Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 22 Tháng Một, 2019, 05:25:55 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cuộc lưu lạc của tàu ngầm U-977  (Đọc 3306 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 17631


« Trả lời #10 vào lúc: 09 Tháng Chín, 2018, 11:48:04 PM »

       
        Cuối cùng chúng tôi đến La Rochelle. Thủy thủ đoàn của tiểu hạm đội gồm hầu hết là ngư phủ, bận quân phục sau một thời gian huấn luyện quân sự ngắn. Họ được trang bị thành quân nhân trên các tàu đánh cá được sửa thành tàu chiến.

        Chúng tôi nhận lịnh biến cải một tàu chở hàng trên sông có trọng tải 1500 tấn, đóng từ năm 1898, thành tuần dương hạm trợ lực, dù rằng nằm kế bên nó là một tàu chở hàng kiểu mới nhứt.

        Nhiều sĩ quan thuộc loại trừ bị, nên ít biết đến các phương pháp cứng rắn để huấn luyện “thứ huynh”. Các sĩ quan có quyền mặc đồ dân sự, trong khi với chúng tôi, sự dễ dãi ấy bị cấm.

        Công việc tiến triển nhanh trong xưởng tàu La Pallice. Nhờ thông thạo tiếng Pháp, nên tôi được giao làm thông ngôn ở hải cảng. Tôi thường có cơ hội đi theo chỉ huy trưởng tiểu hạm đội và tham dự nhiều cuộc bàn cãi với người Pháp. Tuy nhiên chúng tôi không ngớt ăn mừng chiến thắng. Chẳng ai xem chiến tranh là quan trọng nữa. Theo dư luận chung, chỉ nay mai là có hòa bình.

        Chúng tôi có nhiệm vụ đi kèm các tàu buôn từ bờ biển vùng Gascogne đến nước Đức. Trong khi đi đường, chúng tôi thả mìn. Các cuộc tấn công của phi cơ khu trục hiếm khi xảy ra.

        Tôi lên một tàu 250 tấn, có một khẩu đại bác và thủy thủ đoàn hai mươi người. Hầu hết thì giờ, chúng tôi canh chừng nơi chỗ ra vào của các hải cảng trong vịnh Gascogne, khiến chúng tôi chịu nhiều mưa gió. Những ngày đầu, tôi bị say sóng dữ dội, nhưng hai tuần sau thì quen hoàn toàn.

        Trong thời gian di chuyển, tôi tìm hiểu phần lớn các bờ biển Pháp, Bỉ, Hòa Lan. Khắp nơi, người ta thấy những cuộc chuẩn bị để xâm chiếm Anh Quốc. Mọi vật liệu hàng hải đều được sử dụng. Người ta ghép các động cơ vào xuồng máy, loại được chế tạo để chạy trên sông. Để tăng tốc độ khi cần, người ta gắn một hay hai động cơ máy bay. Ở mấy chiếc khác, người ta cắt bỏ mũi trước, sửa thành tàu đổ bộ có mũi treo, rút lên hạ xuống được.

        Chúng tôi cũng có súng nhỏ và lựu đạn sẵn trên tàu để đối phó với mọi tình huống.

        Một lần nữa, chúng tôi tưởng sắp tới lúc quyết định. Xao động mạnh trong tiểu hạm đội. Các tàu đều nhận được một bao thư niêm kín, chỉ được mở khi nhận tiêu lịnh: hải cầu. Có thể suy đoán rằng thư chứa lịnh tiến qua Anh Quốc cũng như hành trình phải theo và cảng đổ bộ. Nhiều ngày trôi qua, và rốt cuộc dự án bị bỏ rơi. Bộ chỉ huy tối cao có kế hoạch nghiêm chỉnh nào hơn chăng?

        Tàu của chúng tôi cần tân trang tổng quát. Nó được gởi tới xưởng sửa chữa ở Rotterdam (Hòa Lan). Trong mấy ngày sau đó, tất cả chúng tôi phải tập họp tại trường hải quân Flensburg.

        Được xây dựng trên cao, trường trông đồ sộ, có những bậc thềm rộng dẫn xuống tận hải cảng đầy ghe tàu bỏ neo. Nguyên cả “đoàn thủy thủ” có mặt. Chúng tôi đến từ mọi mặt trận: Bắc Hải, Na Uy, Địa Trung Hải. Đô đốc tỏ ra không hài lòng ngay lần thanh sát đầu tiên. Theo ông, chúng tôi có vẻ quá “rừng rú”. Một số trong chúng tôi để râu ria xồm xoàm, một số khác mang râu mép. Chẳng ai nhớ lại thời mình là thứ huynh đang được huấn luyện trên các tàu buồm và chiếc mẫu hạm. Vì vậy cần bắt chúng tôi quay về đúng qui tắc của trường hải quân.

        Chúng tôi cứ bốn người chiếm một phòng, có thêm chỗ hút thuốc trang bị bàn ghế bằng gỗ sồi bị mọt ăn. Các hành lang rộng lớn được trang trí bằng những tấm bảng mang lời chỉ giáo, sơ đồ tàu và cờ hiệu phai màu. Chúng tôi cho rằng các hành lang này “hôi mùi” truyền thống.

        Các chuẩn úy có điểm tốt trong mấy toán cảm tử ngoài chiến trường được thăng cấp. Chúng tôi mặc đồng phục sĩ quan khiến con gái nhìn với con mắt khác.

        Sau 15 tháng, lần đầu tiên chúng tôi được đi phép. Tôi về nhà cha mẹ ở Berlin. Đồng phục hải quân hiếm thấy tại thủ đô, tôi tự cho mình là một nhân vật. Những kẻ trong bộ binh và không quân hầu hết cho chúng tôi là trung úy, ngược lại đôi khi trong khách sạn người ta tưởng là nhân viên gác cổng và trên xe lửa người ta lầm với người soát vé.

        Chúng tôi phải làm việc thật hăng. Người ta đòi hỏi nhiều nơi chúng tôi. Cũng may, chúng tôi vượt qua hết các khó khăn trong chương trình học, chẳng hạn toán tích phân và nguyên hàm. Hơn nữa, các cấp trên coi sự hiểu biết thực hành quan trọng hơn cả. Chúng tôi làm những chuyến đi xa bằng thuyền buồm, bằng xuồng máy, làm các bài tập cận chiến tàu địch, và nhiều chuyến du hành trên tàu nặng 1000 tấn. Người ta dạy cho chúng tôi một cách tổng quát cách phóng ngư lôi và bắn đại bác lớn. Với lại, dạy kỹ cũng vô ích bởi có quá nhiều loại tàu và vũ khí mới.

        Sau khi thi xong, chúng tôi được phép mang quân hàm chính thức; dự một buổi khiêu vũ từ biệt và ra mặt trận.

        Hai trong số bạn của tôi được bổ nhiệm cùng tôi trên một tàu ngầm. Đó là đầu tháng 5-1941. Nước Đức chưa lâm chiến với Liên Xô, cũng chưa là thù địch với Hoa Kỳ. Việc chiến đấu với Anh Quốc có vẻ cần thiết hon lúc nào hết. Trong trường họp ấy, vũ khí có hiệu năng nhứt chắc chắn là tàu ngầm. Chương trình xây dựng ngành hàng hải, bắt đầu từ năm 1939, ngay khi tuyên chiến với Anh Quốc, đã đem lại kết quả cho Đức. Bởi vì hồi đầu trận chiến, chúng tôi chẳng thể đương đầu với lực lượng hải quân hùng mạnh nhứt thế giới bằng số tàu ngầm quá ít ỏi, khoảng 20 chiếc.

        Chính với một cảm xúc lạ lùng mà lúc chúng tôi nhận nhiệm vụ. Tôi còn nhớ nhiều đoạn sách báo kể lại các biến cố trong Thế chiến thứ nhứt và những lời tuyên bố của chính khách Đồng Minh thú nhận Anh Quốc suýt sụp đổ vì vũ khí tàu ngầm Đức. Trong thời gian giữa 1914-1918, các tàu ngầm của chúng tôi đã đánh đắm hơn 18 triệu tấn tàu buôn, chưa kể số tàu chiến bị trúng ngư lôi. Tôi nhớ lại các hồi ký của một số hạm trưởng tàu ngầm mà tôi được đọc. Cuộc sống trong tàu ngầm đối với tôi có vẻ vừa đáng kính vừa bí hiểm.

        Con đường mà tôi dấn thân vào, bị sức hấp dẫn ma quái của các cánh buồm trắng thu hút, lại đưa tôi đến “chó sói xám” - tức tàu ngầm.

        Thành công của tàu ngầm đã gây ấn tượng lớn trên thế giới. Báo chí chứa đầy những kỳ công của nó, và các bản thông cáo trên đài phát thanh cho biết con số các tàu bị đắm tăng không ngớt. Nhưng chúng tôi biết rằng nhiều tàu ngầm lên đường tấn công địch đã không trở về, như chiếc U-47, U-100, U-101, được các thiếu tá hải quân chỉ huy. Chỉ có chỉ huy trưởng chiếc U-101 là còn sống, nhưng bị bắt làm tù binh.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 17631


« Trả lời #11 vào lúc: 09 Tháng Chín, 2018, 11:51:02 PM »

         
CHƯƠNG III

CHÓ SÓI CẮN

        Chiếc tàu chờ chúng tôi ở Dantzig. Ngoài thủy thủ đoàn, không ai được phép bước vào một tàu ngầm, kể cả sĩ quan thuộc đơn vị khác. Các biện pháp để phòng được áp dụng để kẻ địch không thể khám phá các đặc thù của vũ khí đáng sợ ấy.

        Sau khi đi tìm khá lâu, chúng tôi thấy được tàu của mình. Tàu sơn màu xám. Người ta chỉ hơi phân biệt nó với bờ đê hải cảng, nơi tàu bỏ neo. Hai lính gác canh chừng. Khi chúng tôi hỏi xem chỉ huy trưởng có trên tàu không, họ đáp là ông vừa đi vắng và chỉ trở về ngày mai. Mà 5 giờ sáng mai tàu đa nhổ neo rồi! Các cố gắng của chúng tôi để họ tin rằng chúng tôi sẽ phục vụ trên tàu và ít ra cũng được phép để hành lý trên đó đều vô ích. Không có cách nào - trừ phi có lịnh của chỉ huy trưởng!

        Cuối cùng chúng tôi gặp sĩ quan trực, và ông ta cho phép.

        Các hạ sĩ quan nhìn chúng tôi lên tàu với vẻ mỉa mai. Họ ngang cấp bậc với chúng tôi, nhưng vì chúng tôi chưa hề thấy tàu ngầm và phải học hỏi tất cả, nên chúng tôi chẳng có giá trị gì ráo.

        “Nghiêm!”. Thủy thủ đoàn sửa lại thế đứng; chúng tôi thấy một nón cát-kết trắng; đó là dấu hiệu phân biệt của chỉ huy trưởng, theo truyền thống trên các tàu ngầm. Ông ta nói với chúng tôi như sau:

        - Trên tàu này, mấy anh chỉ có giá trị của con số không. Anh thủy thủ trẻ nhứt còn hiểu biết nhiều hơn các anh. Anh ta là một thành viên có ích cho cộng đồng chúng tôi. Mấy anh, ngược lại, là gánh nặng thừa, tiêu thụ không khí để thở một cách vô ích. Đừng quên sự hiển nhiên đó. Nhiệm vụ của các anh là tìm hiểu nhiệm vụ và thích ứng càng nhanh càng tốt. Trong ba tuần lễ nữa, chúng ta sẽ ở trong khu vục giao chiến. Đừng tưởng rằng tôi sẽ đem các anh theo nếu tôi nhận thấy các anh không hội đủ các điều kiện đòi hỏi. Các anh đừng bao giờ quên vinh dự được sử dụng loại vũ khí tối tân của cộng hòa Đức.

        Họ phát cho chúng tôi hai gói “hành trang tàu lặn”. Người ta quen gọi như vậy trong các tàu ngầm, các bộ quần áo dính liền bằng vải treillis xanh, một bộ đai nịt bằng da, giày đi trên tàu, hai áo lạnh tròng đầu, sáu bộ quần áo lót dính nhau và sáu đôi vớ. Ngoại trừ một số ít quần áo, trong đó có bộ đồng phục lam, chúng tôi không được giữ thêm món gì trên tàu, vì vậy phải gởi bớt đồ đạc về nhà.

        Chúng tôi phải xê dịch trong một không gian chật hẹp cạnh các đồ đạc linh tinh và phức tạp. Chúng tôi phải hiểu rõ chúng. Mỗi hệ thống ống đều có công dụng riêng, phải biết nó từ đâu đến, dẫn đến đâu và vai trò của nó. Người ta bắt chúng tôi bò bên dưới mấy tấm thép lót sàn, chùi rửa đáy tàu, nói tắt là làm tất cả các công việc dơ bẩn nhứt. Bộ đồng phục kiêu hãnh cấp úy chẳng bao lâu bị bỏ quên, chẳng ai mang huy hiệu cấp bậc nữa. Phải bắt đầu lại từ con số không. Một trong ba đứa chúng tôi ngủ chung với thủy thủ đoàn, người thứ nhì với hạ sĩ quan và người thứ ba với các hạ sĩ. Lần lượt chúng tôi thay nhau, và cũng luân phiên ăn tại bàn của sĩ quan.

        Tàu chúng tôi thuộc kiểu chiến đấu thông thường VII C, có sức đẩy 600 tấn khi ở trên mặt nước. Kiểu 250 tấn, nhỏ hơn, thì không thuận lợi cho mặt trận Đại Tây Dương. So với kiểu 800 tấn, tàu chúng tôi có ưu điểm lặn mau hơn, mặc dù có tầm hoạt động ngắn hơn, và nó cũng dễ điều khiển hơn. Hơn nữa, hệ thống bảo vệ hữu hiệu của nó khiến địch khó đánh trúng. Thủy thủ đoàn gồm 42 người.

        Vỏ bọc ngoài có hình dáng điếu xì gà, còn phần thân trong chứa các bộ phận chủ yếu của tàu ngầm. Máy móc cùng bình điện được gom trong đó. Phần thân trong nặng hơn nước. Tàu nổi được là nhờ vỏ bên ngoài. Khoảng trống giữa thân trong và vỏ, khi nổi lên mặt nước thì chứa đầy không khí, khiến toàn thể có sự thăng bằng, và chỉ một phần bảy của vỏ tàu ló ra khỏi mặt nước.

        Trong một số ngăn trống, người ta cũng chứa nhiên liệu. Để lặn, người ta đưa nó vào phao chứa “ballast” một số lượng nước để làm nặng tàu. Nếu tàu đứng yên, nó sẽ chìm xuống đáy biển; nhờ động cơ đẩy đi nó mới có thể lơ lửng ở độ sâu tùy ý. Nhờ các bánh lái và “cánh nhỏ” hai bên hông, người ta điều khiển cho tàu trồi lên hoặc lặn xuống.

        Cách sắp đặt nơi thân trong của tàu như thế này. Ở phía trước, có bốn ống phóng ngư lôi, mỗi ống thông thường chứa một ngư lôi. Bốn ống phóng khác nằm bên dưói sàn, và hai ống phóng nữa nằm bên trên ngăn hẹp này, nhưng được che chắn bằng những tấm ván. Mấy người trong thủy thủ đoàn ngủ trên những chỗ nằm “couchette” có thể bật lên trần. Luôn luôn có ít nhứt hai chỗ nằm chồng lên nhau. Ba thủy thủ chuyên nghiệp có hai chỗ nằm dành cho họ. Nhưng những nhân viên khác trong thủy thủ đoàn chia nhau mười hai chỗ nằm trong phòng chứa ngư lôi. Các chuyên viên phóng ngư lôi, vô tuyến và cơ khí thì cứ hai người một chỗ nằm.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 17631


« Trả lời #12 vào lúc: 09 Tháng Chín, 2018, 11:51:34 PM »


        Cách phân phối này, dựa theo giờ giấc trực, được thi hành không mấy khó khăn. Cứ một người dậy, thì một người tới nằm ngay chỗ đó để ngủ.

        Tuy nhiên, đừng tưởng những người đang nghỉ ngơi có thể ngủ suốt đến giờ trực. Mọi người phải dậy vào giờ ăn; lúc ấy người ta đặt một cái bàn, các chỗ nằm bên trên phải bật lên, để có thể ngồi nơi các chỗ nằm bên dưới. Ngoài ra, việc nghỉ ngơi bị ngắt khoảng hằng ngày trong phòng thủy lôi, bởi công việc kiểm soát, xem xét các bộ phận máy móc. Lúc ấy, các chỗ nằm làm vướng khiến phải bật chúng lên.

        Cuối cùng, thủy thủ đoàn còn làm tạp dịch để giữ cho tàu sạch sẽ.

        Ròi phòng thủy lôi, chúng ta qua phòng dành cho trưởng hoa tiêu và hai trưởng chuyên viên cơ khí. Bên trái, có hệ thống quạt và bên phải, một phòng vệ sinh. Kế là nơi làm việc của hai sĩ quan hải hành và của sĩ quan kỹ sư. Sau đó là: một bên, phòng của chỉ huy trưởng nhưng thật ra chỉ là một góc được ngăn bằng tấm màn che dày. Trước mặt chỉ huy trưởng có một máy vô tuyến, và trong góc có các dụng cụ quan trọng liên quan đến lặn, điện thoại, âm thanh, v.v... Sát chỗ chỉ huy trưởng có đặt máy móc chính xác quan trọng, và ta có thể vào phòng mệnh danh “phòng chỉ huy”. Trong thời gian lặn, chỉ huy trưởng và kỹ sư có mặt tại nơi ấy, và từ đó lịnh được ban ra. Tất cả máy móc cần thiết cho việc chạy dưới biển đều được gom lại nơi đó, chẳng hạn bánh lái lặn, bom, v.v... Cũng chính từ đó, người ta có thể lên đài quan sát.

        Phòng chỉ huy có thể trở thành biệt lập với phần trước và phần sau con tàu. Các tấm vách ngăn có thể chịu đựng sức ép của nước tới 100 mét bề sâu, trong khi mấy tấm vách ngăn của các phòng khác chỉ được dự trù chịu đựng tới 20 mét thôi.

        Sau đó đến phòng của hạ sĩ quan gồm tám chỗ nằm được sử dụng luân phiên. Đằng sau, bên phải, có nơi để thực phẩm, kế đó là chỗ để máy dầu cặn và động cơ điện, với ống phóng thủy lôi phía đuôi tàu và thủy lôi dự phòng để bên dưới sàn tàu. Phòng của hạ sĩ quan không được thuận tiện, vì ai cần vào ra phòng thực phẩm hay phòng máy - đều phải đi ngang qua đây, mà việc này thường xuyên xảy ra.

        Vào thời đó, có nghĩa là năm 1941, các đơn vị mới thành lập nhận một thủy thủ đoàn gồm phân nửa là thủy thủ từng ra trận, phân nửa là lính mới. Vì vậy, trong ngành chúng tôi, một trong hai người là đã có huy chương. Chỉ huy trưởng của chúng tôi từng dự trận nhiều phen. Đó là một người cao lớn, tóc vàng, có gương mặt xương xương và cương quyết, ông diễn tả bằng lời nói ngắn gọn.

        Thời gian huấn luyện sáu tháng trong biển Baltique mà mọi tàu ngầm mới xuất xưởng đều phải trải qua, đã hầu như chấm dứt đối với chiếc mà chúng tôi được phân phối đến Dantzig. Và cũng như nó đã được thăng cấp một bậc. Nó phải chịu mọi thử thách bắt buộc đối với một số đội ngũ chuyên viên. Tỉ dụ trong các lần tập lặn, người ta cho ngưng chạy một số máy và đèn bị tắt, theo lời chỉ dẫn của kỹ sư hàng hải. Người ta phải làm một số công việc trong tối, y như trường họp lỡ gặp tai nạn như vậy khi lâm chiến. Khi chiếc tàu ngầm đa thỏa mãn được các trắc nghiệm, nó được chỉ định nằm trong thành phần tiểu hạm đội huấn luyện. Tàu của chúng tôi may mắn vượt qua các thử thách ấy. Đó là dấu hiệu tốt cho vị thiếu tá chỉ huy. Chỉ còn cuộc khảo sát cuối cùng về chiến thuật mà người ta xem rất quan trọng. Việc đó kéo dài 15 ngày, và đó là thử thách gay go cho chiếc tàu cũng như cho thủy thủ đoàn, về sau này, khi tôi tham gia với tư cách “sĩ quan - giám thị”, tiểu hạm đội dự thi mất hai trong số mười hai chiếc, và ba chiếc khác trở về căn cứ và bị hư hỏng nặng.

        Các cuộc thao dượt chiến thuật hùng tráng này trải dài trên một phần biển Baltique. Các tàu phải chiếm một vị trí xuất phát, kế công việc xảy ra y như trên mặt trận Đại Tây Dương: một đoàn gồm nhiều tàu và được bảo vệ mạnh mẽ chạy theo hình chữ chi. Ít nhứt 50 chiếc máy bay có nhiệm vụ trông chừng, chúng kiểm soát những khoảng không gian rộng lớn và báo tin mọi tàu ngầm đến gần.

        Hoàn cảnh không giống chút nào với thời tiểu hạm đội bắn thử, nghĩa là không bắn với “ngư lôi tập trận” (Thứ ngư lôi này khác với ngư lôi thật, chứa 200kg chất nổ, ở chỗ được điều chỉnh để chỉ chạy lướt qua bên dưới mục tiêu). Người ta chỉ chuyển cho “chiếc tàu bia” số tọa độ để có thể ghi kết quả trúng mục tiêu và phán đoán về sự tập luyện của thủy thủ đoàn tàu lặn đang quan sát. Chiếc tàu bia cho biết lần đánh trúng mục tiêu bằng một ngọn đèn cháy sáng nếu trong đêm, và ghi số điểm bị bắn trúng. Ban ngày thì người ta cho các luồng khói bay lên ngay chỗ ngư lôi đánh trúng. Cuộc thi của chúng tôi đạt kết quả thuận lợi. Người ta gởi chúng tôi tới Kiel để trang bị nhằm ra mặt trận.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 17631


« Trả lời #13 vào lúc: 09 Tháng Chín, 2018, 11:52:01 PM »


        Tiểu hạm đội đang được trang bị mang số 5. Sát hải cảng, mười chiếc tàu ngầm giống nhau, màu xám, hẹp và dài khoảng 70 mét đang bỏ neo. Tôi gặp lại nhiều bạn cũ ở Trường Hải quân, vì mỗi tàu ngầm có hai tới ba thiếu úy. Các sĩ quan mới ra trường phải tập sự trong vùng đang đánh nhau.

        Từng đoàn xe đưa thực phẩm đến. Người ta tính thời gian đi biển khoảng tám tuần lẽ, nhưng nếu hạn chế khẩu phần thì có thể chịu đựng đến bốn tháng. Phải sắp đặt sao cho số thực phẩm này không làm mất thăng bằng khi tàu chạy dưới nước, cũng như chúng không xê dịch khi tàu bắt đầu lặn, có lúc phải chúc đầu xuống 60 độ. Và đồ dự trữ này cũng không làm vướng víu máy móc và sự di chuyển của đoàn thủy thủ. Về sau, các tàu ngầm nhận được sơ đồ để sắp đặt một cách chính xác. Thịt muối hun khói và “saucisson” được đặt giữa mấy ống phóng thủy lởi và trong phòng chỉ huy. Thịt tươi (dùng trong 3 tuần lễ) cất giữ trong tủ lạnh và bánh mì (để dùng trong thời gian gần như vậy) được treo trong giỏ lưới đằng trước và trong phòng động cơ. Sau khi hết thức ăn tươi, chúng tôi dùng đồ hộp.

        Để nạp ngư lôi, tàu chúng tôi được đưa sát một cái đê. người ta bắt đầu nạp đằng trước qua ngã một tấm bửng đặc biệt, kế nạp đằng sau. Cuối cùng, người ta để hai ngư lôi trong hai thùng kín đặt trên sàn tàu có khả năng chịu đựng mọi sức ép của nước. Nếu sau này, muốn đưa chúng vào trong, tàu phải trồi lên mặt nước.

        Cuối cùng, đến việc sắp xếp đạn dược: các lựu đạn cỡ 88 ly và 20 ly, cũng như một số lượng đạn đáng kể cho súng liên thanh, đại bác, v.v... Trên sân thượng, có một đại bác kiểu đặc biệt, và một khẩu phòng không tự động. Một cây đại liên có thể gắn tức khắc trong vài giây đồng hồ trên đài quan sát.

        Đồ trang bị đã đầy đủ. Mấy bình dưỡng khí được nạp, người ta thay các bộ phận lọc để tinh khiết hóa không khí. Chúng tôi đã gởi thư từ cuối cùng về cho gia đình và sẽ khởi hành sáng hôm sau. Mình có trở về không? Có lẽ đó là ý nghĩ thầm kín của mỗi người trong chúng tôi.

        Thủy thủ đoàn mặc đồng phục xám đứng nghiêm trước lần thanh sát cuối cùng của chỉ huy trưởng tiểu hạm đội.

        - Các bạn! Hãy ý thức về việc phục vụ xứ sở thân yêu của chúng ta bằng phương tiện vinh quang nhứt, hiệu quả nhứt trong các vũ khí. Tiến lên, nhắm về hướng kẻ thù, đánh đắm chúng! Đó là châm ngôn của chúng ta.

        Bờ biển Đức mờ dần đằng xa, sau lưng chúng tôi. Chỉ huy trưởng tàu đã quyết định chạy qua giữa Ai len và quần đảo Féroé để ra Đại Tây Dương. Ngay hồi Thế chiến thứ nhứt, việc gởi tàu lặn từ các hải cảng Đức qua Đại Tây Dương cũng là một trong các vấn đề lớn của chiến tranh tàu ngầm rồi. Ngoại trừ các bờ biển Pháp, chúng tôi không có hải cảng nào làm trạm dừng chân. Biển Manche hẹp, nên tương đối dễ canh chừng và người ta có thể ngăn cấm việc qua lại của tàu ngầm bằng mìn hoặc lưới. Do đó phải đi vòng, tránh các hòn đảo Anh Quốc, dưới sự đe dọa thường xuyên của địch.

        Trong chuyến đi đầu, việc thiếu kinh nghiệm của thủy thủ mới vào nghề khiến chúng tôi bị mất mát tương đối nặng. Nhiều thủy thủ trẻ bị say sóng, và khó mà tin tưởng nơi người say sóng, dù anh ta làm công việc canh chừng hay đảm trách gì đó khi tàu lặn xuống nước.

        Tôi có nhiệm vụ gác khu vực đằng sau, y như một thủy thủ trơn. Đằng trước, có sĩ quan trực, một hạ sĩ và hai thủy thủ. Chỗ đó cũng có một thiếu úy. Mỗi người có nhiệm vụ thanh sát khu vực của anh ta bằng ống dòm hay mắt thường suốt bốn tiếng đồng hồ liên tục, không một bóng mát che đầu.

        Bốn ngày trên biển. Chẳng thấy gì: không một máy bay nào, không chiếc tàu nào, không trái mìn trôi nào. Hai máy dầu cặn phát ra tiếng động đều đặn. Thân tàu bằng thép tạo thành một thùng vang âm đáng nể. Chúng tôi giữ tốc độ 14 đến 15 gút một giờ.

        Khi có chuông báo động, các máy dầu cặn ngưng chạy. Người ta bắt đầu làm việc gấp rút trong phòng cơ điện. Hai chân vịt được bắt qua động cơ điện. Mỗi người biết rõ việc phải làm. Các đèn đỏ báo cho biết bất cứ chi tiết nào còn bỏ quên.

        Sau khi đậy tấm bửng, sĩ quan trực la lên: “Lặn xuống!”, và tiếp đó là lịnh của kỹ sư - cơ khí viên: “Mở ống xả!”. Anh ta có trách nhiệm chỉ cho phép mở ống xả không khí của phao chứa, khi nào tàu sẵn sàng lặn. Trước mặt anh ta có tấm bảng gắn đèn hiệu. Các phao chứa không khí mang số 5 (ở đầu), 4 và 3 (hai hông đằng sau) và hai phao giữa (hai hông ở giữa).
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 17631


« Trả lời #14 vào lúc: 09 Tháng Chín, 2018, 11:52:38 PM »


        Nước chảy vào các phao chứa, tàu nghiêng 10 độ. Phao chứa sau đuôi được mở cuối cùng, để tàu nghiêng nhanh. Và tàu lặn xuống: 10 mét, 15 mét, 20 mét...

        Sĩ quan trực báo cáo với chỉ huy trưởng: một máy bay kiểu Sunderland trong khu vực trái đằng trước, khoảng cách 4000 mét. Bầu tròi hơi bị mây che. Nếu máy bay thấy chúng tôi, nó phải bay vòng để tấn công, lúc ấy chúng tôi đã xuống sâu 50 mét trước khi mấy trái bom đầu tiên rơi xuống.

        Khi tàu chạy trên mặt biển, các thùng chứa dùng để lặn nhanh đựng 5 tấn nước và giúp cho việc ngụp xuống nước mau lẹ. Nhưng khi xuống sâu, tàu trở nên quá nặng. Kỹ sư - cơ khí viên bèn hạ lịnh: ‘Xả nước” và liền đó khí nén được đưa vào với áp suất 205kg nên nước bị đẩy ra ngoài nhanh chóng. Áp suất không khí bên trong tàu tăng lên, khiến tai chúng tôi lùng bùng.

        Kỹ sư - cơ khí viên báo cáo với hạm trưởng là tàu ở độ sâu 40 mét, và đang xuống mau với 35 độ nghiêng đầu mũi. Chỉ huy trưởng ra lịnh xuống đến 100 mét. Sáu mươi mét, sáu mưoi... Đột nhiên, một tiếng nổ. Đó là một tiếng trầm, chẳng giống chút nào với tiếng nổ trên mặt đất. Nước truyền âm thanh tốt; chúng tôi có cảm tưởng như đang bị nhốt trong cái trống. Mỗi ngưòi ở yên vị trí của minh. Chiếc tàu ngầm rung lên, nhưng tiếng nổ ở xa, tàu không hề hấn gì...

        Khi tàu xuống sâu, không khí trong các phao chứa (ballast) bị nén lại và tàu trở nên nặng hơn. Ở độ sâu trung bình, thì ngược lại, nó có thể làm tàu mất thăng bằng và lắc lư. Nếu cần nổi lên mặt nước, người ta bơm không khí vào các phao chứa, vi vậy hễ bơm hư thì kể như tiềm thủy đỉnh “tàn đời”.

        Hạm trưởng tỏ ra hài lòng vẻ các “thủy lựu đạn” đầu tiên này: cũng nên tập cho thủy thủ quen, hầu tránh thái độ dửng dưng và quá tự tin của họ.

        Các động cơ chạy tốc độ chậm. Người ta có thể giữ như vậy hai ngày khỏi cần trồi lên mặt nước. Nhưng chúng tôi đâu được phép chạy ngầm, trốn tránh, mà là tấn công và phá hủy.

        Hạm trưởng ra lịnh cho tàu trồi lên tới mức có thể sử dụng tiềm vọng kính (périscope). Dụng cụ này giống như một ống khói, phần trên ló khỏi mặt nước, có bên trong một hệ thống kính giúp người trong tàu có thể quan sát bên ngoài.

        Sức ép của nước hạ dần khi tàu tiến lên mặt nước. Tàu nhẹ đi, nên phải bơm nước vào để “dằn”. Viên kỹ sư biết rõ số lượng, tùy thuộc nhiều yếu tố, trong đó tỷ lệ muối của nước biển là một. Lúc đó hạm trưởng đang ở phòng chỉ huy, ông dùng ống ngắm quan sát một vòng chân trời. Nếu tàu đang ở 100 mét sâu, nó sẽ lên đến 40 mét khoảng một phút sau đó - với độ nghiêng ở đầu mũi là 10 độ. Và khi chạy với tiềm vọng kính, thì tàu được giữ ở mức 14 mét cách mặt biển. Máy tàu phải quay chậm để chân vịt bớt làm nước sôi sục, và ống tiềm vọng kính chỉ hơi ló lên mặt nước, hầu tránh kéo theo luồng bong bóng.

        Khi hạm trưởng cần quan sát bằng tiềm vọng kính, ông ngồi trên một ghế nhỏ trong “đài” riêng, dưới chân có hai bàn đạp, dùng điện điều khiển cho tiềm vọng kính xoay qua trái hoặc phải. Tay phải ông điều khiển tấm gưong nhờ đó có thể quan sát trên trời hoặc mặt nước. Tay trái ông kéo chiếc cần đẩy tiềm vọng kính lên hoặc hạ nó xuống. Ngoài ra còn có các bộ phận để phóng đại hình ảnh nhìn thấy từ một lần rưỡi đến sáu lần, và để làm cho khỏi bị chói vì ánh mặt trời. Có thể gắn máy chụp hình hoặc máy quay phim vào; và dù tiềm vọng kính được đưa lên hay hạ xuống, người quan sát vẫn ngồi yên một chỗ. Khi trời lạnh, có hệ thống sưởi ấm các bộ phận để tránh băng giá làm mờ kính. Ngoài ra còn nhiều chi tiết khác giúp cho việc phóng ngư lôi được chính xác.

        Kế bên ống tiềm vọng kính có cái máy dùng cho việc tính toán. Hồi ấy trên thế giói chưa có nước nào khác có loại máy như vậy, nên khi Thế chiến thứ hai kết thúc, nó được phía Đồng Minh hết sức thán phục. Nó được nối với tiềm vọng kính, và nhờ đó có thể bắn cùng một lúc đến năm mục tiêu trong một đoàn tàu mà chỉ mất vài giây đồng hồ. Các thành công lớn của tàu ngầm Đức trong Đại Tây Dương phần nhiều nhờ cái máy này.

        Khi tàu trồi lên, và kỹ sư cơ khí viên thông báo: “Nắp đài quan sát đã lên khỏi nước” thì người ta vặn các bộ phận để ông chỉ huy trưởng có thể mở nắp. Lúc ấy áp suất không khí bên trong tàu phải bình thường, nếu nó quá mạnh, ông chỉ huy trưởng sê bị hất văng ra ngoài, ngược lại nếu quá yếu thì nắp sẽ khó mở, nước chảy vào trong gây nhiều phiền phức, chẳng hạn làm ướt ống dòm đeo nơi ngực và làm cay mắt.

        Nhờ khí xả từ ống thoát của máy dầu cặn, người ta tống khứ tất cả số nước còn lại ra khỏi phao chứa. Sở dĩ người ta dùng khí của ống xả là để tiết kiệm khí nén, và cũng để các phao chứa đỡ bị sét, vi trong khí dầu cặn có chất béo.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 17631


« Trả lời #15 vào lúc: 09 Tháng Chín, 2018, 11:53:13 PM »


        Thường khi, chúng tôi phải lặn xuống; nhưng bom không trúng chúng tôi. Lắm khi, chúng tôi trông thấy mấy trái mìn thả trôi. Chúng tôi gọi đùa vùng biển đầy mìn là “vườn bông hồng” bởi vì loại trái nổ này lổm chổm gai, trôi lình bình sát mặt nước.

        Có lần, nhìn thấy chiếc tàu thủy đánh cá, hầu hết mọi người trong tàu ngầm muốn đánh đắm, vì nó chạy trong vùng cấm. Nhưng hạm trưởng của chúng tôi chống lại ý đó, boqei nó quá nhỏ, không đáng tốn một ngư lôi. với lại, chúng tôi có thể gây cho hệ thống phòng thủ gần bờ của địch báo động, chúng sẽ rượt đuổi theo chúng tôi. Dù sao, một tiềm thủy đỉnh cũng là một bảo vật trị giá 4 triệu đồng mark.

        Chúng tôi vượt qua bờ biển Island và đến khu vực mà bộ chỉ huy tối cao chiến tranh tàu ngầm đã chỉ định là vùng hành động. Cùng với chúng tôi, các đơn vị khác cũng tạo nên một vòng đai có những mắt rộng hẹp khác nhau. Cơ quan tình báo Đức đã giữ một vai trò quan trọng đối với các đội hình này. Chẳng phải hoàn toàn may rủi mà các tàu ngầm Đức đã nằm ngay trên đường di chuyển của một số tàu đối phương.

        “Cột buồm bên hữu đằng trước!” người trực canh la lên. Hạm trưởng leo lên sàn tàu, và nhìn thấy ngay nhờ kinh nghiệm, ông ra lịnh đuổi theo chiếc tàu ấy.

        “Lái qua trái, hai máy tốc độ trung bình, tiến lên!”.

        Để hạn chế tiêu thụ nhiên liệu, chúng tôi thường chỉ cho chạy một máy dầu cặn, tàu chạy chậm. Cứ bốn tiếng đồng hồ, chúng tôi đổi máy, để chúng luôn luôn nóng và sẵn sàng chạy nhanh khi cần. Chúng tôi cho đóng nắp ống xả khí, nếu không, có thể bị nước vào khi lặn xuống. Trước đó, chúng tôi chạy với tốc độ 6 gút, chỉ vài giây đồng hồ sau tăng lên 12 gút. Chiếc tàu ngầm bẻ lái cho đến khi cột buồm nằm ngay trước mũi chúng tôi.

        Chúng tôi gắn một kính nhìn xa cực mạnh trên chiếc bệ nơi sàn thượng. Nó dùng cho các cuộc tấn công trên mặt biển, và giống như tiềm vọng kính, nó được nối với máy tính bên dưới. Kính ngắm này chịu đựng được áp suất 200 mét dưới mặt nước, nên có thể để luôn trên sàn thượng khi phải lặn gấp.

        Cột buồm của tàu kia nằm ngay các nấc nhắm. Nó hạ thấp rồi xê dịch qua trái. Nó đi về Bắc Mỹ chăng? Hy vọng đó không phải là tàu Mỹ, vì Hoa Kỳ đang là quốc gia trung lập. Nhưng nó ở trong khu vực cấm; mà các tàu trung lập phải chạy theo đường chính thức và không được chạy theo chữ chi.

        Hạm trưởng ra lịnh cho động cơ chạy nhanh hơn: 14 gút, 16 gút... Cột buồm hiện ra rõ thêm. Máy nóng lên, 17 gút. Cánh buồm vẫn ở một chiều cao như cũ, như vậy là tàu ấy chạy 17 gút một giờ. “Tốc độ tối đa!”. Còn ba tốc độ cực nhanh và có thể phụ thêm động cơ điện, nhưng chỉ dùng đến trong trường hợp khẩn cấp. Chân vịt quay 360 vòng một phút, đằng sau tàu chúng tôi có một lằn bọt dài.

        Từ hai tiếng đồng hồ rồi, chúng tôi chạy với tốc độ tối đa, nếu không ngại hao phí nhiên liệu, chúng tôi có thể tiếp tục như vậy trong mấy tuần lễ. Các động cơ chịu đựng được vì là loại M.A.N. Trước khi ra mặt trận, mỗi chiếc tàu đều phải chạy thử trong tám tiếng đồng hồ với tốc độ cao. Ít khi trong cuộc thử thách này người ta khám phá ra một vài khuyết điểm trong động tác của máy.

        Cứ năm phút một lần, hạm trưởng cho biết vị trí của tàu bị săn đuổi và khoảng cách giữa nó với chúng tôi.

        Động cơ dầu cặn vẫn chạy nhanh. Tám trục tròn của chúng cao hơn đầu người.

        Năm giờ chiều. Với tốc độ này, chúng tôi tiến thêm tới gần chẳng bao nhiêu. Phải làm sao tấn công nó trong đêm nay.

        Tất cả sĩ quan trong đội lái tàu cùng những người trực canh giỏi nhứt đều có mặt trên sàn tàu. Những người ấy sẽ không đổi phiên, dù tàu có chạy như vậy trong mấy ngày. Họ chỉ ăn một thứ sô cô la có tên “sô cô la của tàu ngầm” để bao tử khỏi làm việc nhiều khiến mệt thêm. Chỉ ăn duy nhứt sô cô la và uống cà phê. Họ cần mở mắt quan sát

        Hoàng hôn đến. Trong 20 phút nữa, trời sẽ tối. Rất khó mà tìm lại được trong đêm tối, nếu tàu ấy rẽ qua ngã khác. May sao, chúng tôi vẫn tiếp tục đuổi đúng hướng. Tám giờ tối, trăng hiện ra giữa đám mây, và càng lúc càng sáng. Đó là một bất lợi cho chúng tôi (dễ bị phát hiện) nhưng nhờ đó chúng tôi có thể phân biệt một bóng đen cách xa 4 dặm.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 17631


« Trả lời #16 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2018, 11:39:59 PM »


        Mười giờ đêm, hạm trưởng thấy một cột buồm đằng trước. Khoảng cách 4 dặm. Máy đạt tốc độ tối đa. Bọt trắng văng không ngớt lên đài quan sát. Những người trực canh bị ướt nhẹp. Cứ năm phút, người ta lại bơm khí nén vào các phao chứa, để tàu ngầm nổi lên mặt nước càng cao càng tốt. Đó là một cách để tăng tốc độ.

        Chúng tôi săn đuổi mà chẳng nghĩ tới nguy hiểm, dù tàu địch có thể gắn hai khẩu đại bác nơi mũi, chưa kể mấy đại bác bắn nhanh và mấy liên thanh mà các tàu không có hộ tống được trang bị. Không thứ tàu nào lại mỏng manh bằng tiềm thủy đỉnh. Nếu một trái bom rơi xuống tàu, thì chúng tôi không thể lặn nữa mà kể như tàn đòi. Chỉ một viên đạn liên thanh đâm thủng thùng bồn chứa dầu là chúng tôi lâm nguy: dầu sẽ chảy dài theo đường chúng tôi di chuyển dưới nước, và địch cứ đuổi theo đó mà tấn công.

        Bốn giờ khuya. Thay vì còn tối đen, bầu trời sáng hơn. người ta thấy rõ đường chân trời. Toán trực canh bên tàu kia có thể nhìn thấy chúng tôi. Chỉ huy trưởng ra lịnh cho viên đệ nhứt sĩ quan phụ tá: “Đúng 5 giờ, mình phóng! Đó là may mắn cuối cùng của chúng tôi. Sắp sáng rồi. Ở 4500 mét... ba loạt!”.

        Còn 15 phút. Thủy thủ đoàn ở vị trí chiến đấu. Ai cũng bận rộn. Hai người sử dụng máy tính: một ở trong đài quan sát, một trong phòng chỉ huy. Người phóng ngư lôi trưởng và phụ tá của anh ta đang ở bên các ống phóng đằng mũi, một người phóng ngư lôi ở bên ống đằng đuôi. Các nắp ống phóng vẫn còn đóng, người ta chỉ mở chúng vào lúc chót vì khi mở ra, chúng gây nên lực cản làm giảm tốc độ tàu. Chúng tôi phải tiến đến gần hon nữa. Chạy đằng sau tàu địch để phóng thì ít có may mắn thành công. Đưa mũi tới, tàu chúng tôi ít bị trông thấy - ngoại trừ đám bọt hình rẽ quạt phía trước tàu. Ông chỉ huy trưởng điều khiển cho tàu ngầm ở vào vị trí tốt nhất, tránh đưa hông ra để địch dễ tấn công - vì tàu chúng tôi dài đến 70 mét.

        Sĩ quan phóng ngư lôi đang đứng trước bảng tính, ra lịnh: “Ống 1 đến 5 sẵn sàng phóng ngang mặt nước!”. Các ống được dìm xuống và các nắp được mở bằng tay lái. Anh kỹ sư tính toán số lượng nước phải xả bớt hay thêm vào tàu sau khi ngư lôi được phóng đi để giữ cho tàu có sức nặng thích họp. Qua ống dẫn âm, chúng tôi nghe mấy lời này từ phòng ngư lôi: “Ong 1 đến 4 sẵn sàng phóng ngang mặt nước”. Và từ phòng sau đuôi! “Ống 5 sẵn sàng phóng ngang mặt nước”, Sĩ quan phóng ngư lôi ra lịnh: “Ba loạt bằng ống 1, 3, 4”.

        Chúng tôi vẫn còn chạy song song và hơi tiến quá tàu địch. Kính ngắm được gắn trên trục xoay. Sĩ quan phóng ngư lôi đứng trước máy tính. Dựa theo các dữ kiện, máy tính cung cấp ngay tất cả lời giải tìm kiếm, chẳng hạn góc ngắm...

        Các ngư lôi sẽ chạy cách mặt nước 7 mét. Tốt nhứt là chúng chạy dưới lườn tàu địch, cách 2 mét. Một hỏa tiễn từ tính sẽ làm chúng nổ, và tàu địch sẽ bị hất lên, kế rơi xuống lại, gãy làm đôi.

        Trong Thế chiến thứ nhứt, sau khi rời ống phóng, các ngư lôi được con quay “gyroscope” hướng dẫn chạy thẳng theo đường đã được canh lúc đầu. Rất khó mà phóng như vậy, nhứt là khi muốn tránh các khu trục hạm hay những tàu khác đi theo đoàn tàu địch. Lắm khi không thể phóng, bởi không có cách nào tránh đưa hông ra phía địch.

        Trong Thế chiến thứ hai, các ngư lôi mới của chúng tôi có thể chạy vòng 90 độ. Mấy kiểu cuối cùng còn có thể chạy vòng 180 độ. Như vậy, khả năng tấn công trở nên khá hơn. Chiếc tàu ngầm, khi phóng ngư lôi, không cần phải giữ một lộ trình nào đó; máy tính, được nối với thiết bị ngư lôi, sẽ giúp cho việc bắn giản tiện hơn.

        Chỉ cần vài giây đồng hồ, máy tính sẽ cho biết kết quả. Từ lúc đó, nếu tàu chúng tôi có đổi hướng đột ngột cũng chẳng sao, chỉ cần giữ mục tiêu ngay chữ thập của máy ngắm là có sự điều chỉnh một cách tự động. Và người ta có thể bắn, dù đang ở vị trí nào, nếu không vượt quá góc 90 độ.
« Sửa lần cuối: 10 Tháng Chín, 2018, 11:57:07 PM gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 17631


« Trả lời #17 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2018, 11:58:21 PM »


        Chúng tôi quẹo qua phải để tấn công cách mục tiêu 6000 mét. Đã thấy rõ kẻ địch: tàu chở dầu của hải quân Anh, 18000 tấn. Đẹp mã. Chúng tôi hơi lặn xuống một chút, để đám bọt trước mũi tàu bớt thấy rõ. Và chỉ chạy với tốc độ 12 gút. Khoảng cách 5000 mét.

        Hạm trưởng ra lịnh cho sĩ quan phóng ngư lôi: “Bắn ở 4500 mét! Nhắm vào cột trước! Đã đến lúc”.

        Nhờ máy tính, tàu có thể lái quay ra nơi khác trước khi ngư lôi nổ, do đó tàu ngầm tới gần mục tiêu dễ dàng hơn. Máy tính điều chỉnh liên tục để việc phóng được chính xác. Nếu mục tiêu lệch khỏi đường ngắm, một tấm bảng nhỏ có đèn sáng lên, mang hàng chữ “Ngoài tầm”.

        Tiếng chỉ huy trưởng: “Cho phép bắn!” Sĩ quan phóng ngư lôi đứng trước cột nhắm. “Bắn!”, anh hạ sĩ quan lặp lại. Qua ống loa, người phụ tá phóng ngư lôi ở trong phòng phóng nghe rõ. Hai bàn tay và một bàn chân anh ta đặt trên ba bộ phận khởi động. Nếu bộ máy tự động không hoạt động được thì anh ta sẽ nhấn xuống. Dù việc đó không bao giờ xảy ra, nhưng cẩn thận vẫn hon.

        Tàu ngầm bị nhồi lên ba lần. Người ta nghe ba tiếng rít bị nén, ngắn; đó là khí ép đã đẩy các ngư lôi ra trước. Không được phóng các ngu lôi cùng một lúc, vì chúng sẽ gây bất lợi cho nhau. Khoảng cách thòi gian giữa hai ngư lôi được phóng là một giây hai phần mười. Cùng lúc với lịnh bắn, trung úy cơ khí viên cho chảy vào và phân phối một số lượng nước. Sự thăng bằng và sức nặng của tiềm thủy đỉnh tuyệt đối không được thay đổi. Tàu phải giữ khả năng lặn được cấp tốc.

        Hạm trưởng ra lịnh: “Tốc độ tối đa. Tiến tới trước!”. Chúng tôi phải luôn luôn chạy trên mặt nước khi muốn tránh xa. Tàu địch được canh chừng hết sức cẩn thận. Một tia sáng. Khoảng cách giữa chúng tôi và tàu địch là 6000 mét. Có mấy tiếng nổ đằng sau, cách chúng tôi khoảng 300 mét.

        Báo động! “Lặn 10, 20... 50 mét”. Các tiếng nổ đã xa, bởi một chiếc tàu không được hộ tống thì không nguy hiểm đối với tàu ngầm chạy bên dưói nước.

        “Chạy ở tầm tiềm vọng kính”. Động cơ quay chậm lại. Chúng tôi ở cách xa mục tiêu thêm vài dặm biển. Ớ khoảng cách này, tàu địch không thể thấy ống tiềm vọng vì quá nhỏ, hơn nữa nó được trang bị một bộ phận đặc biệt để tránh gây xoáy nước.

        Chiếc tàu lại ở ngay đường nhắm. Hình như nó quay đầu trở lại với tốc độ tối đa. Hạm trưởng nhìn vào đồng hồ ông đeo nơi tay. Nó được chế tạo riêng cho người trên tàu ngầm và có nhiều kim để ước tính tốc độ và một số dữ kiện. Những tiếng nổ gầm lên có vẻ thông báo sự thành công. Hạm trưởng- nhìn vào tiềm vọng kính, và cho biết qua hệ thống loa: ‘Trúng mục tiêu đàng sau. Hình như nhằm đuôi tàu”.

        Trước khi chúng tôi lặn nhanh xuống, các hiệu thính viên đa nghe lén được trên làn sóng 600 mét các lời kêu cứu “Tàu ngầm Đức” và cho biết vị trí của họ.

        Tàu địch đã ngưng chạy và mấy luồng hơi nước bay lên. Hình như các thiết bị của bánh lái bị trúng. Chúng tôi chuẩn bị tấn công trở lại. Chúng tôi đến gần tới 1000 mét. Địch nhìn thấy tiềm vọng kính, và nổ tất cả liên thanh cùng mọi súng bắn nhanh mà họ có. Tấm kính của tiềm vọng kính có thể lâm nguy, vì vậy hạm trưởng chỉ đưa ống tiềm vọng lên khoảng một giây đồng hồ. Để tấn công phía bên kia, chúng tôi lặn xuống 20 mét.

        Hiệu thính viên cho biết: “Hiện giờ, nó ở ngay bên trên chúng ta”.

        Trong cuộc tấn công khi tàu còn lặn, thì chính tay hạm trưởng lái, nhắm và phóng. Sĩ quan phóng lôi chỉ kiểm soát các dữ kiện cần thiết cho việc thiết lập các bảng tính toán.

        Lần này, phải phóng ngư lôi nằm trong ống đằng sau. Tương đối hiếm gặp cơ hội sử dụng nó.

        Hạm trưởng, ngay trước khi bắn, đa đưa cao tiềm vọng kính lên, để nhắm tàu địch trong vạch ngắm. Máy tính cho biết ngay. Xa 400 mét. Bắn! Ngư lôi vọt đi, ống tiềm vọng được hạ xuống.

        Tiếng nổ phải xảy ra sau 25 giây. Ngay trước đó, hạm trưởng lại đưa tiềm vọng kính lên. Một máy quay phim đặc biệt được gắn vào đó, hình ảnh sẽ được ghi lại lúc nổ.

        Chiếc tàu chở dầu gãy ngay giữa. Mọi người trong tiềm thủy đỉnh được phép nhìn vào tiềm vọng kính. Mấy chiếc xuồng cấp cứu, mấy chiếc bè được quăng xuống nước. Chiếc tàu to lớn chìm xuống biển. Thủy thủ đoàn của tàu địch được an toàn. Họ sẽ được một tàu chiến nào đó vót lên. Chúng tôi không thể vớt ai vì thiếu chỗ.

        Chúng tôi tự cho phép “xả hơi” một chút bằng cách lặn sâu 50 mét để yên tĩnh lắng nghe mấy đĩa hát. Các bài ca quen thuộc của xứ sở chúng tôi vang lên, và mỗi người được một khẩu phần rượu cô-nhắc!
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 17631


« Trả lời #18 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2018, 11:59:27 PM »


        Chúng tôi sẽ đến một khu vực khác để hoạt động, vì chắc chắn trong một thời gian dài, không tàu buôn nào đi qua đây, ngược lại, sẽ có nhiều toán diệt tiềm thủy đỉnh và hàng không duyên hải đến viếng chúng tôi.

        Múc dự trữ nhiên liệu của chúng tôi đã vơi phân nửa. Trong trường hợp này, bộ tư lịnh tối cao để cho hạm trưởng quyền rời khỏi vùng hành quân nếu anh ta muốn.

        Các tuần sau đó, chúng tôi lại được thêm các thắng lợi mới. Từ lâu rồi, chúng tôi chỉ sống nhờ đồ hộp, vĩnh viễn bằng đồ hộp... Chúng tôi mắc phải “bịnh thiếc”lối nói để gọi cách sống chật hẹp, chung đụng hằng ngày dưới tàu ngầm. Thức ăn có mùi dầu cặn và chút mùi mốc. Bên trong tàu, phòng bị ẩm; quần áo bằng da và giày mốc lên nếu không thường được sử dụng.

        Chúng tôi nhận lịnh chạy về Lorient. Tới ngang vịnh Gascogne, chúng tôi chạy dưới nước ban ngày và chạy trên mặt biển ban đêm.

        Tất cả các gương mặt đều sáng rỡ. Mọi người hi vọng nhận được nhiều thư từ khi đến. Chúng tôi có thể viết cho người thân để họ biết mình còn sống - bởi hạm trưởng chỉ thông báo sự mất tích của một thủy thủ sau 6 tháng.

        Người ta gởi đến chúng tôi một toán máy bay hộ tống. Mấy chiếc Messerschmitt bao quanh chúng tôi. Giờ đây, chẳng gì có thể xảy ra cho chúng tôi, ngoại trừ mìn. Nhưng trong vùng đầy mìn này, một tàu vét mìn chạy trước chúng tôi, nếu có chất nổ trôi dạt, thì nó gặp trước. Mà một tàu vét mìn thì không thể chìm, bởi nó chứa đầy gỗ mốp và thùng rỗng.

        Chúng tôi vào cảng, ống tiềm vọng kính có mang băng vải trắng, báo cho biết sô' lượng trọng tải của các tàu bị đánh chìm. Nếu chúng tôi có bắn chìm tàu chiến, thì đa kéo cờ nhỏ màu đỏ.

        Chúng tôi mặc quần áo sạch, xám, giống như màu tàu chúng tôi. Trên bến tàu, có nhiều sĩ quan của căn cứ hải quân; quân nhạc vang lên và - có thể nào tin được không? - mấy nàng thanh nữ, thanh nữ còn sống nhăn! Họ được giao nhiệm vụ về thư từ. Tất nhiên, thấy được tiếp đón cỡ đó, tim chúng tôi nhảy tưng tưng trong lồng ngực.

        Tôi phải đi ra phía trước, để lo công việc cập bến. Rất nóng lòng, tôi bắt đầu chạy. Nhưng mới vài bước đầu là té sấp xuống dập mũi. Quen với sự lắc lư triền miên của con tàu, tôi có lối bước nghiêng qua nghiêng lại của thủy thủ, và không còn biết cách di chuyển trên một tấm ván nằm yên.

        Buổi tối sau cùng chúng tôi đến, có liên hoan trên tàu. Tất cả nhân viên thủy thủ đoàn, kể cả hạm trưởng, đều tham gia các trò vui chơi. Tối đó, chúng tôi quên hết mọi việc liên quan đến công vụ, chúng tôi ca hát, uống và cười với nhau. Uống cho tới “đã” cũng chẳng ai rầy.

        Vị chỉ huy hạm đội tiềm thủy đỉnh, đô đốc Donitz, đến duyệt quân chúng tôi. Hai thủy thủ đoàn được gọi tới dàn chào. Đó là lần đầu mà tôi được ngắm nhìn thật gần, con người mà ý chí, công lao đã làm cho tàu ngầm trở thành một vũ khí đáng sợ.

        Nghị lực, tính nghiêm khắc của ông đòi hỏi sự phục tùng, trung thành tuyệt đối của người thủy thủ, là điều ai cũng rõ. Lời nói của ông biểu lộ lòng tin cậy, tính quyết định:

        - Thủy thủ kiêu hãnh của tàu ngầm Đức! Các bạn đã chứng tỏ khả năng mình ngay chuyến hành trình đầu tiên. Nếu vào lúc này, chúng ta chỉ có thể gởi ra chiến trận một số tàu rất hạn chế, thì ít ra các bạn cũng được bảo đảm rằng số lượng của chúng sẽ tăng và chúng ta sẽ đuổi sát mức sản xuất của kẻ thù. Chúng ta sẽ tách hẳn kẻ thù ra khỏi các căn cứ tiếp tế của chúng. Sự tiến triển của các biến cố sắp tói tùy thuộc phần lớn vào các bạn. Chưa chi, số lượng trọng tải bị đánh đắm vượt quá khả năng đóng tàu mới của địch. Ai hành động nhanh hơn sẽ thắng: chúng ta sẽ đạt đến chỗ mà không tàu địch nào có thể qua lại trên biển nữa.

        Đô đốc trao huy chương chữ thập sắt hạng nhất cho hạm trưởng chúng tôi và cho vài thủy thủ tàu ngầm có thành tích. Một số khác nhận huy chương chữ thập sắt hạng nhì.

        Một phần ba thủy thủ đoàn được đi phép. Phần còn lại phải có công việc thường nhật và cứ hai bữa, phải trực gác.

        Một nhà an dưỡng dành cho thủy thủ tàu ngầm là nơi thu hút chúng tôi tại Lorient. Kiến ốc đẹp với mặt tiền trang nhã, lại có hồ tắm. Chúng tôi có thể chơi bóng bàn và bi da, xem phim và khiêu vũ tại nơi ấy.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 17631


« Trả lời #19 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2018, 12:01:40 AM »

        
CHƯƠNG IV

TẤN CÔNG MỘT ĐOÀN TÀU

        Chúng tôi sống luôn tại Lorient cho đến khi trở ra mặt trận. Chiến tranh đã bước vào một giai đoạn mới. Chiến sự miền Đông tiếp diễn. Việc đổi hướng của chiến tranh có đem đến một giải đáp nhanh và vĩnh viễn không? Dù sao Anh Quốc cũng cảm thấy trút bớt được gánh nặng. Với binh sĩ của Rommel ở Bắc Phi, thủy thủ chúng tôi - nhứt là của tàu ngầm - là những lực lượng duy nhất mà Anh và Mỹ dồn sức tấn công.

        Chúng tôi có son một chữ “V” lớn nơi đài quan sát, nó có nghĩa là chiến thắng: Veni, vidi, vici1.

        Nơi chúng tôi định đến là trung tâm Đại Tây Dương.

        Chúng tôi vượt qua 15 độ kinh tuyến Tây, và thông báo bằng vô tuyến vị trí của chúng tôi đến Bộ chỉ huy tối cao. Sau khi gởi công điện, các tàu ngầm thường tránh không sử dụng máy vô tuyến nữa. Kinh tuyến này tượng trưng cho một thứ biên giói lý tưởng, và từ đó trở đi, chúng tôi được hưởng thêm tiền thưởng tiền tuyến.

        Trong nhiều ngày, chúng tôi tiến cùng một tốc độ, và mong mỏi có gì khác thường để giải khuây. Chuyên viên vô tuyến đem trình hạm trưởng một công điện “khẩn”, có lời chỉ dẫn về một đoàn tàu địch.

        Khoảng cách vẫn còn xa nhưng đoàn tàu tiến về phía chúng tôi, trừ phi nó bất ngờ đổi hướng. Chúng tôi chạy với tốc độ trung bình về phía giao điểm của hai lộ trình.

        Sau hai ngày, lẽ ra phải trông thấy nó. Nhưng chẳng có làn khói nào đằng chân trời. Có lẽ đó là một đoàn tàu quan trọng vì bộ chỉ huy tối cao gởi một máy bay trinh sát đến để yểm trợ chúng tôi.

        Phi trường gần nhứt cũng cách xa chúng tôi hon 3000 cây số. Chiếc tàu ngầm thì nhỏ xíu giữa đại dưong, vậy máy bay có tìm ra chúng tôi không? Trong 5 giờ nữa, nó sẽ ở bên trên chúng tôi; chuyên viên vô tuyến thử nối liên lạc, và cuối cùng thành công: đó là một chiếc phi cơ kiểu Blohm - Voss 138 dành cho các công tác đặc biệt. Chúng tôi dùng quang hiệu cho biết vị trí giả định của đoàn tàu. Chiếc máy bay ròi xa chúng tôi.

        Hai tiếng đồng hồ trôi qua. Chúng tôi tiếp tục tiến mà không nhận lịnh gì mới. Chúng tôi tránh sử dụng máy vô tuyến dù ít khi các tàu nghe được công điện xa hơn 20 dặm biển (mỗi dặm biển = 1852 mét). Phi cơ BV 138 trở lại. Các quang hiệu của nó báo cho biết đoàn tàu chạy về hướng Đông, tốc độ 8 dặm biển, gồm khoảng 50 tàu được khu trục hạm hộ tống.

        “Công việc thượng thặng!” hạm trưởng của chúng tôi kết luận. Tiến lên! Chúng tôi chẳng bao giờ hạn chế việc sử dụng máy móc khi cần tiến đến gần mục tiêu. Người trực canh đang ở vị trí của anh ta. Hạ sĩ quan phóng ngư lôi thì lo liệu đằng mũi.

        Phi cơ bay phía trước chúng tôi. Nó biết hướng chính xác. Ba giờ chiều, làn khói đầu tiên xuất hiện, chỉ hơi trông thấy trong ống dòm. Chúng tôi vẫn tiến tói. Lần hồi, các làn khói xuất hiện thêm, rõ hơn. “Cả một rừng! Người nào đó trên sàn tàu nói. Mình phải mệt lắm mới đốn hết!”’ - Đừng có bình phẩm, mà mở mắt ra! hạm trưởng đáp lại, mắt không rời khỏi ống dòm.

        Chiếc BV 138 giã từ, vừa chúc chúng tôi may mắn, kế nó biến mất.

        Sĩ quan trực quay sang kỹ sư (cũng đã lên sàn tàu để định hướng): “Mấy anh không quân sống ngon lành: tối nào cũng ở bên lò sưởi! Để tôi xin chuyển ngành!”.

        Chúng tôi đánh một bức điện ngắn 20 chữ cho biết vị trí của đoàn tàu, hướng di chuyển và tốc độ của nó, số lượng tàu và chiến hạm hộ tống, tình trạng khí tượng và mức dự trữ nhiên liệu của chúng tôi để bộ chỉ huy tối cao có ý kiến về khả năng tán công của chúng tôi. Hai lần trong một giờ, mấy bức công điện bổ sung được gởi tiếp. Chúng tôi là chiếc tàu đầu tiên đến gặp địch. Trước hết phải gom xung quanh chúng tôi các tàu ngầm đang ở trong khu vực biển này, mà tránh tấn công ngay: đó là nguyên tắc của chiến thuật nổi tiếng của Rudel, dù không có nghĩa là phải luôn luôn hành động kết họp nhau. Một khi tới chỗ hẹn, mỗi tàu ngầm hoạt động độc lập. Nhờ vậy kéo dài hằng mấy ngày ở Đại Tây Dương, có thể phá hủy hoàn toàn nhiều đoàn tàu 50 chiếc hoặc hơn.

------------------
        1. Câu này do Julius Caesar (tướng tài và sau trở thành hoàng đế La Ma) đã viết cho Thượng nghị viện La Ma khi ông báo tin chiến thắng vua Phamace. Nó có nghĩa: Tôi đã tới, tôi đã thấy, tôi đã thắng. (Chú thích của người dịch).
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM