Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 22 Tháng Một, 2019, 05:11:08 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Yamamoto và những đánh quyết định  (Đọc 1637 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 17631


« Trả lời #10 vào lúc: 09 Tháng Sáu, 2018, 11:44:14 PM »

         
*

        Lẩn lượt từng chiếc một, các chiến hạm âm thầm lên đường, giống như trong một chuyến công tác thường lệ. Trước hếr là bốn Hàng không Mẫu hạm Shokaku, ZnikakiXt Akagi, và Kaga, rồi tới hai chiếc khác nhỏ hơn, Hiryu và Soryu, được hai chiến hạm, và ba tàu ngầm hộ tống, sau cùng là các tàu dầu. Chiếc cuối cùng đi tới nơi hẹn trong vịnh Tankan vào ngày 21 tháng II, thả neo giữa những ngọn núi phủ đầy tuyết, rải rác một vài túp lều của dân chài lưới. Các thủy thù chất lên tàu hàng ngàn thùng dầu để để phòng biển động mạnh, không tiếp tế ở ngoài khơi được. Họ âm thầm làm việc; không ai được phép lên bờ.

        Liên lạc vô tuyến giữa đất liền và Hạm đội vẫn được duy trì ờ mức bình thường để địch khỏi nghi ngờ.

        Thuyết trình lần chót của Đô Đốc Nagumo diễn ra trên ngay Hàng không Mẫu hạm Akagi vào ngày 23 tháng Mười một. Rạng đông ngày 26 tháng Mười một, lực lượng hành quân bắt đầu lên đường trong những cơn gió lạnh giá mùa Đông.

        Đoàn tàu đi giữa biến khơi ngày này qua ngày khác. Mỗi buổi sáng, khi biển động, những chiếc tàu dầu bị gió thổi dạt rải rác khắp nơi và các khu trục hạm lại phải đi kèm chúng trở về vị trí cũ.

        Các phi cơ trên những Hàng không Mẫu hạm đậu san sát trên boong, phi công bận rộn xem xét lại cần thận các bộ phận, hay cho máy chạy thử. Bên dưới, các phi đội trưởng cắm cúi nghiên cứu trên bản đồ Honolulu và Trân Châu Cảng. Các chiến hạm vẫn tiếp tục tiến vào vùng biển hoang vắng giữa khoảng Midway và quần đảo Aleutians.

        Cuối cùng Yamamoto đã chấm dứt những ngày chờ đợi căng thẳng bằng một mật hiệu vô tuyến : «Leo lên ngọn núi Niitaka”, một ám ngữ báo hiệu lệnh chuẩn bị tấn công. Trận đánh coi như bắt đầu. Các phi hành đoàn nhận lệnh hành quân, và trong những giờ sau đó nhiều người nâng ly tiễn biệt nhau. Ngày hôm sau, tất cả phi công đều bận rộn nghe thuyết trình lần chót và nghiên cứu những mục tiêu ở Trân Châu Cảng, phi trường và đảo Ford. Kusaka đã dấu sẵn một mô hình Trân Châu Cảng bằng nhựa trong phòng, bây giờ ông mới đem lên boong của Hàng không Mẫu hạm Akagi để các phi công cùng nhau nghiên cứu, ghi nhận mục tiêu.

        Rạng đông ngày 6 tháng Chạp, điện văn cuối cùng của Yamamoto gởi cho Hàng không Mẫu hạm Akagi như sau :

        «Giờ hành động đã điểm. Sự tồn vong của đất nước được đặt trong cơn thử thách...»

        Mọi người sẵn sàng trong vị trí chiến đấu. Lá cờ lịch sử có thêu một chữ «z» của Đô Đốc Togo đã bay phất phới ngày nào trên eo biển Tsushima, giờ đây một lần nữa, lại được kéo lên. Nhật lệnh của Yamamoto vang lên tự các loa phóng thanh. Các chiến hạm mở hết tốc lực tiến thằng về hướng Nam trong sự nức lòng phấn khởi của mọi người. 6 giờ sáng hôm sau, các phi cơ bắt đầu cất cánh từ Hàng không mẫu hạm : bốn mươi phi cơ thả thùy lôi, bốn mươi chín oanh tạc cơ thả bom ở độ thấp, và năm mươi mốt chiếc thả từ độ cao của Fuchida.

        Đoàn máy bay 140 chiếc bay rợp một khoảng trời trên phía Bắc đảo Oahu giữa những đám mây bạc. Những oanh tạc cơ do Fuchida dẫn đầu bay ở độ cao 3.000 mét, ông ta chợt nhìn xuống một chỗ trống không có mây và nhận ra Trân Châu Cảng đang ở ngay phía dưới, với những hàng chiến hạm của Hạm đội Hoa Kỳ đậu san sát, những khu doanh trại và phi trường. Tất cả đều có vẻ ngủ yên trong cảnh thanh bình. Fuchida hồi hộp bắn một phát súng hiệu vào không trung, báo cho mọi người biết yếu tố bất ngờ đã đạt được hoàn toàn. 7 giờ 49 ông ta phát đi một tín hiệu trong máy vô tuyèn «Tu... Tu... Tu... Tu...» báo cho các phi công biết sẵn sàng tấn công mục tiêu. Bốn phút sau, trong khi các phi cơ thả thùy lôi còn đang bay lượn trên các dãy chiến hạm của Hoa Kỳ, chưa bắt đầu nhào xuống, Fuchida đã điện vể cho Đô đốc Nagumo mật hiệu : «Tora... Tora... Tora.f.» để báo trước tin chiến thắng.

        Đứng trên Hàng khỏng Mẫu hạm Akagi, nghe thấy tín hiệu này, Nagumo và Kusaka quá cảm động, không biết làm gì hơn hơn là xiết chặt tay nhau trong im lặng.

*

        Hiệu thính viên trên Soái hạm Yamato đậu tại Hiroshima, cách Trân Châu Cảng năm ngàn cây số cũng đã nhận được tín hiệu của Fuchida, và vội vàng trình lên sĩ quan trực trong Phòng Hành quân. Fukudome trao bức điện cho Yamamoto và nhân thấy nét mặt vị Chỉ Huy Trường thật là bình thản, ngoại trừ ánh mắt ông hình như vừa sáng rực lên.

        Sau đó là các điện văn của Nagumo tới tấp gởi đến, báo tin kishu-seiko có nghĩa là cuộc tấn công chớp nhoáng đã thành công. Một thiết giáp hạm... một chiền hạm... ba chục phi cơ Hoa Kỳ bị tiêu diệt.

        Chuyên viên vô tuyến cũng nhận được một điện văn của Hải quân Mỹ đánh đi, vì quá gấp nên không kịp mã hóa : «Quân Nhật đang tấn công Trân Châu Cảng, tấn công thật sự chớ không phải thao diễn... Quân Nhật đang thực sự đánh Trân Châu Cảng... » Yamamoto mỉm cười khi đọc điện văn đó.

        1 giờ chiều, giờ tại Trân Châu Cảng, Fuchida hạ cánh trên Mẫu hạm Akagi, chờ lấy thêm bom và tiếp tế nhiên liệu để cất cánh trở lại mục tiêu. Ông lên cầu Chỉ Huy gặp Nagumo, và nhận được lệnh chấm dứt cuộc tấn công. Fuchida hèt sức năn nỉ xin đi chuyền nữa vì các mục tiêu chưa bị tiêu diệt hết, nhất là những hàng không mẫu hạm của địch. Nhưng Nagumo nhất định không chịu, cho rằng «kết quả trận đánh như vậy đủ rồi.»

        I giờ 30, Mẫu hạm Akagi quay mũi trở về Nhật.

        Nhận được tin này, một sĩ quan tham mưu trên Soái hạm Yamato có vẻ tiếc rẻ : «Giá mình tấn công một đợt nữa thì căn cứ Hải quân đó có thể bị tiêu diệt hoàn toàn !»

        Yamamoto nghiến răng tức giận : «Rồi có ngày ông ta sẽ phải trở lại.»

        Ngày hôm sau, trong lúc ngồi một mình chơi cờ với Watanabe, Yamamoto chợt để ý tới những lời kêu gọi của Tổng Thống Hoa Kỳ Franklin Roosevelt trước Quốc Hội, yêu cầu tuyên chiến với Nhật Bản. Roosevelt chua chát nhắc tới «một ngày đen tối nhất trong lịch sử». Sau đó xướng ngôn viên mô tả dân chúng Hoa Kỳ sôi sục đòi trả thù.

        Yamamoto chợt ngừng lên bảo Watanabe : «Rồi đây, giữa tôi và anh, không biết ai sẽ hy sinh trước trong trận chiến này. Nếu tôi trước, anh hãy tâu với Thiên Hoàng rằng ngay từ đầu, Hải quân đã không tiên liệu đến tình hình này...»
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 17631


« Trả lời #11 vào lúc: 09 Tháng Sáu, 2018, 11:48:29 PM »


CHƯƠNG III

THỢ SĂN

        Trong số hàng triệu người Mỹ xúc động vì trận đánh ở Trân Châu Cảng, có năm chàng phi công trẻ. Họ vừa mới tốt nghiệp Trường Không quân và chân ướt chân ráo tới đơn vị. Mỗi người chưa ai có quá ba, bốn giờ bay chiến đấu. Tất cả đều chưa hề được nghe nói tới cái tên Isoroku Yamamoto bao giờ.

        Vậy mà với sự bành trướng mau chóng của Không quân Mỹ để chống lại phe Trục, chỉ hơn một năm sau, những chàng trai trẻ đó đã trở thành các phi công lành nghề, lão luyện, được giao nhiệm vụ đi lấy tánh mạng của Đô đốc Yamamoto.

        Năm người đó là Holmes, Mitchell, Barber, Canning, và Lanphier.

*

        Sáng hôm đó Holmes và một số người nữa đang xem lễ trong nhà nguyện thì nghe tiếng bom nổ. Mọi người chạy túa ra ngoài.

        Holmes vào doanh trại Không quân gần đó và nghe tiếng oang oang đang phát ra từ máy phóng thanh : «Quân Nhật tấn công. Chiến tranh đã bùng nổ. Quân đội nắm vững tình hình. Mọi ngưòi không nên hốt hoảng.') Holmes cổ cảm tưởng chính giọng nói đang phát ra đó cũng không được bình tĩnh cho lắm !

        Chàng vội vàng leo lên một chiếc xe gần đó, lái chạy vể phi trường. Ngang qua Trân Châu Cảng, Holmes thấy chiếc Arizona bị bom của máy bay Nhật đang cháy và phát nổ.

        Tới phi trường thì dãy nhà chứa phi cơ đã cháy tan tành, năm mươi trong tổng số sáu chục chiếc bị thiêu rụi. Holmes lái xe vọt ra phi đạo, ở đó còn mầy chiếc p. 36 đang đợi. Một người nào đó đưa vội cho chàng chiếc gói dù và khẩu súng lục. Ngay lúc đó một chiếc phi cơ Nhật sà xuống thấp, Holmes vội vàng chĩa khẩu súng lục lên trời bắn hết nguyên cả băng đạn. Lúc máy bay địch đã vọt lên cao rồi, Holmes nghe tiếng một anh lính la :« Thiếu úy vừa bắn sướt vảy nó ! »

        Chàng vội vàng cho phi cơ nồ máy, nhưng kéo công tắc mấy lần máy vẫn ì ra không chịu nồ. Một chuyên viên phải leo lên cho nổ hộ chàng. Xong anh ta định trèo xuống, nhưng Holmes đã cho phi cơ chạy trên phi đạo và la : « Ngồi yên đó, xừ dụng đại liên dùm tôi !» Khi chiếc p.36 của Holmes bay lên được không trung thì phi cơ địch đã mất dạng. Đâu đây, bầu trời chỉ thỉnh thoảng còn một vài cụm khói do cao xạ từ dưới đất bắn lên. Tuy nhiên những người bạn khác của chàng, hôm đó nhanh chân hơn, đã hạ được vài phi cơ của địch.

        Hôm đó, chàng vừa được hăm bốn tuổi, và vừa ăn sinh nhật hai hôm trước. Holmes nhớ lại lần đầu tiên chàng có ý định vào không quân là hôm đi câu, trông thấy một chièc P.36 nhào lộn trên trời. Chàng thầm ước ao một ngày nào đó mình cũng làm được như vậy. Năm năm sau, Holmes được một trạm tuyển mộ phi công ở San Francisco thâu nhận cùng với một số thanh niên khác, trong đó có Lanphier, người mà chàng sẽ gặp nhiều sau này tại Thái Bình Dương. Vừa ở Trường ra, chàng được đưa ngay tới đây bổ sung vào phi đội 47. Cả tháng nay, Phi đội của Holmes ngày nào cũng tuần tiễu cần thận vì sợ chiến tranh có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Cho tới hôm qua, những chuyến bay tuần tiễu được tạm đình chỉ, thì hôm nay 6 tháng Chạp, quân Nhật tấn công !

        Sáng hôm Chủ Nhật đó, tại North Carolina, Mitchell vừa ở trong rạp hát bước ra thì nghe tiếng các em bán báo chạy rao ơi ới: « Nhật tấn công Trân Châu Cảng, Hạm đội Thái Bình Dương biến mất! » Trung úy Không quân Mitchell thuộc Phi đội Chiến đấu 70 vội vã liên lạc điện thoại với Phi đội trường là Đại úy Viccellio ờ California, « Liệu có cần trở về ngay không ? »

        « Không, Chừng nào phi cơ sửa xong thì lái về, Theo chương trình thì mình đi Hawaii ngày tám tháng Giêng tới. Nhưng bây giờ không biết ở đó có còn gì không mà đi ! »

        « Tốt, Tui định tuần tới cưới vợ. »

        « Gấp lắm rồi. Không kịp đâu. Đừng lộn xộn lúc này,»

        « Yên trí, Không trễ đâu. Trẽn đường về căn cứ, tui chỉ cần ghé lại nhà em hai ngày là dư sức làm ăn rồi mà, Đại úy, »

        « Cũng được, tùy mầy. Vậy thì cho tao gởi lời chia buồn trước với cô dâu đi. »

        Trung úy Mitchell vào Không quân từ năm 1939. Hiện tại ông là một trong những phi công có kinh nghiêm. Trong một chuyến bay thử phi cơ p. 40, máy bay của ông bị hư và phải kẹt lại ở Carolina để chờ sửa chữa. Ngay từ lúc mới mười hai tuổi, Mitchell đã là một cậu bé thích sống ở ngoài trời. Cậu thường thơ thẩn đi câu, hay săn trong rừng và căn cứ vào các ngôi sao trên trời để ghi nhận phương hướng một cách rất chính xác. Gần đây, Mitchell đã được gởi đi quan sát ở Luân đôn. Bạn bè đồn rằng trong chuyến đi đó, chàng đã mượn một chiếc Spitfire của Không quân Anh, bay qua eo biển; hạ một máy bay Đức. Tuy nhiên theo nhận xét của Mitchell thì so với các phi công của Không quân Hoàng gia Anh quốc, các phi công Mỹ còn thiếu rất nhiều kinh nghiệm.

        Hai tuấn sau đó, Mitchell gặp lại Đại úy Viccellio tại căn cứ ở California, và nhận thấy hầu hết các bạn bè trong Phi đội 70 đã được đưa sang Java qua ngả Úc Đại Lợi, để đối phó vói mặt trận tại Thái Bình Dương. Bây giờ chàng và Viccellio phải lo bổ xung Phi đội 70 bằng những phi công trẻ vừa mới ra trường, chưa biết chiến đấu là gì. Trong số đó Mitchell nhận thấy có nhiều người khả năng rất hứa hẹn như Lanphier, Barber, Canning.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 17631


« Trả lời #12 vào lúc: 10 Tháng Sáu, 2018, 11:24:14 PM »


*

        Thiếu úy Barber và các phi công khác thuộc Phi đội Chỉ huy, Phi đoàn 35 đang được huấn luyện bổ túc trên một đảo nhỏ ngoài khơi San Francisco, khi hay tin Trân Châu Cảng bị tấn công. Hay tin chiến tranh xảy ra, chàng nghĩ ngay tói ông cậu ở nhà, chắc giờ này ông ta khoái lắm. Hồi xưa ông ta cũng là phi công trong Đệ Nhứt Thế chiến và thường kể cho Barber nghe những mẩu chuyện anh hùng mã thương của các chàng phi công tài hoa. Nào là những trận không chiến lao vào đánh nhau, quần thảo nhau với phi cơ địch trên không trung. Nào là những lúc đi cua đào, được các em thích phi công kéo tới cả đàn, cả lũ. Dĩ nhiên, ông mong rằng rồi đây Barber cũng sẽ trở thành một chàng phi công tài hoa như ông ngày xưa.

        Vừa tốt nghiệp ở Trường Không quân ra, chàng được giao cho một chiếc P-40 để bay thử trong bốn tiếng và sau đó được chọn vào loại phi công chiến đấu. Thực là vinh dự, vì chỉ có bốn người trong số hơn trăm phi công được chọn.

*

        Ngày 6 tháng Chạp năm 1941, một phi đội oanh tạc cơ B-17 từ miền Đông bay tới, hạ cánh xuống phi trường Hamilton ở California trước khi lên đường đi Hawaii. Trước con mắt của các phi công lái khu trục cơ, những chiếc B-17 thực là khổng lồ. Họ say sưa đứng nhìn phi hành đoàn chuẩn bị tiếp tế thêm nhiên liệu cho những con vật to lớn này. Trong số đó có phi công thiếu úy Canning chăm chú theo dõi từng chiếc B-17 bốc lên khỏi phi đạo, lượn một vòng trên phi trường trước khi bay mất hút về hướng Hạ uy di. Sau đó chàng và các bạn trở về doanh trại xếp những bao cát xung quanh vị trí phòng thủ. Vì không quen làm, nên những bao khốn nạn này cứ xếp lên lại đổ xuống hoài.

        Canning là con của một bác thơ ký làm tại ngân hàng. Chàng đã tốt nghiệp Trường Sư phạm, nhưng sau lại học thêm ở lóp phi công hàng không dân sự và sau đó gia nhập không quân. Từ lúc được đưa tới phi trường Hamilton này, chàng thấy chỉ có mỗi một chiếc P-36, và hết người này tới người khác quần miết, đến nỗi chiếc phi cơ khốn khổ bị sụm, bể một xy lanh, không bay lên nổi nữa.

        Trong lúc mọi người đang chán nản vì không có việc làm thì được tin trận đánh Trân Châu Cảng bùng nổ. Những ngày sau đó, họ liên tiếp nhận được những chiếc P-40 mới tinh và có cả những phi công kinh nghiệm tới để chỉ bảo về chiến thuật tác chiến với loại phi cơ mới này.

        Sau khi nghe thuyết trình, Canning leo vào phòng lái của chiếc phi cơ tối tân và bắt đẩu cho lăn bánh trên phi đạo. Chẳng mấy lúc, Canning đã ở trên không trung bên trong chiếc phi CO', mà chàng thấy thiệt là dễ điều khiển và tối tân. Nhưng khi hạ cánh, Canning gặp trục trặc và cánh phi CO' đụng một chiếc xe đang sửa đường cạnh phi đạo. Một vài phi công khác cũng gặp những trục trặc nho nhỏ tương tự.

        Sau đó họ thực tập tác xạ vào những mục tiêu trên mặt đất. Canning nổi tiếng trong đám bạn bè vì cặp mắt của chàng sáng lạ thường. Bao giờ chàng cũng là người đầu tiên nhận ra mục tiêu từ mãi tận đàng xa.

*

        Nghe xong những lời loan báo trong ra-đô về tin tức trận tấn công Trân Châu Cảng, Đại tá Lanphier vội vàng nhắc điện thoại gọi cho con trai, Trung úy Tom Lanphier ở một khách sạn gần đó. Đại tá Lanphier là một anh hùng không quân trong Thế Chiến thứ I. Hiện nay ông làm tại Phòng Tình báo Không quân. Cách đây ít lâu, khi thấy chiến tranh có thể xảy ra, ông đã khuyên con trai nên vào không quân, vì ông nghĩ dù sao cũng đỡ cực hơn Bộ Binh. Đại tá Lanphier đã từ Hoa Thịnh Đốn tới San Francisco ở chơi với con trai ít ngày trước khi anh ta lên đường đi Thái Bình Dương.

        Lúc nhận được điện thoại của ông gọi tới báo tin, Trung úy Lanphier còn đang ngái ngủ, nhưng sau đó anh ta tỉnh ngay, và vội vã chạy ra phố xem sao. Đường phố San Francisco có vẻ như rối loạn hẳn lên trước tin Nhật đánh Trân Châu Cảng. Vệ binh quốc gia và cảnh sát phải tăng cường canh gác khắp nơi. Những cuộc biểu tình bài Nhật, ném đá vào các cửa tiệm của người Nhật bắt đầu xảy ra. Một vài khẩu hiệu hô hào «giết bọn Nhật» được viết lên trên tường phố.

        Sau khi tốt nghiệp lớp Phi công Hàng không dân sự, Trung úy Lanphier mới gia nhập Không quân. Nhưng thực ra, anh ta đầ được lái máy bay một mình ngay từ lúc mười bốn tuổi ! Hồi đổ có hai viên Trung úy phi công dưới quyền điều khiển của Đại tá Lanphier đã lén dạy cho cậu bé điều khiển phi Cơ, và sau đó họ để cho một mình cậu với chiếc máy bay cất cánh. Được tin này, Đại tá Lanphier đã phạt hai viên Trung úy một tuần trọng cấm. Hiện nay Trung úy Lanphier là một phi công xuất sắc được nhiều người mến phục trong phi đội chiến đấu 70 đóng tại phi trường Hamilton chờ đi Thái Bình Dương.

*

        Chờ đợi mãi, cuối cùng tới ngày 20 tháng Giêng năm 1942, Phi đội chiến đấu 70 mới được đưa xuống tàu President Monroe để đi mặt trận Thái Bình Dương. Tất cả gồm có 44 sĩ quan và 219 tân binh không quân. Đại úy Phi đội trường Viccellio nhìn đám người trẻ có vẻ lo lắng. Họ sẽ phải đồn trú tại căn cứ trên đảo Fiji, một hòn đảo mà quân Nhật đang lăm le chiếm, chưa biết chúng sẽ kéo tới vào ngày nào. Khi được hỏi về vấn đề tiếp liệu cho phi đội đóng trên đảo, một viên chức tại Hoa Thịnh Đồn đã mỉa mai : «Khỏi lo, chắc quân Nhật không để họ ở đó lâu đâu ».

        Họ đứng trên boong tàu, vừa nói chuyện vừa nhìn xuống biển canh chừng thùy lôi. Đoàn tàu gồm tất cả ba chiếc. Nhưng khi tới giữa khoảng Tân Tây Lan và Fiji thì hai chiếc kia tách ra đi Úc, chỉ còn một chiếc thẳng tới Fiji. Họ lênh đênh trên Thái Bình Dương đã được mười sáu ngày. Trước khi đi, Viccellio đã căn dặn họ : «chuyến đi này không phải là một cuộc du ngoạn đâu.»
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 17631


« Trả lời #13 vào lúc: 11 Tháng Sáu, 2018, 10:50:20 PM »

        
CHƯƠNG IV

SAU CHIẾN THẮNG

        Sau trận Trân Châu Cảng, các sĩ quan cao cấp thuộc mọi binh chùng, các chánh khách và cả Thiên Hoàng đều dồn dập gởi lời chúc mừng và khen ngợi tới Yamamoto trên Soái Hạm Yamato. Điện văn của Nhật Hoàng như sau :

        « Chiến thẳng tại Trân Châu Cảng của Hải quân ta là một khích lệ làm nức lòng cả nước. Tôi gởi lời ngợi khen tới Đô đốc và toàn thể sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ các cấp. Nhờ sự chiến đấu anh dũng của Hải quân, tương lai đất nước chúng ta đang trở nên sáng lạn hơn bao giờ hết.»

        Kèm theo điện văn này, Hoàng Thiên còn đặc biệt ưu ái gởi tặng cho Yamamoto một bộ ly đặc biệt để các Sĩ quan trên Soái hạm uống mừng chiến thắng.

        Bữa tiệc mừng trưa hôm đó tổ chức trên Soái hạm Yamato có đầy đủ các yếu nhân trong Bộ Tham mưu. Đúng mười hai giờ, Yamamoto xuất hiên trong phòng ăn với bộ y phục trắng tinh, cùng mọi người cụng ly chào mừng chiến thắng.

        Không khí chiến thắng lan tràn ở thủ đô Tokyo Và khắp cả nước Nhật, Đi tới đâu cũng nghe nói tới chiến thắng Trân Châu Cáng và tin các về các chiến hạm Hoa Kỳ bị đánh chìm. Hai chiếc Prince of Wales và Repulse bị chìm hẳn sau ba ngày ngất ngư trên mặt nước. Hàng không mẫu hạm Saratoga trúng thủy lôi, bị hư hại nặng, Thêm vào đó là tin chiến thắng ở các nơi khác, như việc chiếm đóng Java, Sumatra đã hoàn tất. Báo chí mô tả Hoa Kỳ đã bị đánh bại, dân chúng đang sống trong cảnh đen tối, và bất mãn vói các nhà lãnh đạo của họ.

        Trước không khí lạc quan quá lố đó của dân chúng Nhật, Yamamoto cảm thấy lo ngại. Trong một lá thơ gởi cho người chị, ông viết :

        «Vì sự chiến thắng này mà sao lãng việc giáo dục, sản xuất, lơ là bồn phận là một lầm lẫn lớn của dân chúng. Việc đánh chìm bốn, năm chiến hạm địch không có gì đáng cho chúng ta phải quá mừng rỡ như vậy. Rồi sẽ có những trận mình bị thua..,»

        Lúc này Chioko đang bị đau, nhưng nàng cũng ráng từ Tokyo tới chung vui với Yamamoto. Hai người thường đi ăn với nhau trên bờ, và nàng hát cho chàng nghe mỗi buổi tối. Bác sĩ của Yamamoto săn sóc cho nàng, bệnh có hơi bớt, và sau đó nàng trở lại Tokyo vì càng ngày Yamamoto càng trở nên bận rộn với những công việc dồn dập đưa tới.

        Một bầu không khí lạ lùng bao phù trên Soái hạm Yamato, đó là sự trống rỗng. Mọi người hình như không biết phải làm gì sau khi đã chiến thắng. Chưa có kế hoạch nào để đẩy xa chiến tranh hơn nữa. Theo lời thuật lại của Đô đốc Fukudome, thì Yamamoco thưòng phàn nàn là các nhà ngoại giao Nhật không biết nhân lúc này mà tìm cách giảng hòa với Hoa Kỳ. Ông nói : «Chánh trị phải đi liền sau quân sự trong một chiến lược phối hợp chặt chẽ.»

        Những bàn cãi trong Bộ Tham mưu càng ngày càng trở nên sôi nổi hơn. Sau cùng mọi người đồng ý chiến thắng như vậy còn quá khiêm nhượng, chưa ăn thua gì, phải đẩy chiến thẳng xa hơn nữa. Yamamoto giao cho Ugaki và Kuroshima nghiên cứu một kế hoạch hành quân mới. Liên tiếp bốn ngày sau đó, hai người đóng cửa làm việc, không hề ra khỏi phòng. Ngày thứ năm, Yamamoto họp Bộ Tham mưu với một kế hoạch đánh Midway hoặc Hawaii để nhử các Hàng không mẫu hạm của địch kéo tới. Kuroshima đã chuẩn bị một kế hoạch tỉ mỉ mệnh danh là cuộc hành quân 16 để đánh Midway và quần đảo Aleutians. Sau cuộc hộp đó, Yamamoto đem kế hoạch về Đông Kinh trình lên Bộ Tổng Tham mưu. Như thường lệ, kế hoạch lại bị ngâm lại. Các giới chức ở đây muốn đánh vào Úc hơn. Nhưng Yamamoto nhất định phải tấn công Midway trước. Thảo luận còn đang giằng co thi ngày 18 tháng Tư năm 1942, phi cơ địch đã từ Hàng không mẫu hạm Hornet bay tới oanh tạc ngay thủ đô Tokyo.

        Hôm đó, Yamamoto nhận được tin tức về các Hàng không mẫu hạm địch lúc 6 giờ 30. Ông liền phái Để đốc Kondo đem một lực lượng chiến hạm ra tấn công, và đồng thời điều động phi cơ của Không đoàn 21 đặt căn cứ tại Tokyo. Nhưng các chiến hạm của Đề đốc Kondo chưa ra khỏi Hải cảng thì Tokyo đã bị thả bom. Sau đó Yamamoto được tin cả Yokohama và Nagoya cũng bị oanh tạc. Ông ngạc nhiên vô cùng khi nhận thấy loại máy bay oanh tạc khổng lồ B-25 đã có thể cất cánh từ các hàng không mẫu hạm của địch.

        Sau vụ oanh tạc thủ đô này, các giới chức ở Tokyo rất tức giận và cho phép Yamamoto tiến hành kế hoạch tấn công Midway để trả đũa.

        Ngày 27 tháng Năm, lực lượng hành quân gồm 19 chiến hạm từ hải cảng Hiroshima kéo ra khơi. Đây chỉ là lực lượng tiên phong, vì ngoài khơi hiện đã có sẵn một lực lượng hùng hậu gốm tất cả 190 chiến hạm, trong đó có bốn hàng không mẫu hạm đang bao quanh Midway và quẩn đảo Aleutians. Thực là sự tập trung của một hạm đội lớn lao chưa từng thấy trên Thái Binh Dương.

        Trước khi ra đi, Yamamoto viết thơ tự giã vợ con : «Đừng mong gì ở tôi nữa, vì thân xác này đã nguyện hiến dâng cho tổ quốc»
« Sửa lần cuối: 10 Tháng Chín, 2018, 11:15:26 PM gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 17631


« Trả lời #14 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2018, 11:18:33 PM »


        Ngày 29 tháng Năm, Yamamoto lên đường cùng với sáu chiến hạm, bao quanh bởi nhiều thiết giáp hạm và khu trục hạm hộ tống, tất cả gồm ba mươi bốn chiếc. Cuộc hành quân kể như chắc ăn, vì không những đánh bất ngờ, mà lực lượng Nhật cũng nhiều gấp mầy lẩn các chiến hạm của Hoa Kỳ. Về hàng không mẫu hạm, Hoa Kỳ chỉ có hai chiếc so với tám chiếc của Nhật. Hai chiếc Lexington và York- town của Mỳ bị chìm, một bị thương nặng trong trận hải chiến tại Đảo San hô hôm 8 tháng Năm vừa qua. Trong trận hải chiến đầu tiên đó, hai bên chưa sáp lại gần, nhưng mới chỉ bắn nhau từ đằng xa.

        Ngày 15 tháng Năm, hai Hằng không mẫu hạm của Hoa Kỳ được ghi nhận xuất hiện tại phía Nam quần đảo Solomon. Như vậy là đường tiến quân của Nhật kể như hoàn toàn trống trải, không có lực lượng Hoa Kỳ nào ngăn chận.

        Tại Trân Châu Cảng, Ban chuyên viên Hypo thuộc Phòng Tinh báo Chiến trường làm việc ráo riết để khám phá các điện văn gởi bằng mật mã của các chiến hạm Nhật. Từ một tuần nay, lực lượng điện văn của các Hạm đội Nhật đột nhiên gia tăng rất cao khiến các sĩ quan tình báo đoán chắc thể nào địch cũng sắp sửa tấn công, Qua sự khám phá các điện văn này, 'Tình báo Hoa Kỳ nắm vững sự điều động của các chiến hạm Nhật. Họ có thể biết rõ từng chiếc và cả tên, tuổi của Hạm trưởng nữa. Hoa Kỳ biết hải quân Nhật sắp tấn công, nhưng chưa biết họ định đánh chỗ nào, vì không khám phá được các chữ tắt Nhật dùng để chỉ các địa danh. Địa điểm tập trung Hạm đội Nhật là AF. Ban Hypo cho rằng AF là Midway. Nhưng nhiều sĩ quan Hải quân và Không quân bảo AF là Hawaii. Sau cùng chính Đại tá Layton đã thuyết phục Đô đốc Nimitz, đó chính là Midway. Để thử lại, Layton cho gởi đi một điện văn ngụy tạo từ Midway nói rằng nhà máy lọc nước trên đảo bị hư. Hai ngày sau, Ban Hypo bắt ngay được một điên văn của Nhật báo cáo: «AF hiên đang thiếu nước ngọt.» Vậy là không còn nghi ngờ gì nữa. Đô đốc Nimitz quyết định tổ chức một cuộc phục kích hạm đội Nhật tại Midway.

        Ông điện cho Đô đốc Halsey đem hai hàng không mẫu hạm từ phía Nam tới, đồng thời ra lệnh cho các pháo đài bay ở California bay đến đậu sẵn tại Midway và Hawaii. Khi hai hàng không mẫu hạm Enterprise và Hornet tới nơi thì Halsey bị đau phải vào nhà thương, và được Đô đốc Spruance thay thế.

        Ngày 27 tháng Năm, Đô đổc Nagumo kéo lực lượng hành quân chánh yếu gồm bốn hàng không mẫu hạm ra khơi. Cùng ngày hôm đó hạm đội của Đô đốc Fletcher cũng vừa tới Trân Châu Cảng và có thêm một hàng không mẫu hạm nữa là chiếc Yorktoum què quặt. Chiếc này đáng lẽ phải nằm tại ụ sửa chữa trong ba tháng nữa, nhưng Đô đốc Nimitz đã hạ lệnh phải sửa chữa trong ba ngày. Thế là hơn 1400 thợ làm việc ngày đêm không nghỉ, nên ngày 30 tháng Năm mẫu hạm này mới có thể tham dự lực lượng hành quân.

        Đứng trên Soái Hạm cách xa lực lượng tấn công của Nagưmo hàng trăm dậm, Yamamoto có vẻ lo lắng, vì các hoạt động vô tuyến của địch trên đảo Midway và quần đảo Aleutian đột nhiên trở nên nhộn nhịp, và quá phân nửa các điện văn đánh đi đều thuộc loại «khẩn». Ông bảo với Đại úy Kuroshima trong Bộ Tham mưu: «Có lẽ Nirnitz đang gởi lực lượng tới Midway, và cần phái báo cho Nagumo biết ngay.» Nhưng Kuroshimacho rằng thế nào Nagumo cũng đã bắt được những điện văn của địch rồi, và nhất định phản đối việc xử dụng vô tuyến điện lúc này. Trong khi đó, hạm đội các mẫu hạm của Nagumo tiếp tục tiến về hướng Đông và hoàn toàn không hay biết gì về sự phục kích của các chiến hạm Hoa Kỳ.

        Sáng 3 tháng Sáu, máy bay thám thính từ Midway ghi nhận được vị trí của hai mươi bảy hải vận hạm Nhật.

        Hừng đông ngày 4 tháng Sáu, phi cơ từ các hàng không mẫu hạm Akagi, Kaga, Hiryu và Soryu bắt đầu cầt cánh bay tới oanh tạc Midway. Vào khoảng nửa giờ sau, các phi cơ Hoa Kỳ tìm ra vị trí các hàng không mẫu hạm của Nagumo và bắt đầu nhào xuống bắn phá. Lực lượng phản công của phi cơ và phòng không Nhật đẩy lui liên tiếp tám đợt tấn công của các phi cơ địch liên tiếp trong ba tiếng đồng hồ sau đó. Cuối cùng các phi cơ thả thủy lôi. B-26 và các pháo đài bay và oanh tạc cơ Hoa Kỳ đều phải rút lui khi có nhiều chiếc đã bị hạ rớt trên mặt biền. Hạm đội Nhật vẫn chưa có chiếc nào việc gì.

        8 giờ 20 sáng, trong lúc Nagumo còn đang lưỡng lự không biết có nên tấn công thêm một đợt nữa vào Midway hay không thì được tin hành không mẫu hậm Mỹ xuất hiện.

        Trên soái hạm Yamato, cũng nghe rõ tiếng gọi trong máy vô tuyến của các phi công báo cáo vị trí mẫu hạm địch. Yamamoto biết ngay là lúc này máy bay Hoa Kỳ từ Midway đang tấn công hạm đội của Nagumo. Trên cầu chỉ huy của Soái hạm, Yamamoto và Ugaki mặc đồ trắng, đeo găng tay trắng, đứng giữa các sĩ quan trong Bộ Tham mưu. Mọi người đều hổi hộp khi hay tin đã tìm thấy mẫu hạm địch, và chỉ có một chiếc. Bộ Tham mưu Nhật mừng rỡ cho đó là một con mồi ngon. Nhưng họ có biết đâu, đó là kế của Nimitz, ông ta cho một chiếc tới để nhử phi cơ Nhật bay xa khỏi các mẫu hạm của Nagumo để ông ta dễ bề tấn công bất thần.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 17631


« Trả lời #15 vào lúc: 10 Tháng Chín, 2018, 11:20:14 PM »

         
*

        Chưa đầy ba mươi phút sau khi phi cơ Nhật tìm thấy mẫu hạm Mỹ thì hạm đội Nhật đã bị các phi cơ của Fletcher bay tới tấn công. Phi đội 8 thủy lôi từ hàng không mẫu hạm Hornet cũng nhào tới. Nhưng tất cả đểu bị cao xạ và các máy bay Zêrô của Nhật chận đánh, Kết quả mười lăm máy bay Mỹ bị hạ, và chỉ có một phi công sống sót. Bây giờ Nimitz mới tung ra đợt tấn công thử nhì, với các oanh tạc cơ của hai hàng không mẫu hạm Enterprise và Yorktown. Các máy bay trên mẫu hạm của Nagumo đang cất cánh thì bị đợt phi cơ thứ hai của Mỹ nhào tới tấn công. Chỉ trong vòng sáu phút đồng hồ, ba hàng không mẫu hạm Kaga, Akagi và Soryu đều bị trúng bom và bốc cháy.

        Tin từ phòng vô tuyến của soái hạm Yamato đưa tới cầu chỉ huy : «chiếc Akagi bốc cháy». Yamamoto quay sang nói với Kuroshima : «Không biết Nagumo cho máy bay thả thùy lôi đi tấn công chưa ?»

        Kuroshima trả lời : «Chắc là rồi. Trong kế hoạch mình đã chi thị rõ.»

        Tin điện từ phòng vô tuyến dồn dập đưa tới: «Chiếc Kaga và Soryu đang bốc cháy.» Một trận hải chiến dữ dội đã thực sự diễn ra. Nhưng Yamamoto cũng như các sĩ quan trong Bộ Tham mưu không ngờ phía Nhật đã bị thiệt hại quá nặng. IO giờ 50 Yamamoto nhận được tin báo cáo của Đề đốc Abe, vừa lên chỉ huy thay Nagumo đang cuốn cờ lệnh trên chiếc Akagi từ từ chìm xuống đáy biển. C( Lửa đang cháy tại các chiếc Kaga, Soryu vàAkagi... Chúng tôi sẽ cho phi cơ từ chièc Hiryu tới tấn công các mẫu hạm và rút lần lên phía Bắc... »

        Yamamoto buồn bã trao lại bức điện cho Agaki. Một thủy thủ sau này kể lại: «Đô đốc đứng im lặng nhìn ra biền cả với nét mặt đanh hẳn lại. Các sĩ quan xung quanh ông, người nào cũng mím chặt môi, suy nghĩ... » Hồi lâu sau, Yamamoto mới vội vàng liên lạc với chiến trường trở lại, và nhận được tin : Hiryu chiếc hàng không mẫu hạm cuối cùng của lực lượng hành quân đã bị chìm.

        Yamamoto ngồi bất động trên ghế ở cầu chỉ huy, mắt mơ màng nhìn ra biển cả hàng giờ. Sau cùng ông hạ lệnh gởi cho tất cả các chiến hạm một điện văn trấn an tinh thần binh sĩ : «Hạm đội Hoa Kỳ đã bị tiêu diệt, phần còn lại đang trốn chạy về hướng Đông. Các chiến hạm ta rượt thẹo địch.»

        Cho tới gần nửa đêm, Yamamoto vẫn còn lo lắng cho lực lượng của Đô đốc Kondo gồm các thiết giáp hạm và khu trục hạm cỡ lớn có thể sẽ bị các phi cơ của hàng không mẫu hạm Mỹ tìm thấy và tiêu diệt vào lúc trời sáng. Các sĩ quan trong Bộ Tham mưu đưa ra nhiều kế hoạch đề cứu nguy, nhưng tất cả đều có vẻ không hợp lý. Một sĩ quan lên tiếng lo lắng : «Chúng ta biết nói sao với Thiên Hoàng bây giờ». Yamamoto trả lời : « Tôi là người duy nhất chịu trách nhiệm với Thiên Hoàng. »

        Sáng ngày 6 tháng Sáu, Yamamoto nhận được tin chiếc Yorktown đã bị tàu ngầm đánh chìm, nhưng ông cũng không mầy vui, vì thất bại hôm trước vẫn còn quá nặng. Sau đó ông đóng cửa ở trong phòng, không thiết gì tới ăn uống nữa. Mãi hai hôm sau ông mới xuất hiện tại phòng hành quân để nghe đô đốc Kusaka, Tham mưu trưởng của Nagumo trình bày các chi tiết của trận đánh. Kusaka người lùn và mập, quần áo vẫn còn dính đẩy dầu mỡ, chân đi khập khểnh vì vết thương. Mọi người đều ngậm ngùi khi Yamamoto lên tiếng cám ơn Kusaka về tất cả những cố gắng của ông và binh sĩ, đồng thời hạ lệnh săn sóc cấn thận các thương binh. Hai người đi về phía phòng chỉ huy, Kusaka xin Yamamoto cho mình gom góp các chiến hạm còn lại quyết một trận sống chết với địch. Yamamoto ngậm ngùi muốn rơi lệ trước gương hy sinh cao cả đó. Ông nghẹn ngào : « Tôi biết, tôi biết tấm lòng cao cả của Đô đốc. »

        Khi nhận thấy không thể nhử Hạm đội của Hoa Kỳ vế phía Tây nữa, Yamamoto liền kéo hạm đội trở về căn cứ. Tin tức về trận Midway hoàn toàn được giữ kín, báo chí không được phép loan. Các thủy thủ ở mặt trận trở về không được phép lên bờ. Fuchida, anh hùng không quân trong trận Trân Châu Cảng, bị thương, được đưa vô bênh viện ban đêm bằng lối sau. 

*

        Sau trận Midway, Yamamoto đưa quân tới chiếm đảo Guadalcanal, lập một phi trường ở đây. Nhưng sau bị Thủy quân lục chiến Mỹ tới đánh. Nhiều trận khủng khiếp giữa Sư đoàn I TQLC Hoa kỳ và quân Nhật đã diễn ra tại hòn đảo này. Sau cùng ngày 17 tháng Hai năm 1943, binh sĩ cuối cùng của Nhật đành phải rút lui. Yamamoto chuyển Soái Kỳ sang chiến hạm Musashi neo tại căn cứ Truk. Ông thường tâm sự với bạn bè : « Tôi sẽ không sống quá một trăm ngày nữa; và phải hoàn thành sứ mạng trong khoảng thời gian này.» Mỗi lần một chiếc tàu ngầm chạy ngang chiến hạm của ông trên đường công tác, Yamamoto đều đứng đưa nón lên vẫy chào mọi người. Các thùy thù luôn luôn thay đồ trắng mới, sắp hàng nghiêm chỉnh trên boong đề chào vị chỉ huy mà họ hết lòng ngưỡng mộ. Tàu đã đi xa, nhưng Yamamoto vẫn còn chiếu ống dòm ngó theo. Do đó tất cả các thủy thủ đều cảm động và nức lòng quyết đem cái chết hy sinh cho tổ quốc.

        Sau sáu tháng giành giật, Sư đoàn I TQLC Hoa kỳ hoàn toàn làm chủ Guadalcanal. Kiểm điểm lại các chiến hạm của cả hai bên bị đánh chìm gần quần đảo này, người ta tính ra Nhật bị thiệt hại tất cả 135.000 tấn, và Đồng Minh, phần lớn là Hoa kỳ, mất 126.000 tần. Nhưng những tổn thất của Đồng Minh được bổ xung mau chóng, trong khi lực lượng của Yamamoto càng ngày càng thiếu hụt trầm trọng.

        Yamamoto viết thơ cho Đô Đốc Shimizu, Chỉ huy hạm đội tàu ngầm và cũng là bạn đống khóa ở Hải quân với ông : « Guadalcanal thật là một trận vô cùng ác liệt. Giờ đây, tôi không biết phải làm gì, và cảm thấy đau lòng khi đứng trước sự đòi hỏi của các sĩ quan cũng như binh sĩ, phải cho họ cơ hội để được chết vì tổ quốc. Tôi chờ đợi nơi anh một lời khuyên khôn ngoan của người bạn cũ.»
« Sửa lần cuối: 22 Tháng Chín, 2018, 10:09:25 PM gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 17631


« Trả lời #16 vào lúc: 12 Tháng Mười Hai, 2018, 09:22:10 AM »

     
CHƯƠNG V

THỢ SĂN TẬP BẮN

        Phi đội 70 của Đại úy Viccellio được đưa tới đóng trên đảo Fijis. Lúc đầu họ ở trong các lều hai người, cách bãi biển 15 cây số, tại một nơi có tên là Nasouri. Sau họ đi chuyền lần vào một địa điểm ở trung tâm đảo gọi là Nandi, với khí hậu khô ráo hơn. Cả phi đội xử dụng toàn những chiếc p.39 nặng nề, khó bay lượn và không thể chiến đấu ở độ cao. Dưới những cơn mưa tầm tã, chuyên viên của hẵng phi CO’ Bell cố gắng ráp phi CO' để có cho phi công tập luyện.

        Viccellio chia phi đội ra làm hai toán A và B. Toán A do Trung úy Sharpsteen chỉ huy, trong đó có Lanphier, Rivers và Purnell. Mitchell chỉ huy toán B, có Barber, Canning và Jacobson. Phi đội 70 đóng ở Fijis đã lâu, nhưng hầu như bị bỏ quên, chưa được Bộ Chỉ huy nào điều động. Vicellio lợi dụng thời gian này để tập luyện cho các phi công. Hai toán thi đua biếu diễn, ganh nhau từng tí một. Họ nhào lộn quần thảo nhau trên không, như trong những trận không chiến thực vậy.

        Các phi công có nhiều lúc nổi hứng sà xuống trêu chọc các ghe đánh cá hay trêu ghẹo người đi trên đường khiến họ hoảng hồn. Mitchell ráo riết tập luyện cho toán của anh và thường tâm sự : «Một phi công muốn sống sót trong các trận không chiến cần phải tấn công địch thật ráo riết. »

        Thỉnh thoảng có một bạn đồng đội ba gai trong việc luyện tập, anh thường gọi riêng anh ta ra khuyên lơn, và nếu anh ta không chịu phục thiện, Mitchell thường nói : « May chết đã đành, nhưng còn thiệt mất một chiếc phi cơ nữa. »

        « Mày bảo mạng tao không bằng chiếc phi cơ sao ? »

        « Còn gì nữa, nếu mày không chịu luyện tập cho cẩn thận. »

        Trong những giờ rảnh rỗi buổi tối, không biết làm gì, họ xúm nhau đánh phé. Phong trào đánh phé càng ngày càng bành trướng mạnh, có người một tối thua cả ngàn đô la. Jacobson thua nhiều hơn cả, đến nỗi trong các chuyến bay tuần tiễu hay thao dượt, những phi công chủ nợ phải bay kèm theo anh ta vì sợ con nợ bị phi cơ Nhật bắn rơi !

        Sau trận Midway, có một số phi công của Hải quân ở hàng không mẫu hạm tới đảo, chỉ bảo thêm các kỹ thuật không chiến cho các phi công của phi đội 70. Những phi công Hải quân đã làm cho họ lác mắt vì tài nhào lộn và các kiểu không chiến bay bướm họ chưa bao giờ thấy. Các phi công Hải quân dạy cho phi đội 70 các cách quẹo gấp, nhào lộn ngửa để trở lại phía sau phi cơ địch, cách chiến đấu cặp đôi để bắn chéo cánh sẻ vào phi cơ địch, và kỹ thuật bắn đứt đuôi những chiếc Zero của Nhật. Một phi cơ hải quân kéo theo phía sau một băng vải làm mục tiêu để các phi công phi đội 70 tập tác xạ không chiến.

        Không bao lâu họ đã thành thuộc và sẵn sàng bay lên chiến đấu với phi cơ địch. Trong thời gian này có nhiều nhân vật quan trọng trên đường tới Úc đã ghé đảo như Thượng nghị sĩ Lyndon B, Johnson, các Tướng Lãnh cao cấp trong không quân như Kenney, Arnold.

        Khi nghe các phi công than phiền về các khuyết điểm của loại máy bay P.39, tướng Arnold đã bảo họ : « Cứ yên trí, ít ngày nữa các anh sẽ được cung cấp những chiếc P.38 mới tinh, với các đặc điềm tối tân như phòng phi công bọc sắt, hỏa lực mạnh, và bay ở bất cứ cao độ nào. Mình sẽ cho tụi Nhật xem thế nào là một phi cơ chiến đầu thực sự. »

        Vào đầu mùa Thu, khi giai đoạn huấn luyện gần chấm dứt, Lanphier là người đầu tiên hạ được một máy bay Nhật. Hôm đó, Viccellio sai anh ta lái một phi cơ vận tải đi công tác ờ căn cứ Santo trên đảo. Tới đây, anh ta đã tình nguyện lái oanh tạc cơ đi thả bom địch với Đại tá Blondy. Khi đang thi hành phi vụ, họ bị phi cơ Zero tấn công và Lan- phíer đã hạ được một chiếc. Tin này tới căn cứ, mọi người đều nhìn anh ta một cách thán phục.

        Họ đã ở trên đảo Fijis được bảy tháng trời, ngày nào cũng bay tuần tiễu nhưng chưa bao giờ gặp phi cơ địch. Khi nhận được lệnh lấy mười lăm người có kinh nghiệm tình nguyện để đi công tác tại New Caledonia, đối phó với mặt trận Guadalcanal, Viccellio liền gọi Mitchell báo cho anh ta biết đầu tiên.

        Ai cũng xung phong muốn đi. Cuối cùng những người được chọn gốm có Mitchell, Sharpsteen, Canning, Jacobson và Jim McLanahan. Những ngày nhàn rỗi ở Fijis đã chấm dứt để đi tới chiến trường đang sôi động.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 17631


« Trả lời #17 vào lúc: 12 Tháng Mười Hai, 2018, 09:22:54 AM »

        
*

        Mitchell và các bạn của anh tới New Caledonia, liền được bồ sung vào để thành lập phi đội 67, gồm các phi cơ P.39 và P.400, cũng giống P.39 nhưng để xuất cảng sang Anh. Trên đảo này có một khách sạn của người Pháp, có cả ban nhạc. Họ thường đem đồ hộp tới đổi lấy những đồ ăn tươi.

        Những người từ mặt trận Guađalcanal trở về kể lại nhiều chuyện ghê gớm, nhiều khi các phi công cũng cảm thấy mất tinh thần. Trong số đó có một phi công của hàng không mẫu hạm bị hạ. Anh này cho biết những phi cơ và phi công địch đều thuộc loại siêu đẳng. Khi bị một chiếc Zero theo đàng sau là kể như không sao thoát được.

        Nghe những lời lẽ như vậy, Mitchell đã đâm bực mình, Anh ta tập họp tất cả phi đội lại và cho biết : «Đừng tin những lời nhảm nhí đó. Những người nói chuyện đó có khi chưa hề trông thấy phi cơ Nhật như thế nào. Nếu ai cảm thấy sợ thì cứ việc ở lại đây, không bắt buộc phải bay ra trận.»

        Một tuần sau, Vicceilio tới đảo và cho biết ở mặt trận Guadalcanal cần người để thay thế những phi công bị mất.

        Mitchell cho biết: «Yên trí, tất cả chúng tôi đã sẵn sàng.» Kết quả mọi người đều muốn đi, và Mitchell chọn tám người gồm có : Canning, Jacobson, Dinn, Gillon, Far ron, Ramp, Shaw, Stern. Tất cả khởi hành ngay đêm đó.

*

        Vừa tới phi trường Guadalcanal, Mitchell và các bạn anh đã nghe thấy những tiếng súng đại bác ùm ùm của Thủy quân lục chiến ở cạnh đó, bắn vào các vị trí địch ở sâu trong đảo. Hầm hố tránh pháo kích đào theo hình chữ z khắp nơi xung quanh doanh trại gồm có những dẫy lều vải. Đài kiểm soát do quân Nhật xây từ trước vẫn còn được xử dụng. Trên một xác chiếc xe vận tải địch bỏ lại, Thủy quân lục chiên đã gắn lên một còi hụ để báo động khi bị oanh tạc hay pháo kích. Mitchell dẫn các bạn tới trình diện Tướng Vandergrift, Chỉ huy lực lượng Thủy quân lục chiến trên đảo và lực lượng không quân hỗn hợp của Thủy quân lục chiến, Bộ binh và không quân Tân Tây Lan. Một Thiếu tá Thủy quân lục chiến dẫn họ tới trình điện Đại úy Brannon, chỉ huy trưởng phi đội 339. Kể từ đây Mitchell và các bạn của anh là người trong phi đội mới này. Cùng trình diện với họ là một phi công của phi đội 67 cũng vừa được bổ sung tới, tên anh là Holmes. Anh ta kể cho mọi người nghe những chuyện trong trận đánh ở Trân Châu Cảng anh đã được chứng kiến.

        Địch quân chào mừng các phi công mới tới thật cẩn thận ngay đêm đó bằng những đợt pháo kích dữ dội. Mọi người lăn vội xuống hầm trú ẩn đầy bùn đất. Có người hãy còn đang ngủ đã bị hất tung xuống hố. Một trái đạn nổ ngay trên đầu mọi người, cắt đứt phăng ngọn dừa gần đó. Phải nằm ép dưới hố như vậy hàng mấy giờ liền trong lúc các chiến hạm Nhật đậu ngoài khơi rót đạn lên đảo.

        Trong một lúc ngớt tiếng súng, mọi người bò lên quan sát và thấy phi cơ đang bốc cháy, hai phi công của TQLC và hai lính bộ binh chết. Những đêm kế, địch cũng tiếp tục mưa pháo vào phi trường và vị trí đóng quân. Chỉ còn chín chiếc còn nguyên vẹn trong tổng số sáu chục chiếc đậu tại phi trường Kenderson bị phá hủy. Đạn cày lên khắp nơi trên phi trường, các oanh tạc cơ không đáp xuống được nữa. Đoàn công binh ong biển dùng xe ủi dồn xác phi cơ lại từng đống sắt vụn cao lêu nghêu. Một số máy bay F4F và bốn chiếc P-39 còn xử dụng được.

        Xăng hầu như không có lấy một giọt. Sáng hôm đó, Jacobson dùng chiếc vòi hút đỡ một ít xăng từ chiếc oanh tạc cơ B-17 đổ vào máy bay, bay lên khi có còi báo động. Cao xạ của địch ở xung quanh phi trường bẳn lên tới tấp. Khi anh đáp xuống thì không còn một giọt xăng nào trong máy bay. Anh ta có cảm tưởng đó là chuyấn bay chót ở đây, vì địch đã tới quá gần phi trường.

        Thiếu tá TQLC ở Bộ Chỉ huy tới hỏi Mitchell còn được bao nhiêu xăng.

        «Chừng nào hết xăng thì Đại úy cứ việc gom các phi công lại và tổ chức thành các chốt chiến đấu bảo vệ phi trường khi địch tới.»

        Mitchell liền cho tháo những khẩu đại liên 30 ở các phi cơ bị hư xuống và lập các ổ chiến đấu đào quanh phi trường để chờ địch xung phong vào. Cũng may, sáng hôm sau các vận tải cơ C-47 đã thảy xuống cho họ được một ít thùng xăng.

        Vào giữa tháng Mười, Guadalcanal kể như không còn chống nổi nữa. Lực lượng của Nhật trên đảo đã lên tới 29.000   người và còn đồ bộ thêm lên bãi biển mỗi đêm nữa. Phòng tuyến của TQLC Hoa Kỳ bị áp lực nặng nề của địch. Phi trường hầu như không còn xử dụng được nữa.

        Về phía Tây, quân Nhật cũng đánh mạnh trên quần đảo Solomon, với ý định đẩy quân Mỹ ra. Nhưng mục tiêu đặc biệt của địch vẫn là Guadalcanal, vì ở đó có phi trường Henderson. Binh sĩ suốt ngày đêm phải ở dưới hầm, ăn lương khô để tránh pháo kích của địch. Phi công được lệnh ngủ dưới cánh máy bay, sẵn sàng bay lên khi địch tới.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 17631


« Trả lời #18 vào lúc: 12 Tháng Mười Hai, 2018, 09:24:18 AM »


        Trong giai đoạn mặt trận khốc liệt nhất, các máy bay oanh tạc của Nhật hàng ngày tới thả bom từ trên cao 17.000   bộ, khiến cho các phi công Hoa Kỳ dù có bay lên trời rồi cũng không làm gì được, vì máy bay của họ không thế lên cao tới độ đó. Trong Nhật ký của phi đội 67, sau này người ta đọc thấy viết như sau : «Các phi công bay quần quần bên dưới trong lúc oanh tạc cơ địch đang thả bom mà không làm gì được. Sau cùng họ đành phải đáp xuống. Cả phi trường hầu như chim trong biển lửa, những dãy nhà ga chứa phi cơ bị cháy sạch, đạn dược phát hỏa nổ tứ tung.» Binh sĩ phải đứng ở phi đạo để làm dấu các hố bom cho phi cơ đáp xuống, và bị lửa cháy xém cả lông mày. Mỗi khi một chiếc máy bay hạ cánh, họ ôm mặt

        không còn dám nhìn nữa trong lúc phi cơ chạy zích zắc theo hình chữ z để tránh các hố bom. Xe vận tải chở san hô và đất tới lấp vội từng miệng hố. Lửa cháy lan dần trên bãi cỏ. Binh sĩ dùng chăn thấm nước để cố dập tắt. Họ không còn một dụng cụ nào khác hơn là những chiếc chăn đó. Phi hành đoàn lăn vội những thùng xăng tới gần phi cơ và dùng tay múc đổ vào máy bay. Trong lúc gần đó, binh sĩ đang dập tắt lửa từ những thân phi cơ khác bị bốc cháy, bất kể thùng xăng có thể nổ tung thiêu sống họ. Quân Nhật núp gần đó, hay từ bên kia sông tiếp tục bắn sè vào những bóng người xuất hiện.

        Nhật ký của phi đội kết luận bằng câu : «Mọi người căm thù địch đến tận xương tùy, nhưng biết làm sao bây giờ với những chiếc máy bay khốn nạn, lỗi thời P-400 này ? !»

        Giữa cơn hỗn loạn đó, các phi công vẫn phải liều chết cất cánh chiến đấu. Dinn đã tới thả bom một địa điềm đổ quân của địch ở bãi biển với kết quả nhiều xác quân Nhật bị hất tung lên cao. Anh chính là người đầu tiên tấn công địch trên đảo, và đã thoát được màng lưới cao xạ của địch để trở về tới phi trường. Nhưng nhiều bạn đồng đội của anh không may mắn như vậy.

        Việc hạ cánh ban đêm khiến phi đội 339 thiệt mất năm sáu phi công và máy bay. Ánh sáng lờ mờ trên phi đạo thường xuyên bị những trận mưa và cơn dông che khuất mù mịt. Nhiều lần Mitchell chỉ căn cứ vào dãy đèn nê ông chập chờn để hạ cánh. Mưa dông khiến anh không thể nhìn qua cửa kính phòng lái, và phải thò hẳn đầu ra ngoài để có thể thấy một mép phi đạo.

        Trận chiến tại Guadalcanal thực ra còn tuvệt vọng hơn là các phi công tưởng. Ngày 16 tháng Mười, trong cuộc họp báo tại Hoa Thịnh Đốn, Bộ trưởng Knox tuyên bố khi ký giả hỏi, liệu Guadalcanal có giữ được không. «Tôi hy vọng là được. Tôi không thể tiên đoán trước, nhưng chắc chắn là tinh thần binh sĩ ở đổ vẫn còn cao.» Cũng trong tuần đó, Đô đốc Nimitz bổ nhiệm đô đốc Haisey tới mặt trận Nam Thái Bình Dương, và tuyên bố : « Mặt trận nặng thì cần phải có tướng dữ. » Kể từ đó, tình hình bắt đầu sáng sủa lần lần.

        Trong đêm 24 rạng ngày 25 tháng Mười, quân Nhật mở cuộc tấn công biển người định tràn ngập phi trường. Địch quân xử dụng cả một Sư Đoàn định đánh dứt điểm một Tiếu Đoàn TQLC của Đại tá Puller, nhưng kết quả vẫn không chiếm nổi. Đêm hôm đó, nhiều xạ thủ đã phải đái vào nòng súng đại liên để làm nguội và tiếp tục bắn. Xác quân Nhật chết chồng lên nhau như bức tường khiến binh sĩ phòng thủ phải quăng ra ngoài để có đường bắn tiếp. Sáng hôm sau, một binh sĩ TQLC dẫn Mitchell tới bìa rừng và chỉ cho coi xác 1.400 lính Nhật nằm chết đã bắt đầu có mùi. Hôm đó, trời nóng nực và từ sáng tới giờ Mitchell đã bay hai phi vụ. Ngày hôm đó anh ta không thể nào ăn cơm được. Những phi vụ do Mitcheil dẫn đầu đã khiến phi đội 339 nỗi tiếng. Chỉ bốn ngày sau khi tới nơi anh đã hạ được phi cơ địch, và chưa đầy hai tuần sau lại thêm được một chiếc nữa. Anh tỏ vẻ rất tự tin khiến cho tinh thần các bạn đổng đội phấn khởi rất nhiều, Mọi người thấy rõ là anh ta không hề biết sợ là gì, và hộ coi anh như phi đoàn trưởng

        Một buổi sáng, anh đi hộ tống một phi vụ của các oanh tạc cơ. Khi trở về Mitchell nhận thấy một tcán phi cơ địch ở đàng xa, anh liền rượt theo, và hạ được năm chiếc. Nhưng khi về tới phi trường, mọi người kiểm điểm lại thì thấy không có Dinn. Hôm đó Mitchell cảm thấy vô cùng chán nản vì bị mất người bạn thân nhất trong đơn vị.

        Tháng mười một, Mitchell được lên Thiếu tá, chỉ huy phi đội 399. Đúng vào dịp này, loại phi cơ mới p. 38 cũng được cung cấp cho phi đội 339 để thay thế các phi cơ p.39, Vừa ngồi vào phòng lái chiếc p.38, Mitchell đã mê thích ngay. Động cơ của loại máy bay hai động cơ và hai đuôi này lên tới 1.350 mã lực. Việc điều khiển nhào lộn trên không lại rất nhẹ nhàng. Mitchell nói vào máy liên lạc với các bạn :« Thiệt là hết sẩy. Chẳng khác gì đang lái chiếc xe cổ lỗ mà được sang điều khiến chiếc Cadillac tối tân ! »

        Loại phi cơ chiến đấu P.38 này là những máy bay chiến đấu được chế tạo lần đầu của Hoa Kỳ. Nó có tốc độ tối đa là 500 cây số giờ, với độ cao 8.000 thước, về hỏa lực, loại máy bay này có bốn khấu đại liên 50 và một khẩu ca nông 20 mi li mét được gắn ngay ở mũi phi cơ. Đạn mang theo gồm 2.000 viên đạn đại liên và 120 đạn đại bác. Ngoài ra phi cơ còn chở thêm được 500 ký bom, ngang với phân nửa số bom của các oanh tạc cơ. Người ta đã bàn tán nhiều về loại phi cơ này trong khi bay thử ở California, nào là khó vọt lên cao, nào là có thể bị nổ tung khi nhào xuống thấp. Nhưng các phi công của phi đội 399 nhận thấy đây thực là những phi cơ chiến đấu lý tưởng. Tuy không được nhẹ nhàng bằng loại Zero của Nhật, nhưng mạnh và nhanh hơn nhiều.

        Tuy nhiên, những chiếc P.38 này cũng có vài khuyết điểm như : hệ thống sưởi ấm trong phòng phi công không đủ. Khi bay ở độ cao 7.000 thước, phi công muốn rét run lên. Nếu mặc áo ấm phi hành cao độ, thi khi xuống thấp lại nóng không thể chịu nổi. Nó uống xăng kinh khủng, nhất là lúc chiến đấu hay bay ở cao độ thấp. Hai bình xăng phụ mang dưới cánh phải thả rớt đi khi chiến đấu, khiến cho phi cơ thường bị thiếu xăng. Ngoài ra, nhiều bộ phận của phi cơ không chịu nổi khí hậu miền nhiệt đới. Lúc nào cũng có một số bị hư phải chờ sửa không bay được.

        Mitchell đã khai triển một kỹ thuật chiến đấu mới cho loại phi cơ lớn này. Anh cho bay từng toán bốn chiếc một, tạo thành một vòng tròn với đường kính vào khoảng một cây số rưỡi để cứu ứng lẫn nhau.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 17631


« Trả lời #19 vào lúc: 12 Tháng Mười Hai, 2018, 09:24:37 AM »


        Những chiếc p. 38 quá lớn, không tiện cho việc nhào lộn chiến đấu cặp đôi, nhưng Mitchell nhận thấy nó trở nên vô cùng lợi hại khi đuổi theo phía sau và nhào xuống những chiếc Zero. Trong lúc lượn vòng, P.38 không thể bay nhanh như những chiếc Zero, nên các phi công cho phi cơ lượn ở phía dưới phi cơ địch và đuổi theo bằng cách vọt lên cao với tốc độ thật nhanh. Với sự điều khiến bánh lái một cách điêu luyện, các phi công có thể lượn vòng nhỏ như các loại máy bay khác trên không phận Thái Bình Dương.

        Loại máy bay mới này cũng khiến cho địch ngạc nhiên rất nhiều. Một phi công tù binh Nhật được đưa vào phòng lái của một chièc p. 38 để xem phản ứng của anh ta ra sao. Anh ta đã tỏ vẻ vô cùng thích thú và ngạc nhiên trước những tiện nghi tối tân. Hết rờ kính gió, lại rờ các mặt đồng hồ và lớp trần bọc thép trên đầu, miệng anh kêu lên : « Thật là tuyệt ! Tuyệt quá ! » Nhưng sau đó, anh ta quay lại nói với người thông ngôn : «Tụi tôi ngán loại phi cơ này chớ không ngán mấy phi công Mỹ. » Mit- chell và các bạn cười lớn trong khi người tù binh được dẫn đi.

        Máy bay Nhật không còn đánh phá Guadalcanal tự do như trước được nữa. Mitchell khai triển một kế hoạch ngăn địch như sau : Khi nghe còi báo động, lập tức tất cả máy bay đều cất cánh. Những chiếc p. 38 ở độ cao 10.000 thước, các phi cơ F4F của Hải quân và Thủy Quân Lộc Chiền 8 ngàn thước, và những chiếc P.40 4.000 thước. Tất cả chờ sẵn ở vị trí như vậy, và khi những đoàn oanh tạc cơ hay Zero của địch bay tới là nhào xuống đánh nhầu. Kết quả của chiến thuật này đã khiến cho số tổn thất của máy bay Nhật gia tăng mau chóng. Vào ban đêm, phi cơ Nhật cũng hết còn đến quầy rầy giấc ngủ của mọi ngươi, kế từ hôm Mitchell bất kể lệnh cấm, bay lên hạ được một chiếc.

        Vào tháng Chạp, các phi công trong phi đội 70 trước kia lại có dịp gặp nhau, khi Viccellio dẫn một toán anh em mới tới tăng cường cho Guadalcanal. Trong số đó có Lanphier và Barber. Tuy không bay chung với nhau trong cùng phi đội, nhưng anh em đều ăn ngủ chung và thường trao đổi với nhau các kinh nghiệm không chiến. Mọi người, ai cũng đều công nhận Mitchell là một anh hùng không quân,

        Toán phi công mới tới bắt đầu lập chiến công. Đầu tiên là Lanphier, hạ một chiếc Zero vào hôm trước lễ Giáng Sinh, ngay bên trên phi trường. Trong một phi xuất hai ngày sau đó, đi oanh tạc tại đảo New Georgia, anh lại hạ được hai chiếc Zero nữa, và mấy anh em khác thả bom làm cháy các bồn xăng và mười hai phi cơ địch đậu bên dưới. Anh được gắn Anh dũng bội tinh không quân sau phi vụ này. Anh em tất cả đều cảm phục trước sự bình tĩnh của anh trong khi chiến đấu. Một hôm trông thấy một hải vận hạm của địch, anh liền gọi máy đề nghị cá mỗi người năm đô la, ai thả bom đúng nhất thì ăn. Tất cả nhào xuống, và một trái bom 250 ký của anh thả trúng ngay boong tàu. Thế là hôm đó anh được ba chục đô la.

        Một ngày kia ngồi tính sổ lại, Viccellio thấy từ khi phi đội tới công tác ở đây, mỗi người đã có được sáu mươi lăm giờ bay chiến đấu, hạ tất cả bảy chục máy bay địch, và phi đội không bị mất người nào. Một vài người ghi được những thành tích vẻ vang, xuất sắc. Barber đơn thương độc mã, bất kể các phi cơ hộ tống địch, đã nhào xuống hạ được mệt oanh tạc cơ khổng lồ của địch ngay lúc nó đang hạ cánh tại đảo New Georgia. Sau thành tích này, anh được thưởng Ngôi Sao bạt. Jacobson cũng được Ngôi Sao bạc sau khi đã đánh nhầu với các máy bay Zero trên cao độ, tới gần hết bình dưỡng khí anh mới nhào xuống chiến hạm địch bên dưới, và tiêu diệt nằm sáu ổ súng phòng không. Cùng ngày đó, anh và tám bạn đồng đội khác đánh một hạm đội địch gồm năm hải vận hạm và tám khu trục hạm. Một chiếc đã bị chìm ngay sau đó.

        Canning lần đầu tiên xử dụng đại liên của loại phi cơ P-38 đã vô cùng ngạc về hỏa lực mạnh mẽ này. Anh chỉ bấm cò nhẹ là một tràng đạn đã bay ra cắt đứt nguyên chiếc đuôi của một phi cơ địch ở cao độ 2.000 thước, khiến nó bốc cháy và nổ tung giữa bầu trời trên đảo Kahai.

        Tình đồng đội giữa các phi công trên đảo thật là thắm thiết. Họ chiến đấu cùng với nhau, ăn ngủ và vui buồn cũng đều có nhau. Mọi người thường lấy tên bạn gái hay tên các nhân vật trong tiểu thuyết để đặt tên cho phi cơ của mình.

        Về đêm, họ không biết làm gì hơn là nằm nghe nhạc. Những bản «Ánh sáng kinh kỳ», «Ngôi Sao cài trên áo anh», «cỏi ra, cởi ra» được mọi người ưa thích, nghe đi nghe lại mãi không chán.

        Sau này trên đảo có một thư viện nhỏ của quân đội, và họ thường tới mượn các truyện bằng tranh về coi, cười ầm lên cả phòng. Hồi này không có ai đánh bạc như lúc ở Fiji nữa.

        Ngày I tháng Giêng năm 1943, Mitchell tổng kết thành tích của phi đội 399 như sau : hạ tại trận hai mươi mốt máy bay địch và bảy chiếc khác nghi ngờ đã bị hạ. Phi đội mất bốn phi công trong lúc chiến đấu, và năm sáu người khác bị các tai nạn. Phi đội đã bảo vệ hữu hiệu Guadalcanal và oanh tạc vị trí địch tại các nơi khác. Kể từ tháng Chạp, TQLC bắt đầu rời đảo để tiến đánh các mặt trận xa về phía Tây, bắt đầu từ đảo Rabaul.

        Mitchell bị sốt rét rừng, phải vô nhà thương ít lâu. Sau đó anh lại được phép qua Úc chơi một tuần rồi mới trở về tiếp tục chiến đấu. Viccellio thăng Thiếu tá và được bổ nhiệm chi huy Phi Đoàn 15 tại Noumea.

        Bẳt đầu từ tháng Hai, Bộ Chỉ huy Không quân được thành lập tại Solomon dưới sự chỉ huy của Đô đốc Mason. Nhu cầu không lực mỗi lúc một gia tăng. Một hôm trên đường oanh tạc hạm đội địch trở về, Barber gặp một tàu địch, anh nhào xuống bắn và bỏ bom quá thấp nên cánh máy bay đụng cột ăng-ten tàu đứt mất một bên cánh. Thế mà anh vẫn bay về được căn cứ an toàn. Sau vụ này Bar- ber được thương Ngôi Sao bạc.

        Nhiều nhân vật tới thăm phi trường Handerson, nơi đồn trú của phi đội 399. Trong đó có cả ông Bộ Trưởng Hải quân Knox. Hôm đó chỉ huy trường đã điều động hơn một trăm máy bay bay lên để đón và đưa ông Bộ Trưởng. Vào đầu tháng Ba, Tình báo của Đô đốc Mason cho biết địch bắt đầu sắp quậy trở lại.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM