Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 18 Tháng Mười Một, 2018, 06:15:06 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đền tội  (Đọc 7854 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 16551


« Trả lời #90 vào lúc: 31 Tháng Ba, 2018, 07:09:43 PM »

         
THANH KIẾM HẠ XUỐNG

        Tất cả chúng tôi đều ghi trong sổ tay: "Mồng một tháng mười năm 1946, vào hồi 14 giờ 50 phút theo giờ Trung Âu, phiên toà cuối cùng thứ 407, bắt đầu". Dãy ghế các bị cáo lần này trống không, và dường như người ta có cảm giác kỳ cục khi nhìn thấy hàng ghế trơ trọi đó.

        Đại tá tư lệnh Toà án quân sự Enđruxơ, người quen cũ của chúng tôi, đã hiểu rõ cái giá trị mà người Mỹ gọi là "ký giả" nên trước lúc phiên toà nhóm họp đã lui tới phòng báo chí. Và lại người ta có cảm giác là có thể cùng một lúc nhìn thấy chiếc mũ sắt sơn trắng, cặp kính không gọng với khuôn mặt hồng hào của ông ta trong phòng báo chí, tại quán rượu và ngoài hành lang - tức là ở bất cứ chỗ nào có các nhà báo. Ông ta rất linh lợi, cởi mở và giữ một vẻ rất bí mật. Ông ta không hề nói một lời nào về bản án sắp tới, mặc dầu chắc chắn ông ta biết nó. Ông ta chỉ nói bóng nói gió rằng tại phiên toà cuối cùng này chúng tôi sẽ được nhìn thấy một cảnh khách thường.

        Và chúng tôi chờ đợi, nghển cao cổ, sổ tay đã mở sẵn sàng. Các quan toà đã  ra! Tất cả đứng dậy, tay vẫn không rời cuốn sổ. Huân tước Lôrenxơ đưa mắt nhìn khắp hội trường qua cặp kính rồi khẽ gật đầu. Có lẽ đó là tín hiệu. Cánh cửa ở phía sau hàng ghế trống không của các bị cáo lặng lẽ mở rộng và Gơrinh, được hộ tống bởi một tốp quân cảnh đội mũ sắt trắng bóng loáng, dường như từ trong bức tường hiện ra. Hắn trông nhợt nhạt, mặt như xoa phấn, mà cũng có thể quả thực hắn đã đánh phấn.

        - Chà, sau một ngày một đêm hắn ta tọp hẳn lại, cứ y như hắn được sấy khô ấy - một người nào đó ở phía sau tôi nhận xét.

        Gơrinh đeo ống nghe, trong đó vang lên tiếng nói quen thuộc của huân tước Lôrenxơ. Ông đọc bản án vẫn bằng cái giọng bình thản thông thường, nhưng hôm nay những lời nói của ông vang lên như sấm: "Gơrinh, tử hình bằng treo cổ". Trong khoảnh khắc, "Nhân vật số hai" của nước Đức nhìn đăm đăm vào hội trường bằng cặp mắt màu chì nhưng hắn sực nhớ, cố lấy lại vẻ bình thường trên khuôn mặt ấy, tháo ống nghe và rời khỏi hội trường. Cánh cửa cũng vẫn nhẹ nhàng, không một tiếng động, khép lại. Có lẽ đó là ấn tượng đặc biệt mà đại tá Enđruxơ đã hứa hẹn.

        Hexơ biết tiếng Anh thành thạo. Không phải ngẫu nhiên mà hắn đã tiến hành chiến tranh trên quần đảo Briten dưới sự bảo trợ của quận công Hamintơnxki. Hexơ, như chúng ta đã thấy rõ, là một người có ý chí sắt thép. Sau khi nghe tuyên án "Tù chung thân", hắn không hề giật mình, chỉ có đôi mắt trên khuôn mặt gầy của hắn loé lên trong hai hố mắt sâu thẳm. Hắn quay ngoắt ra đằng sau theo kiểu quân sự và bằng những bước đi vững chắc biến ra sau lỗ của.

        Ribentơrốp, bây giờ trông giống như con búp bê cao su bị xì hcri. Hắn uể oải, mặt mũi bơ phờ, những chỗ gồ trên khuôn mặt hắn nổi hẳn lên, mắt nữa nhắm nửa mở. Sau khi biết rằng hắn cũng bị treo cổ, hắn như bị hẫng, vội bám lấy cái giá viết rồi được đỡ bời người lính gác, lê đôi chân rời khỏi hội trường.

        Câyten cũng trông như con búp bê, Nhưng là búp bê bằng gỗ, không co giãn được. Hắn đi cứng cỏi y như đi đều bước, chân xỏ trong đôi ủng được chải bóng nhoáng. Muốn nói gì thì nói chứ hắn biết cách kiềm chế và tự chủ được mình... "Tử hình bằng treo cổ"... Hắn hơi gật đầu dường như để khẳng định những ý nghĩ của mình rồi đi ra khỏi phòng cũng vẫn với tư thế thẳng đơ, nét mặt biểu hiện sự tập trung cao độ. Hắn là một tên lính mèng, rất mèng và trong suốt quá trình xét xử có thái độ tồi tệ, nhưng vào những giờ phút chót, hắn đã xử sự một cách xứng đáng: dầu sao thì hắn cũng là con nhà võ. Gã hàng xóm ngồi cạnh hắn, Iốtlơ, vừa nghe xong bản tuyên án tử hình liền bỏ ống nghe rồi vừa đi ra khỏi phòng vừa càu nhàu một cách giận dữ, mắt liếc nhìn về phía các quan toà.

        Thế nhưng những chính khách và những nhà tư tưởng của Hítle vào giây phút quyết định lại hoá ra là đồ giẻ rách. Rôdenbéc phải vất vả lắm mới đứng vững được.

        Phrancơ, kẻ đã hứa với quốc trưởng sẽ giải phóng Ba Lan khỏi người Ba Lan vì lợi ích của các dân tộc năng động và hùng mạnh, sẽ nghiền nát dân chúng dưới quyền cai trị của y để làm món thịt băm viên thì bây giờ đi lảo đảo khi vừa bước ra khỏi khung cửa. Hắn đi như một kẻ mơ ngủ, va vấp lung tung, và sau khi nghe xong vẫn bản án như thế - "Tử hình bằng treo cổ", hắn vung hai tay ra với vẻ bi đát. Mãi về sau, chúng tôi mới được biết rằng, hắn sợ quá đến nỗi bĩnh cả ra quần.

        Daliút Stơrâykhe, chính cái tên đã hành hạ dã man các cô gái dám yêu người Do Thái, nhân vật chủ chốt và người tổ chức ra cái dạ hội ma quái ở Nuyrembe, dường như hoàn toàn hoá rồ. Đôi mắt hắn trông dại hẳn đi, mạch máu ở hai bên thái dương nổi lên, giai nhớt chảy lòng thòng ở miệng trông đến tởm!

        Vậy là việc tuyên án đã kết thúc. Đây là phần cuối của nó. Gơrinh, Ribentơrốp, Câyten, Rôdenbéc, Cantenbrune Phrich, Phrancơ, Stơrâykhe, Daoken, Iốtlơ, Dâyxơ Incơvác và Matin Boócman (bị xử vắng mặt và người ta giả định rằng hắn đang ẩn náu ở một nơi nào đó) bị kết án tử hình bằng treo cổ. Hexơ, Phuncơ và Rêđéc - tù chung thân. Phôn Sirác và Speéc - mười lăm năm tù, Đênít - mười năm tù.

        Đó là kết quả. Nhưng cái chính không phải bọn chúng, những tên tay sai này của Hítle, cái chính là ở chủ nghĩa quốc xã, ở những tư tưởng của nó. Nó đã bị vạch trần. Nó xuất hiện trước toàn thế giới với tất cả sự xấu xa kinh tởm của nó. Mọi người quả thật đã ăn không ngon, ngủ không yên, như công tố viên của Mỹ đã hứa với họ, khi ngồi nghe trong suốt chín tháng câu chuyện khủng khiếp về sự thống trị kéo dài mười ba năm của chủ nghĩa quốc xã ở một nước lớn, có nền văn hoá lâu đời của châu Âu.

        Câu chuyện đó thông qua báo chí và đài phát thanh đã được phổ biến rộng rãi đến các dân tộc trên thế giới.

        Nhưng liệu chủ nghĩa quốc xã với tư cách là một hệ tư tưởng có bị kết án tử hình hay chỉ bị tù ngắn hạn - đối với câu hỏi đó hiện nay vẫn chưa có lời giải đáp. Tương lai sẽ trả lời nó.

        Còn hiện thời cần phải ghi lấy cái ngày mà chắc chắn ở bất kỳ một bước ngoặt nào của lịch sử vẫn sẽ mãi mãi là một ngày lịch sử. Toà án quốc tế đầu tiên trên thế giới xét xử bọn tội phạm chiến tranh đầu sỏ đã tuyên án ngày mồng 1 tháng 10 năm 1946 vào 15 giờ 40 phút theo giờ Trung Âu.
« Sửa lần cuối: 31 Tháng Ba, 2018, 07:22:38 PM gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 16551


« Trả lời #91 vào lúc: 31 Tháng Ba, 2018, 07:23:36 PM »

     
TIỆT NỌC

        Buổi sáng chúng tôi được biết rằng Hội đồng kiểm tra của các quân đội đồng minh về nước Đức, làm việc tại Béclin, đã xem xét lời xin ân xá của những tên bị kết án và đã bác bỏ lời cầu xin đó.

        Nói cho đúng, vụ án đã kết thúc. Các nhà báo chúng tôi chẳng có việc gì làm ở đây nữa. Nhưng giới báo chí vẫn chưa ra về. Trong trại báo chí, tất cả các phòng đều có người ở, phòng ăn thì thiếu chỗ, quán rượu thì chật ních khách hàng. Trên bảng kê các loại rượu pha chế lại xuất hiện một tác phẩm mới của chủ quán Đêvít, mang tên "Giôn Vút".

        Trung sĩ Vút của quân đội Mỹ là một nhân vật nổi tiếng mới mẻ của giới báo chí vốn rất nhạy bén đối với tất cả các sự kiện. Đó là một quân nhân chuyên nghiệp bỗng nhiên trở thành nổi tiếng vì anh ta được gọi tới để thi hành bản án của Toà án quân sự quốc tế. Tôi đã nhìn thấy Vút - đó là một anh chàng dáng người tầm thước, đẫy đà, có cái mũi khoằm vừa to vừa dài và cái cằm ba ngấn. Anh ta rất nhanh nhẹn, quay hết bên phải lại quay nên sang bên trái để phân phát chữ kỷ và trả lời phỏng vấn. Vút rất sẵn sàng đứng trước các ống kính, miệng cười rất rộng. Một phóng viên láu cá không hiểu làm thế nào đã chụp được một kiểu ảnh độc đảo: Vút đang cầm trong tay một cuộn dây thừng.

        Công việc mà anh ta đảm nhiệm rất cần thiết và không thể thiếu được. Có thể anh ta đồng ý làm việc đó thậm chí, không phải do thích thú mà do mệnh lệnh, nhưng sự quảng cáo ầm ĩ về người trung sĩ này đã làm hư anh ta,

        Cuộc hành quyết được dự định vào ngày 16 tháng 10. Trại báo chí nhấp nha nhấp nhổm vì hồi hộp. Nếu được tự do thả cửa thì tất cả mọi người lập tức rời khỏi chỗ và lao đến nhà giam. Nhưng cái sân này, noi bản án sẽ được thi hành, không lấy gì làm lớn. Có thông báo rằng các nhà báo chỉ được phép theo danh sách đã được duyệt trước. Các đại diện báo chí Xô viết chúng tôi được phân vẻn vẹn có hai suất. Theo sự thoả thuận chung của chúng tôi, hai suất đó sẽ được dành cho phóng viên hãng thông tấn TASS là Bôrít Anphanaxép, một nhà báo nghiêm túc, có trình độ, đã ở Nuyrembe suốt chín tháng mà không đi đâu cả và một cho phóng viên nhiếp ảnh của báo Sự thật là Víchto Têmin. Anh chàng này không thể không được cử đi vì trong trường hợp bị từ chối, anh ta có thể đau khổ mà chết do vỡ tim.

        Trong giới phóng viên quân sự chúng tôi, Têmin là một nhân vật sử thi, thậm chí đã đi vào văn học dân gian. Ở tiền tuyến, tất cả những ai từng làm phóng viên quân sự không thể không nhớ câu vè:

        Ảnh vừa xám vừa đen.
        Ấy là của Têmin1

        Phải thừa nhận rằng cái câu vè đó chứa đựng một phần sự thật... Thế nhưng tôi, vốn đã từng biết nhiều các phóng viên nhiếp ảnh cừ khôi, chua hề thấy một người thứ hai nào như Têmin mà nếu cần thiết, có thể chụp được bức ảnh trong những điều kiện không thể tưởng tượng nổi và kịp thời mang đến toà soạn sau khi đã vượt qua muôn vàn khó khăn trở ngại mà đến ngay đến ba chàng ngự lâm pháo thủ do Đáctanhan cầm đầu cũng đành chịu.

        Bước đường công danh của Têmin trong nghề làm báo vào những năm chiến tranh đúng là con đường lên voi xuống chó. Anh ta cũng được tặng huân chương và cũng lại bị tước sao trên quân hàm. Bị đuổi ra khỏi toà soạn báo Sự thật rồi lại được mời đến làm ở đó. Ở khắp nơi, bao giờ anh ta cũng được nổi tiếng là một phóng viên ngang tàng và liều lĩnh. Mặc dầu cỏ những bước thăng trầm trong cuộc đời sôi nổi, Têmin vẫn tiếp tục làm ở tờ báo Sự thật cho đến hết chiến tranh. Bao giờ anh ta cũng sẵn sàng quyết tâm làm cho toà soạn những bức ảnh có một không hai, dù có khi phải hy sinh cả tính mạng, và kịp thời mang những bức ảnh đó đến tờ báo của mình.

        Có vài người đã chụp được giây phút lịch sử Hồng quân cắm lá cờ Liên Xô trên nóc trụ sờ quốc hội Đức. Nhưng chỉ có mỗi mình Víchto Têmin kịp thời đưa được tấm ảnh đó về Mátxcơva. Để làm được điều này, anh ta buộc phải dùng thủ đoạn đánh lừa để mượn được chiếc máy bay cũ của nguyên soái Giucốp, tư lệnh phương diện quân, một người rất nghiêm khắc và kiên quyết. Ai mà không nhớ bức ảnh lịch sử ấy được chụp từ trên máy bay đó. Sau chuyến bay liều lĩnh ấy, chiếc máy bay này đã mang trên mình gần năm mươi lỗ thủng do mảnh đạn xuyên qua. Sau đó, Têmin, cũng là một phóng viên nhiếp ảnh duy nhất đã vi phạm quy chế về việc tới gần nơi có sự kiện và đã chụp được một cách hầu như trực diện cảnh quân Nhật ký văn kiện đầu hàng trên chiếc tuần dương hạm "Mixuri" của Mỹ mặc dầu suýt nữa thì bị các sĩ quan của hạm đội Mỹ quẳng xuống biển. Anh ta định đánh liều tắm trong đại dương cùng chiếc máy ảnh, thế nhưng bức ảnh của anh ta sau này đã được in trên nhiều báo chí thế giới.

--------------------
        1. Một kiểu chơi chữ trong tiếng Nga: Têmin về phát âm gần giống tính từ ngắn đuôi "têmien" có nghĩa là đen) - ND.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 16551


« Trả lời #92 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2018, 08:28:40 PM »


        Vậy thì làm sao có thể không cho con người có cái quyền ghi lại phần chót của toà án Nuyrembe? Bời vậy, diễn biến tiếp theo của các sự kiện, tôi không được tham dự mà chỉ tái hiện lại qua câu chuyện của Víchto Têmin, có điều tôi lược bớt đi một số chi tiết tự nhiên chủ nghĩa và sửa sang một chút ngôn từ cho cách diễn dạt đỡ dung tục.

        Têmin đã kể lại như sau:

        - Tám người chúng tôi được phép dự buổi hành quyết. Mỗi nước chiến thắng được cử hai người. Chúng tôi tụ họp với nhau và viên đại tá Enđruxơ đáng kính ấy đã gặp chúng tôi tại toà án, trong một căn phòng riêng mà trước kia người ta không cho chúng tôi vào. Ồng ta nói với chúng tôi rằng trong thời gian hành quyết, chúng tôi không được rời khỏi chỗ đã dành riêng cho chúng tôi, không được tán chuyện và nói chung, phải giữ yên lặng. Rồi ông ta dẫn chúng tôi đi theo cầu thang xuống một nơi nào đó ở phía dưới, đó là nhà giam (ngay cả đến tôi cũng chưa bao giờ vào chốn này) trông thật lạ mắt: hành lang chạy thẳng, ở hai bên là những cánh cửa, những cái khoá kỳ dị và những ngọn đòn chiếu sáng ở bên trong xà lim. Tôi không rõ mười một tên từ tù ấy có biết rằng hôm nay là ngày tận số của chúng không, nhưng trong các xà lim đều im phăng phắc. Có tên đang đọc sách, có tên đang hý hoáy viết gì đó. Ribentơrốp hình như đang nói chuyên với cha đạo, còn một tên thì đang đánh răng, chắc là hắn chuẩn bị đi ngủ.

        Chúng tôi đã "cưỡi ngựa xem hoa" như vậy. Sau đó là hiệu lệnh báo giờ đi ngủ. Viên đại tá dẫn chúng tôi từ nhà giam ra ngoài rồi đưa vào một toà nhà không lấy gì làm lớn, hình như là phòng thể dục hay sao ấy... Phòng này rỗng không, giữa phòng là ba cái bục cao son màu xanh lá cây, nom tựa như ba cái hòm lớn. Từ dưới sàn có những bậc dẫn lên, tôi đếm được cả thảy mười ba bậc, còn từ phía trên có treo những sợi dây thòng lọng dòng xuống. Phía trước ba cái bục - đài xử giảo - là chỗ dành cho các dại diện của bốn quân đội đồng minh. Phía sau có mấy chiếc ghế băng để cho phiên dịch. Đối với các nhà báo chúng tôi, người ta đã kê sẵn bốn chiếc bàn riêng xinh xắn - tôi và Bôrít Vlađimiarôvích chọn cho mình một chiếc. Chúng tôi chờ, chờ khá lâu. Rồi nghe thấy ở phía sau của tiếng chân chạy ngược chạy xuôi, những tiếng í ới lời qua tiếng lại ồn ào. Mãi đến gần một giờ đêm người ta mới dẫn chúng tôi quay trở lại các giá treo cổ. Chúng tôi thấy viên đại tá bực bội ra mặt và nghe thấy những tiếng "Gơrinh... Gơrinh"... Có chuyện gì xảy ra với hắn, hắn chạy mất rồi hay sao? Nhưng chả biết hỏi ai cả. Nhưng kìa, Ribentorốp đã được dẫn ra, và không phải là dẫn mà là bị lôi xềnh xệch. Hẳn dường như bất tỉnh nhân sự. Chắc là hắn sợ quá đâm mất trí. Người ta kéo hắn lên đài xử giảo, đặt đứng dưới chiếc thòng lọng. Cha đạo tiến lại bên hắn thì thầm điều gì đó. Tiếp theo, chính viên trung sĩ Giôn Vút ấy đã chụp cái mũ đen lên đầu hắn, tròng thòng lọng vào cổ rồi ấn cần gạt... Ở đây người ta treo cổ rất mưu mẹo chứ không như bọn Hítle treo cổ những người của chúng ta. Họ quàng dây vào cổ, ấn cần gạt và phạm nhân tụt xuống cái của sập trên mặt bục. Ở dưới đó hắn chết như thế nào, không ai nhìn thấy, có điều sợi dây chốc chốc lại giật một cái. Anh chàng Giôn Vút này chắc đã luyện tập công phu nên hành sự rất nhanh nhẹn sau một tiếng rưỡi đồng hồ, anh ta đã thanh toán gọn mười mống trên hai giá treo cổ1. Quả là một tay thiện nghệ! Khi chúng tụt xuống dưới sàn người ta bèn gỡ chúng ra khỏi thòng lọng. Bác sĩ khám nghiệm thi thể bọn chúng và xác định đúng là đã chết. Người ta đặt từng xác chết vào những quan tài màu đen ở phía sau tấm rèm. Trên ngực mỗi xác chết có đặt một tấm biển con đề họ tên. Khi mọi việc đã xong xuôi, người ta cho các nhà báo chúng tôi vào xem và cho phép chụp ảnh. Chúng tôi nhận thấy một điều lạ: có mười tên bị treo cổ nhưng lại thấy mười một cái xác nằm ở đây, thì ra có cả Gơrinh nữa.


        Tôi đã ghi lại lời kể của Víchto Têmin về việc hành quyết những tên tội phạm. Có thể bổ sung gì cho câu chuyện đó? Phải chăng chỉ là việc tên Hécman Gơrinh đã thoát được sợi dây thòng lọng. Sự việc đó đã xảy ra như thế nào, ai đã giúp cho tên ác ôn quốc xã thứ hai sau Hítle thoát được cái án treo cổ - cho đến nay điều này vẫn chưa được làm sáng tỏ. Về việc này suốt ngày hôm đó, từ bữa sáng đến bữa tối, người ta đã bàn tán sôi nổi trong trại báo chí. Chúng tôi chỉ biết đích xác là sau khi đại tá Enđruxơ thống báo cho các bị cáo biết rằng đơn ân xá của chúng bị bác, vào khoảng mười giờ tối, người lính gác làm nhiệm vụ quan sát xà lim của Gơrinh đã chú ý tới một điều là tên này nằm ngửa không hề động đậy nhưng không thấy có hành động khả nghi nào. Hai tay phạm nhân đặt lên tấm chăn theo đúng quy định của nhà giam. Nhưng người lính gác có cảm giác là từ trong xà lim vọng ra tiếng thở khò khè. Y gọi viên sĩ quan trực nhật đến và cả hai cúi xuống trên cái xác đã tắt thờ. Bác sĩ của nhà giam xác định rằng phạm nhân chết ngay lập tức do ngộ độc xianua kali.

-------------------
        1. Còn một chiếc giá treo cổ nữa để dự phòng.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 16551


« Trả lời #93 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2018, 08:01:14 PM »


        Làm thế nào mà thuốc độc lọt được vào nhà giam vốn được canh phòng rất cẩn mật sau vụ tự tử của Lây? Ai đã mang ống thuốc độc vào? Đó cũng là một điều bí ẩn. Có giả thuyết cho rằng một trong số những luật sư đã trao cho Gơrinh ống thuốc chết người. Thậm chí cũng lại có giả thuyết phảng phất màu sắc lãng mạn cho rằng dường như vợ Gcrrinh đã mang ống thuốc độc đến vào buổi gặp gỡ cuối cùng và đã truyền ống thuốc từ mồm mình sang mồm chồng trong chiếc hôn vĩnh biệt. Nhưng điều đó trên thực tế không thể có được bởi lẽ hai vợ chồng bị ngăn bởi một tấm chắn bằng nhựa thùy tinh. Cũng không loại trừ trường họp ống thuốc độc được trao cho phạm nhân bởi một trong số những người lính gác bị các bạn bè giàu có của Gơrinh mua chuộc. Có lẽ chân lý bao giờ cũng là điều chưa ai biết. Nhưng cái con nhện độc đã chết như thế nào đâu phải là điều quan trọng: cái chính là nó sẽ không bao giờ còn cắn ai được nữa.

        Nhân đây cũng nói thêm rằng sau khi bản án được thi hành, ở Nuyrembe đã mở ra một kiểu kinh doanh độc đáo: người ta đem bán những sợi dây thòng lọng đã dùng để treo cổ phạm nhân. Té ra là từ thời Trung cổ ờ Nuyrembe được lưu hành một tục lệ mê tín: sợi dây của người bị treo cổ sẽ mang lại điều may mắn. Giôn Vút đã xin ông đại tá những sợi dây đó và cắt ra từng đoạn dài ngắn khác nhau rồi hăng hái đem chúng đi bán. Việc "kinh doanh" này rất phát đạt, Giôn Vút vớ bẫm, đặc biệt là bán cho những khách du lịch nước ngoài giầu sụ sống ở "Grand Hoel". Mấy đàn em của Giôn Vút cũng đến trại báo chí chúng tôi. Nhưng nghe nói họ mang sợi dây không đúng kích thước và đã bị lật tẩy nhờ chính cái mẫu mà Giôn Vút đã cầm để chụp ảnh. Nhưng nói chung, việc buôn bán dây thắt cổ đuợc lan tràn nhanh chóng đến mức gã Giôn Vút khi về nước chắc hẳn sẽ trở thành giàu có, còn thành phố Nuyrembe nổi tiếng trong một thời gian dài sẽ không có dây để bán vì số dây dự trữ đã hết nhẵn. Biết làm thế nào được. Người Mỹ có câu ngạn ngữ: "kinh doanh là kinh doanh".

        Tôi nghĩ về tất cả những điều đó khi máy bay của chúng tôi rời khỏi đường băng được lát bằng những tấm nhôm của sân bay Nuyrembe đưa chúng tôi trở về Mátxcơva. Chúng tôi đã chia tay thân mật với các bạn đồng nghiệp nước ngoài ở trại báo chí. Họ có những quan niệm khác với chúng tôi về hạnh phúc, có thế giới quan khác, có những phương pháp làm việc khác chúng tôi. Nhưng dầu sao chăng nữa thì trong chín tháng ấy chủng tôi đã là những người bạn tốt của nhau. Và tôi cảm thấy buồn buồn khi chia tay với nhà triết gia vui tính Ê rích1, với Ranphơ1 có nét mặt ưu tư cùng cô vợ Tanhia người gốc Nga của anh ta nhưng chỉ biết vẻn vẹn bốn từ tiếng Nga "chào", "tốt", "rượu vốtca" và "bạn". Còn với cô Pêghi ồn ào, cởi mở thì lúc chia tay đã để lại trên má chúng tôi một vết son tươi rói. Chúng tôi chia tay với đại tá Enđruxơ, một con người có nghị lực nhưng vẫn chưa nguôi nỗi đau khổ vì đã để "sổng" mất tên Gơrinh, để hắn chuồn sang thế giới bên kia mà không phải qua sợi dây treo cổ. Và với anh chàng lái xe người Đức, Cuốctơ, anh ta đã tặng tôi làm kỷ niệm một chiếc khăn trải bàn xinh xắn mà mẹ anh ta đã thêu một hình thập ác bé xíu với dòng chữ "Chúa phù hộ chúng ta". Nhưng bà không biết hoặc do tính tình chất phác mà quên mất rằng đúng cái dòng chữ như thế đã được đề trên thắt lưng của bọn Hítle khi chúng hùng hổ lao đến Matxcơva năm năm về trước. Và giờ đây, từ độ cao của chiếc máy bay vận tải quân sự, chở các phóng viên chúng tôi với những hòm xiểng và bọc gói..., tôi ngồi ôn lại chín tháng đó, bắt đầu tử cái ngày đồng chí Đimitơrốp nói những lời tiên tri về toà án cho đến ngày cuối cùng của nó mà Víchto Têmin đã kể lại cho chúng tôi nghe.

        Và bỗng nhiên tôi sực nhớ tới Xtalingrát, nhớ tới cái hầm lạnh giá dưới một ngôi nhà bị rung lên bởi những tiếng nổ của đại bác. Trận địa này do một sư đoàn cận vệ dưới quyền chỉ huy của người anh hùng Xtalingrát Alếcxây Rôđinxép giữ. Bấy giờ vào cuối tháng mười một. Gió bấc từ mạn sông Vônga thổi tới lạnh buốt. Từ một góc xa xa vẳng đến tiếng rên của các thương binh. Chẳng có nơi nào để chuyển họ ra khỏi chỗ này cả. Sông Vônga đang đóng băng và thỉnh thoảng mới có một chiếc ca nô chọc thủng các lớp băng sền sệt như cháo ấy. Tôi nằm trên một tấm đệm rách, lấy chiếc áo va rơi đắp lên người định ngủ một giấc. Tôi cố ngủ nhưng không tài nào ngủ được. Tĩnh mịch quá.

        Mà sự yên tĩnh trên cái dải đất hẹp này giữa một bên là sông và một bên là những vị trí tiền tiêu của quân Đức - nơi đôi tai dã quen với tiếng súng hầu như liên tục - là một dấu hiệu xấu đáng lo ngại. Tôi nằm và nhìn cái bàn kê ở phía xa xa. Một cái bàn viết nặng nề, bốn chân như bốn chân sư tử, không hiểu bằng cách nào lại lọt vào căn hầm này.

---------------
        1. Tên một phóng viên thông tấn xã Anh.

        2. Tên một ký giá nổi tiếng của một tờ báo ở Niu Yoóc.

Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 16551


« Trả lời #94 vào lúc: 03 Tháng Tư, 2018, 02:59:39 AM »


        Cây đèn "catiusa" làm bằng vỏ đạn pháo bị bẹp, cháy leo lét. Đứng cạnh bàn là một người gây guộc, mặt xương xẩu, mắt to và sâu. Mặc nguyên cả áo va rơi, ông cặm cụi viết vào những cuốn sổ bìa đỏ xếp thành hai chồng đều nhau ở trước mặt, ông viết hết chồng này rồi chuyển sang chồng khác. Rồi ông chụm hai bàn tay lại hà hơi để sưởi ấm những ngón tay bị lạnh cóng và lại tiếp tục làm việc. Tôi biết rằng đó là đồng chí bí thư đảng uỷ của trung đoàn, một người ốm yếu và trông chẳng có vẻ quân sự tí nào.

        Sau khi làm xong việc, ông thu tất cả những cuốn sổ lại, cho vào chiếc hòm sắt rồi đậy nắp lại. Ông nhẹ nhàng đi tới chỗ tôi, sửa lại chiếc áo va rơi bị tuột xuống và hỏi bằng giọng của người bị cúm:

        - Đồng chí không ngủ à? Mà đúng là hôm nay yên tĩnh lạ... Chúng ngừng bắn chắc là sắp giở một trò gì đấy.

        Ông ngồi im một lát rồi ôm ngực ho khùng khục. Phổi ông có vấn đề, ông không nói cho ai biết điều đó, nhưng do khi ho, ông cố tình quay mặt đi và ra một xó hầm thật xa để khạc đờm, mọi người biết rằng cái "vấn đề" đó rất trầm trọng. Ho xong, ông quay lại chỗ tôi:

        - Trong tuần này, ở trung đoàn ta có mười một đảng viên bị hy sinh, thế đồng chí có biết kết nạp được bao nhiêu không? Mười sáu. Mười một và mười sáu, đấy tỉ số là như vậy - ông lại ho rũ rượi, đứng dậy ra ngoài hầm, nhổ đờm sau cánh của rồi quay về chỗ cũ - về nghề nghiệp, tôi là nhà sử học. Và bây giờ tôi thường nghĩ rằng từ thời cổ đại cho đến nay đã tồn tại không biết bao nhiêu đảng phái khác nhau... Chúng lớn nhanh như thổi, cứng cáp, sinh sôi nảy nở khi gặp những điều kiện thuận lợi, khi sự có chân trong đảng hứa hẹn công danh và của ngon vật lạ trên đời. Nhưng chỉ cần số phận quay lung lại các đảng ấy, chúng lập tức sa sút, rã rời và hoàn toàn tan rã. Lịch sử chứng kiến nhiều trường họp như vậy. Còn ở ta, lần đầu tiên từ khi trái đất tồn tại, tôi xin nói với đồng chí với tư cách là nhà sử học, ở ta thì ngược lại... Chẳng hạn, bây giờ là lúc khó khăn nhất: Lêningrát đang bị phong toả và có người bị chết đói; quân Đức ở ngay trên bờ sông Vônga nằm giữa nước Nga; một nửa các xí nghiệp công nghiệp của ta bị địch chiếm; sáu nước cộng hoà nằm dưới ách đô hộ của chúng... Đói, rét, không nhà cửa... thế mà Đảng ta phát triển như vậy đó.

        Mười một đảng viên đã hy sinh anh dũng trong chiến dấu, nhưng mười sáu người đã viết đơn xin gia nhập Đảng. Đấy, con số là như vậy. về những con số này, không chỉ nên nói một cách đơn thuần mà cần phải hát lên bài ca về chúng...

        Trên đường từ Nuyrembe về Mátxcơva, tôi bỗng nhớ lại cuộc nói chuyện đã lâu ấy trong căn hầm của một ngôi nhà bị phá huỷ ở Xtalingrát trong những ngày chiến đấu gian khổ nhất để bảo vệ thành phố. Tôi đã hình dung rõ mồn một căn hầm tường bị phủ băng, gió thổi qua rất lạnh, tiếng rên của các thương binh, giọng nói khàn khàn của đồng chí bí thư đảng uỷ, khuôn mặt gầy guộc, một cách bệnh tật của ông với đôi mắt to rực lửa. Tôi nhớ lại những người Xô viết của chúng ta đã chiến đấu như thế nào để bảo vệ đất nước, bảo vệ những ý tưởng của chúng ta, và cơn tai hoạ đã gắn bó chúng ta lại chung quanh Đảng ta như thế nào. Trước trận tử chiến có tính chất quyết định, các chiến sĩ đã nộp đơn: "Tôi đi chiến đấu, xin hãy coi tôi là một đảng viên Đảng cộng sản", họ đã lấy ngực bịt lỗ châu mai và hô to: "Đảng Cộng sản Liên Xô quang vinh muôn năm!". Và cô nữ sinh Mátxcơva khi bị choàng dây thòng lọng vào cổ, vẫn không ngừng lời chửi mắng kè địch với tất cả lòng căm thù và sự khinh bỉ đồng thời nói lên những lời tin tưởng vào thắng lợi của nhân dân.

        Thế còn Nuyrembe? Trong số tất cả mười tám bị cáo, đại diện cho bọn chóp bu của đảng quốc xã, không có một tên nào chí ít nói lấy một lời để biện hộ cho những tư tưởng mà bọn quốc xã đã nhân danh để tiêu diệt và thiêu đốt hàng triệu người và dùng chiến tranh làm tê liệt Tây Âu. Thậm chí trong lời nói cuối cùng, khi thần chết đã thở vào gáy chúng, chúng vẫn xoen xoét nói dối, uốn éo, coi mình như những kẻ bị đánh lừa. Còn đảng của chúng mới đây đã từng làm cho nhân dân các nước láng giềng phải khiếp đảm thì bây giờ tan như đám mây mù chứa khí độc.

        Trên đường về Mátxccrva, trong khi suy nghĩ và so sánh, tôi càng ngày càng hiểu đồng chí Ghêóocghi Đimitorốp, con chim ưng kiêu hãnh của thế giới cộng sản, nói rất đúng khi tiên đoán được diễn biến và kết quả của toà án. Quả thật "Quạ không mổ mắt quạ". Đanmác Sáctơ, nhà tài chính đại tài của Hítle, kẻ đã dọn đường cho y lên nắm chính quyền, Hanxơ, Phrise, chiến hữu thân cận nhất của Gơben, kẻ phụ trách việc lừa gạt dân chúng trên báo chí và trên đài phát thanh, vẫn được tự do ở ngoài vòng pháp luật: chúng được các thẩm phán của các cường quốc đế quốc cứu mạng. Nhưng bản thân toà án, những luật pháp của nó, logic của nó, những tài liệu và những kết luận của nó đã vạch trần tất cả sự đê tiện, bỉ ổi và kinh tởm của những tư tưởng chủ nghĩa quốc xã và đồng thời là một lời cảnh tỉnh nghiêm khắc cho nhân loại.

        ... Những ghi chép cuối cùng này, tôi đã ngồi viết ở nhà. Trong phòng bên cạnh có tiếng gót giày của vợ tôi và tiếng bà nội đang dỗ đứa cháu gái ăn bột để chóng lớn và trở thành một cô bé xinh đẹp, khoẻ mạnh. Thằng con trai tôi ngồi ở góc bàn đằng kia cũng bắt chước tôi hí hoáy viết những chữ to tướng lên trang vở. Lần đầu tiên sau mười năm, chân tôi không xỏ vào đôi ủng ra trận mà đi đôi giày lót bông mềm mại ở trong nhà. Đôi giày này thậm chí đi sơ tán vợ tôi cũng mang theo như một lá bùa hộ mệnh của gia đình.

        Từ ngoài phố vọng lại tiếng xe điện, bánh xe của nó rít lên ken két ờ chỗ ngoặt. Tôi ngồi viết những dòng này giữa Mátxcơva, Mátxcơva của tôi. Tất cả những gì mà tôi đã nhìn và nghe thấy trong chín tháng tại thành phố xa xôi bên Đức, tôi hình dung như một cơn ác mộng khủng khiếp, chỉ muốn nhanh chóng quên đi. Nhưng không thể quên nó được.

        Không, không bao giờ có thể quên được!

NUYREMBE 1945-1946.       
MATXCƠVA 1967-1968.       
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 16551


« Trả lời #95 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2018, 01:44:55 PM »


PHẦN II

HOÀNG HÔN VÀ RẠNG ĐÔNG


BÍ MẬT TRONG CĂN HẦM NGẦM CỦA HÍTLE

        Vécvônphơ (Vervolf) là căn hầm hết sức kiên cố được xây dựng trên lãnh thổ Ucraina dành riêng cho Hítle. Công trình này có nhiệm vụ bảo vệ quốc trưởng khỏi mọi nguy hiểm có thể xẩy ra. Song, theo sự khẳng định của các nhà nghiên cứu hiện nay, nhũng chiếc hầm ngầm bí mật lại chính là cái bẫy phóng xạ rất quỷ quyệt gây nên cái chết kín đáo, dường như do Hécman Gơrinh, một chiến hữu thân cận nhất của Hítle, đã thiết kế cho thủ lĩnh của đệ tam đế chế.

        "Vécvônphơ", nếu dịch đúng từng chữ, có nghĩa là "con sói được vũ trang". Cái tên này của đại bản doanh dưới mặt đất nằm ở vùng Vinnixa (thuộc nước Cộng hoà Ucraina hiện nay) được đặt không phải là ngẫu nhiên. Hítle rất thích thú với nhũng cái tên tượng trung gắn liền với hình ảnh con sói. Hồi trẻ, hắn mang bí danh "Ngài sói". Cái tên Ađonphơ được dịch ra tiếng cổ Hy lạp có nghĩa là "con sói già hùng mạnh".

        Về căn hầm boongke "Vécvônphơ", chưa mấy người được biết. Bọn quốc xã tìm mọi cách giữ kín chuyện này. Những tù binh xây dựng "hang sói" đều bị bắn chết rồi bị chôn trong một hố chung gần đấy. Các kỹ sư từng thiết kế và thực hiện công việc xây dụng công trình đó cũng chung một số phận. Họ được khen ngợi, được thưởng huân chương rồi được đưa lên máy bay dường như để trở về Đức. Nhưng trên đường đi, một trái mìn hẹn giờ cực mạnh đã làm nổ tung phi cơ và xóa sạch mọi dấu vết của các nhân chứng không cần thiết.

        "Vécvônphơ" hoạt động từ mùa xuân năm 1942 đến tháng 3 năm 1944, sau đó bị phá hủy và thiêu trụi khi quân Đức rút lui. Tất cả các phòng làm việc trong đại bản doanh "Vécvônphơ" là những ngôi nhà nhỏ kiểu lắp ghép. Chỉ riêng kiến trúc của bản dinh Hítle là khác với tất cả các toà .nhà khác. Nó liên kết thành một khu nhà trên mặt đất và một hầm cố thủ dưới mặt đất với những bức tường bêtông và những tấm che có chiều dày từ 2,5 đến 4 mét. Hiện nay, bằng việc khoan thăm dò, người ta được biết rằng ở phía dưới boongke là một vỉa granít rất lớn. Bởi thế căn hầm của quốc trường, xét về thực chất, được đặt vào trong đá.

        Vậy thì nguy cơ phóng xạ là ở đâu? vấn đề là ở chỗ loại đá dùng để xây hầm ngầm của Hítle là một loại đá quỷ quyệt. Sự phân tích quang phổ đã cho thấy ở trong đá có chất phóng xạ rất mạnh. Điều đó có nghĩa là ở ngoài trời những tảng này không làm hại ai cả. Đi dạo trên những phiến đá ấy hay nằm phơi nắng trên chúng là vô cùng thoải mái. Song nếu dùng thứ đá đó trong căn phòng không thông thoáng hoặc tồi tệ hơn nữa - trong căn hầm dưới tầng nhà thì hãy coi chừng. Nguy cơ là do chất khí phóng xạ nặng nề, radium - 222 tiết ra từ đá không màu sắc và không mùi vị, nặng hơn không khí 7,5, nó tích tụ trong những căn phòng kín và là mối đe dọa đáng kể cho sức khỏe của những người sống tại đó. 

        Liệu có bằng chứng về việc chất radium có thể ảnh hưởng đến Hítle vốn từng sống trong "Vécvônphơ" không ít thời gian. Những bằng chứng trực tiếp tất nhiên là không có. Song một số tài liệu còn lưu giữ được có thể cho nhà chuyên môn biết nhiều điều. Sau đây là một số dẫn chứng.

        '"Mùa hè năm 1942 ờ Vinnixa rất oi bức Hítle rất mệt vì nóng nực". Câu này dược rút ra từ lời khai của viên sĩ quan bảo vệ Vécvônphơ tên là Gemaz Bécner. Mà lúc nóng nực, xạ khí radium tăng gấp 3 lần so với những điều kiện bình thường. Ngoài ra, liều lượng khuếch tán của radium trong phòng kín không thông thoáng cao hơn nhiều. Sau khi tăng nhiệt độ tới mức thường có trong boongke và biết rõ hoạt tính của vật liệu xây dựng, các chuyên gia có thể tính toán rằng nồng độ cho phép tối đa của các chất phóng xạ trong hầm ngầm của Hítle đã vượt quá mức cho phép 500 lần.

        Lần đầu tiên Hítle cảm thấy rất khó chịu vào tháng 7 năm 1942: nhức đầu, áp huyết tăng vọt, tay bắt đầu run rẩy. Sau đó ít lâu Hítle buột miệng nói một câu mà những người thính tai không thể bỏ qua: "Từ đầu chiến tranh đến nay quốc trường đã già đi tới 15 tuổi". Từ đó những lời này đã làm cho các thầy thuốc và các nhà sử học muốn hiểu rõ nguyên nhân của căn bệnh rất đỗi băn khoăn.

        Các bác sĩ tranh nhau chẩn đoán “liệt năng”, bệnh hoang tường... Nhưng năm 1996, nhà sử học Anh quốc Đêvít lếcvingơ đã nghiên cứu những tài liệu lưu trữ riêng của bác sĩ Moren là người điều trị cho Hítle từ năm 1937 đến năm 1945, đã đi tới kết luận rằng bệnh nhân A (bí danh của Hítle trong y bạ) không bị liệt năng, không mắc các bệnh lệch lạc tình dục, không mắc bệnh páckinxom (bệnh liệt rung), không mắc bệnh tinh thần phân lập hoặc bệnh hoang tưởng bộ phận.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 16551


« Trả lời #96 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2018, 02:38:26 AM »


        Vậy thì căn bệnh nào ảnh hưởng quốc trưởng? Bời lẽ mùa đông năm 1943 Hítle mỗi ngày uống khoảng 120 đến 150 viên thuốc và... tiếp tục già đi một cách đột biến. Những người chứng kiến đã nhận xét rằng Hítle "giọng càng ngày càng khàn, cảm giác thăng bằng bị mất đi (trong các cuộc dạo chơi, quốc trường đi lệch về một bên), chân tay run rẩy, thị lực kém dần, cẳng chân sưng to".

        "Ađônphơ bị những con đau đầu khủng khiếp hành hạ, ông bị đau răng. Trong tháng chín, ông bị một con đau tim, còn trong tháng mười phải mổ dây thanh âm, - nhà sử học Đức Anbéc Xôléc viết - ông nằm hàng giờ với vẻ dửng dung lãnh đạm, chỉ nghĩ đến một thứ - sôcôla và bánh ngọt. Sự ưa thích của ngọt của ông mang tính chất bệnh hoạn: mỗi ngày ông ăn hết ba đĩa bánh ngọt".

        Kết quả là Hítle không hiểu vì lẽ gì đã già đi trước tuổi rất nhiều. Nhưng khi các chuyên gia về y học phóng xạ được xem "bệnh án" này, họ liền nói ngay rằng đó là bệnh phóng xạ.

        Ở Hítle, người ta còn quan sát thấy triệu chứng của sự khuếch tán - đó là sảng khoái bệnh lý (euphoria). Sự đánh giá tình hình một cách không tương ứng thường xuất hiện theo  định kỳ ờ những người mắc chứng khuếch tán và được biểu hiện bằng câu "biển cả sâu đến đầu gối".

        Nếu trong tháng năm Hítle hấp thụ một liều lượng phóng xạ rất nguy hiểm thì trạng thái đầu tiên của sảng khoái bệnh lý đã có thể xuất hiện ngay trong tháng bảy. Chính vào thời gian đó Hítle đã thay đổi kế hoạch tác chiến. Theo ý đồ ban đầu thì quân Đức trước tiên phải lần lượt tiến công Cápcadơ, đưa những binh đoàn cơ động cao sang đánh Ấn Độ. Trong kho luu trữ ở Bẻclin đến nay vẫn còn lưu giữ được kế hoạch đó - "Chi thị 41".

        Song tại "Vécvonphơ", Hítle viết "Chỉ thị 45", trong đó việc chiếm Cápcadơ và chiếm Xtalingrát được xem xét cùng một lúc. Tình hình diễn biến tiếp theo ra sao thì mọi người đã rõ: Xtalingrát đã trở thành điểm ngoặt của chiến tranh và của lịch sử thế kỷ XX.

        Ai giáng cho Hítle cú đòn thâm độc đó? số phận hay thiên nhiên? Song có điều khiến chúng ta chú ý là cái bẫy "Vécvônphơ" dường như chỉ dành riêng cho một người - cho quốc trưởng. Trong số ba boongke của "Vécvónphơ" xây nổi trên mặt đất, một cái hoàn toàn trong sạch về mặt sinh thái. Chiếc boongke này dành cho binh lính. Trong khối bê-tông của nó không có chất radium tỏa ra từ đá grannít. Còn có một chiếc boongke nữa nằm ở đường biên của khu trung tâm, dành cho các sĩ quan cao cấp. Nhưng nó không là nơi ở thường xuyên của ai cả, bời vậy tuy có đá grannít nhưng không gây nguy hiểm cho ai. Chỉ có một boongke duy nhất - boongke -  căn hộ của Hítle là hết sức nguy hiểm.

        Ngoài ra, chất radium tích tụ được chính là có ảnh hưởng mạnh nhất đối với Hítle. Bởi lẽ, như mọi người đều biết trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất, y lọt vào một cuộc tấn công bằng hơi ngạt. Đường hô hấp, niêm mạc của y bị bỏng nặng, do đó chúng rất nhạy cảm đối với sự tác động.

        Vậy thì đó là sự ngẫu nhiên hay là cái bẫy thiên tài được bố trí cho quốc trưởng, một cái bẫy được suy tính rất tinh vi đến mức chỉ sau nhiều năm mới tạo lý do cho sự ngờ vực?

        "Vécvônphơ" được thiết kể bởi các chuyên gia giỏi nhất của Đức, Ý và nhiều nước Châu Âu khác. Trong số đó, tất nhiên, có những người rất am hiểu về khoáng sản, biết rõ mối nguy cơ phóng xạ có khả năng tiềm ẩn trong đá granít. Hơn nữa, cho dù ngành phóng xạ học có non trẻ đến mấy đi nữa thì nó cũng cho phép tính được nồng độ của chất radium trong đá. Có thể các nhà thiết kế cũng đã nghĩ ra cách phán xử nham hiểm này đối với Hítle chăng? Nhưng tự họ hay theo lệnh của ai?

        Một chi tiết đáng chú ý đã mách bảo đôi điều. Lúc đầu công trình ngầm này được xây dựng tại một địa điểm hoàn toàn khác và mãi về sau này mới được chuyển đến vùng Vinnixa. Như tài liệu đã xác định, vị trí hiện nay của nó được chính Hécman Gơrinh gợi ý chứ không phải ai khác. Tiện thể cũng nói thêm rằng bản doanh của chính Gơrinh nằm cách đó 20 kilômét. Nhưng ở đấy, cũng như đa số căn nhà của "Vécvônphơ", thay vì loại đá granit quỷ quyệt của địa phương, người ta dùng đá cuội biển an toàn được chở hàng trăm tấn từ xa đến.

        Gơrinh có thể là tác giả của cái kế hoạch tinh xảo đó được không? Điều này không nên loại trừ. Gơrinh là "tên quốc xã số 2" trong đệ tam đế chế. về tính cách của y, có thể xét đoán qua lời của người em họ y là Ghécbéc Gơrinh. Ghécbéc cho biết Gơrinh có thói háo danh, sợ trách nhiệm và rất liều lĩnh. "Nếu cần, Hécman này sẽ xéo lên những xác chết mà đi". Như mọi người đều biết, Gơrinh đã nhiều lần thực hiện chớp nhoáng những công việc của mình sau lưng Hítle. Chẳng hạn y đã bí mật thương lượng với đối phương mà thông cho quốc trường biết. Mãi vào những ngày cuối cùng trước khi sụp đổ, Hítle mới biết chuyện này. Hắn liền ra lệnh bắt Gơrinh, tước hết mọi danh hiệu và huân chương... Vả lại trước đó rất lâu, mối quan hệ giữa hai tên phát xít đầu sỏ này đã bị đổ vỡ. Có lẽ chính Gơrinh do muốn chiếm cái ghế quốc trưởng nên đã nghĩ ra cái bẫy nguy hiểm "Vécvônphơ" chăng?

        Tất nhiên điều này chỉ là một giả thuyết. Bí mật của căn hầm ngầm này vẫn còn đó. Và vị tất chúng sẽ được khám phá hoàn toàn ngay cả khi người ta có thể khai quật những đống bê tông nằm ở phía trên bản doanh ngầm của Hítle ở Vinnixa.

(Theo “Trud-7”)       

       
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 16551


« Trả lời #97 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2018, 12:49:02 AM »


HỒ SƠ MẬT SỐ 553

        Cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của nhân dân Liên Xô chống phát xít Đức, như mọi người đều biết, đã kết thúc bằng chiến dịch tổng tiến công vào Béclin, dinh lũy cuối cùng của đệ tam đế chế, dẫn tới sự đầu hàng vô điều kiện của Đức quốc xã trước Liên Xô và đồng minh vào đầu tháng 5 năm 1945. Trong số tù binh Đức bị bắt tại đây, cùng với các nhân vật quan trọng của Bộ chỉ huy tối cao và chính phủ Đức, còn có cả viên sĩ quan phụ tá riêng của Hítle là Ôttô Huynse và viên sĩ quan hầu phòng của Hítle là Hainơ Lingke. Là những kẻ hầu hạ gần gũi nhất với quốc trưởng trong nhiều năm nên Huynse và Lingke biết rất rõ mọi mưu toan làm bá chủ hoàn cầu của Hítle cũng như cuộc sống riêng tư của y. Những lời cung khai của hai tù binh đặc biệt này đã được ghi lại thành một tập hồ sơ dày 414 trang đánh máy mang tên là "về Hítle" với mã sổ 553 được dóng dấu "Tuyệt mật" và được bảo quản trong một kho lưu trữ quốc gia ở Matxcơva. Mới đây những tài liệu này đã được công khai hóa và được trích đăng trên tờ Stern" ở Hămbuốc (CHLB Đức) với lời bình sau đây của Vécne Phimcơ, tổng biên tập tạp chí "Stern":

        "Không xin chớ hồi hộp: những cuốn nhật ký mới của Hítle không xuất hiện giữa thanh thiên bạch nhật. Và cũng không phải là viết lại lịch sử của "đệ tam đế chế". Tuy vậy, tôi cảm thấy nên đọc tài liệu này. Tôi công nhận trong những trích đoạn dưới đây không có những phát hiện giật gân. Nhưng chúng cho thấy Hítle như một con người được chế tạo từ chất hỗn họp giữa tính kiên quyết và sự nhu nhược kém cỏi, giữa chứng cuồng dại hoang tưởng đến tàn bạo và thói phàm tục nhỏ nhen, thâm hại. Một con người thứ hai như vậy, cần phải đi tìm nữa. Và rất may là sẽ không tìm thấy..."

        RƯỢU THẬP CẨM CỦA EVA BRAUN

        Việc quân Đức bị đại bại ở Xtalingrát (tập đoàn quân số 6 đầu hàng ngày 31 tháng 1 năm 1943) đã khiến cho Hítle rất chán nản. Y hoàn toàn không thế chịu nổi nếu không được tiêm thuốc tăng lực do bác sĩ riêng của y là Moren thực hiện hai ngày một lần sau bữa sáng.

        Hítle càng ngày càng trở nên cáu kỉnh, tức bực. Khi thì y cảm thấy như cổ áo quá chật và làm y nghẹt thở, khi thì y khẳng định rằng ống quần quá dài. Y luôn miệng kêu ngứa. Y nghi ngờ trong nước rửa mặt, trong xà phòng, trong thuốc đánh răng và kem cạo râu có thuốc độc và ra lệnh đem tất cả những thứ đó đi phân tích. Cả nước nấu thức ăn cũng bị đưa đi kiểm nghiệm. Y gặm móng tay và gãi tai, gãi gáy đến rớm máu. Y bị mất ngủ và phải dùng các thứ thuốc ngủ khác nhau. Giường ngủ của y được xếp quanh bởi các túi chườm nóng và các gối sưởi ấm. Y thấy thiếu không khí và ra lệnh đưa vào phòng ngủ những bình ôxy để y thường xuyên sử dụng. Hítle ra lệnh giữ nhiệt độ ở trong phòng là 12°c, và cho rằng không khí lạnh làm y tỉnh táo. Những người dự các cuộc họp về tình hình chiến sự trên các mặt trận thường rời khỏi phòng họp vì lạnh để tạm sưởi ấm ở một noi nào đó.

        Trên thực tế, Hítle không bao giờ ra khỏi hầm trú ẩn của mình. Chỉ có buổi sáng, sau bữa điểm tâm y mới đi ra ngoài mười phút cùng với con chó bécgiê Blônđi. Con chó to xù được huấn luyện kỹ lưỡng chỉ thừa nhận mỗi Hítle, còn đối với tất cả những người khác, nó gầm gừ giận dữ. Suốt ngày đêm nó canh gác cho chủ còn lúc hội họp thì nó ngoan ngoãn nằm cạnh chân y.

        Sau bữa trưa, Hítle vào giường nằm để nguyên cả quần áo và cứ nằm thế cho đến tối. Sau đó, y dự cuộc hội ý buổi tối được tiến hành hàng ngày vào lúc 21 giờ. Sau khi thảo luận tình hình, y nán lại đôi chút ở trong phòng họp và nghịch quả bóng với con chó của mình. Hítle rất khoái khi Blônđi đứng trên hai chân sau và dùng hai chân trước thò ra như chân thỏ để đẩy quả bóng. Y thường khuyến khích nó bằng câu: "Nào, Blônđi, hãy làm con thỏ đi".
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 16551


« Trả lời #98 vào lúc: 07 Tháng Tư, 2018, 02:40:38 AM »


        Vào lúc nửa đêm, Hítle thường yêu cầu vặn cho y nghe những đĩa nhạc buồn. Tâm trạng này của quốc trưởng đã được Gơrinh tận dụng để hàng ngày đến viếng thăm y. Gơrinh hy vọng rằng cái chiến thuật đó đã giúp y chiếm được một vị trí đặc biệt bên cạnh Hítle. Vốn xa lánh các tướng lĩnh, Hítle đã rộng lòng tiếp nhận mưu toan lân la gần gũi của viên thống chế quỷ quyệt này.

        Vào những ngày ấy, Hítle cũng gần gũi với Eva Braun hơn. Ả lúc thì ở Muyních, lúc thì ở "Bécgơhốp" (tức hang sói) của Hítle. Những tháng trước đây y thỉnh thoảng mới trao đổi thư từ với ả, còn bây giờ thì hầu như ngày nào cũng gọi điện thoại cho ả.

        Phải qua đến mấy tuần sau khi xảy ra sự cố ở Xtalingrát, Hítle mới lại xuất hiện giữa đám nữ thư ký của y cũng như giữa những người thân cận như Boócman (Bí thư đảng Quốc xã), Hốpman (nhà nhiếp ảnh), Moren (bác sĩ riêng), và các sĩ quan tùy tùng. Nhân đó y nói rằng sự hiện diện của họ đã làm y quên đi những thất bại trên chiến trường Nga và có tác động tốt đến thần kinh của y.

        Trong nửa sau tháng 2 năm 1944, Hítle đã ra lệnh phủ một lớp bêtông dày 7 mét lên căn hầm ngầm của y trong khu "Hang sói" ở Đông Phổ. Trong khi việc xây dụng chưa hoàn tất thì y sổng ở "Bécgơhốp".

        Ngày 23 tháng 2, Hítle rời khỏi "Hang sói" bằng xe lửa và đi về phía Ôbécdanbéc qua Muyních, tại đây y tạm dừng lại để đón thêm Eva Braun, em gái ả là Grétlơ và một người bạn gái của ả là cô Snaiđéc. Một người bạn gái khác của mình là cô Sênêman, Eva Braun không mời bởi lẽ ả nghi ngờ cô này tán tỉnh Hítle. Theo ý kiến của Braun thì trong năm 1943, quốc trưởng đã quá chú ý tới Sênêman. Mấy ngày sau, cả mẹ Eva cũng đến.

        Hítle dậy vào lúc gần 12 giờ. Vào 1 giờ hoặc 1 giờ 30, sau bữa ăn sáng, tại phòng lớn ở "Bécgơhốp" y chủ trì cuộc hội ý hàng ngày về tình hình trên các mặt trận. Khi cuộc họp gần kết thúc, trong phòng khách tiếp giáp với phòng lớn, đã tề tựu đông đủ Eva Braun, mẹ Eva và cô em gái Grétlơ, cô Snaiđéc, cô Castrum, hai vợ chồng Boócman, Branđơ (bác sĩ riêng), Hêven (chịu trách nhiệm liên lạc với Bộ ngoại giao), Loren (đại diện cho trưởng phòng báo chí của đế chế) các nữ thư ký và các sĩ quan phụ tá.

        Khoảng 3 giờ 30 Hítle khoác tay một phụ nữ trong số đó mà theo phong tục bản địa phải ngồi cạnh quốc trưởng, dẫn tất cả đám thực khách đó vào phòng ăn. Trong bữa ăn trưa mọi người chỉ nói những chuyện tào lao, không một lời nào nhắc nhở tới chiến tranh. Nếu thời tiết tốt thì sau bữa ăn Hítle cùng với tất cả đi dạo chơi một lát. Nếu thời tiết xấu thì y ở lại "Bécgơhốp", ngồi cùng với Eva Braun trong phòng ả. Họ thường xem các họa báo cũ của Đức những năm 1933-1939 và ngắm những bức ảnh ghi lại thời "oanh liệt" của y. Vào 8 giờ tối, Hítle dùng bữa tối cùng với những người đã ăn trưa với y. Sau bữa ăn, quốc trường tiến hành cuộc hội ý buổi tối, nghe các báo cáo của các sĩ quan phụ tá quân sự và của Boócman về tình hình. Sau buổi họp đó là "buổi uống trà tối" thường lệ tại phòng lớn và nhất thiết phải có rượu sâm banh và đĩa hát.

        Cái mới trong năm ấy là thứ rượu thập cẩm (cốctai) được pha chế theo công thức của Eva Braun. Những người tham dự các cuộc nhậu nhẹt và các sĩ quan đã nghĩ ra các tên gọi nghịch ngợm khác nhau cho thứ rượu đó. Có lần Hítle được mời thứ rượu mới này, y bèn hỏi tên gọi của nó. Và câu trả lời là "Ô tô buýt". Người ta bèn giải thích rằng thứ cốctai này chứa đựng nhiều thứ như xe ô tô buýt và có tốc độ cũng nhanh như thế. Y phá lên cười và khen sự phát minh của Eva Braun. Sau nửa đêm, theo lệnh của Eva Braun, bữa ăn tối nhẹ nhàng thứ hai được dọn ra gồm xúp rùa, bánh mì kẹp thịt, xúc xích. Lúc 3 giờ 30 sáng Hítle chia tay với mọi người và đi ngủ.

        Khác với năm 1943, cuộc sống ờ "Bécgơhốp" luôn bị xáo trộn bởi lệnh báo động phòng không thường được phát ra giữa 9 và 10 giờ sáng. Khi máy bay địch gần tới biên giới phía nam của nước Đức, ở "Bécgơhốp" được phát lệnh "báo động dự phòng". Lingke lập tức đánh thức Hítle và thông báo về "báo động dự phòng" cho tất cả những ai đang có mặt trong nhà. Sau đó tại đây bắt đầu diễn ra cảnh huyên náo lộn xộn. Các cô hầu phòng luôn tay luôn chân chuyển xuống hầm trú ẩn những giỏ to tổ bố đựng quần áo của Eva Braun và các bà lớn khác. Những người đàn bà này hớt hơ hớt hải chạy ra khỏi phòng với vẻ ngái ngủ, ăn mặc hở hang, không trang điểm mà chi quấn vội cái khăn lên đầu.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 16551


« Trả lời #99 vào lúc: 08 Tháng Tư, 2018, 02:49:46 AM »

     
        "NGAY CẢ TÔI CŨNG BỊ OANH TẠC"...

        Khi máy bay địch xuất hiện bên trên lãnh thổ miền Nam nước Đức, còi phát lệnh "Báo động hoàn toàn". Tất cả mọi người vội vã chui xuống hầm trú ẩn. Hítle nhanh chóng mặc quần áo, không ăn điểm tâm và bước ra ngoài thềm với sự hộ tống của các sĩ quan tùy tùng. Tại đây y nghe những báo cáo về vị trí của máy bay để xem nếu có sự nguy hiểm trực tiếp thì kịp chui xuống hầm.

        Căn hầm lánh bom này của Hítle đã được xây dụng mất một năm rưỡi, khi quốc trưởng đến "Bécgơhốp", nó hầu như đã hoàn thành. Đó là cả một hệ thống hầm lò trong lòng một khối đá lớn ở Ôbécdanbéc. Những hầm lò này ở bên trong trái núi được ăn thông với nhau bằng các hành lang hẹp khiến cho toàn bộ Ôbécdanbéc trông giống như một mê cung khổng lồ do chuột chũi đào lên.

        Lối vào hầm lò vốn dẫn tới các căn phòng dưới mặt đất dành riêng cho Hítle được bịt bằng một tấm cửa bọc thép. Một cầu thang gồm 100 bậc dẫn từ cửa xuống dưới hành lang nằm trong lòng đất. Ở phía dưới có đặt những khẩu súng máy hướng lên trên. Từ hành lang này, cả một hệ thống lối đi ngoằn ngoèo dẫn vào các căn buồng được trang bị rất tiện nghi của Hítle. Ở phía sâu bên dưới các hầm lò là những kho lớn dự trữ thực phẩm phòng khi trong quá trình diễn biến chiến cuộc phải chuyển cả bộ tham mưu xuống đây trong một thời gian dài. Do những suy tính đó mà trong năm 1945 căn hầm được mở rộng đáng kể để có thêm những phòng ngủ mới.

        Khi có báo động phòng không, toàn bộ khu vực chung quanh Ôbécdanbéc được bao phủ bằng một lóp sưong mù nhân tạo. Nhằm mục đích này, một đội đặc nhiệm được bố trí thành những nhóm nhỏ có nhiệm vụ xả từ các bình ra một thứ khí đặc sệt ngà ngà mầu sữa. Nhiều đại đội pháo cao xạ được bố trí ở các vùng ngoại vi Ôbécdanbéc luôn luôn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Một tiểu đoàn lính SS đóng trong doanh trại cách "Bécgơhốp" khoảng 500 mét đã đảm bảo cho những trạm gác được tăng cường trong khắp vùng phụ cận.

        Trong thời gian có báo động phòng không, Hítle cùng các sĩ quan tùy tùng dứng trên thềm và quan sát xem liệu Ôbécdaghen đã được phủ kín bằng một màn sương mù hay chưa.

        Nếu như ở một nơi nào dó gió xé rách màn sương mù thì Hítle rất tức giận và ra lệnh mở những bình khí mới.

        Thông thường lệnh báo động kéo dài từ một tiếng rưỡi đến hai tiếng. Bom chưa lần nào rơi xuống khu vực gần "Bécgơhốp". Các máy bay Anh và Mỹ chủ yếu ném bom xuống Muyních.

        Trong những cuộc không kích nhằm vào Muyních, sóng nổ đã làm hư hại nhẹ ngôi nhà của Hítle ở Prinreghenplan, và y tuyên bố với vẻ hãnh diện: "Đấy, rốt cuộc, ngay đến tôi cũng bị oanh kích".

        Eva Braun rất bực mình đối với lệnh báo động phòng không. Ả nói rằng do những cuộc báo động này mà ả không thể ngủ đẫy giấc. Ả cũng than vãn về sự buồn chán: ngày tháng kéo dài lê thê. Hàng mấy giờ liền ả cùng với Hítle xem những tập catalo về bát đĩa bằng sứ và bằng phalê, giúp y chọn ra bộ đẹp nhất cho "Bécgơhốp". Những catalo này do trùm SS là Himle gửi tặng Eva Braun với tư cách là nữ chủ nhân "Bécgơhốp". Bản thân hắn thường nhận được những catalo này vì bát đĩa được sản xuất bởi các phạm nhân của trại tập trung Đakhao tại nhà máy sứ "Alắc" và trong các xí nghiệp ở Tiệp Khắc.

        Được sự ủng hộ của Hítle và Eva Braun, các phạm nhân của trại tập trung "Đakhao" đã sản xuất riêng cho họ những cây đèn chùm bằng sứ và một loạt hình người từ vua Phoriđơrích II, các tướng lĩnh của ông đến các binh lính thuộc đủ mọi quân chủng trong những bộ quân phục sặc sỡ của thời kỳ chiến tranh bảy năm.
« Sửa lần cuối: 12 Tháng Tư, 2018, 08:39:18 PM gửi bởi Giangtvx » Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM