Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 16 Tháng Mười Hai, 2018, 03:09:35 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đền tội  (Đọc 8207 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 16779


« Trả lời #100 vào lúc: 09 Tháng Tư, 2018, 07:31:51 PM »

         
        ... NHƯNG ẢO THUẬT KHÔNG LÀM NỔI

        Để làm cho cuộc sống ở "Bécgơhốp" phần nào vui lên, theo nguyện vọng của Eva Braun, tháng 4 năm 1944, nhà ảo thuật nổi tiếng của Béclin Sraibéc được mời đến biểu diễn tại đó. Ông ta đi cùng với vợ là trợ lý giúp việc cho chồng. Trong vòng hai tuần lễ, hầu như tối nào Sraibéc củng mua vui cho Hítle và những người chung quanh y. Những tiết mục biểu diễn của nhà ảo thuật được thực hiện trong phòng lớn, nơi

        Hítle vào lúc khác thường tiến hành những cuộc họp của mình. Buổi biểu diễn bắt đầu sau lần hội ý thứ hai, trong lúc uống trà buổi tối. Đến xem biểu diễn có Hítle, Eva Braun cùng mẹ, Grétlơ, Snaiđéc, Boócman, Moren và Branđơ cùng vợ, Hêven, Ôttô Đitơrích, Lorenxơ, các nữ thư ký và các sĩ quan tùy tùng của Hítle.

        Theo tiếng nhạc nhảy (các đĩa hát do Eva Braun và Boócman chọn lựa), Sraibéc điều khiển những con chim bồ câu được huấn luyện biến mất trong túi áo của ông ta và biểu diễn các xảo thuật làm biến mất các đồ vật khác nhau của những người ngồi sau. Trong phòng vang lên tiếng cười khi đôi tay khéo léo của nhà ảo thuật làm biến mất chiếc đồng hồ quả quýt bằng vàng của Boócman hay chiếc đồng hồ đeo tay bằng bạch kim nạm kim cương của Eva Braun do Hítle tặng. Trong thời gian trình diễn của Sraibéc, Hítle linh hoạt hẳn lên. Y cười khoái chí và vỗ tay. Y nói đùa với Sraibéc rằng sẽ tuyệt biết mấy nếu ông ta bằng cách nào đó có thể buộc quân đội Nga biến mất tăm!

        Mùa xuân năm 1944 những tổn thất của quân Đức do bị chết và bị thương ở mặt trận phía Đông đã tăng vọt. Đất đai của nước Nga thấm đẫm máu binh lính Đức. Các đoàn tàu chở hàng chục nghìn thương binh về Đức. Các bệnh viện đều chật ních. Trong các thành phố và làng mạc Đức xuất hiện ngày càng nhiều những người lính bị tàn phế phải chống nạng lê bước một cách vất vả và những người lính mù.

        Khi Hítle nói về sự căng thẳng trong quan hệ giữa các cường quốc phương Tây và Nga Xô viết, y luôn nhấn mạnh rằng cái chính lúc này là tranh thủ thời gian. Y biết rằng hồi đó, vào tháng 9 năm 1944 người Anh và người Mỹ sẵn sàng ký hòa ước riêng rẽ với Đức. Nhung họ ép buộc y phải về hun. Yêu sách loại bỏ Hítle hồi đó đã được người Anh nêu lên trong cuộc đàm phán với các đại diện của Bộ Ngoại giao Đức.

        Biết được điều này, Hítle đã ra lệnh đình chỉ thương lượng với người Anh. Đại sứ Hêven, đại diện thường trực của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Đức Ribentcrrốp bên cạnh Hítle, trong cuộc trao đổi với Guynse đã bày tỏ sự không hài lòng của mình về việc cắt đứt cuộc đàm phán ở Xtrốckhôn và nói rằng chiến cuộc ở mặt trận phía Đông đã đi tới giai đoạn nhất thiết phải ký kết hòa ước với các cường quốc phương Tây. Quốc trường còn chờ đợi gì nữa? Ông ta phải quyết định, phải tìm lối thoát chứ" - Hêven nói.

        Hítle đi tìm lối thoát trong xung đột giữa các cường quốc phương Tây và Nga Xô viết. Y thường kết thúc buổi thảo luận về tình hình bằng câu: "Rồi các vị sẽ thấy rằng tôi đúng".

        Ngả người trong chiếc ghế bành, Hítle nói về người Mỹ với thái độ khinh bỉ. Tại các cuộc đua xe hơi quốc tế, xe ô tô của Mỹ chưa lần nào thắng. Máy bay Mỹ trông có vẻ tốt, nhưng động cơ của chúng rất tồi. Điều đó chứng tỏ rằng người ta đã quá tâng bốc nền công nghiệp của Mỹ. Ở đó chẳng có những thành tựu nào đặc biệt, chỉ có sự tầm thường và quảng cáo thổi phồng mà thôi.

        Sau khi Hítle và Smunđơ (sĩ quan tùy tùng của Hítle) vừa đi khỏi thì Seđle, chỉ huy trưởng đội bảo vệ riêng của Hítle, xuất hiện. Anh ta cho biết tình hình tại mặt trận phía Đông rất xấu và nhận xét rằng đã lâu quốc trưởng chưa ra mặt trận. Song binh lính lại cần phải nhìn thấy quốc trường. "Không hiểu "sếp" suốt thời gian đó làm cái trò quái quỷ gì thế nhỉ?". Seđle thắc mắc. Trong thời gian đó Hítle chủ trì những cuộc thảo luận về tình hình, tán gẫu với tay thợ nhiếp ảnh Hốpman và những ngươi quen biết ông ta, đọc tiểu thuyết phiêu lưu, vẽ những đồ án công trình mà không ai hiểu nổi bởi lẽ y tự coi mình là một họa sĩ lớn, buổi tối thì gặp riêng Saobơ (sĩ quan tùy tùng SS) - tên này dùng đèn chiếu cho y xem những bức ảnh mầu chụp các vũ nữ khỏa thân của Pari, hoặc dắt chó đi dạo chơi...

        Ngày 21 tháng 4 năm 1945, Lingke đánh thức Hítle dậy vào lúc 9 giờ 30 sáng và báo tin pháo binh Nga đang pháo kích Béclin, rằng các sĩ quan tùy tùng Buốcgơđophơ (từ Bộ chỉ huy tối cao), Saobơ (từ quân đội SS), Bêlốp (từ đảng Quốc xã) và Guynse đang đợi y ở phòng khách. Mười phút sau, Hítle chưa kịp cạo râu, vội vã bước vào phòng khách.

        "Có chuyện gì xảy ra vậy? Pháo kích từ đâu thế?" - Hítle lo lắng hỏi. Buốcgơđophơ báo cáo rằng trung tâm Béclin đang bị pháo binh Nga pháo kích dữ dội. Hítle tái mặt và khẽ thốt lên: "Quân Nga đã đến gần thế rồi ư?".
« Sửa lần cuối: 12 Tháng Tư, 2018, 08:39:59 PM gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 16779


« Trả lời #101 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2018, 06:54:58 PM »

       
        "CHIẾN CUỘC ĐÃ THẤT BẠI"

        Sáng sớm ngày 22 tháng 4 hỏa lực của pháo binh Nga lại tiếp tục với một sức mạnh mới. Tiếng ầm ầm của cuộc pháo kích bắt Hítle phải thức dậy lúc 9 giờ sáng.

        Y mặc quần áo và cáu kỉnh hỏi: "Cỡ nòng bao nhiêu?" Đê’ trấn an quốc trường, Lingke trả lời rằng đó là pháo cao xạ Đức Tirgarten và một vài khẩu pháo tầm xa của quân Nga. Sau khi ăn điểm tâm trong phòng làm việc, Hítle đi sang phòng ngủ để bác sĩ Moren tiêm cho y một mũi tăng lực như thường lệ.

        Việc thảo luận tình hình được ấn định vào 12 giờ. Đó là cuộc thảo luận ngắn nhất trong suốt thời gian chiến tranh. Mọi người thì thầm trao đổi và nhắc đi nhắc lại vẫn một câu hỏi: tại sao quốc trưởng vẫn chưa quyết định rời Béclin?

        Hítle bước ra khỏi phòng riêng. Y vắn tắt chào hỏi những người có mặt và ngồi vào chiếc ghế bành của mình. Tham mưu trưởng bộ binh Cơrebơ bắt đầu báo cáo. Ông ta thông báo tình hình quân Đức bảo vệ Béclin ngày càng xấu đi. Ở phía nam, xe tăng Nga đã chọc thủng phòng tuyến Đức và đã tới các vùng ngoại ô. Tình hình quân Đức ở Ôđe rất nguy ngập. Bằng những cuộc tấn công bằng xe tăng quân Nga đã đột nhập sâu vào các trận địa phòng thủ của Đức.

        Hítle đứng dậy, cúi xuống bàn, đưa những ngón tay run rẩy lên tấm bản đồ. Bỗng y ưỡn thẳng người, quẳng cây bút chì màu lên bàn và thốt lên bằng một giọng đứt quãng: "Thế là hết rồi! Trong những điều kiện như thế này tôi không thể ra lệnh được nữa! Chiến cuộc đã thất bại! Nhưng nếu các vị nghĩ rằng tôi sẽ rời Béclin thì các vị nhầm to. Tôi thà ghim một viên đạn vào trán còn hơn!".

        Tất cả mọi người sợ hãi nhìn y. Y chỉ khẽ giơ tay lên và nói: "Xin cám ơn các quý vị!". Đoạn quay đằng sau và rời phòng họp.

        Những người tham dự cuộc họp sũng sờ như hóa đá. Chẳng nhẽ tất cả kết thúc rồi sao? Sự cáo chung ư? Guynse chạy theo sau Hítle. Trong phòng họp vẳng lại giọng nói lo sợ: "... Nhưng thưa quốc trường của tôi..." "Tuy nhiên, thưa quốc trưởng của tôi..." Guynse đuổi kịp Hítle tại ngưỡng cửa phòng làm việc. Y dừng lại và quát: "Cho tôi nói chuyện ngay với Gơben!". Bộ trưởng tuyên truyền Gơben sống trong căn hầm trú ẩn tại nhiệm sở của mình nằm trên đại lộ Hécman Gơrinh. Khi Hítle nói chuyện với y, những người tham dự cuộc họp với vẻ mặt bối rối và lo lắng đi sang phòng khách. Thủ lĩnh đảng Quốc xã Boócman và tham mưu trưởng Bộ Chi huy tối cao Câyten đổ xô đến Guynse và hỏi: "Quốc trường đâu rồi? Ngài còn nói gì nữa không?" Guynse cho biết quốc trường đang nói chuyện qua điện thoại với Gơben.

        Mọi người hồi hộp trao đổi, luôn luôn ngắt lời nhau. Câyten huơ tay, Boócman hoàn toàn mất bình tĩnh và cứ lặp đi lặp lại một câu "Quốc trường không thể nói một cách nghiêm túc rằng ngài muốn tự sát!" - Câyten gào lên: "Chúng ta phải ngăn cản quốc trưởng làm điều đó!". Một cảnh tượng hỗn loạn không bút nào tả hết đang diễn ra. Mấy người tranh thủ uống thêm đôi ba cốc cô nhắc nữa, chiếc chai không lăn lóc trên mặt bàn.

        Mấy phút sau, khoảng 12 giờ 30, Gơben tập tễnh, vội vã bước vào phòng khách. Y vừa phóng từ đại lộ Hécman Gơrinh đến đây, coi bộ hết sức xúc động. "Quốc trường đâu rồi?" -  ông ta hỏi. Gơben lập tóc được dẫn vào phòng làm việc. Cuộc nói chuyện kéo dài 10 phút. Khi Gơben quay ra, mọi người đổ xô đến hỏi: "Quốc trường nói gì?". Bị quây tứ phía, Gơben cho biết quốc trường coi tình hình là tuyệt vọng và cuộc chiến đã thất bại. Gơben kể lại rằng ông ta đã hoảng sợ như thế nào khi Hítle bằng giọng khàn khàn qua điện thoại ra lệnh cho y nhanh chóng cùng với vợ con đến ngay hầm trú ẩn, bời vì mọi chuyện đã kết thúc.

        Boócman xúc động quá, không thể đứng yên được. Y lúc thì quay sang phía Gơben, lúc thì quay sang phía Đênít, lúc thì sang phía Câyten và cứ nhắc đi nhắc lại rằng bằng bất cứ giá nào cũng phải khuyên quốc trường rời Béclin. Gơben khẽ hỏi Câyten: "Ngài quả thực không nhìn thấy một khả năng nào chặn đường cuộc tấn công của quân Nga ư?".

        Hítle chi nói mỗi một điều là tự tử bằng cách nào thì tốt nhất. Y thảo luận mọi chi tiết xem nên áp dụng biện pháp nào hom: tự sát bằng súng, uống thuốc độc hoặc cắt động mạch. Những buổi uống trà buổi tối thường kẻo dài đến tận 6,7 giờ sáng.

        Đêm 25 rạng ngày 26 tháng tư, quân Nga đã cắt đứt đường dây cáp điện thoại ngầm nối Béclin với thế giới bên ngoài. Chỉ còn mỗi cách liên lạc bằng vô tuyến điện, được thực hiện bôi hai máy phát có công suất 100W. Song đường dây liên lạc này rất không chắc chắn, bởi lẽ hỏa lực của pháo binh Nga thường làm hỏng ăng ten.

        Gần 7 giờ tối ngày 26 tháng tư ,pháo binh Nga đã bắn dồn dập vào khu chính phủ. Lớp trần của hành lang dưới mặt đất dẫn từ tòa nhà chính phủ đến hầm ngầm của Hítle bị thủng lỗ chỗ nhiều đoạn. Qua những lỗ thùng có thể nhìn thấy những đám khói dày đặc và nóc tòa nhà chính phủ đang bốc cháy.

        Gần 9 giờ, cuộc pháo kích có phần lắng dịu. Guynse ngồi ở phòng tổng đài được một lát thì Gơben mặt tái mét bước vào. Ông ta lập tức nói ngay về tình hình ờ Béclin và hỏi Guynse xem y đánh giá tình hình như thế nào, xem liệu Béclin còn có thể trụ được lâu không, liệu tư lệnh tập đoàn quân 12 Vencơ có thể phá vây đến giải cứu cho thủ đô được không và liệu điều đỏ có quá muộn hay không.

        Vào những ngày cuối cùng, Gơben luôn luôn đưa ra những câu hỏi đó. Nhân thể ông ta cũng chửi bới những người lãnh đạo đảng Quốc xã đã bỏ mặc Hítle trong cơn hoạn nạn: "Nếu như chúng ta thoát ra khỏi đây thì tôi sẽ làm tất cả để thanh lọc đảng một cách cơ bản. Nhiều vị quan chức cao cấp đã xử sự như những tên đốn mạt và như những thằng hèn".

        Trong khi trò chuyện với Guynse, Gơben nói rằng ban lãnh đạo của đảng đã thối nát từ lâu, nhất là trong thời gian chiến tranh. Các quan chức cao cấp của đảng đã ẩn náu trong những trang trại của mình để né tránh chiến tranh, ở đó họ đi săn bắn và sống một cách phè phỡn.
« Sửa lần cuối: 12 Tháng Tư, 2018, 08:40:26 PM gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 16779


« Trả lời #102 vào lúc: 11 Tháng Tư, 2018, 08:28:06 PM »

     
        NHỮNG GIỜ PHÚT CUỐI CÙNG TRONG HẦM NGẦM

        Vào lúc rạng sáng ngày 30 tháng Tư, tòa nhà chính phủ lại bị pháo binh Nga bắn phá dữ dội. Cuộc pháo kích khủng khiếp kéo dài suốt ngày.

        Gần 2 giờ chiều, Boócman từ phòng làm việc của Hítle bước ra, mặt nhợt nhạt và điệu bộ lủng túng. Ồng ta bước nhanh đến chỗ Guynse và xúc động nói nhỏ: "May mà anh đang ở đây. Chính tôi đang dịnh phái người đi tìm anh".

        Bằng một giọng khe khẽ và ngắt quãng, ông ta báo cho Guynse biết rằng hôm nay Hítle và Braun sẽ tự sát. Thi hài của họ phải được tẩm dầu xăng và đốt trong công viên gần tòa nhà chính phủ. Đó là chí thị dứt khoát của Hítle. Xác của y trong bất cứ điều kiện nào cũng không được để lọt vào tay quân Nga.

        Boócman yêu cầu Guynse chuẩn bị xăng đặt ờ cầu thang phía trên của hầm ngầm, bên cạnh cửa phụ để đốt xác.
      
        "Chúng ta, những người trung thành với quốc trưởng và ở lại với ông cho đến giây phút cuối cùng, chúng ta phải hoàn thành nhiệm vụ cuối cùng này đối với ông" - Boócman lên mặt đạo đức giả nói rồi thong thả rời khỏi phòng khách. Còn lại độc một mình Guynse. Y liền gọi điện cho Mônke, đội trưởng đội ss và yêu cầu đến ngay hầm trú ẩn của Hítle. Mấy phút sau trong phòng khách xuất hiện Ratenhubéc (đội trưởng đội bảo vệ riêng của Hítle), Baoơ và Beetxơ (phi công riêng của Hítle). Họ đã gặp Boócman và biết được ý định tự sát của Hítle. Họ đặt những câu hỏi tới tấp cho Guynse. Trước khi anh ta kịp trả lời thì cánh cửa phòng làm việc của Hítle bật mở. Hítle bước vào phòng khách. Mọi người giơ tay chào quốc trưởng. Không đáp lại, Hítle bằng một giọng mệt mỏi đề nghị họ tiến lại gần y.

        Khuôn mặt của Hítle gầy rộc đi, những quầng thâm hiện rõ dưới đôi mắt. Tay trái run mạnh đến nỗi người ta có cảm giác là dường như cả đầu và toàn thân y đang run bắn lên.

        Bằng một giọng khàn khàn y nói: "Tôi đã ra lệnh đốt xác tôi sau khi chết. Các vị hãy quan tâm đến việc mệnh lệnh của tôi được thi hành một cách đúng đắn. Tôi không muốn người ta đem thi hài tôi đến Matxcơva và đưa vào phòng trưng bày".

        Baoơ và Ratenhubéc kêu rú lên. Ratenhubéc định cầm lấy tay Hítle, nhung y lùi lại và biến mất sau cánh cửa của phòng làm việc. Guynse vội vã chạy đi lo toan việc thực hiện mệnh lệnh của quốc trưởng và Boócman về việc đốt xác Hítle và Eva Braun. Hắn gọi điện thoại cho lái xe của Hítle là Kencơ và truyền đạt cho anh ta mệnh lệnh kiếm ngay mười can xăng đem đến hầm ngầm của Hítle và đặt cạnh cứa phụ trông ra vườn hoa.

        Cạnh cửa phụ, Guynse chỉ để lại một lính gác là thượng sĩ ss Hốpbéc và ra lệnh cho y không được cho ai vào. Sau đó Guynse đi dọc theo hành lang của boongke và dừng lại cạnh cửa phòng khách. Hắn chờ đợi phát súng định mệnh. Đồng hồ chỉ 3 giờ 10 phút.

        Sau mấy phút, Eva Braun từ phòng làm việc của Hítle bước ra và đi về phía căng tin. Ả đưa tay cho Lingke và nói: "Vĩnh biệt Lingke! Chúc anh thoát ra khỏi Béclin. Nếu như cỏ lúc nào đấy anh gặp cô em gái Grétlơ của tôi thì xin anh đừng kể là chồng tôi đã chết như thế nào".

        Rồi ả đến chỗ vợ Gơben đang ô trong phòng của chồng, sau đó vào phòng tổng đài mà lúc ấy Guynse đang ở đấy. Ả bảo y: “Xin anh hãy nói với quốc trưởng để ông ghé thăm bà Gơben một lần nữa”.

        Viên sĩ quan tùy tùng đi về phía phòng làm việc của Hítle. Do chỗ lúc ấy Lingke vắng mặt nên Guynse tự gõ cửa và bước vào. Hítle đang đứng cạnh bàn. Sự xuất hiện đột ngột của viên sĩ quan tùy tùng làm y giật mình. "Lại còn chuyện gì nữa thế?" - y cau mặt lẩm bẩm. Guynse đáp: "Thưa quốc trướng, phu nhân của ngài phái tôi đến nói lại với ngài rằng Gơben phu nhân muốn gặp ngài".

        Sau một lát suy nghĩ, Hítle đồng ý. Đúng 3 giờ 40 phút Lingke vào phòng tổng đài, noi một gia nhân của Hítle là Crughe đứng cạnh tên lính gác. Trong phòng khách, đứng cạnh cửa thông sang phòng của gia đình Gơben là Hítle và viên bộ trưởng tuyên truyền của y đang cố thuyết phục quốc trưởng rời Béclin. Nhưng Hítle kiên quyết đáp: "Không, thưa ngài tiến sĩ. Ngài đã biết rõ quyết định của tôi. Nó không thay đổi".

        Hítle bước vào phòng, nơi đang có mặt bà Gơben và Eva Braun, chào vĩnh biệt Gơben phu nhân. Rồi quay về phòng làm việc. Lingke và Crughe đi theo y. Cạnh cửa, Lingke xin phép Hítle được chia tay với quốc trưởng. Bằng một lệnh mệt mỏi và dửng dưng, Hítle đáp: "Tôi ra lệnh cho các anh cố chọc thủng vòng vây. Hãy làm tất cả những gì có thể làm được để phân tán thành nhóm nhỏ đi về phía Tây".

        Lingke hỏi: "Thưa quốc trưởng, bây giờ chúng tôi cố phá vây còn để vì ai nữa?".

        Hítle quay về phía Lingke, lặng lẽ nhìn anh ta giây lát rồi nói: "Vì tương lai của nhân loại!".

        Y uể oải bắt tay Lingke và Crughe, giơ tay phải ra phía trước chào theo kiểu quốc xã. Lingke và Crughe cũng đứng nghiêm giơ tay chào quốc trưởng lần cuối cùng. Rồi cả hai khép cửa phòng làm việc và cùng nhau chạy vào hầm trú ẩn cũ. "Chỉ mong sao không nghe thấy gì và không nhìn thấy gì?" Lingke vừa chạy vừa hét lên với Crughe.

        Eva Braun rời khỏi phòng Gơben sau Hítle độ hai ba phút. Hai người chậm rãi đi vào phòng làm việc của y. Mấy phút sau Gơben từ phòng mình bước ra và đi sang phòng họp, nơi đã tề tựu Boócman, Cơrêbơ, Buốcgơđocphơ, thư ký của bộ tuyên truyền Naoman, Ratenhubéc và thủ lĩnh đội thiếu niên của Hítle là Ácxman.
« Sửa lần cuối: 12 Tháng Tư, 2018, 08:40:54 PM gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 16779


« Trả lời #103 vào lúc: 12 Tháng Tư, 2018, 08:38:04 PM »

     
        KẾT THÚC

        Sau khi ngồi trong hầm trú ẩn mấy phút, Lingke trở về boongke của Hítle. Đứng cạnh tấm cửa bọc thép bỏ ngỏ dẫn sang phòng khách là Guynse và viên sĩ quan cao cấp ss Phơrích. Gần bốn giờ chiều, Lingke vừa đi ngang qua Guynse
vừa nói: "Tôi cho rằng mọi chuyện đã kết thúc". Ròi vội bước vào căng tin. Ở đó Lingke lập tức ngửi thấy khói thuốc súng. Boócman đột ngột xuất hiện. Y đứng cúi đầu cạnh cánh cửa vào phòng họp, một tay tỳ lên bàn. Lingke báo cho Boócman biết rằng trong căng tin ngửi thấy mùi thuốc súng.

        Boócman đứng thẳng người và cùng với Lingke vội vã đi sang phòng làm việc của Hítle. Lingke mở cửa và cùng với Boócman bước vào phòng.

        Trước mắt họ hiện ra một cảnh tượng như sau: Hítle ngồi trên đi văng phía bên trái. Y đã chết. Cạnh y là Eva Braun, cũng đã tắt thở. Trên thái dương bên phải của Hítle là một lỗ thủng do đạn xuyên vào to bằng đồng xu, một dòng máu chảy xuống má. Trên tấm thảm cạnh đi văng là một vũng máu to bằng cái đĩa, trên tường và trên đi văng những giọt máu bắn tung tóe. Tay phải của Hítle đặt trên đầu gối, lòng bàn tay ngửa ra, tay trái buông thõng dọc theo mình, khẩu súng lục "Vante" cỡ nòng 7,65 mm nằm lăn lóc cạnh chân phải, cạnh chân trái là một khẩu súng lục cùng nhãn hiệu đó cỡ nòng 6,35mm. Trên người y là cái áo nhà binh cổ đứng màu xám nổi rõ chiếc huy hiệu của đảng bằng vàng, tấm huân chương thập tự hạng nhất bằng sắt và chiếc huy hiệu bị thương trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất, tất cả những thứ đó y luôn luôn đeo trên ngực vào những ngày cuối đời. Y bận một chiếc áo sơ mi trắng thắt ca vát đen, quần đen, tất đen và mang đôi ủng da màu đen.

        Eva Braun ngồi trên đi văng, hai chân khép lại. Đôi giày cao gót màu sáng nằm trên sàn. Đôi môi mím chặt. Ả tự sát bằng thuốc độc xianua cali.

        Boócman lại chạy sang phòng khách và gọi tốp lính ss
có nhiệm vụ khiêng xác vào vườn hoa. Lingke vào phòng ăn để lấy tấm vải phủ giường chuẩn bị từ trước giấu dưới gầm bàn. Anh ta trải nó trên sàn trong phòng làm việc của Hítle.

        Guynse bước vội vào phòng họp. Y mở toang cửa nhanh đến nỗi làm cho Gơben, Cơrépbơ, Buốcgơđocphơ, Ácxman, Naoman và Ratenhubéc phải giật mình. Guynse kêu lên: "Quốc trưởng chết rồi!" Tất cả đổ xô sang phòng khách.

        Vào đúng lúc đó, Lingke và hai tên lính ss trong đội bảo vệ riêng khiêng xác Hítle ra khỏi phòng làm việc. Từ phía dưới tấm vải phủ giường thòi ra đôi chân của Hítle mang tất đen và ủng đen. Thi hài được chuyển qua phòng khách tới cửa phụ vào vườn hoa. Gơben, Buốcgơđocphơ, Corepbơ, Ácxman, Naoman, Guynse và Ratenhubéc đang đứng trong phòng khách giơ tay chào theo kiểu quốc xã.

        Sau đó Boócman từ phòng làm việc của Hítle bước ra, rồi đến lái xe của Hítle là Kemcơ bế Eva Braun trên tay. Những người đứng trong phòng khách hộ tống xác Hítle tới cửa phụ. Guynse chạy đến chỗ Kemcơ và đỡ lấy từ tay y thi hài Eva Braun được bọc trong tấm vải phủ giường và đưa ra ngoài cửa. Hắn bước thoăn thoắt trên cầu thang và đi ra vườn hoa. Xác Hítle được bọc trong tấm vải phủ giường nằm trên mặt đất cách cửa phụ hai mét. Guynse đặt xác Eva Braun ngay cạnh Hítle ở phía bên phải.

        Boócman, Guynse, Lingke, Kemcơ, Seđle (đội trưởng đội bảo vệ riêng) và Raixéc cầm những can xăng đã được chuẩn bị và tưới tất cả 200 lít lên xác Hítle và Eva Braun. Họ lúng túng mãi không nhóm được lửa.

        Cuối cùng Guynse vớ được quả lựu đạn nằm cạnh cửa định khai hỏa. Hắn chưa kịp rút ngòi nổ thì xăng đã bùng cháy vì Lingke đã ném một mồi lửa vào hai xác chết. Trong một khoảnh khắc thi hài của Hítle và Eva Braun ngùn ngụt cháy. Cửa hầm trú ẩn được đóng lại bởi vì những lưỡi lửa qua khe hở đã chui vào bên trong. Boócman, Gơben, Ácxma, Naoman, Cơrépbơ, Buốcgơđocphơ, Guynse, Lingke, Seđle, Kemcơ, Raixéc và Linđơlốp đứng ở bệ cầu thang phía trên mấy giây rồi lặng lẽ đi xuống hầm trú ẩn.

        Guynse vào phòng làm việc của Hítle. Hai khẩu súng lục vẫn nằm trên sàn cạnh vũng máu. Guynse nhấc chúng lên và tháo đạn ra. Y thấy phát súng được bắn từ khẩu súng cỡ nòng 7,65 mm. Khẩu súng thứ hai cũng được nạp đạn và tháo chốt an toàn. Guynse đút cả hai khẩu súng vào túi rồi sau đó trao cho viên sĩ quan tùy tùng của Ácxman là trung úy Haman.

        Trong lúc ấy Lingke ra lệnh cho hai sĩ quan đưa tấm thảm có vết máu ra khỏi phòng làm việc của Hítle. Cả ba người cố tìm chiếc vỏ đạn tự động văng ra khỏi súng khi bắn, nhưng không tìm thấy.

        Đích thân Lingke đốt những tài liệu và những bản báo cáo về tình hình nằm trên bàn làm việc. Trong phòng Hítle chi còn lại đồ đạc. Bức chân dung hoàng đế Phơriđơrích II treo ở phía bàn giấy được Lingke tháo ra khỏi khung và theo nguyện vọng của Hítle, được trao cho viên phi công của quốc trưởng là Baorơ. Anh ta vội giấu nó sau chiếc áo nhà binh cổ đứng đang mặc trên người.

(Theo Za rubezhom)       
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 16779


« Trả lời #104 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2018, 01:10:56 AM »


ĐÊM CUỐI CÙNG CỦA HIMLE
(Hay sự đền tội không tránh khỏi)

        Khuôn mặt người cuối cùng mà Henrích Himle nhìn thấy trước cái chết của mình là khuôn mặt của đại úy Oenxơ, 55 tuổi, bác sĩ quân y của Ban tham mưu tổ chức việc đầu hàng thuộc quân đoàn sổ 2 của Anh quốc đóng ờ Luynebua. Hai khuôn mặt sát nhau, một là tên trùm mật vụ của Hítle, 45 tuổi, đã từng tra tấn dã mãn và giết chết nhiều triệu người và một là thầy thuốc nông thôn hiền hậu, chưa hề có ý đồ xấu xa hoặc làm một điều gì bạc ác đối với đồng loại.

        VIÊN THUỐC BỌC MÀU XANH

        Vào gần nửa đêm ngày 23 tháng 5 năm 1945, hai con người này đứng đối diện nhau dưới ánh sáng của một bóng điện duy nhất không có chụp lủng lẳng trên trần trong căn phòng trống trải của ngôi nhà số 31 trên đại lộ Unxênéc ở thành phố Luynebua. Vào buổi tối hôm ấy, bác sĩ đại úy Oenxơ đã hai lần khám cho Himle. Ông tìm một viên thuốc bọc chứa độc dược cực mạnh mà bọn đầu sỏ phát xít thường giấu trong người. Bác sĩ thực hiện nhiệm vụ của mình một cách hoàn toàn im lặng. Ông lịch sự và điềm đạm còn viên tù binh thì hồi hộp, lo lắng nhung vẫn làm theo mọi sự hướng dẫn của bác sĩ.

        Theo trình tự thông thường, Oenxơ nghe tim của viên tù binh, khám lồng ngực, kiểm tra hai lỗ mũi, hai tai, khoảng giữa hai bàn tọa, giữa các ngón tay, ngón chân bé nhỏ. Đại úy Oenxơ đã từ chối kiểm tra hậu môn là nơi người ta vẫn thường giấu thuốc độc, và ngay cả cấp trên cũng không thể bắt ông ta làm việc đó, cho dù điều này có kỳ cục đến mấy đi nữa.

        Ném ra cái nhìn khiêu khích từ phía sau cặp kính lỗi thời, Himle chăm chú theo dõi đôi mắt và các động tác của Oenxơ. Khi ông ta bắt đầu khám miệng Himle lần thứ hai thì hắn hiểu rằng trò choi đã kết thúc. Viên thuốc bọc màu xanh chứa call xianua được giấu sau má đã bị phát hiện. Và Himle dùng răng cắn chặt lấy ngón tay của Oenxơ. Hai người giằng co nhau một hồi. Sau đó Himle đã giật được tay của bác sĩ ra khỏi miệng mình.

        Ném cho Oenxơ một cái nhìn đầy khinh bỉ, hắn xiết hai hàm răng nghiền nát viên thuốc bọc và hít một hơi thở thật sâu.

        Kim đồng hồ chỉ đúng 23 giờ 45. Mọi chuyện đã chấm dứt. Tổng chỉ huy đội quân ss, thủ lĩnh Gestapo, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, tư lệnh đội quân dự bị, nhân vật số hai của đệ tam đế chế, đã tắt thở.

        Bác sĩ Oenxơ cho biết khuôn mặt của Himle lập tức chuyển sang màu đỏ lự và nhăn nhó vì đau đớn. Tĩnh mạch chủ của hắn sưng phình lên, mắt đờ đẫn, đầu gục xuống ngực và hắn từ từ khuỵu xuống đất. Trong lúc ngã, đôi kính tụt ra khỏi sống mũi và bắn vào một xó. Thất vọng vì không bảo vệ được sinh mạng của Himle, bác sĩ đại úy quân y Anh quốc thốt lên: "Trời ơi, hắn ta vẫn cứ làm được điều đó!".

        Chuẩn úy Étvi Ôxtin, người duy nhất ngoài Oenxơ, lúc dó có mặt trong phòng, cúi nhặt chiếc kính đút vào túi và trịnh trọng nói với bác sĩ: "Để làm kỷ niệm". Sau đó người ta đoạt mất chiếc kính đó của Ôxtin và lại đặt lên mũi của Himle, khi hắn được chụp ảnh, và bức ảnh chính thức đó đã được in trên báo chí khắp thế giới. Đố ai mà nhận ra được Himle nếu hắn không đeo kính?

        Trong một bức thư gửi cho vợ chưa được công bố trước đây, đại úy Oenxơ đã miêu tả cái giây phút xảy ra tai họa như sau: "Tôi đã chờ đợi nhưng vẫn không thể tin được rằng cái chết đã đến nhanh như vậy. Liều lượng thuốc độc mà y đưa vào cơ thể, đủ để giết chết một con voi". Với sự giúp đỡ của chuẩn úy Ôxtin, bác sĩ đã làm hô hấp nhân tạo cho Himle. Ông làm một cách máy móc vì biết rằng tất cả chỉ là vô ích mà thôi.

        "Tôi cảm thấy một sự tức giận mơ hồ - Oenxơ hồi tưởng lại - Không phải vì tôi bị đánh lừa, mà do sự khinh bỉ và ghê tởm đối với một kê từng giữ một địa vị cao như vậy và đã chọn một cái chết hèn hạ để thoát khỏi cái thế giới của những thảm họa và những sự tra tấn mà y đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra nó. Tôi không thể hình dung được rằng, chẳng hạn Soócsin hoặc Mônggômêri và hàng nghìn nhân vật khác trong bất kỳ hoàn cảnh nào lại hành động như vậy".

        Sự tham dự của bác sĩ Oenxơ vào vụ này bắt đầu vào một buổi tối tháng Năm giá lạnh. Lúc ấy là 22 giờ. Hệ thống phát thanh của trại Tana truyền đi một thông báo: bác sĩ Oenxơ phải đến ngay Ban tham mưu quân cảnh. Mệnh lệnh này được phát đi phát lại mấy lần vì lúc ấy Oenxơ vắng mặt. Ông định ngày hôm sau bay về nhà nghỉ phép. Khi ông quay về trại, mọi người hỏi ngay: "Anh không nghe thấy gì à? Anh ở đâu thế?".

        Nhưng sau đó tình hình giống như một chuyện hài hước trong cuộc sống. Đón tiếp đại úy Oenxơ tại Ban tham mưu là chuẩn ủy Ôxtin. Sau khi kiểm tra giấy tờ như thường lệ, anh ta bèn hỏi là bác sĩ đại úy có biết tại sao ông được gọi đến đây không.

        "Tôi trả lời là không hề biết gì. Oenxơ nhớ lại - Bây giờ anh ta mới nói rằng chúng tôi phải đứng ngoài đường chờ một chiếc xe hơi tới. Chúng tôi phải đón một nhân vật rất quan trọng". Oenxơ nổi cáu: ngoài tròi đã tối và lạnh như thế này thế mà lại còn giở những trò mập mờ. Tại sao một nhân vật rất quan trọng lại phải gặp ông vào cái đêm tối giá lạnh như thế này, mà lại ở ngay giữa đường?

        "Tôi hoàn toàn không muốn làm cái việc đoán mò. Chúng tôi đi đi lại lại và trời càng ngày càng trở nên lạnh hơn. Oenxơ kể lại - Chẳng bao lâu sau, Ôxtin không thể giữ bí mật lâu hơn được nữa nên đã rỉ tai cho tôi hay rằng chúng tôi phải tiếp một tù binh rất quan trọng. Bây giờ thì các vị có thể đã đoán ra là ai rồi".
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 16779


« Trả lời #105 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2018, 01:12:15 AM »


        "NHÂN VẬT RẤT QUAN TRỌNG"

        "Mặc dầu trời rét lạnh và anh rất mệt - Oenxơ kể cho vợ nghe - nhưng anh quyết định phải "chọe" cho viên chuẩn úy một cú nên nói rằng: hẳn "nhân vật rất quan trọng" là Hítle. Nhưng anh đã đoán nhầm".

        Họ rét run lên vì lạnh bèn quyết định đợi ở trong phòng và chi để lại viên hạ sĩ ở ngoài đường để anh ta thông báo cho họ biết khi nào thì chiếc xe ô tô chở "nhân vật rất quan trong" tới.

        Lúc này, Ôxtin không thể giữ bí mật được nữa và đã tiết lộ rằng viên tù binh mà mọi người đang chờ là Himle.

        Đoàn xe tới lúc 22 giờ 45. Người bước xuống đầu tiên là trưởng ban tình báo của quân đoàn 2, đại tá Maicơn Mécphi. Không để ý gì tới Ôxtin, đại tá Mécphi hỏi Oenxơ với vẻ trịch thượng: Anh là bác sĩ? Anh hãy kiểm tra xem hắn có thuốc độc không?".

        Cánh cửa của chiếc xe sau mô ra và từ trên xe bước xuống một hình hài thảm hại mặc chiếc áo sơ mi nhà binh màu xám, chiếc quần ngắn cũn cỡn, chân đi bít tất nhà binh màu xám, ngang lưng quấn một chiếc chăn đơn của lính lòe xòe xuống chân nên hắn đi vào nhà rất khó khăn. Himle trông mày râu nhẵn nhụi. Trên cánh tay hắn không có dải băng đen mà trước khi hắn bị quân đội Anh bắt, là một phần của bộ đồ ngụy trang của hắn giả danh thượng sĩ binh chủng xe tăng Henrích Hixenghe.

        Với tư cách là một bác sĩ quân y, đại úy Oenxơ rất lo ngại cho những biện pháp vụng về thường được áp dụng trong hoàn cảnh tương tự. ông cảm thấy rằng việc khám xét được bắt đầu một cách không đúng. Ông cũng nghĩ rằng việc bắt ông đi tìm thuốc độc thật là quái gở. Do đó bác sĩ bèn quay về phía đại tá và nói hơi sẵng: "Tôi là bác sĩ chứ không phải là thám tử".

        Đại tá không chờ đợi câu trả lời đỏ của bác sĩ đại úy, ông ta tỏ vẻ khó chịu, quát: "Anh hãy làm như được ra lệnh!".

        Viên tù binh Himle được dẫn vào một căn phòng hình bát giác của tòa biệt thự xây dựng theo phong cách Vichtorian, nơi sẽ diễn ra cuộc khám xét. Trong phòng hầu như không có đồ đạc gì, tất cả các cửa sổ đều mở toang. Một người lính gác mang súng trường được điều đến để canh giữ viên tù binh.

        Khi bác sĩ Oenxơ bước vào phòng, viên tù binh được lệnh cởi hết quần áo. Himle đứng run cầm cập vì lạnh nhiều hơn là vì sợ hãi, mặc dầu quả thật hắn cũng sợ.

        Oenxơ nói với đại úy Mécphi rằng ông muốn khám tù binh riêng một mình. Sau đó ông ra lệnh đóng các cửa sổ lại và khoác lên vai viên tù binh một tấm chăn. Người hạ sĩ được lệnh ra khỏi phòng. Như vậy trong phòng chi còn lại 3 người: Himle, đại úy Oenxơ và thượng sĩ Ôxtin.

        Mặc dầu cứ giả định rằng Himle không biết tiếng Anh (điều này là hoàn toàn sai lầm), bác sĩ Oenxơ vẫn thận trọng hỏi nhỏ thượng sĩ Ôxtin rằng tại sao người ta lại nghi ngờ Himle có thể có thuốc độc. Thượng sĩ bèn giải thích: thực tế đã cho thấy rằng một số sĩ quan Đức bị bắt làm tù binh đã giấu thuốc độc trong người. Cách đây mấy hôm, một sĩ quan ss, Pruxman, từng chỉ huy các nhóm quốc xã và khủng bố "Vécvôn" đã cắn dập một viên thuốc bọc được dấu trong mồm và chết ngay tức thì. Không thể để cho sự cố này tái diễn lần nữa!

        Sau trường họp Pruxman, thượng sĩ Ôxtin đề nghị: cách hay nhất để tránh sự lặp lại là dùng một bao tải nhỏ bọc cát bên trong nện cho tên tù binh một cú vào đầu làm hắn choáng váng bất tỉnh nhân sự và lục soát khắp người trong lúc y chưa tỉnh. Thậm chí anh ta đã chuẩn bị sẵn một "quả chuỳ" như vậy, song ý đồ đó bị khước từ bởi lẽ nó không phù họp với tinh thần của Công ước Giơnevơ.

        Trong lúc đó, Himle đứng trần truồng giữa phòng. Oenxơ bắt đầu khám, và khi kiểm tra tới miệng, ông đã nhìn thấy một viên thuốc bọc màu xanh ở sau má.

        Điều khiến cho Oenxơ lo lắng không phải là ông đã nhìn thấy viên thuốc mà là không hiểu Himle có đoán ra điều đó hay không. Nhỡ đôi mắt ông đã làm lộ tẩy? Trong suốt thời gian khám, Himle đã chăm chú theo dõi ông. Để đánh lừa tên phát xít cáo già này, bác sĩ đã lắc đầu thất vọng và lơ đễnh nói với Ồxtin: Chả thấy gì cả, nhung để mọi người yên tâm, ông muốn khám lại một lần nữa. Himle đúng bất động với thái độ dửng dung.

        Oenxơ bắt dầu khám lại từ chân đến đầu. Ông quyết định thò một ngón tay vào miệng Himle và tóm lấy viên thuốc khi hắn ít chờ đợi điều đó nhất. Nhung vào giây phút quyết định Himle chắc đã hiểu rằng mọi chuyện hỏng rồi và đã cắn ngón tay của viên bác sĩ.

        Sau khi Himle tự sát, bác sĩ Oenxơ cố tìm mọi cách cứu sống hắn. ông yêu cầu đem ngay đến thuốc kích thích hoạt động của tim. Một trong số các sĩ quan đứng đợi ờ cạnh phòng đã thử gọi giây nói đến Bộ tham mưu hậu phương, nhung máy điện thoại bị hỏng. Một liên lạc viên được cấp tốc phái tới đó. Khi ấy trong phòng ăn của sĩ quan có một cuộc liên hoan. Bởi vậy khi người liên lạc xuất hiện, vừa thở vừa nói rằng anh ta cần thuốc kích thích tim thì các sĩ quan đang vui vẻ lại coi đó là trò đùa và trả lời: "Này anh bạn, hãy lại đây uống với chúng tớ cái đã". Người liên lạc phải cần đến mấy phút để giải thích rõ đầu đuôi câu chuyện.

        ... Trước khi cái thây bắt đầu cứng lại, người ta đã mặc cho nó một chiếc áo sơ mi nhà binh và chiếc quần đúng như lúc Himle được giải tới, rồi lấy cái chăn phủ lên. Sau đó người ta kê một chiếc gối duới đầu và chụp một kiểu ảnh chính thức.

        Xác Himle vẫn nằm dưới đất trong căn phòng suốt ngày 24 tháng 5. Khi việc mổ tử thi kết thúc, nó được bọc trong hai chiếc chăn của lính, ngoài phủ lưới nguỵ trang rồi được buộc lại bằng một sợi dây điện thoại.

        Việc xử lý thế nào với cái xác chết đã gây nhiều băn khoăn. Đại diện của quân đội Mỹ và Liên Xô được mời đến để chứng kiến. Các đồng minh đã đi đến quyết định rằng địa điểm chôn Himle cần được giữ kín để bọn Tân quốc xã trong tương lại không thể biến mả Himle thành nơi hành hương. Thiếu tá Uikête trong nhật ký của mình đã viết rằng ông ta đã nhận được chi thị viết tay của đại tá Mécphi trong đó nói rõ: "Xác cần được chôn sao cho càng ít người biết chỗ đó càng hay". Đoạn miêu tả việc thực thi nhiệm vụ đó: "Chúng tôi đặt cái xác lên một chiếc xe tải. Tìm một chỗ hẻo lánh thật vô cùng khó khăn. Nhưng rút cuộc chúng tôi cũng tìm ra được một địa điểm ưng ý, rồi quẳng cái thây được bọc trong một tấm chăn xuống cái hố do chúng tôi đào".

        Năm 1946, Bộ Quốc phòng Anh quốc nhận được một nguồn tin nói rằng mả Himle dường như bị phát hiện. Thiếu tá Uikête (lúc đó đã giải ngũ) được phái đến Luynebua để kiểm tra. Ông ta thông báo rằng chỗ đất ờ đó vẫn chưa có ai động chạm tới. Thiếu tá Uikête và thượng uý Ôxtin cho đến tận lúc qua đời vẫn giữ kín nơi chôn Himle.

(Theo Za rubezhom)         
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 16779


« Trả lời #106 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2018, 12:21:53 PM »

    
SỰ IM LẶNG CỦA HEXƠ

        Ngày 17 tháng 8 năm 1987, tại nhà tù Spadao, Ruđônphơ Hexơ (Hess) một trong số những tên tội phạm chiến tranh đầu sỏ từng bị toà án quân sự quốc tế ở Nuvrembe kết án tù chung thân đã tự sát (theo một nguồn tin chính thức) ở tuổi 93. Ngay từ những ngày ấy, giới báo chí đã tỏ rõ sự hoài nghi đối với cách giải thích chính thức về nguyên nhân gây nên cái chết của Hexơ. Và cái chết này được coi là một trong những sự kiện bí ẩn nhất của thế kỷ XX.

        NGƯỜI TÙ SỐ 7

        Sau khi toà án Nuyrembe kết thúc công việc xét xử bọn tội phạm quốc xã kéo dài hơn một năm (từ 20 tháng 11 năm 1945 đến ngày 4 tháng 10 năm 1946), những tên Hexơ, Đênít, Nôirat, Rêđéc, Speéc, Sirắc, Phuncơ đuợc chuyển đến nhà tù đặc biệt nằm ở Tây Béclin. Trước đây đó là nhà tù quân sự của Phổ, được xây dựng năm 1578, khi mà khu Spanđao hãy còn là một vùng ngoại ô xa xăm của Béclin. Những người tù vẫn còn nhớ rõ cái pháo đài khổng lồ ấy.

        Sự lựa chọn này là họp lý bởi vì bắt đầu từ năm 1933 nó trở thành nhà tù điều tra và là điểm tập kết cùa chính trị phạm trước khi chuyển đến trại tập trung. Đó là nơi đày đọa và hành hạ hàng nghìn nạn nhân của Hítle. Trước năm 1947 tại đây còn lưu giữ các công cụ tra tấn, một gian phòng đặc biệt đặt máy chém và giá treo cổ. Trên các bức tường trong xà lim vẫn còn có thể đọc của những dòng chữ bằng tiếng Nga, tiếng Ucraina, tiếng Ba Lan và tiếng Xécbi. Vị tất có ai đó trong số những người này còn sống. Một toà nhà ba tầng được bảo vệ bằng một bức tường bên trong với sáu tháp canh. Từ phía bên ngoài của bức tường còn được đặt thêm hai hàng rào bổ sung bằng dây thép gai cao 3 mét, hơn nữa một trong số đó thường xuyên có dòng điện cao thế chạy qua.

        Các phạm nhân lập tức được đổi trang phục thành quân áo tù có số hiệu ở lưng và ở hai đầu gối. vốn luôn luôn có tham vọng giành vị trí thứ nhất trong đảng Quốc xã sau Hítle, ở đây Hexơ cũng đòi mặc bộ đồ số 1, nhưng viên giám ngục đã khước từ yêu cầu đó và phát cho y bộ đồ số 7. Với con số này Hexơ đã sống nốt quãng đời còn lại của mình.

        Năm 1954 và trong vòng hai năm tiếp theo sau, do bị ốm nặng và tuổi cao sức yếu nên Nôirát, Rêđéc, Phuncơ và Đênít đã được tha. Trong tù còn Sirắc, Speéc và Hexơ. Họ được phân bố trong một blốc xà lim với hành lang dài gần 30 mét gồm 32 buồng. Để các phạm nhân không gõ ra hiệu cho nhau và không truyền cho nhau những thông tin nào đó, ở hai bên một xà lim có người là những phòng bỏ không. Cứ cách bốn tuần, phạm nhân lại có quyền viết và nhận một bức thư dài 1300 chữ. Nhưng yêu cầu rất khắt khe: chỉ được viết bằng tiếng Đức thật rõ ràng, không có các con số và các dấu tốc ký. Nội dung các bức thư là những vấn đề riêng tư.

        Ngoài ra, hàng tháng các phạm nhân được phép gặp thân nhân trong 30 phút. Sirắc và Speéc rất quý những cuộc gặp ấy và tận dụng từng phút một để trao đổi với vợ con. Còn Hexơ thì không hề mời vợ và con trai đến. Y giải thích điều đó với ban quản trị nhà tù: "Tôi cho rằng không xứng đáng được gặp bất cứ một ai trong hoàn cảnh tương tự".

        Y không hề ăn năn hối hận về một điều gì. Y ca tụng Hítle cho đến tận lúc chết. Trong một bức thư gửi cho vợ, y viết: "Nếu như tôi được bắt đầu sống lại từ đầu, thì tôi vẫn sẽ lặp lại tất cả".

        Ngày 1 tháng 10 năm 1966, Sirắc và Speéc được tha. Phạm nhân số 7 còn lại một mình trong tù gần 22 năm cho đến khi dường như y tự sát.

        GIẢ THUYẾT CHÍNH THỨC

        Những nét lớn trong giả thuyết chính thức về cái chết của Hexơ do viên giám đốc nhà giam người Mỹ nêu lên sau sự cố được mấy tiếng đồng hồ về cơ bản sau này vẫn không thay đổi.

        "Hexơ được một cảnh vệ trại giam dẫn vào nghỉ tại một căn nhà nhỏ trong khu vườn trại giam. Mấy phút sau ngó vào ngôi nhà, người cảnh vệ nhìn thấy sợi giây điện quấn quanh cổ Hexơ. Những biện pháp cấp cứu hồi sinh được áp dụng, và Hexơ được chuyển đến quân y viện của Anh. Sau mấy lần cố làm Hexơ hồi tỉnh, vào 16 giờ 10 phút, người ta đã thông báo về cái chết của Hexơ".

        Việc giám định pháp y cho thấy, ngoài sự thương tổn ở cổ do bị thít chặt, còn có những chỗ dập thương ở hàm, ở vùng thái dương, nhiều xương sườn và xương ức bị gãy. Kết luận được rút ra là chết do bị ngạt thở. Song điều đó hoàn toàn chưa giải đáp câu hỏi: tự Hexơ thắt cổ hay có ai "giúp" y?

        Ở đây. cần bổ sung thêm một chi tiết từng gây nên sự hoài nghi về trường hợp tự sát của Hexơ.

        Số là sau khi Hexơ chết, người ta đã tìm thấy trong túi y một bức thư với nội dung như sau:

       "Yêu cầu ban giám đốc trại giam gửi bức thư này về nhà. Nó được viết mấy phút trước khi chết. Xin hãy nói cho Phơraibéc (tên một người đàn bà quen với Hexơ) biết rằng tôi rất lấy làm tiếc, là sau vụ án Nuyrembe, tôi buộc phải xử sự như thể không biết bà ta... tôi không còn cách nào khác cả. Tôi sẽ rất hạnh phúc nếu được gặp bà ấy. Tôi đã nhận được những bức ảnh của bà ấy và của cả nhà.

R.H"        

        Những mối hoài nghi đã nảy sinh sau khi người ta chứng minh rằng bức thư "tuyệt mệnh ấy" đã được Hexơ viết từ năm 1969 tại một bệnh viện Anh quốc khi y bị ốm nặng và chuẩn bị đón nhận cái chết. Cơ quan đặc nhiệm đã không chuyển bức thư ấy theo đúng địa chỉ mà không hiểu vì sao đã giữ lại. Câu chuyện om sòm chung quanh sự việc đó bị giấu nhẹm và người ta đã không kiểm tra lại giả thuyết chính thức.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 16779


« Trả lời #107 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2018, 12:25:48 PM »


        ĐIỀU ẤY CÓ LỢI CHO AI?

        Tuy vậy người con trai của "kẻ tự sát" là Vônphơ Rôđighéc, bác sĩ phẫu thuật Anh quốc Huy Tômát, cũng như một số nhà báo vẫn tiếp tục tiến hành việc điều tra. Kết quả là sự xuất hiện ở châu Âu hai cuốn sách: "Cái chết của Ruđônphơ Hexơ" và "Lịch sử hai vụ giết người". Trong hai cuốn sách này, kẻ bị tình nghi về việc gây ra cái chết của Hexơ là chính phủ Anh quốc. Tiền đề vụ này dường như là việc Goocbachốp đồng ý thả Hexơ (trước đây Liên Xô đã cản trở việc đó, điều này khiến cho người Anh rất vừa lòng). Theo các tác giả của hai cuốn sách này, lý do khử tên quốc xã già khọm là chuyến bay bí mật của y sang Anh vào tháng 5 năm 1941. Vônphơ Rôđighéc cho rằng cha mình đã mang sang Anh những dự kiến giải quyết vấn đề châu Âu ở Đức bằng cách phân chia. Ông ta tin rằng nếu sứ mệnh hoà giải của Hexơ kết thúc thắng lợi thì có thể tránh được việc thủ tiêu hàng loạt người Do Thái ở châu Âu. Song một người có thế lực rất mạnh trong chính phủ Anh quốc đã gạt bỏ thẳng thừng sứ mệnh đó của Hexơ. Y bị tống vào nhà tù, thoạt tiên ở Anh quốc, sau đó là ở Đức.

        Trong bản tốc ký của Tòa án Nuyrembe đã ghi lại được một sự việc đáng chú ý. Tại phiên tòa ngày 3 tháng 8 năm 1946, Hexơ muốn thông báo cho Tòa án quân sự biết về sứ mệnh của mình ở nước Anh, nhưng chỉ mới kịp nói: "Mùa xuân năm 1944..." thì liền bị ngài Chánh án người Anh là Lôrenxơ ngắt lời. Sau đó Hexơ từ chối trả lời các câu hỏi của thẩm phán và của các công tố viên và giả vờ làm người bị mất trí nhớ. Ngay cả ở trong tù, y cũng thường vin vào bệnh mất trí nhớ và không tiếp xúc với ai hết. Triển vọng Hexơ được tha trong năm 1987 đã làm nảy sinh vấn đề rò ri thông tin.

        Triển khai giả thuyết của mình, Vôphơ Rôđighéc khẳng định rằng trong cuộc tiếp xúc giữa Cáctơ, Bêghin và Xácđát vào năm 1978, tổng thống Mỹ và người đứng đầu nhà nước Ixaren dường như đã ký với nhau một văn bản mật về việc Hexơ khi còn sống sẽ không ra khỏi nhà tù Spanđao...

        Cũng có thêm một loạt tình tiết "biết nói" làm cơ sở quan trọng để không tin việc Hexơ tự sát. Chẳng hạn vào hôm đó, người ta không muốn cho một y tá người Tuynidi tên là Manri vào chăm sóc Hexơ. Mãi nửa giờ sau, thay vì 5 phút thông thường, sau khi phải khó khăn lắm mới đến được ngôi nhà nhỏ trong vườn được xây riêng cho Hexơ trong trường hợp thời tiết xấu. Manri nhìn thấy người được mình đỡ đầu nằm chết trên sàn nhà. Trong ngôi nhà có một cai ngục người Mỹ và hai người mặc quân phục. Sự hiện diện của họ là sự vi phạm nội quy một cách trắng trợn. Manri bèn làm hô hấp nhân tạo cho Hexơ, nhưng chiếc vali nhỏ "sơ cứu" của anh đã bị nạy khóa, còn các bình ôxy thì rỗng không, mặc dầu trước đó anh đã kiểm tra kỹ. Chiếc va ly nhỏ và bình dưỡng khí của viên bác sĩ người Anh vừa đến cũng bị trục trặc. Hexơ được đưa vào bệnh viện, nhưng y đã tắt thở. Hai người lạ mặt đã biến mất, còn viên y tá thì được khuyên là không được hé răng.

        Người con trai của Hexơ cho rằng hai người lạ mặt mặc quân phục Mỹ mà viên y tá bắt gặp trong ngôi nhà nhỏ chính là hai nhân viên của cơ quan mật vụ Anh quốc được cải trang. Một người trong khi giúp viên y tá, đã day tim của Hexơ với một sức mạnh đến nỗi làm gãy cả mấy xương sườn và xương ức, điều này đã được sự giám định pháp y xác nhận.

        Một sự việc nữa cũng nói lên nhiều điều:

        Những tài liệu mật về mục đích chuyến bay của Hexơ sang Anh được chính phủ Anh hứa sẽ công bố trước năm 2000, sau đó thời hạn này được chuyển sang năm 2015. Có lẽ cái chết của Hexơ chính là liên quan đến điều bí mật mà họ đang che giấu chăng?

(Theo Trud-7)       
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 16779


« Trả lời #108 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2018, 12:27:56 PM »


SỐ PHẬN TÊN ĐỘC TÀI MUXÔLINI

        Ngày 26 tháng Tư năm 1945, tại thị trấn Donggo, gần biên giới Thụy Sĩ, một đoàn xe chở binh lính Đúc bị một toán du kích thuộc sư đoàn Garibanđi 52 chặn lại. Trong đoàn xe này có mấy chiếc xe chờ người Ý. Quân Đức bèn thương lượng với đội du kích mà kết quả là đội du kích đồng ý cho đoàn xe đi qua vói một điều kiện là quân Đức phải nộp cho họ tất cả những người Ý. Nhưng trong một chiếc xe có Benito Muxôlini do trung uý Fran Birxe bảo vệ theo lệnh của đích thân quốc trường Hítle. cần phải tức thời tìm một giải pháp nào đấy và trung úy bèn quyết định: Muxôlini phải cải trang thành binh lính Đức, nhưng "gã lính Đức" này vẫn khiến cho những người du kích ngờ vực. Một du kích bỗng nhận ra tên lính Đức cải trang chính là đuxe1! Benito Muxôlini liền bị bắt và người tình lâu năm của y là Clara Pêtasi được phép đi theo y. Ngày hôm sau có người từ Ban chỉ huy đội du kích đến đón hai vợ chồng tên độc tài và đưa lên xe chờ đến nơi hành quyết. "Đại tá Valerio" (Vante Auđidio, - dõng dạc tuyên bố: theo lệnh của Ban chỉ huy, tôi thi hành bản án do nhân dân Italia quyết định.

                “Đại tá Valerio” xúc động, tay run bần bật. Nhung ông cố trấn tĩnh và lẩy cò, nhung khẩu súng lục bị hóc. Thấy vậy, "Petơrô" (Nicole Moreli) bèn nổ súng. Viên đạn thứ nhất trúng Clara Petasi đang nhoài người về phía Benitô để lấy thân mình che cho y. Những người du kích coi Pêtasi là vô tội và ngay từ trước đã tuyên bố trả tự do cho ả, nhung ả đã chọn một lối thoát khác. Viên đạn thứ hai và thứ ba trúng Muxôlini.

        Sau khi xử bắn, hai cái xác được quẳng lên xe tải và lại được chờ đến thị trấn. Chuyện đó xảy ra vào đêm 28 rạng ngày 29 tháng 4. Rồi xác tên độc tài khét tiếng và người tình cũ của y được chuyển tới Milăng, ở đó, trên quảng trường Lôreto, chúng đã bị treo ngược lên trong tiếng la ó phẫn nộ của dân chúng tụ tập đông nghịt...

        TRƯỚC

        Bước hoạn lộ chính trị của Muxôlini bắt đầu sau khi y trở về từ Thụy Sĩ - nơi y kiếm sống một cách rất vất vả tại xưởng chế biến Sôcôla. Rời khỏi nhà máy, y không từ một công việc kiếm ăn nào, kể cả vác mặt đi ăn xin hoặc làm nghề đâm thuê chém mướn. Nhưng nghề lưu manh đã nhanh chóng khiến cho gã trai trẻ Ý Đại Lợi hừng hực sức sống đâm ngán ngẩm. Y bèn thử sức trong nghề làm báo. Đồng thời gã thanh niên ưa thích nổi loạn một cách đơn thương độc mã này lại thích làm chính trị, và chẳng bao lâu sau, khi công bố một bài viết trên tờ báo theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa, y đã trở thành thư ký của công đoàn những người xây dựng. Benito gây được ấn tượng đối với những người chung quanh, uống rượu vào loại bợm, y bộc lộ sự thích thú đối với tác phẩm của Mác, tự coi mình là người xã hội chủ nghĩa, điều đó không cản trở y ham mê Nítsơ, người mà y cảm thấy có sự gần gũi về mặt tinh thần. Y khoái cái nguyên lý "hãy sống một cách mạo hiểm" của nhà triết học Đức, còn cái phương châm nổi tiếng "khát vọng giành quyền lực" từ nay trở đi đã thống trị trong cuộc đời y. Nói chung thì Benito đọc rất nhiều. Y đã bổ sung cho mình được những kiến thức mà sinh thời bố mẹ y vốn là một người thợ rèn bình dị Alếchxanđơ và một cô gái khiêm nhường kiêm một con chiên ngoan đạo Rôda Muxôlini không thể bồi dưỡng cho y. Nhà chính trị trẻ tuổi bắt đầu ra tạp chí, mong muốn xuất bản một tờ nhật báo, viết những bài xã luận và làm công tác tuyên truyền cổ động trong giới thợ thuyền. Y đã trở thành một người nổi tiếng trong đảng Xã hội và người cộng sự của tờ báo đảng "Avanti!".

        Hiểu rằng nếu không có phong trào hoặc không có một chính đảng phục tùng cá nhân y thì không thể thâu tóm quyền lực trong nước, Muxôlini năm 1914 đã thành lập những "Phasiô" đầu tiên tức những nhóm đàn áp nhằm đấu tranh cho việc nước Ý tham gia cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Benito đích thân viết bản tuyên ngôn mà trong đó không còn một dấu vết gì những tư tưởng giai cấp của Mác - bây giờ y đấu tranh cho việc mở rộng "những ranh giới thiên nhiên, ngôn ngữ và chủng tộc" của Ý.

        Vua nước Ý tuyên chiến với nước Áo. Những hành động quân sự kéo dài hai năm. Kết quả là nước Ý có được thầy cai Muxôlini và bị thất bại dưới triều đại Caporeto. Việc một quốc gia bị hạ nhục về mặt tinh thần khiến cho nhiều người nghĩ đến việc thiết lập chế độ độc tài. Có một người khao khát trở thành nhà độc tài và tên y là Benito Muxôlini.

        Ngày 16 tháng 10 năm 1922 đã diễn ra cuộc họp kín của bọn chóp bu phát xít. Muxôlini, kẻ sáng lập ra tổ chức đó bề ngoài lên mặt đạo đức giả mà tuyên bổ rằng không có tham vọng chiếm giữ một cương vị nhà nước nào, song trong đám chiến hữu thân cận thì y khẳng định rằng chủ nghĩa phát xít do chính y sáng lập ra với tư cách là một phương tiện để giành quyền lực, và nếu như phong trào chỉ đi chệch khỏi con đường được lựa chọn một chút thôi thì y sẽ giải thể nó. Cương lĩnh của bọn phát xít dường như đã hứa hẹn một thiên đường trên trái đất: ruộng đất cho nông dân, quyền đại diện trong ban quản lý công nghiệp cho thợ thuyền. Nó tuyên bố quốc hữu hóa ngành công nghiệp quân sự, tiền lương tối thiểu được pháp luật quy định, quyền bầu cử đối với phụ nữ và những hứa hẹn khác không kém phần hấp dẫn để mua chuộc đám tiểu thị dân. Thậm chí khác với những người xã hội, Muxôlini đã chấp nhận sự tự do sở nguyện. Gã thủ lĩnh này giở trò bịp bợm như một con bạc nhà nghề, cùng một lúc đặt cả cửa đỏ lẫn cửa đen.

        Muxôlini đã chỉ huy cuộc "chinh phạt tháng Mười" từ Milan đến Roma. Đêm 27 rạng ngày 28 tháng Mười, các đạo quân phát xít đã chiếm các trạm điện thoại và các cơ quan chính phủ. Đã có lệnh bắt giữ những kẻ nổi loạn, nhưng bọn phát xít đã hứa cho viên thị trưởng Milan một ghế trong nội các mới. Anfrét Luxinholi đã bị mua chuộc và Muxôlini vẫn được tự do.

        Vua Víchto Emanuin không muốn chiến tranh lẫn cách mạng. Vào lúc nửa đêm, khi mà vua được báo tin về cuộc nổi dậy của bọn phát xít, ông đã tán thành ý kiến của nội các sử dụng quân đội với tư cách là lực lượng có khả năng chặn đúng cuộc đổ máu. Luyđơgi dơ Phácta buộc phải từ chức thủ tướng. Và ngày 29/10/1922, một gã 39 tuổi xuất thân từ làng Dôvia thuộc tỉnh Phoócli, vốn là một phần tử vô chính phủ, một tên nổi loạn, lưu manh và phóng đãng Benito Muxôlini đã trở thành vị thủ tướng thứ 2 của nước Ý.

        Chế độ mới bắt đầu từ việc chủ bút một trong những tờ báo tự do bị ép buộc phải uống dầu thầu dầu (vốn được gọi là "thứ thuốc phát xít" mà sau này nhiều người "phê phán nhẹ nhàng" đối với chế độ phải nếm mùi). Sau đó chúng đập phá nhà cửa những đối thủ chính trị. Để ăn mừng thắng lợi, thậm chí chúng bắt cả các Đại sứ quán nước ngoài phải treo cờ Ý. Thời kỳ lộn xộn này chính là cơ hội thuận tiện nhất để đàn áp các kẻ thù riêng tư. Làn sóng bạo lực, cướp bóc, trấn áp chính trị và giết tróc lan ra các thành phố Italia. Bọn phát xít phô trương thế lực của mình và sự bất lực của pháp luật.

-------------------
        1. Trong tiếng Ý, đuxe (duce) có nghĩa là thủ lĩnh, chỉ Muxôlini - ND.

Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 16779


« Trả lời #109 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2018, 12:29:17 PM »


        ... VÀ SAU

        Trong vốn từ ngữ của Muxôlini đã nhanh chóng biến mất những từ "quyền lợi và tự do" và ngược lại, tần số những từ "kỷ luật và trật tự" xuất hiện ngày càng nhiều. Y muốn cải tạo quốc gia, làm thay đổi tính chất của nó theo quan niệm của mình. Chủ nghĩa phát xít phải trở thành một phòng thí nghiệm để đào tạo một kiểu người ltalia mới. một kiểu người lính "sẵn sàng hy sinh thân mình bất cứ lúc nào" vì lợi ích tối cao của nhà nước phát xít. Sau khi lên nắm chính quyền, y mơ ước bắt tất cả mọi người mặc quần áo nhà binh và đi đều bước trong hàng quân với cánh tay giơ ra chào theo kiểu phát xít.

        Song thoạt tiên cần phải củng cố quyền lực cá nhân, tiêu diệt nốt những tàn tích của tự do. Và Muxôlini bắt đầu từ nội các. Y làm cho bọn "vô công rồi nghề" đó hiểu rằng nếu như họ không nghe theo ý Benito Muxòlini, thì y hoàn toàn có thể không đếm xỉa đến họ và trong một tích tắc sẽ biến tòa nhà quốc hội mà họ tụ tập ở đây thành trụ sở cho bọn áo đen của mình. Sự đe dọa đó đã có hiệu lực. Không ai phản đối vị thủ tướng mới đã phá tất cả các kỷ lục bằng một bài diễn văn dài 85 phút. Y nhận được sự biểu quyết tín nhiệm (chỉ có những người xã hội và những người cộng sản là chống lại). Mấy ngày sau, y nhận dược sự ủng hộ của Thượng viện vốn đi xa hơn các đồng nghiệp của mình ở Hạ viện - một số diễn giả đã nài y đừng dừng lại ở nửa đường và thiết lập ngay chế độ độc tài. Trong đảng của mình, bằng bàn tay của Đumini, một trong nhũng thủ hạ thân tín, y đã tàn bạo trừng trị nhũng người không muốn phục tùng kỷ luật đảng và không tán thành với y về vấn đề chính trị. Một số đảng viên đã bị đánh đập giữa thanh thiên bạch nhật ở trung tâm Milan. Muxôlini đã khuyến khích Đumini bằng nhũng món tiền thường hậu hĩnh. Sau đó y ra lệnh tổ chức cuộc công kích vào một phần tử phản lại y trong hàng ngũ phát xít tên là Phoócni và một người xã hội tên là Gônxalet. Hành động này giống như một vụ khủng bố chính trị. Cảnh sát không can thiệp, còn những người khác thì im lặng. Chỉ có mấy nhà báo nước ngoài dám đăng trên báo mình những bài nói về các sự việc đáng công phẫn đó, nhưng các vị ký giả này thoạt tiên bị đánh đập để đe dọa, sau đó bị trục xuất.

        Năm cai trị đầu tiên của chế độ phát xít được Muxôlini coi là sự khởi đầu của kỷ nguyên mới trong lịch sử nước Ý. Một thứ lịch mới áp dụng, trong đó tất cả các sự kiện bây giờ được ghi nhận không phải từ ngày Giáng sinh của đức chúa Giêsu mà từ tháng 10 năm 1922.

        Không đếm xỉa tới dư luận xã hội, coi dân chúng như là những đứa trẻ không vâng lời rnà cần phải dạy bảo bàng roi vọt, Muxôlini khẳng định rằng "đám đông không được phép hiểu biết, nó phải tin, phải phục tùng và phải chấp nhận một khuôn mẫu cần thiết". Vai trò nhà điêu khắc duy nhất tạo dáng cho đám đông đựợc y dành riêng cho cá nhân mình.

        "Muxôlini bao giờ cũng đúng" đã trở thành một trong những giáo điều chủ yếu ở nước Italia dưới chế độ phát xít độc tài. "Ở Ý chỉ có một người không mắc sai lầm" - Đuse giải thích một cách vắn tắt và rõ ràng tại một cuộc hội nghị gồm hơn hai nghìn trí thúc trong cả nước Ý được tổ chức vào tháng 10 năm 1932. Dĩ nhiên tất cả mọi người đều hiểu rằng y hoàn toàn không định nói đến nhà vua và thậm chí cả đến đức giáo hoàng.

        NHỮNG HAM MUỐN CỦA TÊN ĐỘC TÀI


        Năm 16 tuổi, Benito đã lăng nhăng với một ả điếm bụi ở tuổi trưởng thành, y có lần buột miệng thú nhận rằng hồi niên thiếu y đã "lột truồng bằng mắt bất cứ một người đàn bà nào mà y gặp". Y cũng có máu côn đồ từ thời trẻ. Có lần y đã dùng con dao luôn luôn giắt bên mình đâm một người đàn bà từng làm cho y bực mình. Còn khi đã đứng trên đỉnh cao của quyền lực, có lần y đã thượng cẳng chân hạ cẳng tay với người tình chung thủy nhất của y, một người đàn bà duy nhất mà y yêu quý thực sự - đó là Clara Pêtasi chỉ vì cô ta đưa ra một lời nhận xét thiếu thận trọng khiến y nổi giận.

        Muxôlini rất thích đến các nhà thổ. Y khoái nhất những người đàn bà mũm mĩm và không dùng nước hoa - Mùi mồ hôi tự nhiên - đó chính là cái sức hấp dẫn và kích thích y đến cao độ. Khi tên độc tài tương lai hiểu rằng y được nữ giới ưa thích, rằng có thể hái hoa mà không phải trả tiền, y đã quyến rũ cả bà chị họ. Rồi lại ăn nằm với những bạn gái của cô ta, đấy là chưa kể vô thiên lủng các cô gái nông dân trong vùng.

        Tại làng son cước Tônmêxô, y đã sống ờ nhà một người đàn bà nội trợ đã có chồng tên là Luygia và bị ả đổ bệnh giang mai. Y đã toan tử tự, nhưng một người bạn đã kịp thời ngăn lại và khuyên y đến gặp các thầy thuốc. Khi đã trờ thành thủ tướng Ý Đại Lợi và đã lập gia đình, y vẫn tiếp tục lang chạ với nhiều người phụ nữ khác. Có khi ngay trên tấm thảm trải sàn trong phòng làm việc của thủ tướng, Muxôlini cũng tranh thủ làm một suất "tàu nhanh" mà không kịp cởi bỏ quần áo.

        Trong số các nhân tình của Benito Muxôlini, Clareta Petasi là người được sủng ái nhất. Muxôlini làm quen với người đẹp này khi y đã 50 tuổi và mối quan hệ của họ kéo dài gần 10 năm. Clareta là người đàn bà duy nhất mà Muxôlini đã say đắm thực sự. Y nâng niu chiều chuộng ả hết mực, tặng ả những tòa biệt thự lộng lẫy. Có lần tại một căn nhà dùng làm nơi hò hẹn cho những cuộc trăng hoa, nữ thủ tướng phu nhân Raken Gviđi đã bắt gặp kẻ tình địch của mình. Bà ta đã chi thẳng vào mặt Clareta và nói: "Rồi sẽ có ngày cô bị điệu ra Piaxo Loreto". Đó là một quảng trường nổi tiếng ở Milan, nơi tụ tập của những gái điếm mạt hạng. Năm 1945 lời tiên tri ấy đã trở thành hiện thực: tại quảng trường Piaxo Loreto, xác của Clareta Petasi bị treo ngược như vậy.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM