Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 22 Tháng Bảy, 2018, 09:51:15 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nhờ tìm kiếm phần mộ và thông tin Liệt sĩ Lương Đức An  (Đọc 1320 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
menthuong
Thành viên
*
Bài viết: 411


Nhất tướng công thành vạn cốt khô


« vào lúc: 07 Tháng Chín, 2017, 02:33:39 AM »

Họ và Tên: LƯƠNG ĐỨC AN
Năm sinh : tháng 02/1949
Giới tính : Nam
Quê quán : thôn Phương Lạp, xã Chiến Thắng, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.
Trú quán trước khi nhập ngũ: thôn An Phong, xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.
Nhập ngũ : tháng 5/1968
Đơn vị huấn luyện: Tiểu đoàn Hoàng Liên Sơn 2
Đi B tháng 1/1969
Đơn vị, Chức vụ, Cấp bậc : d267 KB, A trưởng, Thượng sỹ.
Ngày hi sinh : 02/05/1970
Nơi hi sinh : Mặt trận phía Nam
Đặc điểm nhận dạng :
Trước khi nhập ngũ là Y tá, Đảng viên (dự bị).

Gia đình đã hỏi nhiều cơ quan, tìm kiếm trên nhiều trang mạng mà chưa có thông tin chi tiết, cần biết về PHIÊN HIỆU ĐƠN VỊ, TRƯỜNG HỢP HI SINH, NƠI HI SINH, NƠI ĐẶT MỘ PHẦN,...

Qua trang này kinh đề nghị QTV, các thành viên trang, các CCB,...ai biết thông tin gì hay mách nước cung cấp cho gia đình, chúng tôi xin cám ơn!

Kèm theo là di ảnh của Liệt sĩ và GIẤY BÁO TỬ, CÔNG VĂN CỦA QUÂN KHU 7





Người nhận tin: Lương Đức Mến: ĐT: 0913089230; luongducmen@gmail.com ; SN 328 đường Hoàng Liên, phường Kim Tân, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai
« Sửa lần cuối: 07 Tháng Chín, 2017, 09:47:05 AM gửi bởi menthuong » Logged

menthuong
Thành viên
*
Bài viết: 411


Nhất tướng công thành vạn cốt khô


« Trả lời #1 vào lúc: 09 Tháng Chín, 2017, 04:28:18 PM »

Gia đình theo 2 THÔNG TIN SAU LẦN DẤU VẾT VẪN CHƯA RA:

1. Theo bạn @chiangshan:
d267 có thể là tiểu đoàn 267 của QK8, thời điểm đầu 1970 đang chiến đấu ở Mỹ Tho.
http://www.tiengiang.gov.vn/xemtin.asp?cap=4&idcha=2649&id=2661
Tháng 2 năm 1970, Bộ Tư lệnh Quân khu 8 tăng cường cho Mỹ Tho trung đoàn 3 và tiểu đoàn đặc công 269, tăng cường cho thành phố Mỹ Tho tiểu đoàn 267 để chuẩn bị cho đợt A, B, C mở lõm, chuyển vùng, giải phóng nông thôn. Lực lượng vũ trang được tăng cường góp phần củng cố lòng tin, động viên, cổ vũ cán bộ, chiến sĩ và quần chúng. Chấp hành sự chỉ đạo của Khu ủy Khu 8, đêm 31 tháng 3 rạng 1 tháng 4 năm 1970 Tỉnh ủy Mỹ Tho, Gò Công và Thành ủy Mỹ Tho, mở  đợt tiến công và nổi dậy đồng loạt.
Tuy nhiên, ta chỉ mở được 1-2 đợt, thu được một số thắng lợi ở vùng Châu Thành Bắc, Châu Thành Nam, vùng 20 tháng 7; đắp mô, phá hoại giao thông, chặn đánh địch trên lộ 4, các lộ sườn gây cho địch nhiều thiệt hại. Quần chúng vận động nhiều dân vệ, cảnh sát đồng tình che giấu thanh niên trốn lính và lính trốn tạo ra nhiều lõm chống bắt lính. Quân và dân Gò Công thọc sâu vào các vùng yếu, vùng ven thị xã, thị trấn, ven các đường giao thông liên tục tiến công địch, diệt bọn bình định, dân vệ ác ôn, phá lỏng bộ máy kềm kẹp và bọn phòng vệ dân sự, làm chuyển biến phong trào ở tuyến lộ 8 (xã Vĩnh Hựu), tuyến lộ 12 (xã Thạnh Nhựt), vùng ven biển Gò Công; đã phát động 8.500 quần chúng đấu tranh trực diện với địch, chống khủng bố bắn phá, rải chất độc hóa học, gom dân và phát động quần chúng bung ra đồng sản xuất.
Để đối phó lại cuộc tiến công của ta, địch tăng cường lực lượng đánh phá dài ngày vùng căn cứ cách mạng, đặc biệt là hành quân đêm, đánh biệt kích ở nhiều khu vực như rạch sông Ba Rài, xã Hội Cư và một số xã thuộc bắc huyện Cái Bè, mảng 4 huyện Cai Lậy, vùng Gò Lũy (huyện Châu Thành Bắc). Địch sử dụng bom pháo mật độ cao bắn cả trong vườn, ngoài đồng để tát dân. Ban đêm, địch cho trực thăng soi bắn dọc theo kinh rạch. Ban ngày, “cá nóc” quần đảo rà sát ngọn cây tìm kiếm cơ quan của ta để đánh phá, tiêu diệt bộ đội. Một số vùng như Hội Sơn, Xuân Sơn, ấp 3 xã Cẩm Sơn, huyện Cai Lậy; xã Hội Cư huyện Cái Bè; kinh Cà Dâm, xã Mỹ Phước, huyện Châu Thành Bắc đa số nhân dân phải bung ra vùng tranh chấp tạm trú. Địch tiếp tục đẩy mạnh chương trình bình định nông thôn với hai kế hoạch nối tiếp nhau: bình định đặc biệt và bình định bổ túc. Địch đóng thêm đồn bót và tăng cường lực lượng quân sự. Đến cuối năm 1970, địch đóng thêm ở tỉnh Mỹ Tho 353 đồn tua, kể cả cũ và mới có 633 đồn tua. Ở tỉnh Gò Công có 157 đồn tua (cuối 1970).

2. Theo bạn @napoleon:
KB là QK7 bác ạ, bác thử liên lạc với phòng chính sách QK7 xem sao?
Tiểu đoàn 267 của phân khu II (tiểu đoàn chủ lực của tỉnh đội Long An) không biết có đúng không?
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=301.100
- Phân khu 2 (hướng tây nam) gồm Bình Tân, bắc Bình Chánh, các quận 3, 5, 6 và các huyện Đức Hòa, Đức Huệ, Bến Thủ (Long An).
.....
Cụm 679 do đồng chí Đỗ Tấn Phong, Năm Đức, Tám Bền, Ba Tâm chỉ huy có nhiệm vụ tấn công bộ tổng tham mưu ngụy (cổng số 4 đường Trương Quốc Dung) và trại Phi Long (cổng chính sân bay Tân Sơn Nhất). Đơn vị phối hợp là Tiểu đoàn 2 Gò Môn và Tiểu đoàn 267 - Phân khu 2 đánh (cổng số 5 bãi xe Tân Bình).

Rất mong được chỉ dẫn thêm
Logged

menthuong
Thành viên
*
Bài viết: 411


Nhất tướng công thành vạn cốt khô


« Trả lời #2 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2018, 08:19:48 PM »

Một vài thông tin mà gia đình đã tìm kiếm:

   I. ĐƠN VỊ CHIẾN ĐẤU

   Theo phiên hiệu đã được giải mã, thì "KB" gồm: Quân khu 8 (cũ), Cục Hậu cần Miền, Phòng Tình báo V102, Bộ CHQS các tỉnh: Bình Phước, Bà Rịa - Vũng Tàu, Sài Gòn, các Sư đoàn: 1, 5, 7, 9 và các Đoàn: 23, 90, 570.

   Về D 267, nhiều khả năng đây là Tiểu đoàn 267 của tỉnh đội Long An, sau thuộc Phân khu II chủ lực Miền (gồm các huyện phía bắc lộ 4 (nay là lộ 1): Đức Hòa, Đức Huệ, Bến Lức, Thủ Thừa, nối liền với các quận, huyện nội, ngoại thành phía tây Sài Gòn là Tân Bình, Bình Chánh, quận 5, quận 6, quận 3, quận 2).

   Long An là địa bàn Khu 7, 8 trong Kháng chiến chống Mỹ, một phần của tỉnh nằm trên vùng biên giới, Đồng Tháp Mười, là hành lang chiến lược rất quan trọng nối liền vùng căn cứ, hậu phương chiến lược ở khu vực biên giới với chiến trường Khu 8 và Khu 9. Phục vụ nhu cầu tác chiến trong từng giai đoạn, việc bố trí lực lượng có nhiều thay đổi. Giai đoạn từ 1968 đến 1970, giải thể Khu 8, chia thành các Phân khu, Long An trực thuộc Miền (đến năm 1973 trở lại Khu Cool, có ba Đảng bộ là Phân khu 2, Phân khu 3 và Kiến Tường. Chia tách và nhập liên tục, vì vậy tư liệu càng tản mát hơn.

   Lịch sử Đảng bộ Long An chỉ nhắc đến tên Tiểu đoàn 267 trong một trận đánh vào ngày 01/01/1966 tại xã Hòa Khánh - Đức Hòa  (Sách "Khu VIII - Trung Nam Bộ trong kháng chiến..." gọi đây là "Tiểu đoàn chủ lực của Khu", thực ra lúc này tiểu đoàn vẫn thuộc tỉnh đội Long An). Các tư liệu khác chỉ thấy đề cập đến tiểu đoàn trong Chiến dịch Mậu Thân 1968, lúc này Long An tách khỏi Khu 8, D 267 (cùng với 265, 269) thuộc về chủ lực Miền. Phục vụ chiến dịch, ta thành lập thêm các tiểu đoàn mới phiên hiệu thêm "B", trong đó có Tiểu đoàn 267B, thuộc Chiến đoàn 2. Giai đoạn 2 của Chiến dịch đổi Chiến đoàn thành Trung đoàn. Giữa năm 1969, do quân số bị tổn thất, không bù đắp được, Trung đoàn 2 giải thể, các tiểu đoàn chuyển về đơn vị khác.

   Có thông tin cho rằng  vào tháng 02/1970 tiểu đoàn 267 cùng với Trung đoàn 3 và Tiểu đoàn đặc công 269 được Bộ tư lệnh Quân khu 8 tăng cường cho TP Mỹ Tho, chuẩn bị cho đợt A, B, C mở lõm, chuyển vùng giải phóng nông thôn bắt đầu từ cuối tháng 3, đầu tháng 4/1970. Theo "Khu VIII..." thì năm 1970, ta bố trí lại lực lượng: "Tiểu đoàn đặc công 267 và 269 của Khu bám vùng phía tây thành phố Mỹ Tho trong căn cứ lõm của 2 xã Bình Trưng, Phước Thạnh... Tiểu đoàn 267 phối hợp với biệt động thành phố Mỹ Tho đánh thiệt hại nặng ban chỉ huy Trung đoàn 12 Sư đoàn 7 ngụy. Tiểu đoàn 267 phối hợp với biệt động thành phố Mỹ Tho đánh thiệt hại nặng sân bay Mỹ Tho, diệt 7 lô cốt, phá hủy 7 trọng liên, 3 xe GMC, 2 máy bay L19" (1). Đêm 31 tháng 4 năm 1970, tiểu đoàn 267B và lực lượng thành đội Mỹ Tho tập kích sân bay Hùng Vương, diệt 45 tên địch, phá hủy 6 lô cốt, 5 xe GMC, 2 máy bay L19 (2). Trong năm 1970, không có tư liệu nào nữa về các trận đánh của D267, đến năm 1972, tiểu đoàn này vẫn đóng quân ở Mỹ Tho (Khu VIII ... chép là Tiểu đoàn đặc công 267, 269), nhưng trong chiến dịch huy động tổng lực ở Mỹ Tho tháng 6/1972 lại không thấy có tên tiểu đoàn 267 tham gia. Từ đây chỉ thấy có sự hiện diện của D269 đến tận Tổng tiến công năm 1975, D267 mất dấu, không rõ do đổi phiên hiệu, sáp nhập hay chuyển thành lực lượng của tỉnh đội?

   Theo lời kể đăng trên báo gần đây của ông Ngô Văn Miềng - nguyên tiểu đội trưởng tiểu đội thông tin, tiểu đoàn 267 - hiện sống ở Tân An, Long An, thì: Tiểu đoàn 267 được thành lập năm 1965 ở Kiến Tường (hiện là Mộc Hóa, Long An). Ban đầu có 3 đại đội, đến năm 1967 phát triển thành tiểu đoàn chủ lực của Phân khu II, có bảy (*) đại đội, hơn 1.000 người, được trang bị cả vũ khí hạng nặng như trọng pháo DKZ 75, chuyên nhiệm vụ đánh đồn, chống càn, mở rộng vùng giải phóng.

   Theo lời kể của ông Ngô Công Chiến, chiến sĩ tiểu đoàn 267, hiện sống tại Bình Thủy, Cần Thơ, thì: Năm 1968, ông là chiến sĩ thông tin, tiểu đoàn trưởng là Ninh Văn Liễu, một người lính miền Bắc kỳ cựu từng tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Tiểu đoàn có 1.200 người, sau trận đánh Tân Sơn Nhất còn chưa đầy 200 (**).

   Một tài liệu về báo cáo của trinh sát Võ Thị Tâm thì năm 1968, D267 thuộc Trung đoàn 2, Trung đoàn trưởng là Võ Văn Hoàng, nhưng có đoạn chép chỉ huy đợt 2 là Hai Hoàng (tức Nguyễn Văn Điều, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Ấp Bắc năm xưa), Ba Giáo, Hai Thà, Lê Minh Xuân là Trung đoàn phó. Có lẽ báo cáo nhầm với D267B?. Đại tá Đặng Công Hậu phụ trách An ninh T4 khẳng định, Tiểu đoàn 267 thuộc Phân khu 2 - Bắc Long An hướng Tây và Tây Nam Sài Gòn gồm: quận Tân Bình, một phần huyện Bình Chánh, các quận 3, 5, 6 huyện Đức Hòa, Bến Thủ (Long An).

   Trên trang Web gia phả có thông tin: Trần Ngọc Cứ, Ấp 1 (Cù Lao), xã Mỹ An Phú, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An (nay là Ấp 1, xã Mỹ An, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An). Chức vụ: chính trị viên đại đội. Cấp bậc: đại đội bậc trưởng. Đơn vị: Tiểu đoàn 267 của Phân khu II (tiểu đoàn chủ lực của tỉnh đội Long An) hy sinh ngày 12/5/1969. Có lẽ ở đây phiên theo giai đoạn trước, thực tế lúc này Tiểu đoàn thuộc Miền.

   Lịch sử Đảng bộ Long An chép: "Tháng 3 năm 1970, tỉnh Kiến Tường được bổ sung 1 đại đội từ miền Bắc vào (gồm 110 cán bộ, chiến sĩ) và sau đó lại tiếp tục được bổ sung 1 đại đội nữa gọi là các đơn vị đánh phá bình định. Đây là những đơn vị đã kinh qua chiến đấu ở chiến trường B5 (Bắc Quảng Trị) và hành quân vượt Trường Sơn vào Kiến Tường. Tỉnh ủy, Tỉnh đội đã chỉ đạo và phối hợp với các đoàn thể như Đoàn Thanh niên, Hội phụ nữ, Hội mẹ chiến sĩ đặc biệt quan tâm và động viên cán bộ, chiến sĩ miền Bắc. Chính vì vậy, anh em đã nhanh chóng hòa nhập, thích ứng với chiến trường làm nòng cốt trong các đơn vị và lập nhiều thành tích trong chiến đấu và công tác". Có thể Lương Đức An được bổ sung đợt này, và đối chiếu với (*), (**) thì được tăng cường, củng cố lực lượng cho D267? Nếu vậy thì chuyển chiến đấu ở Mỹ Tho chứ không dừng lâu ở Long An.

   II. NƠI HY SINH

   Theo dữ liệu của (I) thì nếu Lương Đức An chiến đấu trong đơn vị D267, nơi hi sinh (đầu tháng 5/1970) phải là Mỹ Tho. Thời điểm này, D267 có 2 trận đánh lớn ở Mỹ Tho (1), ngày tháng, diễn biến các trận này đang tìm tư liệu, hoặc có thể hi sinh khi phối hợp trong trận đánh đêm 31/4 (2).

   Tuy nhiên cũng có thể một số Đại đội của D267 được tăng cường để bảo vệ căn cứ Miền dọc vùng biên giới và trên đất Cam Pu Chia trước đợt mở rộng chiến sự của Mỹ - ngụy bắt đầu từ cuối tháng 4/1970.

   Lịch sử Đảng bộ Long An ghi nhiều đợt Tỉnh đội tăng cường chi viện như tháng 12/1969 đánh Long Khốt (chi khu Tuyên Bình); Năm 1970 "Tỉnh đội Kiến Tường điều Đại đội 4 thuộc Tiểu đoàn 504 và 50 cán bộ, chiến sĩ (phần lớn là cán bộ đã từng làm công tác biên giới, có uy tín với nhân dân bạn) sang trực tiếp giúp các huyện Đông Nam tỉnh Svây Riêng giáp biên giới tỉnh Kiến Tường. Ngày 9/4 /1970, lực lượng ta giúp bạn giải phóng thị trấn Công Pông Rồ, một thị trấn lớn nằm sát biên giới cách Bắc thị xã Mộc Hóa 8 kilômét về phía Bắc. Đồng thời sau đó hợp đồng với lực lượng trên đánh địch trên quốc lộ 1 (Campuchia) chiếm 1 đoạn dài hơn chục kilômét từ Chi Phu qua Prây Sốt đến cách thị xã Svây Riêng 3 kilômét.... Đại đội 4 còn phối hợp với lực lượng bạn đánh bọn lính Lon Non ở thị xã Svây Riêng bung ra hàng chục trận...Ngày 29/4/1970, Mỹ - ngụy bắt đầu tấn công lên đất Campuchia...Cuộc hành quân ồ ạt quy mô lớn của quân ngụy Sài Gòn .. đã phá vỡ các căn cứ, kho tàng, các khu vực ăn ở của nhân dân, các cơ quan, đơn vị của ta trên phạm vi biên giới Kiến Tường từ xã Bình Phong Thạnh đến xã Hưng Điền B (gần 100km).. Hầu hết cơ sở hậu cần, hậu cứ của các cơ quan đơn vị bị phá vỡ, hàng trăm người dân sống trên biên giới thiệt mạng... Đặc biệt là ở khu vực Chân Rà Tà Nốt - Sóc Mới, hàng trăm người Việt Nam và người dân Campuchia bị địch bắn chết, xác nằm ngổn ngang. Các cơ quan dân - Đảng của Kiến Tường bị thiệt hại, phải bám theo các đơn vị bộ đội để chống càn bảo tồn lực lượng...Tỉnh ủy Kiến Tường đã khẩn trương quán triệt cho cán bộ chủ chốt bố trí lại lực lượng: tăng cường lực lượng đảng viên, cán bộ về bám cơ sở để hoạt động, điều một số đơn vị như Đại đội 1 về vùng 4; Đại đội 2 về vùng 8; Đại đội 3 về vùng 6; bổ sung quân số và tăng cường công tác huấn luyện cho đơn vị 917 (biệt động thị xã Mộc Hóa). Riêng Đại đội 4 được bổ sung thêm quân số hoạt động trên đất Campuchia, làm nòng cốt cho 6 đại đội bộ đội của bạn do Kiến Tường xây dựng...".

   Hồi ký của tướng tá VNCH tương đối nhiều về chiến sự  cuối tháng 4, đầu tháng 5/1970 tại vùng biên giới và trên đất Cam Pu Chia nhưng không thấy nhắc đến phiên hiệu D267 của bên ta, có một số dữ liệu thấy liên quan:

   Mỹ - ngụy mở nhiều cuộc hành quân, gọi là "Hành quân toàn thắng - HQTT 42, 43..".

   HQTT 42 bắt đầu vào ngày 29/4/1970 gồm 6 giai đoạn tấn công: Mục tiêu của giai đoạn 1 và 2 là càn quét khu Mỏ Vẹt ((Parrot’s Beak) của Campuchia nằm trải dài về phía miền Nam Việt Nam trên vùng đồng bằng sông Cửu Long)  từ biên giới tới Sway Rieng; giai đoạn 3 càn quét từ Sway Riêng lên đến vùng Đầu Chó (Tây Bắc tỉnh Tây Ninh); giai đoạn 4 khai thông QL1 từ Sway Rieng đến Kompong Trabeck; giai đoạn 5 tấn công vào đồn điền Chup, giai đoạn 6 đưa quân tấn chiếm đồn điền Mimốt.

   7 h sáng ngày 29/4/1970 bắt đầu giai đoạn 1. Phía Mỹ - ngụy Chiến đoàn 318 từ tỉnh lỵ Tây Ninh tiến về phía đồn điền Chup, Chiến đoàn 225 và 333 từ Gò Dầu Hạ hành quân phía Tây – Tây Nam (Kompong Trabeck) đánh hai bên QL1. Chiến đoàn 318 không gặp sự kháng cự mạnh mẽ. 2 Chiến đoàn đặc nhiệm 225 và 333, sau 2 giờ vượt biên giới đã gặp sự kháng cự dữ dội của các Trung đoàn/"Công Trường 9 Cộng Sản Bắc Việt (CSBV)". Tiểu đoàn Biệt động quân đi đầu bị phục kích, cắt thành hai, tổn thất nặng. Trận chiến diễn ra rất ác liệt và kéo dài suốt 4 giờ. Không quân Mỹ liên tục yểm trợ phi pháo. Đến trưa ngày 29/5/1970, "Chiến đoàn 333 đẩy lùi được địch quân. Hơn 100 Cộng quân bỏ xác tại trận". 2 Tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 271 rút về hướng Bắc để tránh phi pháo. Khi rút ngang qua thôn Phum Long Giêng (phía Nam Kompong Trach) thì bị địch phát hiện, bao vây. Tương quan lực lượng, vũ khí chênh lệch lớn nên trận đánh làm 2 tiểu đoàn thương vong nặng nề, trong đó có nhiều chiến sĩ bị quân địch phun lửa, ném lựu đạn khi đang ẩn nấp dưới hầm. 4h30 chiều, số chiến sĩ còn lại rút về hướng Bắc, bị đạn phảo địch bắn, hi sinh hầu hết, 40 người bị địch bắt. Ngày 30/4, phía Mỹ - ngụy tăng cường lực lượng đánh vào Mỏ Vẹt. Hỏa lực đối phương bắn phá liên tiếp làm Trung đoàn 88 tổn thất nặng. Ngày 1/5/1970, phía địch kiểm soát được QL 1, phá một căn cứ hậu cần lớn của ta tại thị trấn Ba Thu trong khu Mỏ Vẹt "170 xác cộng quân bỏ lại trận địa.."

   Giai đoạn 2 bắt đầu ngày 2/5/1970, Mỹ - ngụy đưa Chiến đoàn 225 và Chiến đoàn 333 tiến về phía Nam hướng về khu Mỏ Vẹt tấn công vào căn cứ địa 367 (Mật khu Ba Thu, Bến Lức - Long An). Chiến sự diễn ra vô cùng khốc liệt "nhưng nhờ hỏa lực yểm trợ hùng hậu, QL VNCH đã làm chủ được trận địa và Cộng quân bị thiệt hại nặng".

   HQTT 43 được chuẩn bị từ ngày 26/4 bằng việc "thực tập" nhẩy dù xuống Chiến khu C của các Sư đoàn dù hỗn hợp Việt - Mỹ nhằm đánh giá khả năng phối hợp trong kế hoạch đánh chiếm vùng căn cứ Lưỡi Câu của ta.

   5h45 ngày 01/5, Mỹ điều 6 máy bay B52 rải bom, hàng trăm khẩu pháo tập trung bắn vào "Mật khu 352 và 353 của CSBV trên đất Chùa Tháp" (vùng Lưỡi Câu - Công Pông Chàm). 8 giờ sáng ngày 1/5, quân địch bắt đầu dùng trực thăng đổ quân. Khi mở rộng khu vực vừa đáp xuống về phía Bắc "đã gặp sự kháng cự mạnh mẽ của địch quân, Các chiến sĩ nhảy dù phản ứng mau lẹ xung phong tấn công thẳng vào vị trí ẩn núp của địch làm Cộng quân hoảng sợ bỏ chạy". Địch tung quân lục soát, phát hiện kho chứa thuốc men, súng đạn của ta. Bắt đầu xẩy ra "các trận đánh lẻ tẻ", "địch quân chống trả yếu ớt rồi rút chạy tán loạn sau khi bỏ lại khoảng 200 xác đồng bọn. Tiểu đoàn 1 ND cũng chạm địch, 27 cộng quân bị hạ và bắt sống 8 tù binh. Các tù binh khai rằng thuộc Tiểu đoàn 250 thuộc Đoàn 50 hậu cần và thuộc TĐ1/Trung đoàn 165/SĐ7CSBV". Quân Mỹ mạn Nam và Đông của khu vực Lưỡi Câu cũng bắt đầu tiến sang CPC. Mũi thứ nhất gồm hai cánh quân xuất phát từ Tây Ninh băng qua biên giới tấn công lên mạn Bắc. Cánh quân thứ nhất từ Kà Tum đánh vùng phía trái Lưỡi Câu lên đến QL7. Cánh thứ 2 càn quét phía tay phải của trục tiến quân. Mũi thứ 2 từ Bình Long tấn công về hướng Tây Bắc thọc sâu vào vùng Lưỡi Câu. "Các lực lượng CS bị bất ngờ không kịp phản ứng nên chống trả yếu ớt và tháo chạy dưới sự truy nã ráo riết của các phi cơ trinh sát. Đơn vị trinh sát 1/9 Cavalry đã tìm thấy 152 xác Cộng quân do hỏa lực của phi cơ oanh kích". Xế chiều "Thiết đoàn 2/11 bắt đầu đụng độ với Tiểu đoàn 1 của Trung đoàn 165/SĐ7CSBV tại một bìa rừng cách biên giới Kà Tum khoảng 6Km, VC bỏ lại 52 xác tại trận địa"

   Ngày 2/5/1970 Mỹ - ngụy hợp quân, tiến về phía đồn điền Mimot, chiếm được Thị trấn Snoul.

   Như vậy, nếu Lương Đức An hi sinh ở Mỹ Tho thì dễ tìm kiếm hơn, nếu được tăng cường cho đơn vị khác thì việc tìm kiếm rất khó khăn vì chiến trường trải rộng, trên đất bạn và trong tình trạng quân ta phòng thủ, rút lui, khó có mộ chí cụ thể

   III. ĐỊA DANH "VƯỜN CHUỐI"

   Có thể đây chỉ là tên gọi mô tả đặc điểm khu vực đó. Không tìm thấy địa danh nào tên này. Có một số tên tương tự: Xóm Chuối (xã Vĩnh Chân) Long An (năm 1971 địch gom dân vào đây), Giồng Chuối hình như ở Mỹ Tho.. Sẽ tìm hiểu thêm nội dung này.


Thông tin đối chiếu

Liệt sĩ Nguyễn Văn Nở
Nguyên quán Mỹ Phước Tây - Cai Lậy - Tiền Giang
Sinh 1943
Hi sinh 20/02/1967
Cấp bậc Thiếu úy
Đơn vị D267 QK8
Hiện đang yên nghỉ tại Nghĩa trang liệt sĩ tỉnh Tiền Giang - tỉnh Tiền Giang
(Lúc này D267 đang chiến đấu ở Long An, có thể đây là mộ quy tập)

 Liệt sĩ Nguyễn Văn Khá
Quê: Cao Lãnh - Đồng Tháp
Sinh 1937
Chức vụ: Đại đội phó
Hi sinh: 15/7/1969
Đơn vị D267 QK8
Hiện đang yên nghỉ tại : Nghĩa trang liệt sĩ Trung An, TP Mỹ Tho - Tiền Giang.
(Đây không phải mộ quy tập, vì LS quê Đồng Tháp, có thể D 267 phạm vi hoạt động từ 1969 đã có ở Mỹ Tho)
Logged

Trang: 1   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM