Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 19 Tháng Mười, 2017, 06:48:25 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bên dòng Păng Pơi  (Đọc 1083 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 552



« vào lúc: 13 Tháng Tám, 2017, 09:43:58 AM »

- Tên sách: bên dòng Păng Pơi

- Tác giả: Trần Hữu Tòng

- Năm xuất bản: 1972

- Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân

- Số hóa : bodoibienphong


Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #1 vào lúc: 13 Tháng Tám, 2017, 10:23:06 PM »

1

Đường càng ngược lên biên giới dốc núi càng cao. Những tảng đá lớn có lớp rêu dày màu xám xỉn, ẩm ướt phủ kín, xếp chênh vênh trên lớp rễ cây của cánh rừng già. Thọ cùng 2 đồng chí trong tổ cơ sở lách giữa các hẻm đá trèo lên đỉnh dốc.

Ở đây vừa mới sang xuân, gió lạnh còn rền rĩ trong lớp lá cây dầm sương giá. Và trên các nhóm lá đã úa vàng, mùa xuân cũng chưa vẩy vào những giọt xanh non nào. Mãi đến quá trưa, màn mây mỏng vá trên các sườn núi xanh lục mới tàn. Vài tia nắng xuyên qua lớp cây màu lửa chiếu xuống các ngọn cây cao. Nhưng bỗng nhiên, gió tây nổi lên. Trong chớp mắt gió lại cuốn từ các thung lũng lên một lớp sương mù trắng đục có những hạt nhỏ li ti kéo theo những đám mây thấp màu chì đến bao phủ bầu trời. Trong chốc lát, tầm mắt nhìn bị hẹp lại. Những cây cối mới vài phút trước còn nhìn rõ từng đường vân, cánh rêu in trên lớp vỏ, giờ đây đã xóa nhòa đi như xa hẳn ra. Rồi những hạt mưa lăn tăn rắc xuống. Đoạn dốc núi chỗ 3 chiến sĩ biên phòng đang leo bị phủ 1 lớp bùn non dẻo quánh, đỏ cạch in rõ những vết trượt của giày vải, in rõ những dấu khuỷu tay chống, những dấu đầu gối quỳ. Ở 1 hẻm đá khác, thành núi còn in vết ngón tay của người đi trước moi đất làm bậc cho người sau trèo lên. Dưới mấy cành cây gãy có sợi mây từ trên cao thòng xuống là vũng bùn đã bị xéo nát còn in rõ hình vuông vuông của chiếc bao đạn và lần vải ở 2 bả vai, ở mông, ở lưng...Trên 1 tảng đá lớn, bên vết máu tươi quyện với bùn đất là dăm con vắt no tròn như hạt gắm đen nằm trong những chiếc lá khô cuốn ngược.

Chiếc giày đã há mõm của Bộ bị dây rừng móc lại. Anh chới với rồi ngã khuỵu. Anh trượt dài và lăn nhào xuống gần đến chân dốc. Anh ngồi dậy, nhặt vội chiếc mũ đã gày vành chụp lên đầu, tóc từng vòng xoắn tít lấm đầy bùn. Anh nhăn nhó thoa bên mạng sườn và ngước mắt nhìn lên. Anh thấy Viên đã treo chiếc lồng vải nhốt 2 con chim bồ câu "Mũi tên" và "Tia chớp" lên 1 cành cây rồi chăm chú nhìn theo anh.

Viên nhấp nháy con mắt tinh nghịch rồi anh cười-nụ cười cũng hóm hỉnh, nghịch ngợm như đôi mắt có đuôi của anh:

-Con đã bảo bố đi đôi giày mới vào. Bố lại còn tiếc rẻ. Hay bố hãy hóa thành 1 con chim nữa để con xách đi cho tiện.

Bộ có lúc vì quá "tiết kiệm" mà trở nên luộm thuộm như thế. Đôi giày anh đi mõm thủng đến nỗi không cần phải cởi ra cũng cắt được móng chân mà anh vẫn chưa chịu quẳng đi.

Thỏ cởi chiếc balo, đặt trên mô đó rồi lẳng lặng tụt dốc. Anh nhặt chiếc balo của Bộ khoác lên lưng mình, sửa lại cho 2 cái quai nằm thật chắc gọn vào 2 u thịt 2 bên vai. Anh quàng cả bao gạo của Bộ lên trên balo. Sau đó Thọ không nói gì, tính anh thế. Làm việc với chiến sĩ, anh thường giành lấy những công việc nặng hơn, nhiều hơn. Lúc gặp gấp khúc thì anh chỉ nghĩ rằng:"Mình phải làm trước, làm những việc khó nhất để các cậu ấy làm theo là đủ rồi. Cần gì phải nhiều lời...". Thọ đặt bao gạo vào chiếc balo trên vai xuống. Đôi vai lệch của anh rung rung.

Chuyện Thọ có 2 cái u thịt to làm cho đôi vai anh bị lệch như thế, trước đây cả đơn vị không ai biết vì sao. Nhưng từ đêm kể khổ trong đợt chỉnh quân chính trị, nghe Thọ kể lại những chuyện cơ cực của đời mình thì cả đơn vị mới biết, và ai cũng thương mến Thọ hơn. Từ năm 10 tuổi, Thọ đã phải đi ở cho địa chủ. Mỗi buổi tối từ lúc chăn trâu về cho đến khi con gà trống tía gáy hết 3 canh 18 tiếng, chiếc đòn gánh đeo 2 thùng nước đầy vẫn còn đè nặng lên vai Thọ. Mỗi lần đặt gánh lên là vai anh vẹo đi, xương sườn, xương sống lệch sang 1 bên; cổ anh rụt lại, đầu chúi về phía trước, trông anh thảm bại như con cò bợ lủi trong ruộng lúa ngày mưa. Những ngày đầu, chiếc đòn gánh đè nặng quá nên bắp thịt non giập ra, sưng tấy lên, mỗi lần đặt chiếc đòn gánh lên vai là Thọ thấy đau nhói, chân tay bủn rủn. Nhưng rồi có bao giờ hổ rừng lại biết thương trâu nhà, có bao giờ địa chủ lại biết thương dân nghèo, nên vai cứ sưng, Thọ cứ phải gánh. Dần dần, chỗ sưng ấy cứ cứng lại, chai ra, lớp da ngoài sùi lên thành 2 cái u thịt, bấm không còn biết đau, 1 màu tím đen như 2 quả cà dái dê phủ lên đó. Cái u vai bên phải lại to gấp đôi cái u bên trái thành ra đôi vai anh bị lệch.

Lên đến đỉnh dốc, Thọ ngồi xuống bên mảng rêu xốp như tấm đệm bông. Anh tựa lưng vào 1 gốc cây dẻ lớn. Ở giữa thân cây, khóm vạn niên thanh quấn ngang như 1 cái tán. Phía mái núi bên kia, gió đuổi nhau ù ù trong thung lũng như có 1 chiếc oto nào đó thỉnh thoảng lại rú máy. Nhưng phía mái núi bên này lại rất im ắng, chỉ có tiếng những cành cây khô rơi đập vào các tảng đá lớn và tiếng bổ đều đều, nhẫn nại của 1 con chim gõ kiến. Thọ giơ bidon lên định uống nước nhưng thấy còn ít, Thọ đưa cho Bộ uống trước. Bộ lại chuyển sang nhường cho Viên. Viên cầm cái bidon lắc lắc nghe tiếng nước chỉ còn óc ách ở đáy nên anh cũng không chịu uống. Thọ nhìn 2 chiến sĩ mà hàng ngày anh đã từng chia ngọt sẻ bùi. Nét mặt rắn rỏi trầm lặng, dày dạn gió sương của anh bỗng hiện lên 1 ánh dịu dàng, cảm động khác thường. Đôi mắt trìu mến của anh như muốn nói với 2 chiến sĩ:"Các cậu cứ uống đi để lấy sức mà vượt dốc, trước mắt còn nhiều dốc lắm đấy...". Thọ đứng dậy, anh với tay hái 1 chiếc lá vạn niên thanh khoanh thành hình phễu rồi dốc nước trong bidon ra. Lúc bấy giờ mỗi người mới chịu uống 1 ngụm. Thọ ngoảnh sang nói với Bộ:

-Bộ thử làm "tham mưu" xem, lần này chúng ta đến, liệu dân bản còn bỏ chạy vào rừng như lần trước nữa không?-Thọ vừa nói vừa nhìn thẳng vào cặp mắt tròn của Bộ chờ đợi.

Bộ cười hóm hỉnh. Có lẽ anh chiến sĩ người dân tộc Tày này chỉ có nụ cười là còn giữ được nét trẻ trung, sôi nổi của lứa tuổi 22. Tính anh hiền như 1 con chim gáy mái. Những lúc rỗi rãi, anh thường thích thú làm những việc tẩn mẩn như ngồi cặm cụi viền chỉ đỏ xung quanh 1 cái khăn tay...

Bộ lấy 1 nhúm gạo trong bao để trong lòng bàn tay cho 2 con chim câu ăn rồi thong thả nói:

-Khi mà dân còn bị phỉ lừa phỉnh chưa hiểu được ta thì ta phải giống như con chim! Có làm tổ được trên sừng trâu, lúc đó dân mới thấy chúng ta là người của họ, mới nghe theo ta, không chạy vào rừng đấy!

Thọ mỉm cười. Anh thầm nghĩ:"Ừ, bao giờ Bộ cũng như thế: ít nói nhưng đã nói thì chắc , chậm hiểu nhưng đã hiểu thì nhớ dai."

-Còn ý của Viên thì thế nào?-Thọ nhìn về phía Viên.

-Cơ ngơi này rồi không khéo lại giẫm lên vết chân lần trước đây...

Thọ nhìn 2 chiến sĩ của mình, anh nói:

-Các cậu ạ, theo mình nghĩ: dù rừng phỉ chiếm nhưng còn bản, bản phỉ ở ta còn dân, mà còn dân thì còn bản, rừng sẽ còn cả.

Nói xong, Thọ chớp chớp đôi mắt chăm chú nhìn con đường xuống dốc chìm trong mây. Thọ vẫn có tính thích lắng nghe người khác nói nhiều hơn. Còn khi anh đã nói thì anh cân nhắc từng lời, từng ý. Cũng vì thế, lúc mới gặp anh, thấy anh cứ lẳng lặng hay nhìn làm Viên và Bộ hơi e dè. Và khi ấy mỗi người nghĩ về anh theo cách riêng của mình. Viên thấy khi bàn 1 công việc gì, không bao giờ Thọ để người khác biết ý mình trước, như vậy là để lỏng những cái khôn ngoan của người khác bổ sung cho cái khôn ngoan của mình. Viên nghĩ con người như thế là trầm tính, hay giữ kẽ. Bộ đã tẩm ngẩm tầm ngầm nay gặp 1 người trầm tính như thế thì hợp hơn. Nhưng theo anh thì Thọ không phải là người ít nói, mà chính là người hay nói. Nhưng có khác là anh chỉ nói bằng mắt. Mà người như thế là kín đáo, ít cởi mở.

Nhưng khi ở với Thọ lâu, thì Viên và Bộ lại thấy anh khác, khác hẳn với những ý nghĩ trước đây của mình. 2 người thấy Thọ hiền lắm. Anh không thuộc vào loại người nông nổi, vồ vập, bộc lộ tình cảm ở lời nói, ở nụ cười, ở những cử chỉ ban đầu, mà ở anh buổi gặp ban đầu như có 1 cái gì vừa khó hiểu vừa lạnh lùng. Nhưng càng gần càng thấy ở anh có nhiều cái đáng quý, đáng mến làm sao. Y như ở gần người con gái có duyên thầm vậy
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #2 vào lúc: 17 Tháng Tám, 2017, 01:22:45 AM »

...Cách đây gần nửa tháng, tổ cơ sở của Thọ đã vào bản Phú Bì này 1 lần. Nhưng họ vừa đến đầu bản thì dân bỏ chạy vào rừng hết. 1 ngày, 2 ngày...cả bản không có lấy 1 bóng người. Chỉ có những bầy chuột rừng lông màu xám, bóng nhẫy như chải sáp ong kéo đàn kéo lũ tìm mồi ở quanh các túp lều cỏ. Chúng thản nhiên bò khắp mọi xó xỉnh, không còn phải dỏng đôi tai mỏng chằng chịt những tia máu đỏ khé để nghe tiếng động nữa. 3 chiến sĩ dọn dẹp nhà cửa cho dân. Mấy ngày sau nữa vẫn không có một ai về bản. Tổ cơ sở của Thọ lại trở về đơn vị. Giờ đây nghe 2 chiến sĩ nói, Thọ-người tổ trưởng-không khỏi suy nghĩ.

Trận mưa đã qua, núi rừng lúc này đang sáng dần ra. Ánh mặt trời rót xuống những kẽ lá làm thành hình rẻ quạt lung linh màu sắc. Những tia rẻ quạt đó chiếu đến đâu, đám mù ở đấy bốc lên như có ngàn triệu hạt bụi nhỏ li ti bay quấn quýt lấy nhau.

3 chiến sĩ biên phòng bắt đầu tụt dốc. Đến chiều, họ tới dốc núi đầu bản. Đứng trên đỉnh dốc, Thọ, Viên, Bộ đưa mắt nhìn xung quanh. Buổi chiều, vùng rừng núi Leng Su Sìn rất tĩnh mịch. Bốn bề đều là những ngọn núi cao vút, đỉnh chóp phủ trắng mây sương. Thung lũng chìm đắm trong một màu xanh đục. Chỉ nghe tiếng suối chảy róc rách, tiếng gió lay rì rào trên ngọn cây và thỉnh thoảng điểm vài tiếng đá lăn đổi chỗ...

Xuống đến cây me đầu bản, cách đó không xa, 3 chiến sĩ biên phòng đã nhìn thấy dân bản đang tụ tập cúng ma bên 1 hòn đá lớn. Cái khăn đỏ trong tay lão thầy mo cứ múa may quay cuồng, đảo lên, lộn xuống. Đàn ông, già có, trẻ có, đứng tuổi có, người quàng da hổ, người quấn vỏ cây vây lấy lão thầy mo như bầy ong thợ vây quanh con ong chúa.

Theo phong tục, người U-ni* chọn 1 ngày "thìn" trong đầu tháng 3 hàng năm để cúng bản. Họ cúng ông sao trên trời, cúng con hổ, con dê, con khỉ trong rừng để chúng đừng ra phá nương rẫy, cúng con ma đầu suối, con ma, ngọn nguồn để về phù hộ, độ trì cho dân bản... Vào ngày đó, từ sáng sớm dân bản đã phải góp trâu, góp gà, góp lợn cho nhà thống quán. Tất cả đàn ông trong bản ra đấy cúng rồi chè chén luôn ở đó. Ngày cúng bản, đàn bà nặng vía không được đến gần. Tính từ hôm ăn, dân bản kiêng 3 ngày, không ai được ra khỏi bản. Nếu có người lạ vào thì phải ở lại dự hội cúng bản, 3 ngày sau mới được ra về.

Năm nay, dân bản Phú Bì cúng to. Thống quán Xu A Phạ mấy ngày trước đã đi đốc thúc dân. Tới đâu, 2 con mắt hum húp của hắn cũng căng ra. Cái mũi sùi to, đỏ lừ như quả quýt sần hếch lên, nháy nháy ở 2 bên cánh. Hắn làm thế cho ra vẻ ta đây là người có quyền thế. Hắn ngoác cái miệng ra quát nạt dân, bắt dân phải mổ nhiều trâu, nhiều lợn để hắn kéo bọn phỉ trên đỉnh Giàng Ma Pho xuống chè chén.

Giữa lúc đó, 3 chiến sĩ biên phòng từ trên dốc núi đi xuống. Cả đám người nhốn nháo nhìn về phía họ. Những nét mặt héo hon âu sầu bỗng sa sầm lại vì uất ức, vì hãi hùng. Những bộ mặt dửng dưng, ngơ ngác, xa lạ không chút thiện cảm. Những cặp mắt mở thao láo vì kinh hoảng nhìn quanh như vừa muốn kêu lên, vừa muốn dò hỏi những người khác:"Bọn Kinh lại đến, chúng sẽ làm gì chúng ta!".

Bỗng trong đám đông có 1 tiếng hú ngắn và đanh đến chói tai vang lên như 1 mệnh lệnh. Rồi tất cả đám người xô nhau chạy vào rừng. Một ông già có bộ râu bạc trắng, quàng tấm da hổ vằn vàng, cầm con dao nhọn chỉ về phía 3 chiến sĩ biên phòng như muốn trút tất cả uất ức lên người họ. Ông ta hét lên 1 tiếng gì nghe không rõ rồi cũng chạy theo dân bản.

Ngoài rừng, trong bản, tiếng hú nổi lên hỗn loạn. Tiếng hú của người già khàn khàn, rên rỉ; tiếng hú của trẻ em chìm trong tiếng khóc. Núi rừng bốn phía hú dội lại, vang đi nghe rùng rợn. Ở các túp lều cỏ, những người đàn bà xõa tóc đen trùm lấy những tấm lưng gầy cháy nắng, cắm vội lên cánh liếp 1 cành lá xanh rồi hớt hải chạy ra rừng.

Trong bụi cây cách chỗ cùng bản chừng 1 tầm đá ném, Thọ thấy cành lá động đậy. Thọ đi về phía đó. Trước mặt anh, 1 em bé gái mặt mày xám ngắt, gầy còm, run cầm cập. Cái cổ khẳng khiu vất vả lắm mới đỡ nổi cái đầu quá to, tóc tai rối bù. Trông em cũng bẩn thỉu, , tàn tạ như mảnh vỏ cây em đang quấn trong người . Em bé U-ni nhìn Thọ bằng đôi mắt ngờ vực. Hai làn môi tái nhợt của em mấp máy. Em bé khóc không ra tiếng. Nhưng nước mắt Thọ, những giọt nước mắt thường rất hiếm hoi ở anh đã tràn vành mi chảy xuống 2 gò má. Một cảm giác thương xót, đau đớn dâng lên trong người Thọ. Thọ liền cởi chiếc áo trấn thủ anh đang mặc cho em bé. Em bé U-ni giương đôi mắt ngơ ngá nhìn Thọ không chớp. Thọ đưa em đến bên bếp lửa. Thọ nhớ lại lúc em bé ngồi trong bụi cây, hình như Thọ thấy tay em bé có cầm 1 cái gì! À, phải rồi, em cầm cái ống tre mà người U-ni dùng làm bát để ăn củ bấu. Sao em bé này lại cầm cái đó nhỉ? Theo tục lệ, cúng bản, con gái có được ra ăn đâu? Thọ hiểu ra rồi, anh trở lại bụi cây nhặt cái ống tre, cái ống tre đen nhẻm, xung quanh miệng vẹt đi, sứt nham nhở rồi anh đi tới bàn cúng xúc 1 ống thịt thật đầy trao cho em. Em bé nhìn Thọ, vẫn còn sợ hãi. Nhưng đôi tay bé nhỏ của em đã giơ lên, run run rồi bưng lấy...

Thọ hỏi gì, em bé cũng chỉ lắc đầu. Lúc nhìn thấy Thọ dùng ống tre lam cơm như nhà em lam củ nâu, củ bấu, em mới nói cho Thọ biết em tên là Chu Chà Me








*:người Hà Nhì
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Tám, 2017, 02:34:50 AM gửi bởi bodoibienphong » Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #3 vào lúc: 17 Tháng Tám, 2017, 02:33:00 AM »

Đêm như 1 tấm vải đen ngòm, lạnh lẽo trùm lên núi rừng U-ni. Có lẽ đêm ở đây không bắt đầu từ lúc mặt trời lặn mà bắt đầu từ ngày có lũ phỉ kéo về.

Thọ và 2 chiến sĩ để nguyên những cành lá xanh trên liếp nhà dân. Họ không vào nhà mà che tấm vải nhựa, trải lá chuối nằm ở sân nhà a-tê* Xeo Pu Hừ

Khuya. Vành trăng mờ mờ, heo hút nhìn qua màn mây trắng và mỏng. Những bụi cây nặng trĩu sương đêm nhô ra khỏi bóng tối. Tiếng hú gầm lên dữ dội. Thọ có cảm giác cuộc sống ở đây, trên đỉnh núi này như chơi vơi, chống chếnh. Càng về khuya, trời càng lạnh. Gió rét hun hút thổi về như cầm ngọn dây mây kéo ngược trên da mặt. Dưới mái vải nhựa trống trải, Thọ ngồi tựa lưng vào Bộ cho thêm hơi ấm. Sát chân họ, Viên nằm co quắp trong tấm chăn trấn thủ

Ở phía xa xa, từ đỉnh núi chóp bạc, 1 ngôi sao nhỏ lên, rồi 1 ngôi nữa. Những ngôi sao lấp lánh, xa xăm như những con mắt chớp chớp trong đêm nhìn xuống núi rừng...

"...Ừ, phía ấy, phía ấy là đồn biên phòng. Ở phía ấy, giờ này anh em đang nhắc tới mình, tới Viên và Bộ. Giờ đây đồng chí Bí thư chi bộ chắc đang nhìn tấm bản đồ vùng biên giới dõi theo từng bước chân mình đi! Và ngày mai, khi màn mây mỏng tan đi, đồng chí Bí thư sẽ căng tròn mắt nhìn lên bầu trời xanh bao la đón cánh chim câu mang tin từ đây, từ bản làng U-ni, từ mảnh đất giữa đỉnh ba biên giới này về..." Nghĩ vậy, lòng Thọ rộn lên. Thọ lại nhớ tới đồng chí Hải, Bí thư chi bộ dặn lúc ra đi. Giọng anh ấm cúng và thân mật xiết bao:

"...Các đồng chí muốn xây dựng được cơ sở quần chúng, muốn cùng với dân dựng lại bản làng, muốn củng cố được phong trào bảo vệ trị an ở 1 vùng biên giới như đây thì các đồng chí phải thông cảm sâu sắc với cuộc sống nghèo nàn, đói khổ của dân. Đảng ủy địa phương, tỉnh ủy Lai Châu đều đặt niềm tin vào chúng ta, những người chiến sĩ biên phòng, trong việc giúp đỡ cho bà con miền núi tiến lên, xây dựng một cuộc sống mới ấm no và hạnh phúc. Cho nên, để đáp lại sự tin cậy đó, chúng ta phải thấy hết âm mưu xảo quyệt của giặc Mĩ và bè lũ tay sai đối với nhân dân vùng này từ trước đến nay. Phải đi đúng đường lối quần chúng của Đảng, phải đồng cam, cộng khổ thực hiện "3 cùng" với dân, thương yêu, quý trọng dân. Làm được những việc đó thì các đồng chí, những chiến sĩ biên phòng, đáng phấn khởi 2 lần: 1 là hoàn thành được nhiệm vụ, 2 là nêu lên 1 tấm gương tốt cho những nơi khác..."

Ngồi dưới mái vải nhựa nghe trong tiếng con tắc kè chép miệng ngoài rừng xa, có tiếng khóc của trẻ nhỏ, tiếng hú rền rĩ của dân bản gọi nhau trong mưa rét, Thọ cắn chặt vành môi. Lòng anh như có muối xát.

Chưa gặp được dân, hàng ngày Thọ và 2 chiến sĩ của anh vẫn đến từng nhà sửa lại tấm phên, mái cỏ, dọn sạch đường xá trong bản, chăm lo con lợn, đàn gà giúp dân. Họ ở như thế đã mấy ngày...







*:cha, bố
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #4 vào lúc: 26 Tháng Tám, 2017, 01:51:16 AM »

2

Tạo bản Hoàng Gia Gồ bước vào cái hang đã ẩm ướt mà a-tê Xeo Pu Hừ đưa vợ con vào trốn mấy hôm nay. Đôi mắt lồi của hắn trúng triếng như mắt con cáo rừng khi nhìn thấy tổ gà ri. Thấy a-tê Xeo Pu Hừ nằm dài bên bàn đèn, cổ hắn buột ra một tiếng “hự”. Hắn đi thẳng vào đáy hang. Hắn cầm quai kha-chi * lắc lắc. Thấy còn độ dăm bát ngô nữa, đôi môi hắn thâm xì vì ám khói thuốc phiện bỗng nhành ra cười gằn. Hắn ngoảnh lại nói với a-tê Xeo Pu Hừ, dằn từng tiếng:

-Mày phải nộp cho thống quán và quan tả tả-Hắn đập cái roi bằng cây gai lớn, có những mũi gai đen sắc chĩa ra bốn phía, xuống cánh tay a-tê Xeo Pu Hừ đang cầm dọc tẩu-còn nhà mày thì ăn của nâu, của bấu mà sống.

A-ma** Xeo Pu Hừ vùi vội đốt măng vào bếp lửa rồi đi về phía hắn. A-ma cúi khom người trước mặt hắn. Giọng a-ma như vừa van xin, vừa than thở:

-Thưa quan tạo bản, quan là a-ma, a-tê của dân. Kiếp dân chúng con cũng như cái que củi rào của nhà quan. Lúc dân chúng con đang cách núi, lỡ khe…

-Không được đâu!-Hắn vung mạnh cái roi gai kêu vu vu trong không khí. Mặt hắn vênh lên như lá khô phơi nắng-Tao làm theo lời thống quán đấy!

A-tê Xeo Pu Hừ vẫn nằm yên. Nhưng cái khói thuốc phiện đã như nghẹn lại ở cổ họng. A-tê biết là trái lời thầy mo thì vía về âm phủ, trái lời tạo bản thì thân sẽ bị gông cùm, nên a-tê phải cắn răng, ngậm bồ hòn làm ngọt. Lồng ngực a-tê như có hòn đá nặng đè lên, mắt a-tê như có đám mây đen kéo đến. A-tê nuốt cái cục nước bọt vào bụng rồi nhắm mắt lại. A-tê đành để cho tạo bản lấy mấy bát ngô.

Mấy ngày liền, a-tê Xeo Pu Hừ phải đi đào củ mài về cho vợ con ăn. Hôm nay ra rừng, con mắt a-tê không còn nhìn thấy cái dây mài nữa. A-tê phải đào củ nâu, củ bấu. Nhưng con suối ở xa quá, củ băm ra không có nước để ngâm cho hết đắng, hết chát nên a-ma và Xeo Pu Chang, đứa con trai út của a-ma, không sao nuốt được.

A-tê ngồi bó gối bên bếp lửa. Bỗng a-tê ngoảnh lại nhìn thấy cái kha-chi đựng ngô nằm nghiêng trong đáy hang. Đôi mắt màu hạt dẻ của a-tê như rực lên hai đốm lửa. A-tê đứng phắt dậy, chống mũi dao xuống đất nhìn ra cửa hang. A-tê thầm nghĩ :”Đã đành là người U-ni như kiếp con gà cỏ không kén cành đậu, nhưng cứ cái cảnh gai trên ngọn đâm lá dưới gốc cây thế này thì cái bụng không tài nào chịu nổi nữa… Con gà ngủ dậy còn biết đập đôi cánh, con lợn ngủ dậy còn biết rung da cổ, con người lại không biết làm sao cho hết khổ à!”.

Hai, ba chiều nay con gà rừng tao tác gọi con về tổ. A-tê nhìn con gà rừng nghĩ đến cảnh mình, cảnh gà con xa bản đã mấy ngày nay. Con gà rừng còn có tổ để về, không lẽ dân bản Phú Bì chịu bỏ làng, xa bản? Bụng a-tê như có hòn than đốt, a-tê phải về lại bản như con gà rừng về tổ. Nhưng về thì về làm sao? Suy đi tính lại như đếm hết năm đầu ngón tay lại đếm năm đầu ngón chân. A-tê không thể nằm yên được nữa. A-tê phải về bản. A-tê ra ngoài rìa rừng chờ cho đến khuya rồi lần bước về bản. A-tê đi len lén chỉ cho năm đầu ngón chân chạm đất. Vừa đi, mắt a-tê vừa ngó trước, nhìn sau. Phía trước là bản làng của a-tê đó. Dù đêm tối, a-tê vẫn như nhìn thấy những hang đá, những mái cỏ ám khói màu xám xịt, những con lợn đói khát rú lên từng tiếng, húc húc cái mõm ủi tìm thức ăn trong lớp lá mục… A-tê đang hít thở không khí trong gió núi, nhưng a-tê vẫn như ngửi thấy mùi phân trâu, phân lợn, mùi cháy khét của các bếp tro quen thuộc từ bản làng bay tới… A-tê nhớ đến cả con gà trống đốm vàng trước khi cất tiếng gáy thì đập cánh phành phạch… Lòng nhớ làng bản đã thôi thúc bước chân a-tê. Nhưng còn một lẽ nữa sâu xa mà a-tê chưa nói cho ai biết. Cái lẽ đó nó nhen lên trong long a-tê một đốm lửa nhỏ kể từ hôm mắt a-tê nhìn thấy Chu Chà Me mặc cái áo của người Kinh cho. Quan tả tả và thống quán, thầy mo nói với dân là người Kinh ác lắm, nó lên sẽ giết người U-ni, cướp của bản U-ni, bắt con gái U-ni về xuôi với người Kinh. A-tê đã nhìn thấy con Chu Chà Me, thấy nó mặc áo của người Kinh. Sao người Kinh này lại không giết con Chu Chà Me, mà lại chịu rét nhường áo cho nó? Mắt a-tê chưa nhìn thấy tay người Kinh làm việc ác. Nhưng còn cái đất bản U-ni có bao nhiêu hạt, cái rừng cây U-ni có bao nhiêu lá thì tội ác của thống quán, của quan tả tả gây ra cho dân U-ni bằng chừng ấy rồi… Mà kẻ đã làm việc ác thì có bao giờ bụng nó biết nghĩ những điều lành, cái miệng nó biết nói những điều tốt, điều thật với tai dân. Ừ! Cái miệng con hổ ăn thịt người thì có bao giờ lại biết kêu đúng tiếng con hươu nhung đâu. Mà hổ thì có đời nào lại thương con hươu ở rừng, con trâu ở bản!... A-tê phải về để con mắt được nhìn thấy cái nhà, cái bản, con lợn, con trâu ở với người Kinh mấy hôm nay, phải thấy cho được cái việc người Kinh làm mới biết là người Kinh tốt hay xấu, mới biết được lời thống quán, quan tả tả nói thật hay nói dối.

Đến gần bản, a-tê dừng lại. Dưới ánh sao thưa, a-tê vạch lá nhìn về phía nhà mình. Tấm liếp che cửa vẫn đóng và ngay trước nhà là một tấm vải rộng đang che làm lán cho ba người Kinh trú: một người ngồi, còn hai người đang ngủ. Để tránh tiếng động, sợ người Kinh còn thức kia biết, a-tê rẽ cây đi về phía sau nhà. A-tê vào bếp, nghe rõ tiếng thở như người ngạt mũi của mấy con lợn, thỉnh thoảng chúng lại ụt ịt có vẻ no nê lắm. A-tê nghĩ :”Lợn được ăn no mới nằm ngủ yên ngủ khỏe như thế, chứ nó đói ngửi thấy hơi người đã réo lên eng éc đòi ăn rồi…”. A-tê nhìn khắp nhà, thấy mọi việc vẫn nguyên như lúc a-tê bỏ vào hang. A-tê yên dạ, lần nhẹ sang các nhà khác. Nhà nào liếp cũng vẫn đóng kín. Những cành lá xanh cắm ở ngoài mấy hôm trước nay đã héo khô, lá rụng hết. A-tê đi sang nhà Pờ Pô Chừ nghe tiếng lợn của Pờ Pô Chừ nằm ngủ thở khò khè như lợn nhà a-tê, a-tê biết chúng cũng được ăn no. Đến nhà Vù Xèo Vảy rờ cái ổ trứng gà, thấy trứng vẫn còn nhiều… A-tê còn lần đến những nhà ở cuối bản nữa, luẩn quẩn một hồi lâu. Bụng a-tê chưa tin hẳn, nhưng thật ra đã hết nghi ngờ. Đúng là những người Kinh này không làm điều ác. Nhưng a-tê bỗng giật mình. Cái người Kinh còn thức kia có lẽ đã biết a-tê về từ lúc nãy. Giờ thấy a-tê đi xa mãi cuối bản, đã đưa tay làm loa gọi a-tê chứ không đuổi theo a-tê. Tiếng gọi to, rành rọt từng lời, mà lại bằng tiếng U-ni:

-Dân bản đi về thôi! Đừng ở ngoài rừng mà khổ? Con gà nó đợi, con lợn nó mong; cái sân, cái nhà, cái nương nó cũng nhớ dân bản đấy. Dân bản cứ về, đừng sợ! Chúng tôi là cán bộ như a-nhi, a-nhì*** của dân bản thôi…

A-tê đứng lại. Nhưng người già thì vốn khôn, như con nai đầu đàn nghe tiếng động thì phải biết tránh đường, con chim đậu trên cây thấy lá lay thì phải cất cánh, a-tê vụt bước vào cây rừng, men theo đường cũ về hang dân bản trốn

.....................................................

*:gùi

**: mẹ, bà, mế

***: con cháu
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
Trang: 1   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM