Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 20 Tháng Mười, 2017, 11:47:22 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa, nhà khoa học anh hùng  (Đọc 2389 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 13210


« vào lúc: 27 Tháng Tám, 2017, 09:21:20 AM »

    
        - Tên sách: Từ Phạm Quang Lễ đến Trần Đại Nghĩa nhà khoa học anh hùng

        - Tác giả: Thành Đức

        - Nhà xuất bản thời đại

        - Số hóa: Giangtvx

Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 13210


« Trả lời #1 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2017, 10:55:00 PM »

         
        Vài nét vê tác giả


        Thành Đức (tên khai sinh Trần Văn Đức) sinh năm 1940 tại thành phố Vinh Nghệ An, Kĩ sư luyện kim, Cựu chiến binh Quân giới, nguyên thư kí của Giáo sư Trần Đại Nghĩa trong thời kì chống Mỹ cứu nước, nguyên Phó Viện trưởng Viện Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp.

        Từ khi nghỉ hưu say sưa sáng tác thơ ca. Một số thơ ca đã đăng trên các báo, nhiều ca khúc đã phát trên sóng phát thanh, truyền hình trung ương và địa phương. Được Bộ Văn hóa tặng thưởng Huy chương Vì sự nghiệp Văn hóa Quần chúng năm 1999


MỤC LỤC

*           Lời nói đầu   

*           Lời giới thiệu của gia đình cố Giáo sư Trần Đại Nghĩa   

*           Lời tác giả   

        § 1 Tiếng sét badôca mừng xuân Đinh Hợi   

        §2 Quê hương, gia đình và tuổi thơ Phạm Quang Lễ   

        §3 Từ Mĩ Tho đến Sài Gòn hun đúc hoài bão lớn   

        §4 Làm việc ở Mĩ Tho, chờ cơ hội du học   

        §5 Rời bến cảng Nhà Rồng. Hai năm đầu ở Paris   

        §6 Đột ngột về quê thăm má   

        §7 Trở lại Paris tiếp tục học tập   

        §8 Làm việc ở Pháp và Đức thời bình và thời chiến   

        §9 Chào đón Bác Hồ thăm Pháp. Paris mùa thu 1946   

        §10 Tạm biệt Paris theo Bác Hồ trở về Tổ quốc   

        §11 Chuyến tàu lịch sử vượt trùng dương. Lớp học đặc biệt trong lòng đối phương   

        §12 Bác Hồ giao trọng trách và đặt tên Trần Đại Nghĩa   

        § 13 Chỉ đạo nghiên cứu chế tạo vũ khí chống thực dân Pháp   

        *     Sản xuất hàng loạt badôca   

        *        Mở lớp đào tạo kĩ thuật vũ khí

        *        Tăng cường nhân lực kĩ thuật chế tạo SKZ và vũ khí hạng nặng   

        *        Nhà nước vinh danh anh hùng   

        §14 Chỉ đạo công tác kĩ thuật quân sự trong thời kì chống Mĩ cứu nước   

        § 15 Xây dưng Viện Khoa học Việt Nam   

        §16 Tấm gương nhà khoa học học anh hùng Sống mãi trong lòng hậu thế   

        *        Tham luận: “Giáo sư Trần Đại Nghĩa - Tâm Đức trong sáng - Cội nguồn của ý chí và tài năng”   


LỜI NÓI ĐẦU

        Giáo sư, Viện sỹ, Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa -  Anh hùng lao động, nhà khoa học và là tấm gương sáng của giới tri thức cách mạng Việt Nam.

        Hơn 11 năm du học và làm việc ở Pháp và Đức, Ông đã bí mật, bền bỉ nghiên cứu về vũ khí và các lĩnh vực khoa học kỹ thuật cao. Mùa thu 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm chính thức nước Pháp. Ông cùng một số tri thức Việt kiều đã tình nguyện theo bước Bác Hồ về nước phụng sự Tổ quốc, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

        Ngày 20 tháng 5 năm 1975, Chính phủ thành lập Viện Khoa học Việt Nam, Giáo sư Trần Đại Nghĩa được bổ nhiệm là Viện trưởng đầu tiên của Viện. Giáo sư, Viện trưởng Trần Đại Nghĩa đã có công lao to lớn trong giai đoạn đầu xây dựng Viện Khoa học Việt Nam trong hoàn cảnh đất nước sau chiến tranh còn nhiều khó khăn. Trải qua gần 40 năm, Viện đã phát triển mạnh và hiện nay là Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

        Nhân dịp kỷ niệm trong 100 năm ngày sinh của Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa (13/9/1913 - 13/9/2013) tác giả Thành Đức, nguyên thư ký của Giáo sư đã xuất bản cuốn sách này. Tác giả đã viết khá chi tiết về chặng đường đời của Giáo sư Trần Đại Nghĩa - Nhà khoa học, giúp chúng ta hiểu hơn để học tập một tấm gương sáng của người anh hùng cách mạng được Bác Hồ lựa chọn và đặt trọn niềm tin.

        Xin trân trọng giới thiệu

Giáo sư Châu Văn Minh                                        
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam        
Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam            
« Sửa lần cuối: 20 Tháng Chín, 2017, 04:26:38 AM gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 13210


« Trả lời #2 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2017, 12:19:54 AM »

                     

Tượng đài Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa tại khuôn viên Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam Hà Nội

GIỚI THIỆU CỦA GIA ĐÌNH
CỐ GIÁO SƯ TRẦN ĐẠI NGHĨA

       Ngày 13 tháng 9 năm 2013, kỷ niệm tròn 100 năm ngày sinh của người cha, người ông muôn vàn yêu quí của chúng tôi: Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa. Đây là dịp gia đình con cháu hồi tưởng, ôn lại những kỉ niệm, những năm tháng cuộc đời của ông, càng cảm thấy vinh hạnh, tự hào và biết ơn ông đã để lại tấm gương sáng của một nhà khoa học trọn đời vì Tổ quốc. Tâm đức, ý chí, tài năng và cống hiến của ông cho quê hương, đất nước đã dạy cho con cháu hậu thế những bài học sâu sắc trong cuộc sống hôm nay và mai sau.

        Tác giả Thành Đức, nguyên là thư kí của cha tôi trong thời kì chống Mĩ cứu nước đã viết cuốn sách này, ghi lại một cách chân thật có hệ thống, khá đầy đủ và chi tiết những chặng đường đời của ông từ tuổi học sinh ở quê nhà, hơn mười năm du học và làm việc ở Pháp và Đức, rồi theo Bác Hồ về nước cống hiến tinh thần và trí tuệ trong hai cuộc kháng chiến chống đế quốc xâm lược giành độc lập, thống nhất cho Tổ quốc, cũng như trong sự nghiệp xây dựng đất nước, xây dựng Viện Khoa học Việt Nam.

        Những năm tháng ở Hà Nội và sau này ở Thành phố Hồ Chí Minh, cha mẹ và anh chị em chúng tôi rất quí mến chú Thành Đức, thân tình như trong một gia đình. Lúc sinh thời cha tôi thường nói chuyện tâm tình với chú

        Thành Đức. Mẹ tôi, bà Nguyễn Thị Khánh đã tin tưởng giao cho chú những bản hồi kí của cha tôi. Mấy năm qua, chú Thành Đức đã thu thập được khá nhiều tư liệu, và bằng tình cảm chân thành, chú đã hoàn thành cuốn sách đúng vào dịp kỉ niệm 100 năm ngày sinh của cha tôi: Giáo sư Trần Đại Nghĩa.

        Thay mặt gia đình, tôi chân thành cảm ơn tác giả Thành Đức và xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.


Đại tá Trần Dũng Trí                  
Con trưởng của Giảo sư Trần Đại Nghĩa        
« Sửa lần cuối: 20 Tháng Chín, 2017, 04:33:19 AM gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 13210


« Trả lời #3 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2017, 09:22:13 PM »

        

Giáo sư Châu Văn Minh - Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (bên trải) cùng tác giả Thành Đức bên tượng đài Viện sĩ Trần Đại Nghĩa. Hà Nội 2013

LỜI TÁC GIẢ

        Ngay từ những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, ai ai cũng biết đến Trần Đại Nghĩa. Ngày ấy, quân Pháp có xe tăng, đại bác, máy bay, vũ khí tối tân, còn quân dân ta chỉ có vũ khí thô sơ. Một cuộc chiến hoàn toàn không cân sức giữa ta và địch. Vì vậy, những lời truyền miệng trong nhân dân rằng Bác Hồ đã đưa về nước một kỹ sư chế tạo vũ khí rất giỏi đã làm nức lòng mọi người.

        Ít lâu sau, chiến công của ba dô ca, rồi SKZ phá tan xe tăng, xe bọc thép, boong ke, lô cốt của giặc Pháp vang dội tin chiến thắng trên khắp các mặt trận dồn về hậu phương, thì câu chuyện chế tạo vũ khí hiện đại trong điều kiện thiếu thốn của rừng núi Việt Bắc được xem như một huyền thoại của cuộc kháng chiến. Và ông “Bác học Việt Minh” Trần Đại Nghĩa được mọi người cảm phục, đã trở thành thần tượng của giới trí thức và thanh niên, học sinh chúng tôi ngày ấy.

        Thế rồi, số phận đưa tôi đến với ông. Trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, sau khi tốt nghiệp kỹ sư luyện kim ở Trường Đại học Thép Matxcơva (Nga), tôi được điều động về nhà máy quân giới Z113, lo khâu nhiệt luyện dụng cụ dập đạn K56, và làm Trưởng Ban Kỹ thuật an toàn dây chuyền cải tiến đạn cối 82 ly của Nga thành 81 ly của Mỹ để gửi vào chiến trường miền Nam. Đầu năm 1968, tôi được điều động về giúp việc, làm thư ký cho Giáo sư, Viện sĩ, Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa, người vừa được Trung ương Đảng điều động trở lại quân đội chỉ đạo công tác kỹ thuật vũ khí quốc phòng, một lĩnh vực quan trọng về sức mạnh chiến đấu của quân đội ta.

        Tôi vừa hồi hộp, lo lắng vì vốn kiến thức và kinh nghiệm của một kỹ sư trẻ, còn quá hạn hẹp, vừa cảm thấy vinh hạnh, vì được giúp việc cho một nhà khoa học lớn, một thần tượng mà chúng tôi đã cảm phục từ tuổi học sinh. Gần bốn năm ở bên ông, tôi học được rất nhiều, không chỉ những kiến thức khoa học mà điều quan trọng hơn là nhân cách, phẩm chất đạo đức trong sáng của một nhà khoa học anh hùng. Ở bên ông, càng hiểu về ông, càng cảm phục ý chí, tài năng, tri thức uyên thâm về nhiều lĩnh vực khoa học cũng như tinh thần cao cả vì đại nghĩa, đúng như họ tên Bác Hồ đã đặt cho ông.

        Năm 2013, kỷ niệm tròn 100 năm ngày sinh của Giáo sư, Viện sĩ, Thiếu tướng Anh hùng Trần Đại Nghĩa (13/9/1913-13/9/2013), với tấm lòng thành kính của một người học trò, thư ký giúp việc cho ông trong những năm chống Mỹ cứu nước, tôi viết cuốn sách này để tưởng nhớ về ông, người thủ trưởng kính mến, thần tượng của đời tôi.

        Cuốn sách “Từ Phạm Quang Lễ đến Trần Đại Nghĩa - Nhà Khoa học Anh hùng” viết trên cơ sở những điều trực tiếp được nghe Giáo sư kể lúc sinh thời; Những bản hồi ký: “về hoài bão phục vụ Tổ quốc chống ngoại xâm”, “Trở về với Tổ quốc kính yêu" do Giáo sư viết năm 1993, và bản “Công tác Quân giới trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ” do Giáo sư kể và Thiếu tá Đào Đức Tú ghi lại năm 1982. Ngoài ra, tôi cũng tham khảo tài liệu NCKT của Viện Nghiên cứu vũ khí năm 1997, tài liệu “Nhớ về nửa thế kỷ sản xuất và sửa chữa vũ khí” của Ban liên lạc Quân giới Hà Nội, “Lịch sử Quân giới Việt Nam 1954 - 1975” (NXB Quân đội Nhân dân - HN 1995), “Người Anh hùng thầm lặng” (Vũ Hùng - NXB Kim Đồng HN 1985); “Viện sỹ Trần Đại Nghĩa” (Nguyễn Văn Đạo - NXB Trẻ TPHCM 2002). “Tạ Quang Bửu- Nhà Trí thức yêu nước và cách mạng” Hội khoa học Lịch sử Việt Nam xuất bản 1996.

        Tác giả chân thành cảm ơn bà Nguyễn Thị Khánh, Phu nhân cố Giáo sư, Viện sỹ Trần Đại Nghĩa và Gia đình đã cung cấp tư liệu và tạo điều kiện để tác giả hoàn thành cuốn sách này.

        Chân thành cảm ơn Giáo sư Châu Văn Minh -  Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công Nghệ Việt Nam và Nhà in Khoa học và Công nghệ đã tạo điều kiện để cuốn sách sớm đến tay bạn đọc.

        Hy vọng rằng cuốn sách nhỏ này sẽ giúp cho bạn đọc, đặc biệt là các bạn học sinh, sinh viên hiểu thêm về quá trình học tập và rèn luyện, ấp ủ hoài bão lớn trong thời kỳ tuổi trẻ, cũng như những năm tháng lao động sáng tạo, phụng sự Tổ quốc của một nhà khoa học lớn, “Một Đại Trí Thức” như cách gọi của Bác Hồ, Nhà Khoa học Anh hùng Trần Đại Nghĩa, tiêu biểu của Giới Trí thức Cách mạng Việt Nam.

Thành Đức        
« Sửa lần cuối: 20 Tháng Chín, 2017, 04:30:08 AM gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 13210


« Trả lời #4 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2017, 09:50:19 PM »


§1

TIẾNG SÉT BADÔCA MỪNG XUÂN ĐINH HỢI 1947

        Cách Mạng Tháng Tám thắng lợi vẻ vang. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhưng thực dân Pháp chưa từ bỏ mưu đồ xâm lược nước ta, chỉ ba tuần sau, chúng đã gây chiến ở Nam Bộ. Và ngày 23 tháng 9 năm 1945, nhân dân Nam Bộ đã vùng lên, mở đầu cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta. Ngày 19 tháng 12 năm 1946, hưởng ứng lời kêu gọi của Bác Hồ, nhân dân cả nước đã đồng tâm, nhất trí đứng lên tiến hành cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược.

        Quân và dân thủ đô Hà Nội, với tinh thần dũng cảm “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” đã cầm chân giặc Pháp ở nội thành được hơn sáu mươi ngày đêm để toàn quân, toàn dân ta có thêm thời gian chuẩn bị cho cuộc trường kỳ kháng chiến.

        Nhận được tin mật, địch sẽ đánh vào vùng chùa Thầy, Quốc Oai, Sơn Tây (nay thuộc Hà Nội), nơi Chính phủ Kháng chiến của Cụ Hồ đang trên đường rút về an toàn khu, chiều tối ngày 2 tháng 3 năm 1947, đồng chí Phan Mỹ, Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng đến gặp Cục trường Cục Quân giới Trần Đại Nghĩa, lúc này đang ở Ứng Hòa, để yêu cầu cung cấp súng đạn chống xe tăng, xe bọc thép, nhằm chặn đánh quân địch.

        Đêm hôm ấy, Cục trưởng Trần Đại Nghĩa cùng các học viên lớp học vũ khí đầu tiên ở ứng Hòa đã thức suốt đêm để lắp ráp được mười quả đạn badôca và ba khẩu súng. Cục trưởng Trần Đại Nghĩa trực tiếp cùng các học viên lắp ráp và kiểm tra chi tiết từng quả đạn một cách thận trọng, và cử ông Nguyễn Phước Hoàng, một chuyên gia chế tạo vũ khí áp tải súng đạn cùng ông Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng chuyển về cho các chiến sĩ của Trung đoàn Thủ đô, do tướng Vương Thừa Vũ chỉ huy, đang mở trận địa phục kích, chặn đánh địch tại vùng núi đá chùa Trầm, Chương Mỹ, nằm giữa Hà Đông và Quốc Oai.

        Bố trí xong trận địa, các vị trí hỏa lực đã sẵn sàng, các chiến sỹ Trung đoàn Thủ đô chờ xe tăng địch tới. Khoảng mười giờ sáng, sau khi cho máy bay bắn phá ác liệt vùng lân cận, đoàn xe tăng, xe thiết giáp của giặc Pháp hùng hổ, kiêu ngạo, ầm ầm tiến về phía chùa Trầm.

        Chiếc đi đầu vừa xuất hiện qua chỗ ngoặt, trúng tầm ngắm của bộ đội ta, một tiếng nổ rung trời, chiếc xe bốc cháy nghiêng bên lề đường. Chiếc xe thứ hai xông lên, lại một tiếng nổ kinh hoàng với một chùm lửa rực sáng, xe bốc cháy, đạn trong xe nổ dữ dội. Thấy đồng bọn chết cháy trong xe, cả đoàn xe tăng, xe bọc thép của giặc Pháp hoảng hốt bắn như đổ đạn, rồi phải quay đầu rút chạy về Hà Đông. Cuộc tấn công Chương Mỹ - Quốc Oai của giặc Pháp hoàn toàn thất bại. Nhờ có súng đạn badôca, các chiến sỹ Trung đoàn Thủ đô, do tướng Vương Thừa Vũ chỉ huy, đã hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ an toàn cho đoàn Chính phủ Kháng chiến đang rút về an toàn khu.

        Đó là chiến công đầu tiên của badôca Việt Nam, là tiếng sét badôca của chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam mừng xuân Đinh Hợi 1947.

        Lần đầu tiên xe tăng của quân đội thực dân nhà nghề chịu ngã gục trước badôca tự chế tạo của chiến sỹ Quân giới Việt Nam. Badôca là loại vũ khí chống xe tăng, xe bọc thép mà cho đến ngày ấy chỉ quân đội Mỹ mới có, và lần đầu tiên được sử dụng vào mùa xuân 1944, khi quân Đồng Minh tấn công quân Đức ở Nóoc-Măng-Đi (Pháp). Thế mà chỉ ba năm sau, mùa xuân năm 1947, Quân giới Việt Nam đã chế tạo thành công và góp phần chiến thắng.

        Bọn gián điệp được tung ra dò xét, và được biết loại vũ khí đó do ông “Bác học”, Cục trưởng Cục Quân giới Việt Minh chế tạo. Một loại đạn xuyên thủng được 75 cm tường gạch cổ, làm cho xe tăng giặc Pháp mất hẳn cái thói ngổ ngáo, khinh thị.

        Ông “Bác học” Việt Minh ấy là ai, chỉ biết tên ông là Trần Đại nghĩa, là Cục trưởng Cục Quân giới, còn gia đình, quê quán ông ở đâu, là con nhà ai, học tập, đào tạo từ trường lớp nào, ở đâu mà giỏi như vậy. Tất cả điều đó ngày ấy hoàn toàn nằm trong bí mật.

        Ba mươi năm sau, khi đất nước đã hòa bình thống nhất, chúng ta mới biết rõ về ông, một nhà khoa học được phong tặng Danh hiệu Anh hùng Lao động trong số bảy Anh hùng đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Đại hội Anh hùng, Chiến sỹ thi đua toàn quốc lần thứ nhất ở Việt Bắc năm 1952, và ông được bầu là Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô năm 1966.

        Ông là một trí thức Việt kiều gốc Vĩnh Long - Nam Bộ, được Bác Hồ lựa chọn đưa về nước cuối năm 1946 để phụng sự Tổ quốc. Và badôca là kết quả đầu tiên ông cống hiến vào chiến công xuất sắc của quân đội ta, sau khi mới từ Pa-ri trở về nước được hơn năm tháng.

        Ồng chính là cậu học sinh Phạm Quang Lễ, quê Vĩnh Long, học giỏi nổi tiếng đầu những năm ba mươi của thế kỷ hai mươi ở trường trung học đệ nhị Petrus Ký Sài Gòn. Và từ 5/12/1946 được Bác Hồ đặt tên là Trần Đại Nghĩa, đồng thời giao trọng trách là Cục trưởng đầu tiên của ngành Quân giới Việt Nam, nay là ngành Công nghiệp Quốc phòng.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 13210


« Trả lời #5 vào lúc: 20 Tháng Chín, 2017, 04:50:44 AM »

     
§2

QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH VÀ TUỔI THƠ PHẠM QUANG LỄ

        Từ thành phố Hồ Chí Minh đi về miền Tây Nam Bộ qua Long An, Mỹ Tho - Tiền Giang, vượt cầu Mỹ Thuận trên sông Tiền, bạn sẽ đến tỉnh Vĩnh Long, một tỉnh trung tâm của đồng bằng sông Cửu Long. Đây là vùng đồng bằng thẳng cánh cò bay, không núi đồi, không giáp biển, một màu xanh bao la từ sông Tiền ở phía bẳc đến sông Hậu ở phía nam, tiếp giáp các tỉnh Đồng Tháp, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Hậu Giang và thành phố cần Thơ.

        Vĩnh Long là miền quê địa linh nhân kiệt nổi tiếng, đã sinh ra những anh hùng, những chiến sĩ cách mạng xuất sắc, tiêu biểu là Cố Thủ tướng Phạm Hùng, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt.

        Ngày 13 tháng 9 năm 1913, trên bờ sông Măng Thít, xã Chánh Hiệp (nay là xã Hòa Hiệp), huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long, cậu bé Phạm Quang Lễ, một tài năng khoa học xuất chúng trong tương lai đã cất tiếng chào đời trong một gia đình nhà giáo nghèo. Anh sinh ra cùng thời với Phạm Hùng, là bạn đồng hương, cùng trường lớp trong những năm hai mươi, của thế kỷ hai mươi khi phong trào đấu tranh của nhân dân ta chống ách thống trị của thực dân Pháp đang phát triển mạnh mẽ. Đôi bạn học sinh đồng hương Vĩnh Long ngay trên ghế nhà trường đã nặng tình yêu nước, căm thù giặc ngoại xâm sâu sắc và đã chọn hai con đường đi khác nhau để bước vào đời, nhưng cùng chí hướng là phụng sự Tổ quốc, đánh đuổi thực dân Pháp, giải phóng quê hương, đất nước.

        Phạm Quang Lễ là con thứ hai của ông giáo Phạm Văn Mùi (1881 - 1920) và bà Lý Thị Diệu (1881 - 1941). Chị gái Phạm Thị Nhẫn (1911 - 1937) hơn em trai Lễ hai tuổi.


Cụ ông Phạm Văn Mùi và Cụ bà Lý Thị Diệu song thân của Viện sĩ Trần Đại Nghĩa

        Phạm Quang Lễ sinh ra ở quê ngoại, quê nội của anh ở Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương. Ông giáo Phạm Văn Mùi là một nhà nho uyên thâm, hiểu biết rộng “Trên biết thiên văn, dưới tường địa lý, giữa biết lòng người”. Thời thế thay đổi nên từ những năm đầu của thế kỷ hai mươi, ông đã chuyển qua học tiếng Pháp và đỗ thành chung (tương đương lớp 9 ngày nay nhưng trình độ cao hơn nhiều). Sau đó, ông chuyển về dạy học ở trường tiểu học Vĩnh Long. Là một thầy giáo giỏi, đầy tâm huyết, ông được cử dạy lớp nhất (tương đương lớp 5 ngày nay). Đây là lớp cuối-cấp, học sinh tốt nghiệp sẽ được thi vào trung học. Ông là một thầy giáo tận tụy với công việc, thương yêu học sinh, mong muốn đem kiến thức đến cho con em nhà nghèo để mở mang trí tuệ. Vì vậy, ngoài việc dạy ở trường, một số buổi tối ông còn kèm cặp, hướng dẫn cho học sinh kém mà không lấy tiền. Đồng nghiệp và bà con làng xóm rất quý mến và kính trọng ông giáo Mùi.

        Ở Vĩnh Long một thời gian, ông kết duyên cùng bà Lý Thị Diệu, quê ở Chánh Hiệp, Tam Bình. Ngày ấy, bà là một thiếu nữ thôn quê xinh đẹp, hiền lành, nết na, tôn sùng Đạo Phật, luôn làm những việc phúc đức. Bà là một người vợ đảm đang, chăm lo việc nhà để chồng toàn tâm vào việc dạy học, và là người mẹ hiền nhưng rất nghiêm khắc với con trong việc học hành, đạo đức tư cách, cư xử hàng ngày. Bà đã trọn đời chịu đựng mọi vất vả, hy sinh vì chồng, vì con.

        Gia đình ông giáo Phạm Văn Mùi là một gia đình mang đậm nét của truyền thống gia đình Việt Nam, là chiếc nôi nuôi dưỡng phẩm chất nhân cách, ý chí và tài năng của Phạm Quang Lễ.

        Tuổi thơ của Phạm Quang Lễ cũng ham chơi, đua đòi theo bạn bè trèo cây, hái quả, bắt cá, bẫy chim, đánh bi, đánh đáo, nhưng cũng đã có những lúc trầm ngâm, suy tưởng. Có lần ông giáo Mùi thấy Lễ ngồi yên hàng giờ nhìn trời, nhìn cây đăm chiêu quan sát. Ông giáo nhận thấy cậu con trai có những nét suy xét tĩnh lặng sau những giờ phút nô đùa, đặc biệt là sau trận đòn của má vì trốn học đi chơi. Sớm nhận ra điều đó, ông giáo Mùi không bao giờ gay gắt với con, ngay cả khi Lễ mắc lỗi lầm. Ông ôn tồn giảng giải, gợi ý để con suy nghĩ. Ông cũng bàn với vợ cách dạy con, để khơi dậy trong con tính tự giác, lòng tự trọng và niềm dam mê để chăm lo việc học hành. Những giờ phút cha con bên nhau tâm sự, ông giáo Mùi trở thành một người thầy, người bạn thân thiết gieo vào lòng con một niềm tin để tự sửa khuyết điểm, để quyết tâm vươn lên. Ông thực sự đã có ảnh hưởng lớn đến ý chí vươn lên sau này của cậu bé Phạm Quang Lễ.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 13210


« Trả lời #6 vào lúc: 20 Tháng Chín, 2017, 04:53:45 AM »


        Thật không may, từ đầu năm 1920 ông giáo Phạm Văn Mùi lâm bệnh nặng, nằm liệt giường mấy tháng. Biết không qua khỏi, trước khi đi xa, ông dặn vợ con: “Quanh ta bao nhiêu người nghèo khổ, lớn lên các con có thể làm nghề dạy học như ba, cũng có thể làm nghề khác. Nhưng chỉ làm để nuôi bản thân thì chưa đủ, nhất là Lễ phải trở thành trụ cột của gia đình. Có má chăm lo dạy bảo, Lễ phải học hành đến nơi đến chốn và phải biết mang hiểu biết của mình giúp ích cho đời

        Sau khi ông giáo qua đời, nguồn thu nhập chính từ lương của ông giáo không còn, kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn, nợ nần chồng chất. Nhưng thật may mắn, có thầy Ba, thầy Năm và bạn bè của ông giáo Mùi ở trường tiểu học Vĩnh Long tìm cách quyên góp, hỗ trợ đã giúp cho mẹ con bà giáo thoát khỏi cảnh nợ nần túng thiếu. Bà xúc động nói với các con: “Đó là nhờ đức hạnh của ba các con, ba đã làm nhiều việc phúc đức, tốt lành cho cả má con mình”.

        Bà giáo nhận thấy sức mình không thể cùng một lúc lo cho cả hai con ăn học, nhưng dù thế nào thì mẹ và chị cũng phải lo cho Lễ được học hành đến nơi đến chốn, đúng theo ý nguyện của ông giáo. Bà giáo vốn là một phụ nữ thôn quê, không quen việc buôn bán ở thị xã, bà quyết định về quê ở Chánh Hiệp, Tam Bình làm ruộng, làm vườn, chăn nuôi gia súc để lo cho Lễ ăn học. Chị Nhẫn vốn rất thương em và thấu hiểu tình cảnh gia đình nên vui lòng chịu thiệt, đã bỏ học để cùng về quê giúp mẹ, nuôi em.

        Bà giáo muốn con trai tiếp tục học tập ở Vĩnh Long vì đã quen trường, quen thầy, quen bạn, lại được ông giáo Năm - một người bạn thân của ông giáo Mùi giúp đỡ, chỉ bảo và cho ở trọ, hàng ngày cùng đến trường với con ông. Đau xót trước cảnh gia đình tan tác sau khi ông giáo qua đời, bây giờ lại phải xa cậu con trai yêu quý, bà buồn rầu lắm, nhưng đành phải chịu đau để tạo điều kiện thuận lợi cho con trai “học hành đến nơi đến chốn” như mong muốn của người quá cố. Dầu sao bà còn có con gái bên cạnh lúc tối lửa, tắt đèn, chỉ thương con trai một thân một mình đơn độc. Con gái bà lại hiếu thảo, thương má, thương em, nguyện cùng má thực hiện mong ước của ba trước khi đi xa.

        Vậy là hơn bảy tuổi, Phạm Quang Lễ đã phải tự lập, tự lo cho bản thân trong mọi việc để học tập, thực hiện đúng nội quy của nhà trường. Lễ là một học sinh giỏi, chăm ngoan, đã trầm tính thì nay càng ừở nên đăm chiêu ít nói. Thời gian đầu xa má, xa chị đối với Lễ thật là một sự chịu đựng khó khăn, vượt quá sức của một đứa bé mới hơn bảy tuổi đời, lại nặng tình thương má, thương chị. Tháng đầu, Lễ học hành sa sút vì tâm trí không yên, luôn nhớ má, nhớ chị. Mặc dầu được ông giáo Năm và các thầy cô quan tâm, động viên, nhưng có lần Lễ đã bí mật trốn khỏi nhà thầy Năm, chân không dép, áo ngắn, quần cộc, đầu trần đi bộ miết trên con đường hom hai mươi cây sổ dưới trời nắng gắt từ Vĩnh Long về Chánh Hiệp, Tam Bình, háo hức được gặp má, gặp chị.

        Thấy con đột ngột trở về, má và chị òa lên khóc. Bà ôm lấy con bằng đôi tay gầy sạm nắng, vừa thương con vừa lo lắng. Chẳng lẽ bao nhiêu vất vả của bà vì con trai, nay hóa ra hoài công sao? Lễ mừng mừng tủi tủi khi được gặp lại má và chị, và thật sửng sốt khi thấy người má, người chị thân thương đã trở nên gầy guộc, đen sạm. Công việc đồng áng vất vả đã làm thay đổi hình bóng năm xưa của má và chị, khi cả nhà sống hạnh phúc ở Vĩnh Long. Tất cả mọi sự vất vả đó đều vì Lễ, vậy mà cậu lại trốn học bỏ về, không làm tròn bổn phận. Lễ vừa hối hận, vừa xấu hổ và cùng òa khóc theo. Một lát sau, Lễ lau nước mắt và phân trần: “Má ơi, con nhớ má, nhớ chị quá, con chỉ định trốn về gặp má, gặp chị một ngày thôi rồi mai con sẽ trở lại trường”. Bà giáo thở phào nhẹ nhõm, lấy khăn lau nước mắt cho con.

        Đêm hôm đó, bà giáo thao thức, biết bao điều bà muốn nói với con. Như ngày nào, bà vuốt tóc con, thủ thỉ khuyên nhủ con đủ điều, lắng sâu tình mẫu tử, như truyền thêm ý chí và nghị lực cho cậu con trai tràn đầy hy vọng của gia đình. Lễ ghi sâu vào lòng từng lời dặn dò cùa người mẹ muôn vàn thân thương, và ngủ thiếp đi cho cho tới khi bình minh đã rực sáng trên dòng sông Măng Thít. Cơm sáng xong, tạm biệt má và chị, Lễ vội vàng lên đường trở lại nhà ông giáo Năm để tiếp tục đến trường.

        Trở lại trường lớp, được thầy cô và các bạn thương cảm, an ủi, dần dần đi vào nề nếp, hòa vào lớp học, Lễ đã lấy lại tinh thần học tập, thông minh, nhanh trí, cuối năm đạt được học sinh giỏi.

        Những năm ở trường tiểu học Vĩnh Long cũng trôi qua nhanh. Vài tháng má và chị lại lên thăm, nhưng vui nhất vẫn là những tháng hè, được về với má và chị ở Chánh Hiệp Tam Bình, được bơi lội cùng bầu bạn trên dòng sông Măng Thít như những ngày xưa.

        Dù là nghỉ hè nhưng Lễ vẫn nhớ lời mẹ dặn, lo ôn tập bài vở và học thêm tiếng Pháp để chuẩn bị cho lớp trên. Đó là cách cậu học sinh Phạm Quang Lễ ghi nhớ sâu sắc hệ thống kiến thức (đặc biệt môn toán), để lên lớp trên càng thêm vững vàng. Vì vậy, mùa hè năm 1926 Phạm Quang Lễ thi tốt nghiệp đạt loại giỏi trường tiểu học Vĩnh Long và thi đậu điểm cao vào trường trung học đệ nhất ở Mỹ Tho (tương đương phổ thông cơ sở bây giờ).
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 13210


« Trả lời #7 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2017, 12:43:26 AM »


§3

TỪ MỸ THO ĐẾN SÀI GÒN HUN ĐÚC HOÀI BÃO LỚN

        Năm 1926, Lễ bước qua tuổi mười ba. Trải qua bao nhiêu khó khăn vất vả của gia đình sau ngày ông giáo Mùi qua đời, bằng tình thương má, thương chị, khắc ghi lời căn dặn của ba “phải học hành đến nơi đến chốn”, với ý thức vươn lên và trí thông minh vốn có, Phạm Quang Lễ đã vượt qua một quãng đời học sinh tiểu học tự lập nhưng đạt kết quả học giỏi tất cả các môn, đặc biệt là môn toán, thi tốt nghiệp loại giỏi. Và vì vậy mà Lễ đã thi đỗ điểm cao vào trường trung học đệ nhất ở Mỹ Tho. Trong bốn năm học ở đây (từ năm 1926 đến năm 1930) Phạm Quang Lễ nhận được học bổng của nhà trường, được xếp vào ờ nội trú trong trường. Nhà trường lo việc ăn ở cho tất cả học sinh nội trú, và cho mượn đầy đủ các loại sách giáo khoa.

        Phạm Quang Lễ rất sung sướng vì từ nay không còn là gánh nặng của má và của chị như trước nữa. Bà giáo vui mừng nhìn con từng bước trưởng thành và cảm thấy nhẹ vơi gánh nặng, tuy rằng vẫn còn nhiều nỗi lo, bởi từ nay con ở xa hơn, không được gặp con thường xuyên như hồi ở Vĩnh Long để bảo ban, nhắc nhở. Hàng tháng bà vẫn gửi cho Lễ vài ba đồng để tiêu vặt, nhưng Lễ ít khi dùng đến, mà tích góp dành dụm để mua vải may áo cho má, cho chị, làm quà nhân dịp nghỉ tết.

        Bốn năm ở trường trung học Mỹ Tho, vẫn với bản tính trầm ngâm, ngoài giờ lên lớp, thích ở trong phòng đọc sách, ôn tập các bài học và đặc biệt rất thích nghiền ngẫm để tìm ra các phương pháp giải bài toán khó, Phạm Quang Lễ đã học giỏi các môn tự nhiên, đặc biệt là môn toán, luôn đứng nhất lớp, được thầy yêu quý, bạn bè mến phục.

        Năm 1930 vừa tròn mười bảy tuổi, Phạm Quang Lễ thi đỗ vào trường trung học đệ nhị cấp Petrus Ký Sài Gòn (tương đương với trung học phổ thông ngày nay). Đây là trường trung học nổi tiếng nhất ở Sài Gòn ngày ấy, bởi điều kiện học tập và ăn ở khá tốt, thầy giáo có trình độ cao và nhiều học sinh ra trường lập nghiệp đã thành danh, nổi tiếng. Ngày nay, ở đây là trường trung học phổ thông Lê Hồng Phong của Thành phố Hồ Chí Minh.

        Cùng học với Phạm Quang Lễ thời gian này ở trường trung học Petrus Ký Sài Gòn có Phạm Hùng, Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Tấn Gi Trọng, Đặng Văn Chung. Những người bạn của Lễ sau này ra trường đã trở thành những nhà hoạt động chính trị, xã hội, khoa học kỹ thuật nổi tiếng. Ông Huỳnh Tấn Phát là một kiến trúc sư xuất sắc, sau đó trở thành Chủ tịch Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam. Ông Nguyễn Tấn Gi Trọng, ông Đặng Văn Chung là những bác sỹ, giáo sư có cống hiến lớn, nổi tiếng trong ngành y học nước nhà. Người bạn đồng hương, đồng học với Phạm Quang Lễ từ trường trung học Mỹ Tho, rồi cùng vào trường Petrus Ký là ông Phạm Hùng đã tham gia hoạt động cách mạng bí mật khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Bác sĩ, Giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng kể lại rằng: “Đang trong giờ học, anh Phạm Hùng bị mật thám đến bắt. Lúc đó, mọi người mới biết anh có chân trong lãnh đạo tỉnh ủy”, về sau ông Phạm Hùng là ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng Sản Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam những năm tám mươi.

        Năm 2004, Hãng phim truyền hình Thành phổ Hồ Chí Minh (TFS) thực hiện bộ phim “Trọn Đời Vì Đại Nghĩa” nói về cuộc đời và sự nghiệp của nhà khoa học Anh hùng Trần Đại Nghĩa, tác giả cuốn sách được mời làm cố vấn khoa học cho đạo diễn, nên đã được nghe trực tiếp Giáo sư, Bác sĩ Nguyễn Tấn Gi Trọng kể về thời gian giáo sư cùng học với Phạm Quang Lễ (Trần Đại Nghĩa) ở trường Petrus Ký. Giáo sư nói rằng: "Ớ trong lớp không ai nghèo như Lễ, có thể nói là nghèo nhất trường, nhưng cũng không ai học giỏi như Lễ, đặc biệt là môn toán. Có lần thầy giáo đang giải một bài toán khó thì bí. Thầy gọi Lễ lên bảng giải tiếp. Lễ lên bảng cứ lặng lẽ viết các cách giải khác nhau mà cậu ta đã say sưa tìm tòi trước đó. Thầy giáo người Pháp vừa ngạc nhiên, vừa cảm phục, và nói rằng cậu học sinh này rồi sẽ tiến xa. Và ngày ấy, Phạm Quang Lễ đã trở nên nổi tiếng khắp vùng”.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 13210


« Trả lời #8 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2017, 01:26:30 AM »


        Cũng như người bạn đồng hương cùng một lớp, một trường là Phạm Hùng đã nung nấu tinh thần yêu nước ngay trên ghế nhà trường, đã bí mật tham gia hoạt động cách mạng, Phạm Quang Lễ với bản tính trầm ngâm, hay quan sát, nên từ năm lên mười tuổi đã chú ý đến những hiện tượng xẩy ra khác thường ở thị xã Vĩnh Long. Trong hồi ký của mình, giáo sư Trần Đại Nghĩa có kể rằng: “Năm 1923, tôi mười tuổi, hàng ngày đi học qua cầu sắt cao ở Vĩnh Long, hai lần tôi thấy hai người đàn ông ngồi giữa cầu khóc nức nở, rồi đột ngột nhảy xuông sông tự tử. Hỏi đồng bào xung quanh tôi mới biết là do chế độ tàn ác của thực dân Pháp, một số đồng bào ta lâm cảnh cùng đường, chỉ còn cách tự tử. Tôi hỏi tại sao không đánh đuổi bọn ngoại xâm ra khỏi đất nước, đồng bào nói rằng hàng trăm chiến sĩ cách mạng đang chuẩn bị chuyện đó. Đến năm 1926, khi tôi vào học ở trường trung học Mỹ Tho tôi mới hiểu tình hình... ”

        Năm 1982, khi kể chuyện về công tác quân giới trong thời kì kháng chiến cho thiếu tá Đào Đức Tú, cộng tác viên Phòng Lịch sử, Ban Khoa học Hậu cần, Giáo sư Trần Đại Nghĩa kể rằng: “Năm 1926, học ở Mỹ Tho, được tin cụ Phan Chu Trinh mất, lòng yêu nước của tôi được nâng lên hơn nữa. Lớn lên, học ở trường Petrus Ký Sài Gòn, được tin thực dân Pháp đàn áp dã man phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, lại càng khắc sâu lòng căm thù giặc Pháp trong tôi... Nhìn vào lịch sử từ khi nước ta bị thực dân Pháp đô hộ, biết bao nhiêu cuộc đấu tranh đã nổ ra, mặc dầu nhân dân ta chiến đấu anh dũng, ta có tướng tài, nhưng vũ khí quá thô sơ, nên bị dìm trong biển máu. Do đó, tôi nhận thấy rằng là muốn phục vụ đất nước thì phải biết chế tạo vũ khí đi đôi với con người có tài thao lược. Năm học cuối cấp ở trường Mỹ Tho, tôi bước sang tuổi mười bảy, cảm thấy mình cỏ năng khiếu về môn toán và các môn khoa học tự nhiên. Từ đó, tôi nung nấu ý chỉ theo hướng này, học cho tốt đế có đủ năng lực tham gia chế tạo vũ khí cho các cuộc nổi dậy chổng thực dân Pháp. Đó là hoài bão của tôi”.

        Đọc những dòng hồi ký này, chúng ta càng hiểu rõ vì sao Phạm Quang Lễ say sưa giải các bài toán khó, như lời kể của Giáo sư, Bác sỹ Nguyễn Tấn Gi Trọng.

        Có một niềm tự tin vào khả năng và vốn kiến thức của mình, những tháng cuối của niên khóa 1932 - 1933, anh quyết định vừa chuẩn bị thi lấy bằng tủ tài bản xứ, vừa ghi danh để thi lấy bằng tú tài tây, các môn thi tú tài tây có yêu cầu cao hơn, khó hơn.

        Cuối cùng Phạm Quang Lễ đã thực hiện xuất sắc cả hai kỳ thi, đỗ thủ khoa cả tú tài bản xứ lẫn tú tài tây. Đặc biệt môn toán, có cả phần thi viết và thi vấn đáp, ông chủ khảo người Pháp và tất cả ban giám khảo đều nhất trí cho điểm cao nhất.

        Phạm Quang Lễ đã chứng minh được năng lực và trí thông minh của mình. Anh đã trở thành cậu tú tài nổi tiếng khắp vùng, nhưng với bản chất khiêm tổn và trầm tính, không phô trương, và đặc biệt luôn giữ kín hoài bão của bản thân đã được nung nấu ba năm dưới mái trường trung học đệ nhị Petrus Ký Sài Gòn.

        Trong những năm chống Mỹ cứu nước, mỗi lần tháp tùng giáo sư Trần Đại Nghĩa đến làm việc với các nhà nghiên cứu vũ khí của quân đội ta, tôi luôn được nghe ông ca ngợi anh hùng Cao Thắng, người có quyết tâm tháo
súng đạn của giặc Pháp để nghiên cứu và chế tạo. Đó là cách làm hữu hiệu của nghĩa quân Phan Đình Phùng. Như vậy, anh hùng Cao Thắng là một thần tượng chế tạo vũ khí của Phạm Quang Lễ trong những năm học ở trường Petrus Ký.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 13210


« Trả lời #9 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2017, 01:28:19 AM »

       
§4

LÀM VIỆC Ở MỸ THO CHỜ CƠ HỘI DU HỌC

        Ước nguyện tham gia vào cuộc đấu tranh chống thực dân xâm lược, giành độc lập cho Tổ quốc bằng con đường khoa học kỹ thuật, cụ thể là hoài bão nghiên cứu về vũ khí, đã nung nấu từ năm mười bảy tuổi, nay trở thành ý chí và quyết tâm thầm kín sâu lắng trong lòng Phạm Quang Lễ. Nếu mục đích vào đời công tác chỉ để làm giàu, để hưởng vinh hoa phú quý, thì với một chàng trai tài hoa thông minh, vừa đậu thủ khoa hai bằng tú tài khá nổi tiếng, là một việc không còn quá xa vời lúc bấy giờ đối với Phạm Quang Lễ. Với khả năng xuất sắc hiếm thấy ấy, anh rất dễ học tiếp lên đại học ở Hà Nội, ở đó có trường Y khoa, Văn khoa, trường Luật,... Học xong, sẽ ra làm công chức, có chỗ đứng xứng đáng trong xã hội, có lương cao, bổng lộc lớn, chắc chắn bản thân cũng như má và chị sẽ có cuộc sống sung sướng. Nhưng Lễ không chọn con đường đó, bởi vì anh đã tự khẳng định con đường đi của mình. Anh tâm sự rằng, anh biết chắc chắn người Pháp không mang tài liệu về vũ khí qua Việt Nam, muốn nghiên cứu vũ khí phải tìm cách qua Pháp du học để có thể tiếp cận với tài liệu.

        Trong khi chờ đợi thời cơ đi du học, anh đã nộp đơn xin đi làm. Bà giáo và chị Nhẫn lúc đầu rất ngỡ ngàng

        trước lời thỉnh cầu xin đi làm của một cậu tú xuất sắc, thừa khả năng học tiếp lên đại học, nhưng thấu hiểu được ý định lâu dài của Lễ, mẹ và chị đã đồng ý. Anh lại tiếp tục công việc đồng áng cùng mẹ và chị, và chờ giấy gọi đi làm.

        Mấy tháng sau, Tòa sứ Mỹ Tho gửi thư báo cho Lễ đến giúp việc cho người thư ký kế toán trong Tòa sứ này, với mức lương ba mươi đồng Đông Dương một tháng. Với mức lương như vậy là tạm đủ cho ba mẹ con. Bà giáo đồng ý với đề xuất của Lễ, cả nhà chuyển lên Mỹ Tho, ở gần nơi Lễ làm việc. Trả lại ruộng đất cho chủ, nhờ cậu em ruột trông coi giúp căn nhà lá, bà giáo bán đi một số dụng cụ, đồ dùng để có thêm tiền, chỉ mang theo những thứ cần thiết cho sinh hoạt hàng ngày như bàn ghế, giường nằm, tủ sách, tất cả cho xuống thuyền theo dòng sông Măng Thít chở về Mỹ Tho.

        Ba mẹ con thuê một căn nhà nhỏ, giá rẻ, ở không xa Tòa sứ Mỹ Tho, hàng ngày Lễ chỉ đi bộ mươi phút là đến công sở. Ngày đi làm, đêm về mẹ con đoàn tụ đầm ấm, vui vẻ. Kẻ từ ngày ông giáo Mùi qua đời, đây là thời gian sung sướng, hạnh phúc nhất của cả gia đình, của bà giáo, của chị Nhẫn, và đặc biệt là đối với Lễ, vì anh biết rằng rồi đây sẽ phải xa má, xa chị một thời gian dài để thực hiện ý nguyện của mình.

        Chị hai Nhẫn là người giàu tình cảm, thương mẹ, thương em nên mọi việc trong nhà dường như một mình chị thu xếp, lo toan để cho mẹ được nghỉ ngơi sau những năm đồng áng mệt nhọc, vất vả. Năm ấy, chị đã gần hai lăm, tự cho mình là đã quá thì, không thiết tha tới việc chồng con. Là người con gái có nhiều kinh nghiệm nội trợ, tằn tiện trong chi tiêu, vẫn chăm lo đầy đủ bữa ăn hàng ngày để bảo đảm sức khỏe cho gia đình, chị hai còn tiết kiệm được một số tiền, muốn mua cho em trai chiếc xe đạp để đi làm việc. Lúc đầu Lễ không muốn mua, vì từ nhà đến công sở có xa xôi gì đâu mà phải đi xe. Nhưng chị hai và má nài ép, anh phải nghe lời.

        Thực ra có xe đạp để đi làm cũng thuận tiện, và thỉnh thoảng đưa chị, đưa mẹ đi đây đó, cũng là một niềm vui của chàng trai Phạm Quang Lễ đã bước qua tuổi hai mươi. Năm ấy bà giáo đã bước sang tuổi bốn lăm, sức khỏe không được như xưa, và tâm lý mong có cháu nội cho vui tuổi già đã bắt đầu nhen nhóm. Đã mấy lần bà giáo ngỏ ý với con trai, muốn con lấy vợ để có cháu bế bồng, có con dâu đỡ đần việc nhà, bà cũng muốn tạo điều kiện cho con gái có chồng con, nhưng lần nào Lễ cũng lặng thinh lắng nghe, tìm cách đánh trống lảng.

        Lễ thấu hiểu tấm lòng và mong muốn của má, đời má đã trải qua bao nỗi buồn, vất vả vì chồng con, nay muốn sống gần con, có cháu, có con dâu là ước nguyện chính đáng, thường tình. Lẽ thường con trai hiếu thảo phải biết vâng lời, nhưng Lễ đã âm thầm nuôi hoài bão lớn với khả năng vốn có của mình, muốn được góp phần nhỏ bé vào sự nghiệp đánh đổ bọn thực dân xâm lược, ngày đó vẫn đang cai trị, đàn áp, bóc lột đồng bào ta. Anh đã thưa thật với má về ý định sẽ đi xa du học, về hoài bão muốn tham gia vào việc giúp đồng bào đánh đổ thực dân. Bà giáo đã hiểu ý nguyện của con trai, và nhớ lại lời ông giáo căn dặn con trai: “Phải biết đem hiểu biết của mình giúp ích cho đời”, bà thấy không nên ép con. Từ đó bà không nói gì thêm về chuyện ấy nữa.

        Chị hai Nhẫn cũng từng được mấy năm học tập ở trường, tuy dở dang nhưng cũng khá hiểu biết về tình hình đất nước, chị biết đang có nhiều người yêu nước chung lòng, chung sức đứng lên dấu tranh chống bọn thực dân. Những năm cùng má vất vả trên ruộng đồng, tiếp xúc với nhiều người, chị thấy rõ những nỗi thống khổ của người dân nô lệ, nên khi nghe em trai nói rõ ý định của mình, chị hai rất vui vì có một người em vừa có tài năng vừa đầy dũng khí. Chị nói để khuyến khích em: “Nếu có dịp đi du học, cậu cứ đi, đừng lo ở nhà. Cậu vắng nhà thì đã có chị, chị sẽ ở với mẹ suốt đời”. Lễ biết đó là những lời chân thành của chị. Từ lâu chị không còn nghĩ đến chuyện chồng cort, lúc nào cũng lo cho tương lai của em và tận tình chăm sóc má.
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Chín, 2017, 03:57:21 AM gửi bởi Giangtvx » Logged

Trang: 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM