Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 17 Tháng Một, 2019, 05:30:52 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Tiểu đoàn 307 (1948-1954)  (Đọc 3411 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8169


Lính của PTL


« Trả lời #60 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2018, 08:24:20 AM »

I- NHỮNG TRẬN ĐÁNH PHỤC KÍCH VẬN ĐỘNG CẢ TIỂU ĐOÀN.

1- Mộc Hóa (Tân An).

2- La Bang (Trà Vinh).

3- Chùa Ô Môi (Đồng Tháp).

4- Phong Phú (Cầu Kè – Vĩnh Long).

5- Bắc Trang (Trà Vinh).

6- Đôn Châu – đánh viện (Trà Vinh).

7- Tân Hương (Bến Tre).

8- Long Sơn – đánh viện (Trà Vinh).

9- Chống càn Long Vĩnh (Trà Vinh).

10- Chống càn Mỹ Thành (Cao Lãnh – Đồng Tháp).

11- An Xuyên (Cà Mau).

12- Giao thông Bạc Liêu – Cà Mau).

13- Chống càn Bảy Háp (Bạc Liêu).

14- An Biên đánh viện lần 2 (Bạc Liêu).

15- Chong Say – Chong Rày (Long Châu Hà).

II- NHỮNG TRẬN DIỆT HOẶC ĐÁNH THIỆT HẠI NẶNG TIỂU ĐOÀN ĐỊCH.

1- Mộc Hóa (Tân An).

2- La Bang (Trà Vinh).

3- Chùa Ô Môi (Đồng Tháp).

4- Phong Phú (Cầu Kè – Vĩnh Long).

5- Tân Hương (Bến Tre).

6- Long Sơn (Trà Vinh).

7- An Xuyên (Cà Mau).

8- Chống càn Bảy Háp (Bạc Liêu).

9- An Biên đánh viện lần 2 (Bạc Liêu).

III- NHỮNG TRẬN DIỆT ĐỒN ĐỊCH CỠ ĐẠI ĐỘI, TRUNG ĐỘI.

1- Bảy Ngàn (Cần Thơ).

2- Hộ Phòng (Bạc Liêu).

3- Dinh quận An Biên (Bạc Liêu).

4- Bắc Sa Ma (Cầu Kè – Vĩnh Long).

5- Bù Hút (Trà Vinh).



Đ/C Nguyễn Thành Út
Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8169


Lính của PTL


« Trả lời #61 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2018, 08:27:45 AM »

PHẦN BỐN

NGUYÊN NHÂN CHIẾN THẮNG CỦA TIỂU ĐOÀN 307

Tiểu đoàn 307 lập nên những chiến công oanh liệt, thành tích vẻ vang được nhân dân yêu mến, quân thù khiếp sợ, là do những nguyên nhân chủ yếu sau:

I- SỰ LÃNH ĐẠO ĐÚNG ĐẮN, SỰ CHĂM SÓC VỀ CÁC MẶT CỦA ĐẢNG ỦY BỘ CHỈ HUY KHU 8 BÀ ĐẢNG ỦY BỘ TƯ LỆNH PHÂN LIÊN KHU MIỀN TÂY, VAI TRÒ TIÊN PHÒNG GƯƠNG MẪU CỦA ĐẢNG BỘ TIỂU ĐOÀN.

1- Ngay từ khi thành lập, về mặt tổ chức cán bộ của tiểu đoàn, Đảng ủy và Bộ chỉ huy khu 8 hết sức coi trọng, đã cử đồng chí Nguyễn Chánh, Tham mưu trưởng khu trực tiếp chăm lo.

Ngoài cán bộ chiến sĩ rút từ các trung đoàn trong khu lên mà hầu hết đều trải qua chiến đấu, khu đã bổ sung thêm cho tiểu đoàn, cán bộ chiến sĩ của Trường quân chính khu 8. Tuy là tiểu đoàn, nhưng lại là tiểu đoàn liên quân lưu động, hoạt động khắp trên các địa bàn thuộc khu 8, trực thuộc Bộ chỉ huy khu, nên Tiểu đoàn 307 về tổ chức ngoài 3 đại đội chiến đấu lúc đầu, sau này được tổ chức thêm đại đội trợ chiến, đại đội bổ sung (tuyển quân tình nguyện huấn luyện để bổ sung cho các đại đội chiến đấu) và cơ quan tiểu đoàn bộ có văn phòng (gồm cả tài vụ, cơ yếu) ban tác chiến, ban chính trị, ban quản trị (gồm quân nhu, quân y) ban vô tuyến điện. Tiểu đoàn có trung đội trinh sát liên lạc trực thuộc, sau này trở thành đại đội trinh sát đặc công. Nhờ Bộ chỉ huy khu 8 cho tổ chức thích hợp như trên, nên tiểu đoàn đủ sức xây dựng bộ đội cách mạng trưởng thành độc lập hoạt động, quân số lúc nào cũng đầy đủ (đến khoảng 1.200 người) tạo nên sức mạnh chiến đấu, từng bước giành thế chủ động đánh địch trên chiến trường.

- Sau khi tiến hành tổ chức biên chế xong, Đảng ủy và Bộ chỉ huy khu 8 khẩn trương cho tiểu đoàn đến vùng căn cứ kháng chiến luyện tập trước khi chiến đấu. Theo gương đó, sau này hàng năm, tiểu đoàn cũng được dừng chân ở các vùng căn cứ kháng chiến để tổ chức huấn luyện từ 1 đến 2 tháng. Đây là những chủ trương đúng đắn của lãnh đạo cấp trên. Chính nhờ có các đợt huấn luyện này mà cán bộ chiến sĩ trong tiểu đoàn thống nhất được ý chí, tư tưởng, thống nhất về kỹ thuật, tư thế tác phong, thống nhất về cách đánh địch, nâng cao được sự giác ngộ chính trị và bảnh lĩnh quân sự quân đội nhân dân. Nhờ vậy, ngay sau khi xuất quân (5-7-1948) tiểu đoàn đã tạo nên chiến thắng Mộc Hóa La Bang vang dội khắp chiến trường Nam bộ, cũng như sau này năm nào Tiểu đoàn 307 cũng có những trận thắng vẻ vang.

- Về cán bộ tiểu đoàn, đại đội, Thường vụ Đảng ủy và Bộ chỉ huy khu 8 đã điều động về tiểu đoàn, những đồng chí có phẩm chất, có khả năng đã từng chiến đấu có kinh nghiêm. Riêng các đồng chí trong Ban chỉ huy tiểu đoàn lúc mới thành lập coi như được nâng lên một bậc. Đồng chí Đỗ Huy Rừa nguyên là trung đoàn phó trung đoàn 109 thì về làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 307. Đồng chí Nguyễn Văn Sĩ là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 305 thì về làm Tiểu đoàn phó. Đồng chí Hồng Long, nguyên là Chính trị viên tỉnh đội ở miền Bắc mới vào thì được bổ nhiệm làm chính trị viên tiểu đoàn. Cán bộ đại đội hầu hết đã chỉ huy các đại đội độc lập tác chiến ở các trung đoàn như các đồng chí Đỗ Giọng, Nguyễn Duy Hải, Đặng Văn Tỷ v.v...

Việc bổ sung cán bộ của Thường vụ Đảng ủy Bộ chỉ huy khu 8 của Thường vụ Đang ủy Bộ tư lệnh Phân liên khu miền Tây cho tiểu đoàn, thường kịp thời và đầy đủ, ngoài việc đề bạt cán bộ trong tiểu đoàn lên.

- Trong chỉ đạo tác chiến, ngoài những hoạt động do tiểu đoàn chủ động tiến hành, Bộ chỉ huy khu 8 cũng như Bộ tư lệnh Phân liên khu miền Tây còn tổ chức các chiến dịch, các đợt hoạt động lớn (như chiến dịch Cầu Kè, Trà Vinh, Bến Tre, các đợt tác chiến kết hợp với địch ngụy vận v.v...) để tiểu đoàn có điều kiện phối hợp với các đơn vị bạn chiến đấu, giành thế chủ động đánh địch gây cho địch nhiều tổn thất.

Trong các trận đánh lớn, các cuộc hành quân xa, Đảng ủy và chỉ huy cấp trên đều có sự lãnh đạo chỉ huy cụ thể, nhất là về mặt chính trị, tư tưởng đã giúp cho tiểu đoàn quán triệt nhiệm vụ và quyết tâm thực hiện.

Sau các trận đánh lớn như chống địch càn quét vào Đồng Tháp Mười, các chiến dịch Cầu Kè, Trà Vinh, Bến Tre, chống địch càn quét vào căn cứ Bạc Liêu v.v... các đồng chí trong Thường vụ Đảng ủy và Bộ chỉ huy khu 8, Đảng ủy Bộ tư lệnh Phân liên khu miền Tây đều đến tiểu đoàn phân tích ưu khuyết điểm đề ra phương hướng khắc phục và động viên tinh thần chiến đấu anh dũng của bộ đội, nâng cao khí thế đánh giặc lập công của tiểu đoàn.

- Về mặt bảo đảm vật chất Đảng ủy và chỉ huy cấp trên luôn động viên tiểu đoàn phát huy tự lực tự cường, tìm địch mà đánh cướp súng đạn của địch để diệt địch, đẩy mạnh tăng gia sản xuất tự túc một phần lương thực. Ngoài ra khu, Phân liên khu cũng cung cấp tối đa trong khả năng có thể, những yêu cầu chính đáng của tiểu đoàn như thuyền xuồng, chăn màn, quần áo, lúa gạo v.v... cho nên đời sống của tiểu đoàn trong kháng chiến tuy gian khổ song không đến nỗi quá thiếu thốn.

2- Dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy Bộ chỉ huy khu 8, về sau là Đảng ủy, Bộ tư lệnh Phân liên khu miền Tây (Nam bộ) Đảng bộ tiểu đoàn đứng đầu có Tiểu đoàn ủy, là một tập thể đảng viên kiên cường, tiên phong, gương mẫu, đã lãnh đạo tiểu đoàn tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt. Đảng bộ tiểu đoàn cũng là trung tâm đoàn kết toàn tiểu đoàn thành một khối thống nhất, dù trong gian khổ, lúc có tổn thất, hay khi thắng lợi vẻ vang, đều giữ vững ý chí, theo tinh thần Bác Hồ đã dạy: “Thắng không kiêu, bại không nản”, một lòng một dạ hy sinh chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân.

- Lãnh đạo tiểu đoàn luôn coi trọng công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng đối với cán bộ chiến sĩ. Nhận thức được rõ ràng chỉ khi nào người chiến sĩ hiểu rõ vì sao mình chiến đấu? Chiến đấu cho ai?, để tự giác nhận nhiệm vụ dù khó khăn gian khổ, hy sinh, thì khi ấy mới có ý chí chiến đấu dũng cảm, tiêu diệt kẻ thù, mới đoàn kết nội bộ, đoàn kết gắn bó với nhân dân. Sự giác ngộ chính trị là cơ sở đầu tiên quan trọng để người quân nhân cách mạng thực hiện được 3 nhiệm vụ chủ yếu của bộ đội cách mạng là chiến đấu, công tác và sản xuất... trong cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Đảng bộ tiểu đoàn luôn coi công tác dân vận là yếu tố quết định sống còn của đơn vị, nên đã lãnh đạo tiểu đoàn thực hiện tốt sự đoàn kết quân dân, bằng những hành động cụ thể như trong mười lời thề của Vệ quốc đoàn: Kính trọng dân, bảo vệ dân, giúp đỡ dân...

- Lãnh đạo tiểu đoàn cũng hiểu rằng, có tinh thần chiến đấu chưa đủ, mà người chiến sĩ còn phải rèn luyện để có bản lĩnh chiến đấu giỏi phải thông thạo kỹ thuật chiến đấu, và phải có cách đánh tốt. Vì vậy bộ đội phải thường xuyên tập luyện, ngoài ra mỗi năm có 1 tháng đến 2 tháng được về khu căn cứ, tổ chức huấn luyện tập trung. Sau một trận đánh đều phải tổ chức rút kinh nghiệm nói lên mặt mạnh, để phát huy và mặt yếu kém để có cách khắc phục, cũng như không ngừng nghiên cứu thủ đoạn của kẻ thù để tìm ra cách đánh thích hợp, bất ngờ.

Yếu tố lãnh đạo của Đảng bộ Trung ương Cục miền Nam xuống khu 8, Phân liên khu miền Tây xuống đến Đảng bộ tiểu đoàn là yếu tố quan trọng và cơ bản nhất, nó tạo nên nhiều yếu tố khác quan hệ mật thiết và hỗ trợ lẫn nhau, mà tổng hợp lại làm nên sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của Tiểu đoàn 307.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Tiểu đoàn 307 liên tục chiến đấu và chiến thắng, lập nên những chiến công oanh liệt và xây dựng tiểu đoàn trưởng thành, mang đầy đủ bản chất của một đội quân cách mạng, của bộ đội Cụ Hồ, vì nhân dân mà chiến đấu, và được nhân dân vùng đồng bằng sông Cửu Long hết lòng thương yêu, đùm bọc.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8169


Lính của PTL


« Trả lời #62 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2018, 08:29:36 AM »

II- SỰ GIÁC NGỘ CÁCH MẠNG, TẠO RA Ý CHÍ CHIẾN ĐẤU DŨNG CẢM KIÊN CƯỜNG, TÍNH KỶ LUẬT, SỰ ĐOÀN KẾT NỘI BỘ CỦA CÁN BỘ CHIẾN SĨ

1- Cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn 307, đại đa số là con em nhân dân lao động vùng đồng bằng sông Cửu Long. Nhân dân ở đây có truyền thống cách mạng, yêu nước, cho nên đã đứng lên cùng toàn thể nhân dân Việt Nam, tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, theo lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch và sự lãnh đạo của Đảng.

Thời kháng chiến chống Pháp, thanh niên vào bộ đội cách mạng chiến đấu là tình nguyện. Phần lớn anh em có ít nhiều hiểu biết về nỗi cơ cực của người dân nô lệ, mất nước, nên mới tình nguyện đi đánh đuổi quân xâm lược. Vào bộ đội cách mạng, được giáo dục thêm, anh em được giác ngộ về chính trị nên càng quyết tâm chịu đựng gian khổ, hy sinh chiến đấu vì độc lập, tự do của đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân. Một khi cán bộ, chiến sĩ đã hiểu rõ vì sao mình đi đánh giặc, đánh giặc đem lại lợi ích cho ai, đồng thời anh em tin tưởng vào cuộc kháng chiến do toàn dân tham gia chiến đấu, kháng chiến toàn diện trường kỳ, nhất định thặng lợi, thì ý chí chiến đấu của bộ đội càng cao. Lòng căm thù địch bóc lột, đàn áp nhân dân ta, gần một thế kỷ bắt nhân dân ta làm nô lệ. Việc bắn giết, đánh đập, đốt nhà, phá hoại ruộng vườn của đồng bào ta mỗi khi địch đi càn quét đã hun đúc ý chí diệt tù trong mỗi cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn 307. Vì vậy trong chiến đấu, một tiếng hô xung phong của người chỉ huy, hoặc khi nghe lệnh kèn xung trận, thì trăm người như một xông lên tiêu diệt kẻ thù. Không biết bao nhiêu chiến si bị thương, còn chiến đấu được là không chịu rời trận địa.

- Trong trận Mộc Hóa, khi truy kích địch, chiến sĩ Tạ Văn Bang bị thương dập nát cườm tay trái, bàn tay lủng lẳng, máu chảy dầm dề, anh gọi một đồng đội cắt giúp cho đỡ vướng. Thấy bạn ngần ngại vì sợ anh đau, anh rút phăng mã tấu trên lưng, kề tay xuống đường, tay phải chặt tay trái đứt phăng. Răng anh nghiến ken két không phải vì đau đớn mà vì căm thù địch. Anh tiếp tục xông lên với khẩu tiểu liên bắn bằng một tay, nổ liên tiếp vào quân địch.

- Trận La Bang, mặc cho địch nổ súng dữ dội về phía ta, đại đội trưởng Nguyễn Duy Hải dẫn đầu đại đội 932 xung phong tiêu diệt địch. Trận đánh thắng lợi hoàn toàn, thu hàng trăm súng nhưng Nguyễn Duy Hải đã ngã xuống để lại trong lòng đồng đội và đồng bào Miên – Việt Trà Vinh, lòng kính phục và tưởng nhớ không nguôi.

- “Tháp Mười vào dễ khó ra” đó là câu loan truyền của địch. Khi địch vào càn quét Đồng Tháp Mười, đến chùa Ô Môi, Tiểu đoàn trưởng Đỗ Huy Rừa đã chỉ huy tiểu đoàn đánh địch tơi bời, không bám được vào kênh xáng. Khi địch rút ra, ở hướng kinh Sài Tư, anh đã nói cùng anh em chặn địch. “Tôi quyết cùng các đồng chí tử chiến với địch ven này”. Trận đánh xáp lá cà xảy ra vô cùng ác liệt. Với khẩu súng colt 12F anh đã cùng đồng đội hạ bao nhiêu địch! Trong 2 trận Ô Môi và Sài Tư, Tiểu đoàn 307 diệt và làm bị thương gần 300 tên địch, song người tiểu đoàn trưởng đầu tiên của Tiểu đoàn 307 đã anh dũng hy sinh. Tinh thần chiến đấu kiên cường của anh sống mãi với tiểu đoàn

- Em trinh sát Nguyễn Văn Xe cầm cờ vượt rào, xung phong lên trước, máu em thắm đỏ lá cờ, thúc giục các chiến sĩ đại đội 931 xông lên hạ đồn Bắc Sa Ma, chiến công mở đầu thắng lợi cho Tiểu đoàn 307 trong chiến dịch Cầu Kè, nêu tấm gương tuổi nhỏ mà anh hùng.

- Trong trận đánh địch ở Cầu Ngang – Trà Vinh, địch cố thủ trong đồn Bù Hút. Tiểu đội trưởng Tống Văn công đại đội 931, dùng chày giã gạo phá cửa đồn. Địch ném lựu đạn ra bên này, anh nhảy sang góc bên kia, rồi lại tiếp tục bổ chày vào cửa. Lựu đạn ném ra liên tiếp, anh như con sóc, nhanh nhẹn, vừa nhảy tránh lựu đạn, vừa bổ chày vào cửa. Khói lửa mịt mù, người anh đem nám, loan lổ máu vì bị mảnh lựu đạn, nhưng cửa đồn bị anh phá tung, chiến sĩ xông vào, địch bị bắt gọn với toàn bộ vũ khí.

Những gương chiến đấu dũng cảm quên mình, ở tiểu đội nào cũng có. “Đánh giặc là phải gan dạ, mưu trí”, chiến sĩ nói như thế, vì anh em luôn nhớ:

“Buổi xuất quân tiểu đoàn năm ấy
Cả tiểu đoàn thề dưới sao vàng
Người chiến sĩ tiếc gì máu rơi
Buổi xuất quân tiểu đoàn năm ấy
Nguyện một lòng gìn giữ non sông”.


2- Cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn 307 thương yêu nhau như ruột thịt, sống chết có nhau, vui buồn chia sẻ. Cán bộ cùng ăn cùng ở, cùng lao động với chiến sĩ, gian khổ chung chịu. Sự đoàn kết hiệp đồng lập công tập thể được quán triệt đến mọi người. Trong chiến đấu và công tác, nơi nào khó khăn, nguy hiểm, cán bộ gương mẫu dẫn đầu. Cán bộ hết lòng dạy bảo dìu dắt chiến sĩ về mọi mặt nhất là bản lĩnh hành quân, chiến đấu, ngược lại chiến sĩ luôn tin tưởng phục tùng cán bộ và không bao giờ tiếc thân mình để bảo vệ cán bộ thi hành mệnh lệnh cấp trên.

Các trung đội trong đại đội, hay các đại đội trong tiểu đoàn, thường nhận phần chiến đấu gian khổ về mình, dành phần nhẹ hơn cho đơn vị bạn. Có tình huống cần chi viện cho đơn vị bạn, bao giờ cũng sẵn sàng làm hết sức mình, bất chấp khó khăn. Vì thế sự hợp đồng tác chiến trong tiểu đoàn, không phải chỉ bằng kế hoạch, mệnh lệnh mà bằng cả ý chí chiến đấu và tình thương đồng đội.

3- Cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn 307 bao giờ cũng đề cao kỹ luật của quân đội cách mạng,,bởi vì mọi người đều nhận thức rõ “kỹ luật là sức mạnh của quân đội” mệnh lệnh đã ban ra thì mọi người đều phải chấp hành, nhất là kỹ luật chiến đấu và kỹ luật dân vận. Tinh thần tự phê bình và phê bình được thực hiện phổ biến trong sinh hoạt của bộ đội.

Một đồng chí cán bộ tham mưu khuyết điểm, thì chưa đợi cấp trên kiểm điểm, cán bộ đồng cấp đã phê bình rất thắng thắn, giúp cho em nhận rõ sai lầm.

Có lần 2 chiến sĩ tỉnh sát theo dõi địch vào càn quét kinh Năm Ngàn Đồng Tháp Mười, chỉ cách địch có 100m. Đồng bào đã tản cư đi hết. Quá xế trưa rồi mà chưa ăn uống gì, bụng đói 2 chiến sĩ thấy ổ gà của dân, bèn lấy trứng xuống ăn đỡ lòng với ý nghĩ là chút nữa thế nào địch cũng tràn vào cướp phá sạch. Việc lấy của dân ấy được báo lên đại đội, tiểu đoàn. Một cuộc họp cán bộ từ trung đội trở lên tiểu đoàn, để kiểm điểm về kỹ luật đối với dân, có mời nhân dân trong xóm đến dự. Hai chiến sĩ đã phạm lỗi đứng lên xin lỗi nhân dân. Đồng chí Chính trị viên tiểu đoàn phân tích sâu sắc về khuyết điểm là cán bộ chưa giáo dục tốt chiến sĩ mới xảy ra việc bộ đội xâm phạm tài sản nhân dân. Đồng chí vừa khóc vừa xin lỗi nhân dân. Tất nhiên bà con sẵn lòng tha thứ, nhưng bài học đó, cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn 307 nhớ đời về lời thề và kỷ luật quân đội nhân dân “không lấy cây kim sợi chỉ của dân”.

- Đóng quân ở nhà dân, trước khi hành quân đi nơi khác bao giờ cán bộ tiểu đội cũng xin ý kiến chủ nhà và những và những người trong gia đình xem bộ đội và làm điều gì sai trái, làm cho gia đình không vừa lòng không! Nếu có, thì phải kiểm điểm trước gia đình, và giải quyết đến nơi đến chốn. Chính vì coi trọng kỷ luật dân vận, nên tiểu đoàn được nhân dân nơi đóng quân tôn trọng, tin cậy và mến yêu.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8169


Lính của PTL


« Trả lời #63 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2018, 08:32:19 AM »

III- SỰ ĐÙM BỌC, GIÚP ĐỠ HẾT LÒNG CHÍNH QUYỀN, ĐOÀN THỂ VÀ NHÂN DÂN CÁC ĐỊA PHƯƠNG.

- Tiểu đoàn 307 là bộ đội cách mạng, con em của nhân dân, vì nhân dân mà chiến đấu, bao giờ cũng kính trọng dân, giúp đỡ dân, bảo vệ dân, tôn trọng chính quyền, đoàn thể cách mạng. Đó là bản chất bộ đội Cụ Hồ, mà từ khi thành lập, cho đến sau này, Tiểu đoàn 307 luôn giữ vững và phát huy. Mặt khác tiểu đoàn đến hoạt động ở vùng nào, đều tạo nên chiến thắng, làm nức lòng dân, phong trào nhân dân chiến tranh địa phương tăng lên gây nỗi kinh hoàng cho địch. Vì thế Tiểu đoàn 307 được lòng dân: “Đi đôi dân nhớ, ở dân thương”.

- Đến địa phương nào hoạt động, tiểu đoàn đểu chủ động báo cáo với Tỉnh ủy, Ủy ban tỉnh và Tỉnh đội địa phương. Đóng quân ở huyện nào, xã nào đều cử cán bộ đến liên hệ với cơ quan chính quyền, đoàn thể để nắm tình hình địa phương, và luôn coi trọng ý kiến của địa phương.

- Có nơi lần đầu tiên tiểu đoàn đến trú quân, vì nhà dân chật hẹp, hoặc vì bà con chưa hiểu rõ bộ đội ta, nên chưa ưng cho ở trong nhà, thì tiểu đội ở ngoài vườn, ngoài sân, cho đến khi nào dân thương dân hiểu, dân cho ở thì mới vào nhà. Ở đâu cũng vậy, ngoài việc thường xuyên quét dọn nhà cửa, gánh nước đầy lu, cắt tóc tắm rửa cho trẻ em, dạy hát dạy chữ. Việc gì chủ nhà đang làm, bộ đội đều tận tình giúp đỡ như lớp nhà, vét mương, gieo mạ, gặt lúa. Công việc nhỏ trong xóm ấp, thì đại đội làm như sửa chữa lại cầu, đắp thêm đường. Nếu việc lớn hơn như cất trường học, đào kinh, dọn đất khai hoang, thì huy động cả tiểu đoàn cùng làm. Như vậy vừa giúp dân một cách thiết thực, vừa lưu lại trong lòng dân những kỷ niệm không quê. Vì thế mà ở nhiều nơi tiểu đoàn đóng quân, nhân dân trìu mến gọi “vườn chuối 307”, “cầu 307”, “trường học 307”. Trên cơ sở được nhân dân yêu thương tin cậy, mà bộ đội tuyên truyền chủ trương kháng chiến cứu nước với nhân dân.

- Đối với bộ đội địa phương và dân quân, tiểu đoàn, đại đội chủ động phối hợp hoạt động tác chiến, hết lòng huấn luyện dìu dắt dân quân chiến đấu nhất là khi tiểu đoàn phân tán hoạt động từng đại đội phát động du kích chiến tranh khi địch lấn chiếm Đồng Tháp Mười. Khi tiểu đoàn thắng trận thu được vũ khí đạn dược, thì ngoài kiện toàn trang bị của mình, đều dành một phần trao lại cho bộ đội địa phương và dân quân.

- Tình thương của nhân dân đối vơi Tiểu đoàn 307 mộc mạc, chân thành mà sâu sắc, tự nhiên nhưng rất thực tế: từ nắm trấu bà mẹ rắc lên chiếc cầu khi trơn trượt để bộ đội dễ đi qua, cho đến chiếc cáng thương binh trên đôi vai của chị em dân quân, dưới làn bom đạn, nỗi vui mừng của xóm làng khi bộ đội thắng trận trở về đông đủ, và mối lo âu của bà con khi thấy máy bay, pháo địch dội lửa xuống trận địa của bộ đội ta. Bà con nói: “Thương bộ đội, thì phải cho bộ đội ăn no để đánh mạnh”. Từ rổ khoai, nải chuối cho bộ đội ở ven đường, khi bộ đội hành quân khuya qua làng, cho đến những bữa ăn thịnh soạn của bà con nơi đóng quân, mời bộ đội trong những ngày Tết xa nhà, đều chứa một tình thương bao la của người dân đối với bộ đội cách mạng.

- Khi địch vào càn quét ở Đồng Tháp Mười hay ở Bạc Liêu, tiểu đoàn hành quân cấp tốc chặn địch, thì nhân dân theo sau, ghe xuồng rộng rã, tiếp tế cho bộ đội nào bánh tét, cơm gói, gà vịt... liên tiếp mấy ngày, cho đến khi:

“Sau thắng trận, đồng bào hể hả,
Niềm vui mừng kể xiết được đâu.
Quân dân nghĩa nặng tình sâu
Cùng nhau diệt giặc, công đầu các con”.


Một mẹ chiến sĩ hồi ấy đã cảm hứng thành thơ mà bây giờ anh em 307 hãy còn ghi nhớ.

- Cảm động biết bao và kỷ niệm không thể nào quên đối với cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn 307! Sau Hiệp định đình chiến Genevè 1954, một số ít đồng chí 307 được chọn ở lại bảo vệ Trung ương Cục miền Nam, còn hầu hết tiểu đoàn lên tàu Kinlinsky của Ba Lan, tại vàm sông Ông Đốc (Bạc Liêu) để tập kết ra miền Bắc, chuyến cuối cùng vào tháng 2-1955. Nhân dân các địa phương kể cả nhân dân thị xã Cà Mau, Bạc liêu đến thăm từ biệt tiểu đoàn rất đông, mang theo cho bộ đội đủ thứ quà bánh, lưu luyến tiễn đưa tiểu đoàn. Ai cũng không cầm được nước mắt. Bà con còn lên tàu nhỏ chạy ra tận ngoài khơi, nơi tàu lớn (Kinlinsky) đậu neo quay mũi ra khơi. Cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn 307 vô cùng xúc động, tất cả đều lên boong tàu, mặt hướng về các tàu nhỏ chở nhân dân còn lênh đênh trên mặt biển, hướng về đất liền mù xa, vẫy tay tạm biệt đồng bào thân yêu, quê hương yêu dấu, mãi cho đến khi chỉ còn thấy có biển và trời.

Tình đoàn kết quân dân giữa Tiểu đoàn 307 và nhân dân vùng đồng bằng sông Cửu Long, vừa là nguồn cổ vũ động viên người chiến sĩ xa nhà giết giặc cứu nước, vừa là nguồn khuyến khích nhân dân địa phương tích cực tham gia kháng chiến trường kỳ v