai Tiểu Hồng kéo nhẹ cô đến bên nút điện xanh đỏ, đưa tay trái bấm nút số "8". Cánh cửa cầu thang máy từ từ mở ra, khép lại rồi đưa họ lên tầng 8. Họ bước vào căn phòng CIA thuê bao.

        - "Bà" của anh uống Mao Đài hay Sakê?

        - Sao "cháu" của em ngốc thế? - Tiểu Hồng gí ngón tay trỏ lên trán Jon Smit - phải dùng của Nhật chứ!

        Jon Smit nhìn Tiểu Hồng, tay bật nút chai Sakê rót đầy hai ly.

        - Ông Mihara là người của anh à?

        - Ừ! - Jon Smit nghĩ ngay là mình đã lỡ lời, vội chống chế - Chỉ quen biết thôi. Ngày anh ở Tokyo có quen biết ông ta.

        - Anh ở Tokyo có lâu không?

        - Từ năm sáu mưoi đến năm sáu sáu.

        - Sau đó anh làm việc ở đâu?

        - Về Mỹ.

        - Và ở Mỹ quốc cho tới khi nào?

        - Đen tháng sáu năm nay mới đến đây.

        Cuộc ân ái, trò chuyện giữa Jon Smit và Tiểu Hồng kéo dài quá nửa đêm nhưng Jon Smit thực hiện nguyên tắc số một của CIA là không để lộ tông tích, công việc mình làm.

------------------
1. Tiếng Trung Quốc: Chào em

2. Tiếng Trung Quốc: Chào bà chứ.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 17631


« Trả lời #16 vào lúc: 24 Tháng Mười Một, 2018, 12:39:52 AM »


*

        Thực ra sau vụ tổ chức cho Machưmôtô Maxaki và Mihara bắt cóc tuyển thủ Olympic Liên Xô ở Thế vận hội lần thứ 8 tổ chức tại Tokyo (1964) không thành công; tiếp sau đó vụ bắt cóc ông Pôkơlôpxki - Bí thư thứ nhất Đại sứ quán Liên Xô tại Nhật Bản thất bại, Jon Smit đã bị gọi về Lengli làm việc tại phòng Liên Xô - Đông Âu và bắt đầu học tiếng Nga.

        Cuộc chiến tranh Việt Nam lúc đó diễn ra ác liệt. Tổng thống Giônxơn quyết định cho ném bom miền Bắc Việt Nam, phơng tỏa đường thủy, đường bộ. Quân và dân Việt Nam chiến đấu dũng cảm bẻ gãy nhiều cuộc hành quân của Mỹ, đồng loạt tiến đánh Sài Gòn, Huế, Đà Nằng và khắp các thành phố miền Nam trong dịp Tết Mậu Thân 1968. CIA cho rằng miền Nam có thể rơi vào tay cộng sản nên phải tổ chức cứu nguy cho chế độ ngụy Sài Gòn. Tổng thống Mỹ chỉ thị cho Richard Henls lúc ấy là Phó tổng giám đốc CIA điều Wiliam Colby1 sang Việt Nam làm phó chỉ huy chiến dịch bình định.

        Wiliam Colby gắn trọn cuộc đời cho hoạt động của CIA. Trước khi bàn giao chức Trưởng phòng Liên Xô - Đông Âu, ông ta nghĩ ngay tới một kế hoạch thâm độc:

        - Này! - Jon Smit dừng tay viết - Tôi bàn với ông việc này - Colby nói chậm - Ông có thấy không, người Mỹ chúng ta to, mũi cao, da trắng; người Việt Nam nhỏ bé, mũi tẹt, da vàng. Nếu đưa người Mỹ xâm nhập vào Việt Nam chắc chắn như phơi mình trên bãi cát, có đúng không?

        - Hoàn toàn đúng như thế, thưa ngài!

        - Vì vậy, tôi có ý định sử dụng người châu Á, mà tốt nhất là người Việt Nam làm việc cho chúng ta.

        - Đó là điều mơ ước.

        - Không. Phải trở thành sự thực.

        - Ngài có thể nói kỹ hơn.

        - Liên Xô và Việt Nam là hai nước anh em, hai nước cộng sản. Liên Xô đang giúp Việt Nam đào tạo hàng ngàn, hàng vạn kỹ sư, bác sĩ, giáo sư, tiến sĩ. Chúng ta hãy phái người đến Mátxcơva tìm chọn điệp viên trong số những người đang lưu học, công tác tại đó.

        - Tuyệt. Nhưng việc đó không đơn giản.

        Jon Smit chăm chú nghe Colby nói, mắt chớp chớp liên tục vì bị kích động.

        - Thưa ngài - Jon Smit bắt ngay được ý đồ của người chỉ huy - nghĩa là chúng ta tuyển chọn, đào tạo ở Mátxcơva rồi tung về Việt Nam.

        Jon Smit đăm chiêu:

        - Ôi, tại sao kế hoạch dễ nhìn thấy như thế mà ta lại không chủ động đề xuất nhỉ? Kế hoạch đó thật lý thú nhưng rất mạo hiểm.

        - Ô, mạo hiểm là đặc trưng của Cục tình báo trung ương Mỳ chúng ta mà. Chúng ta phải tuyển chọn điệp viên loại này mới có năng lực làm việc, mới có khả năng tiếp cận các tài liệu mật. Đối với điệp viên loại này, thời chiến đã có tác dụng, thời bình lại càng tác dụng.

        - Thưa ngài, đúng là điệp viên chiến lược.

        - Hành động đi, Jon Smit ạ! cần phải hành động ngay. Chúng ta cứ tuyển chọn, đào tạo tung về Việt Nam rồi tùy theo từng trường hợp cụ thể để sử dụng. Có thể điệp viên A gặp môi trường phát huy ngay tác dụng, điệp viên B chưa tiếp cận mục tiêu, ta cứ để ẩn náu lâu dài, chờ thời cơ - Colby rót đầy cốc rượu - Ông có muốn đến Mátxcơva một chuyến không?

        Câu hỏi đó đến với Jon Smit một cách đột ngột nên ông ta nói thành thật:

        - Tôi chưa nghĩ đến, thưa ngài!

        - Thì bây giờ nghĩ đến! - Colby nâng cốc rượu uống - Tầm quan trọng bậc nhất bây giờ là chúng ta phải đối phó với cuộc chiến tranh Việt Nam. Tuần sau, tôi sang Việt Nam chỉ huy chiến dịch bình định, ông sẽ sang Mátxcơva. Chúng ta xa nhau hàng vạn dặm, nhưng tôi hy vọng sẽ có một đường dây liên lạc, đó là những điệp viên CIA người Việt Nam nằm tại Hà Nội.

        Wiliam Colby và Jon Smit cùng uống rượu chia tay mừng cho kế hoạch đã được thống nhất.

-----------------
        1. Wiliam Colby lúc đó nguyên là Trưởng phòng Liên Xô - Đông Âu Cục tinh báo trung ương Mỹ. Năm 1972 được đề bạt làm Phó giám đốc phụ trách kế hoạch, nghĩa là phụ trách những hoạt động bí mật của CIA. Ngày 9 tháng 5 năm 1973 được Tổng thống Nixon bổ nhiệm giám đốc CIA.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 17631


« Trả lời #17 vào lúc: 24 Tháng Mười Một, 2018, 12:44:44 AM »


3

        Sau khi quyết định cho thương nhân Mỉhara vào Việt Nam tiếp tục buôn bán, thượng tá Hoàng Thế Huy càng lo nghĩ làm sao xác định được thực chất về thương nhân này. Thực ra, những năm qua có hàng ngàn thương nhân Anh, Pháp, Nhật, Hồng Kông, Thái Lan, Singapo... vào Việt Nam buôn bán, song những thương nhân có nghi vấn hoạt động gián điệp như Mihara không nhiều.

        Dùng biện pháp nào để làm rõ về con người này, đó là trách nhiệm trên trận tuyến bí mật. Sự lo nghĩ về công việc thầm lặng và tuổi tác đã làm tóc ông bạc trắng, cặp lông mày cũng không còn sợi nào đen.

        Trước khi thương nhân Mihara vào Việt Nam một tuần, thượng tá cho gọi thiếu tá Nguyễn Khoa Đoàn, trung tá Vũ Duy Bừng đến trao đổi. Họ ngồi ngay ở bên cửa sổ, nơi có cây xà cừ che gần hết. Đứng ở trong phòng nhìn qua các kẽ lá có thể nhìn thấy những chiếc xe ô tô, xe đạp nối đuôi nhau chạy quanh hồ Thiền Quang.

        - Đồng chí Đoàn hãy trình bày trước phương án tiếp cận đối tượng!

        - Theo tôi, cho người của ta đóng vai người ngoại thương làm việc với Mihara trong thời gian ông ta ở Việt Nam và tiếp tục bố trí các trạm quan sát kỹ thuật ở những nơi quan trọng.

        - Tôi cho rằng làm theo cách đó hơi thô thiển - Trung tá Vũ Duy Bừng bác bỏ ý kiến của thiếu tá - Nếu như công việc đổ bể, họ biết bị công an theo dõi sẽ không lợi cho quan hệ đối ngoại - Anh dừng lại suy nghĩ.

        - Nhưng nếu như họ không hoạt động gián điệp thì ta có theo dõi họ không? - Thiếu tá hỏi trung tá nhưng cũng muốn khẳng định suy nghĩ của mình, cần gài người vào theo dõi Mỉhara.

        - Xưa nay người ta vẫn nói hoạt động theo dõi người khác là công việc bất nhân, không tình người. Vì vậy, chúng ta phải giải thích như thế nào để cho mọi người hiểu, cho các đồng chí bên ngoại thương hiểu. Có hiểu họ mới ủng hộ ta làm việc - Thượng tá nói chậm - Theo tôi, các cơ quan tình báo gián điệp khoác áo thương nhân, nhà báo, du lịch, lợi dụng bà con Việt kiều, cán bộ, lưu học sinh của ta ở nước ngoài hoạt động gián điệp, chống phá công cuộc xây dựng của nước ta, đó là công việc bẩn thỉu, vô nhân đạo. Còn ta tiến hành các hoạt động này nhằm bảo vệ cho thành quả kinh tế, văn hóa, bảo vệ đất nước mình, nghĩa là hoàn toàn mang ý nghĩa tự vệ, ý nghĩa nhân đạo sâu sắc. Như vậy, các cơ quan gián điệp đế quốc và an ninh chúng ta đều áp dụng thủ đoạn gài người vào các cơ quan liên quan để hoạt động, song mục đích khác nhau nên nó mang ý nghĩa khác nhau.

        - Đúng! Nhưng trong buổi chiêu đãi Mihara, đồng chí Chánh thư ký Phòng thương mại đã giới thiệu những người làm việc với ông ta trong thời gian lưu lại ở Việt Nam, bây giờ đột nhiên lại thay đổi, có phải vạch áo cho người xem lưng không?

        Thượng tá suy nghĩ, thấy ý kiến trung tá Bừng có phần đúng. Nếu không tính toán sẽ nảy sinh những điều bất họp lý, làm kẻ địch nghi ngờ. ông nhìn thiếu tá:

        - Ý đồng chí thế nào?

        - Theo tôi việc thay đổi người là chuyện thường. Ta có thể thông báo với ông ta người nào đó bị cảm đột xuất, phải đi viện có được không?

        - Như thế là ta bị động - Thượng tá gật đầu - Bây giờ ta bàn cách đối phó. Tôi tán thành ý kiến đồng chí. Nhưng chọn ai làm công việc này? Đồng chí Khuất Văn Đăng có được không? Đồng chí ấy biết tiếng Nhật, lại là con em gia đình cách mạng - Giọng ông Huy bùi ngùi - Bố cậu ấy đã hy sinh ở mặt trận Điện Biên Phủ, là bạn thân của đồng chí Cục trưởng Cục ta. Trước khi chết, ông có nói với đồng chí Cục trưởng giúp đỡ Đăng, người con trai duy nhất. Giữ lời hứa với người đã khuất, đồng chí Cục trưởng xin cậu ấy từ Trường Trung cấp Ngoại thương về đây đào tạo. Bây giờ cậu ta làm việc với Mihara chính là dịp giúp cậu ta nâng cao trình độ ngoại ngữ, chuyên môn.

        - Theo tôi không nên cử đồng chí Đăng - Thiếu tá không đồng ý với cách lý giải của thượng tá. Anh nói giọng có vẻ gay gắt - vấn đề ở chỗ là tìm người đánh địch chứ không phải tìm con của bạn thân Cục trưởng.

        Thiếu tá Nguyễn Khoa Đoàn thường rất thẳng thắn. Một khi xét đoán thấy điều gì sai trái, không giải quyết theo công việc mà theo kiểu đối nhân, anh đấu tranh đến cùng. Anh tiếp tục thuyết trình ý kiến của mình:

        - Làm việc với thương nhân Nhật Bản, với các cán bộ Bộ Ngoại thương, tôi nghĩ phải là người có am hiểu về công việc này, cậu Đăng làm sao có thể đảm đương được.

        Cuộc chiến đấu chỉ đạo nhiều chuyên án đã giúp thuợng tá đức tính bình tĩnh. Giọng chậm chạp, ông hỏi lại:

        - Đồng chí có thể nói rõ hơn lý do không gánh vác đuợc?

        - Một là, tri thức của cậu ta về ngoại thương quá yếu, không thể đối thoại được với các nhà chuyên môn. Hai là, xét về học vị cậu ta mới có bằng trung cấp ngôn ngữ Nhật. Kinh nghiệm làm việc chuyên môn với những người thuộc thế giới tư bản cần phải có học vị. Ba là, tri thức xã hội của cậu ấy còn quá yếu, khả năng phân tích, tổng hợp kém. Bốn là, xét về hình thức con người làm công tác đối ngoại, cậu ta không đủ tiêu chuẩn: người lùn bé, nói năng lập cập, giọng mang nhiều âm điệu địa phương. Với một con người như thế mà đại diện cho Bộ ta làm việc với Bộ Ngoại thương, tôi cho rằng đã rất khó khăn chứ chưa nói đến làm việc với người nước ngoài.

        Thượng tá ngồi lặng hồi lâu. Thiếu tá Khoa Đoàn nói có lý, nhưng tại sao đồng chí Cục trưởng lại xếp cậu ta vào loại cán bộ triển vọng cần đào tạo? Ong hỏi có ý tìm hiểu để xác định thêm cho nhận định của mình:

        - Nhưng cậu ta biết tiếng Nhật.

        - Ngôn ngữ là thứ giao tiếp chứ không thể thay thế được suy nghĩ, khả năng phân tích, tổng hợp của con người. Vì vậy ngôn ngữ không thể trở thành điều kiện quyết định việc sắp xếp cán bộ được.

        Trung tá trưởng phòng ngồi nghe cuộc đối thoại, mặt nóng bừng. Ông cho rằng Nguyễn Khoa Đoàn quá tự phụ, coi thường đồng đội, không nghe theo ý kiến cấp trên.

        - Tôi đề nghị đồng chí sử dụng quyền cấp trên kết luận vấn đề.

        - Nhưng vấn đề tôi đưa ra đúng hay sai? Một con người không có đầu óc phân tích, tổng hợp, thiếu nhãn quan chính trị như cậu Đăng thì dù có nằm ngay ở Tokyo cũng không rút ra được kết luận.

        Thượng tá ngồi im hút thuốc và suy nghĩ. "Thuốc Bông Sen ngon thật" - Ông thầm nghĩ. Nhưng lời nói của thiếu tá cứ chạy quanh trong đầu ông. Ông biết việc Cục trưởng sử dụng Đăng, giúp đỡ cậu ta có cái gì đó chưa ổn, gây cho anh em trong Cục thắc mắc, nhưng trí não ông vẫn chưa bắt trúng được "nó".

        - Vậy đồng chí định tiến cử ai?

        - Thượng úy Vũ Như Phơng và thiếu úy Mai Kim Châu.

        Thiếu tá Khoa Đoàn trình bày kỹ về khả năng từng người và kế hoạch sử dụng.

        Sau khi nghe xong, thượng tá chấp nhận. Để tiện cho việc giữ bí mật, ông quyết định cho hai người mang tên khác, có bí số riêng: Như Phơng bí số N8; Kim Châu bí so N10.

        Thượng tá cầm ống nghe quay số điện của trưởng phòng kỹ thuật:

        - Thế Huy đây. Đồng chí đến ngay chỗ tôi có việc cần.

        Lát sau trưởng phòng kỹ thuật từ tầng dưới đi lên, mở cửa.

        - Đồng chí Khoa Đoàn hãy trình bày phương án dùng kỹ thuật theo dõi Mỉhara để xem các đồng chí kỹ thuật có đáp ứng được không.

        Sau khi nghe mọi người trình bày, ông thấy đáp số vẫn chưa hiện lên. Thâm tâm và giác quan thứ sáu của ông đều linh cảm thấy: thương nhân Mihara có điều gì khó hiểu; sắp có "cái gì đó" xảy ra. Nhưng cụ thể đó là cái gì, diễn ra ở đâu, với ai, như thế nào phải đợi sau một thời gian tìm hiểu.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 17631


« Trả lời #18 vào lúc: 24 Tháng Mười Một, 2018, 12:49:25 AM »


Chương bốn

1

        Trong lúc thiếu tá Nguyễn Khoa Đoàn đang lần theo dấu vết thương nhân Mihara, bắt đầu nghi ngờ Giang là người dính líu tới vụ lấy cắp tài liệu mật thì anh bỗng nhận được tin của công an Hà Nội báo cho biết, bác sĩ Giang chết đột ngột. Anh phóng xe ngay đến hiện trường xảy ra vụ án.

        Hiện trường là một căn phòng xét nghiệm bình thường như những căn phòng xét nghiệm của các bệnh viện: không lớn lắm, lát gạch hoa ốp đá men trắng, phía trên quét ve xanh xỉn. Gian phòng có hai dãy bàn đặt hàng trăm bình thủy tinh, lọ hóa nghiệm khác nhau. Góc trong cùng bên cạnh cửa sổ kê chiếc giường lò xo bằng nhôm. Xác Giang đang nằm nghiêng, cứ như trước đó cô tự nằm ngủ rồi vĩnh viễn không thức dậy. Phía trong giường có một đống cơm lẫn thức ăn. Đen gần xác Giang, anh nhìn kỹ thấy hai đồng tử bị dãn rất nhiều. Thiếu tá Khoa Đoàn đoán chắc cô ta bị nôn mửa, và có khả năng bị ám hại bằng một thứ thuốc nào đó nên mới có hiện tượng như vậy. Tuy nhiên, đó mới chỉ là giả thiết. Anh quyết định mời thượng úy Mạnh Lâm, chuyên gia của Viện Khoa học hình sự đến xét nghiệm. Thượng úy được đào tạo ở Cộng hòa dân chủ Đức, biết áp dụng kiến thức khoa học hình sự hiện đại nhất vào trong công tác. Đặc biệt, anh đã biết kết hợp chặt chẽ với các giáo sư, tiến sĩ, những chuyên gia bộ môn pháp y Trường đại học Y Hà Nội và các nhà bệnh lý học, giáo sư, tiến sĩ của ngành chất độc học Việt Nam trong điều tra án mạng.

        Thượng úy tiến hành mổ tử thi khám nghiệm và ghi: tim và các bộ phận khác của nạn nhân bình thường; các tuyến giáp, tuyến tụy, tuyến yên đều hoạt động tốt, không có vi khuẩn hoạt động ở phủ tạng và lá lách; kết luận: xét bề ngoài, không có triệu chứng chết đột ngột.

        Cùng thời gian đó, các bác sĩ pháp y Trường Đại học Y, bệnh viện Việt Đức, Bạch Mai và một số chuyên gia hóa học, chất độc học Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội được mời đến xét nghiệm, phân tích tóc, máu, gan, phổi... Cuộc trao đổi của họ xoay quanh câu hỏi: chất thuốc hay chất độc nào đã gây ra cái chết của người phụ nữ mới có mang này?

        Trong lúc các chuyên gia đang mải mê nghiên cứu, khám nghiệm tử thi, thuợng tá Hoàng Thế Huy và thiếu tá Nguyễn Khoa Đoàn cho trinh sát đi tìm hiểu quan hệ xã hội của Giang. Sau khi nghe các trinh sát báo cáo, thuợng tá trao đổi với thiếu tá Khoa Đoàn:

        - Nhu vậy tạm thời kết luận cô Giang là một người đúng mực.

        - Nhưng tại sao cô ta yêu Hoành rồi lại yêu Tần? Khi Hoành từ Liên Xô về nước lại bỏ Tần đi với Hoành? Và cái thai là kết quả của cuộc ái ân với ai?

        - Theo bà Cẩn, mẹ cô Giang cho biết, cái thai đó là do kết quả yêu thưong giữa cô ta với kỹ sư Hoành. Hai người chuẩn bị cưới. Còn bác sĩ Tần theo đuổi cô ta mấy năm trời nhưng không được đáp lại.

        - Vậy đồng chí cho tôi thẩm vấn Tần?

        - Về tội gì? Mới nghi ngờ đã đòi bắt người hay sao?

        - Tôi lo cứ tiến hành biện pháp điều tra bí mật sẽ kéo dài vụ án. Thủ phạm giết bác sĩ Giang không tìm ra mà kẻ lấy cắp tài liệu mật có thể sẽ chạy thoát.

        - Chúng ta cứ bình tĩnh phân tích xem - Thượng tá thấp giọng - Chúng ta nghi ngờ Hoành và Tần liên quan tới vụ lấy cắp tài liệu mật, bây giờ bắt khi chưa có chứng cứ liệu có phải báo cho kẻ địch nằm im hay không?

        - Theo tôi, trong thời gian bác sĩ Giang chết, Hoành đi công tác xa Hà Nội gần hai trăm cây số nên có thể loại trừ. Còn Tần, tối hôm trước đi chơi với Giang nên có nhiều dấu hiệu là thủ phạm.

        - Nhưng cái chết của cô ta do sự ghen tuông giữa Tần và Hoành hay liên quan tới vụ mất tài liệu?

        - Có nhiều khả năng do ghen tuông.

        - Vậy ai là chủ mưu lấy cắp tài liệu?

        Thiếu tá Khoa Đoàn trả lời một câu theo cảm tính:

        - Có thể là Hoành.

        - Phi lý - Thượng tá nói to - Hai chàng trai yêu một cô gái. Cô gái kia đột nhiên bị chết. Một chàng trai bị nghi là thủ phạm, người kia lại bị nghi là lấy cắp tài liệu. Kết luận đó không có cơ sở, phi thực tế.

        Một vài phút im lặng, thượng tá thấp giọng:

        - Thế này - Ông nhìn thiếu tá Khoa Đoàn - Tôi không đồng ý cho lệnh bắt mà chỉ được mời bác sĩ Tần đến làm rõ quan hệ tình ái giữa anh ta với cô Giang. Nội dung chỉ có thế. Sau khi làm rõ mối quan hệ này chúng ta mới có cơ sở kết luận họ có mâu thuẫn hay không?
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 17631


« Trả lời #19 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2018, 10:52:38 PM »


*

        Ngay chiều hôm đó, bác sĩ Tần được mời tới cơ quan an ninh. Đó là một căn phòng rộng nhìn ra đường Trần Hưng Đạo. Từ trong phòng nhìn qua rèm cửa, người ta có thể thấy xe chạy thành dòng trên đường phố.

        - Anh có biết vì sao chúng tôi mời anh tới đây không?- Thiếu tá Khoa Đoàn hỏi.

        - Tôi không hay biết.

        - Anh hãy cho biết về quan hệ giữa anh và bác sĩ Giang.

        - Công an không nên thọc vào đời tư của người khác - Đôi mắt Tắn ánh lên những nỗi bực tức.

        - Đúng, anh nói đúng - Thiếu tá Khoa Đoàn gật đầu tỏ vẻ đồng tình - Công an không được tò mò đời tư của người khác. Nhưng một khi đời tư đó có liên quan tới cái chết của một con người thì trách nhiệm chúng tôi phải làm rõ: một là người đó phạm tội; hai là thanh minh cho người đó là vô tội.

        - Nhưng các anh hỏi làm gì cơ chứ?

        - Có chứ! Để thanh minh cho anh không phải là thủ phạm giết bác sĩ Giang.

        - Đây không phải là những từ ngữ hoa mỹ để lừa dối tôi.

        - Nếu như anh nói thành thật.

        Bác sĩ Tần ngồi yên lặng như một tảng đá.

        - Tôi và Giang là bạn học phổ thông, cùng thi vào Đại học Y Hà Nội. Từ ngày ngồi trên ghế nhà trường, tôi yêu Giang tha thiết, nhưng đáp lại lòng nhiệt tình đó là sự im lặng. Mãi sau này tôi biết mới Giang yêu Hoành, nhưng tôi vẫn yêu Giang.

        - Và tối qua anh đã rủ cô ấy đi choi?

        - Vâng. Đúng thế.

        - Anh bình tĩnh nhớ lại mọi lời nói, cử chỉ của anh với cô ta?

        - Gần đây, khi biết Giang giận Hoành, thú thực tôi vui. Lòng nhiệt tình của tôi với Giang được nhân lên gấp bội. Tôi quyết định tấn công chinh phục Giang vì biết chắc Giang không ghét bỏ gì tôi. Giang khóc kể rằng đã bị Hoành bội bạc. Hình như Giang muốn nói với tôi một điều gì nhưng không diễn đạt nổi vì nó ẩn giấu một điều gì khó hiểu. Tôi mạnh dạn hỏi Giang còn yêu Hoành nữa không? Nước mắt đã làm Giang nghẹn lời. Một lúc sau nó mới thoát khỏi lồng ngực Giang thành tiếng: "Tuy anh ấy phản bội em những em vẫn yêu anh ấy!". Những lời nói ấy bấy lâu giấu kín trong tim Giang, đối với tôi còn là sự hoài nghi thì giờ đây đã bày tỏ. Rõ ràng, Giang vẫn yêu Hoành. Nhưng tại sao cô ấy lại khóc, khóc nức nở? Phải chăng cô ấy thương hại tôi hay có điêu gì uẩn khuất mà chưa nói được. Dần dà tiếng khóc đã dịu bớt. Giang đưa mắt nhìn tôi chứa đựng tình cảm dịu dàng. Tôi hỏi: "Hoành phản lại mối tình đầu mà Giang vẫn yêu hay sao?”. Nỗi đau xót hằn lên mặt Giang. "Vâng! Anh ấy là kẻ phản bội, là người ác độc!" Tôi hỏi: "Tóm lại, đến giây phút này Giang vẫn yêu Hoành, còn Hoành không yêu Giang?" Cô ấy trả lời: "Vâng". Tôi rùng mình và ngạc nhiên trước tình cảm mâu thuẫn trong Giang. Tôi hỏi: "Tại sao Giang vẫn yêu Hoành?" Giang trả lời: 'Không biết". Thú thực, buổi tối hôm đó, suốt trong mấy tiếng đồng hồ tôi cảm thấy Giang đau xót trong những tình cảm thổn thức quằn quại. Mặc dù đó là câu chuyện kinh khủng đối với tôi, song tôi vẫn còn hy vọng vì tôi vẫn yêu Giang.

        - Một khi không chiếm đoạt được trái tim Giang, anh đã làm gì?

        Có tiếng gõ cửa. Thiếu úy trực ban đẩy cửa bước vào.

        - Báo cáo anh, có kết quả xét nghiệm.

        Thiếu tá Khoa Đoàn vui đến phát run lên, đưa tay cầm tờ giấy đọc nhanh:

        "Chúng tôi tập thể các giáo sư, bác sĩ Trường Đại học Y, Đại học Tổng hợp dùng kính lúp kiểm tra thi thể nạn nhân phát hiện thấy ở đùi bên phải có hai vết tiêm. Sau khi xét nghiệm phần thịt ở xung quanh mũi tiêm và tiến hành hàng loạt các thí nghiệm liên quan chúng tôi kết luận: nạn nhân chết do bị tiêm insulin liều lượng cao ".

        Sẵn có ý nghĩ Tần là thủ phạm, không được Giang chấp nhận tình yêu đã tìm cách "đạp đổ", xét về khả năng chuyên môn sử dụng loại chất insulin, thiếu tá Khoa Đoàn vững tin: Tần là thủ phạm giết Giang. Khi mời Tần đến, anh nghĩ, hỏi xong chuyện sẽ thả. Nhưng kết luận xét nghiệm của một tập thể giáo sư, bác sĩ làm anh thay đổi suy nghĩ. Anh quyết định giữ lại để khai thác.

        - Từ giờ phút này, tôi coi anh là một can phạm.

        Bác sĩ Tần lạnh toát người, mặt tái đi.

        - Về tội gì?

        - Tội giết cô Giang.

        - Như vậy các anh ghép cái chết của bác sĩ Giang là tội của tôi.

        - Thôi, anh đừng đóng kịch nữa. Anh hãy khai lấy chất insulin ở đâu? Giết cô ta vì ghen tuông hay nghe người khác xúi bậy?

        - Tôi không giết Giang, tôi yêu cô ấy - Tần lấy khăn lau mồ hôi trán, tự nhủ bình tĩnh - Xin các anh điều tra lại.

        - Đừng biện bạch nữa.

        Thiếu tá Khoa Đoàn nhấc ống nghe. Một lúc sau, hai cán bộ cùng đơn vị bước vào dẫn Tần sang phòng bên, nơi có bàn, ghế, bút, giấy để trả lời những câu hỏi theo yêu cầu của cơ quan an ninh.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM