Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 15 Tháng Mười Hai, 2018, 12:38:43 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hitler và các danh tướng Đức Quốc xã  (Đọc 12665 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 16779


« Trả lời #90 vào lúc: 13 Tháng Một, 2018, 02:55:48 AM »


        Bên cạnh con vật người này, Hitler đưa. sang Nga một lý thuyết gia, một đao phủ thủ lạnh lùng, Alfred Rosenberg. Ông đặt y làm Tổng trưởng các lãnh thổ miền Đông.

        Có lẽ Rosenberg điên, lời nói nhát gừng và bất tận của y, những điệu bộ rời rạc, cái nhìn nặng nề và đăm chiêu của y cho thấy y không sống trong thực tại của loài người. Người ta theo dõi tư tưởng của y một cách hết sức mệt nhọc. Những tổng hợp của y là những tảng sương mù bao la, phớt qua một vài ý tưởng soi sáng như những tia chớp. Được coi trọng một cách áy náy bởi chính Hitler, một tên điên khác, y chưa bao giờ được giữ một vai trò tích cực trong chính phủ Đức Quốc Xã, và đã lâu năm dồn nén cái tính kiêu ngạo phù phiếm chua chát của kẻ sĩ bất đắc dĩ. Cuối cùng Fuhrer tìm được một vai trò cho y, trong phạm vi của y. Ông cho y một lãnh vực thí nghiệm trong những lãnh vực rộng rãi nhứt : nước Nga.

        Hai ngày trước khi cuộc chiến bắt đầu, ngày 20 tháng 6, Rosenberg trình bày các ý kiến của y trước những nhân vật chính được chỉ định tổ chức các xử bị chinh phục (tài liệu 1058 PS).

        « Nuôi sống dân tộc Đức, y nói, năm nay là mục tiêu tối hậu của chúng ta ở phía Đông. Những vùng lãnh thổ ở phía Nam nước Nga sẽ phải cung cấp cho chúng ta những thực phẩm bổ túc, cần thiết để giữ thăng bằng lương thực của dân tộc Đức. Chúng ta hoàn toàn không thấy một lý do nào bỏ buộc chúng ta phải nuôi dân Nga bằng sản phẩm của những vùng dư vật này. Chắc chắn sẽ cần phải có một cuộc di dân, và không nghi ngờ là tương lai dành cho dân Nga nhiều năm cực khổ.

        Nhiệm vụ của Đức mai kia sẽ rất to lớn, nhưng sẽ không phải là một nhiệm vụ tiêu cực như nó có vẻ thế, nếu người ta chỉ để ý đến sự cần thiết phải di dân. Sự dồn ép dân Nga hiếu động hướng sang phương Đông là một công trình đòi hỏi một đức tính cương quyết nhứt. Có lẽ quyết định đó sẽ được chấp thuận bởi một nước Nga tương lai, không phải trong 30 năm, nhưng là 100 năm nữa. Nếu chúng ta đóng cửa phía Tây của người Nga, họ sẽ phải ý thức được cái thiên tài của riêng họ, cái sức mạnh độc đảo của họ và cái diện tích địa dư của đất nước họ. Sự quyết định của chúng ta đối với một sử gia 100 năm sau này sẽ không hiện ra rõ rệt như đối với một người Nga ngày hôm nay ».

        Nhà lý thuyết gia, đã vô tình hài hước, soạn sẵn hạnh phúc cho nước Nga tương lai, bằng cách làm cho nước Nga hiện tại phải đói, phải chết, phải giảm dân số. Chung quanh y toàn những bộ óc xứng đáng với y. Biên bản buổi hội họp ngày 16 tháng 7 năm 1941 có ghi : « Rosenberg tuyên bố ông có ý đình dùng đại úy Von Petersdorff, vì ông này có những công trạng hiếm có. Mọi người sửng sốt. Tất cả đồng thanh từ chối. Fuhrer và Goering, cả hai đồng tuyên bố coi Petersdorff như một người điên ». .

        Fuhrer đích thân chọn các vi chỉ huy hành chánh « Gauleiter » mà ông muốn bổ nhiệm làm hạt trưởng các hạt lớn ở Nga : Lohse ở các xứ vùng Baltique, Kascbe ở Mạc tư khoa, Koch ở Ukraine, Praueníeld ở Crimée, Terboven tại bán đảo Kola. Tẩt cả đều là « những kẻ tranh đấu cũ », những tay « chì ».

        Nhiệm vụ của họ là chuẩn bị tương lai. Tương lai nào ?

        Một giác thư ngày 2 tháng 4 năm 1941 (tài liệu 1017 PS) trả lời câu hỏi đó. Nước Nga phải bị chia cắt và phân làm 7 Quốc Gia.

        Các nhà địa dư - chính trị học Đức, cố vấn cho Hitler, trước hết cứu xét Đại Nga tức là vùng Trung bộ có Mạc-tư-khoa làm tâm điểm. Vùng này, từ thời Đệ Nhất Nga Hoàng chính là cải nhấn và là cái kiếm của cường lực Nga, là tế bào vĩ đại phát sinh ra chủ nghĩa đại tư Lạp phu. Cần phải làm cho nó, suy yếu đi. Người ta trù liệu 3 cách:

1.   Phá bỏ hoàn toàn nên hành chánh Do Thái Bôn Sơ Vích, mà không cần tìm cách thay thế bằng một chính quyền cận đại và thông minh.

2.   Làm suy nhược nền kinh tế bằng cách tịch thu các kho dự trữ, các cơ sở kỹ nghệ, các phương tiện chuyển vận.

3.   Sát nhập những vùng đất rộng lớn vào các đơn vị chính trị và hành chánh lân cận ; Ukraine, Bạch Nga, Lưu vực sông Don.

        Tài liệu Đức ghi : « Bạch Nga và vùng sông Don là nhưng miền nghèo túng, lạc hậu. Hai vùng này không làm cho nước Đức phải bận tâm, và do đó không có gì đáng ngại khi củng cổ phát triển hai vùng này, miễn là để ý canh chừng. Do đó, Bạch Nga phải được thêm tỉnh Kalinine, và vùng sông Don thêm tỉnh Saratov. Lúc ấy Mạc-Tư-khoa sẽ chỉ cách biên giới Đại Nga 250 cây số ». Ở Ukraine, đời sống quốc gia sẽ được tự trị thật rộng rãi. Và sẽ thành nước chư hầu của Đức về kinh tế và chính trị. Ukraine sẽ được sát nhập vào một liên hiệp vùng Hắc Hải. Người ta ủy thác cho Ukraine hai sứ mạng danh dự và tín nhiệm, một là phụng dưỡng Đức Quốc Xã, và hai là luôn luôn làm cho Mạc tư khoa phải thất bại.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 16779


« Trả lời #91 vào lúc: 13 Tháng Một, 2018, 02:56:22 AM »


        Vùng thứ năm được cứu xét là vùng Caucase. Vùng này có rất nhiều màu sắc về sắc tộc và ngôn ngữ. Do đó rất dễ xén ra làm nhiều xứ nhỏ dưới sự điều khiển hời hợt của một liên bang. Nhưng tỉnh Bakou và lãnh thổ dầu lửa của tỉnh này, bằng cách này hay cách khác, phải nằm dưới sự kiểm soát của Đức.

        Người Đức muốn biến Trung Á và Tân cương thành một Quốc gia Hồi giáo, đồng minh và lệ thuộc vào Đại Đức Quốc Xã. Quốc gia này, theo tài liệu 1017 PS, sẽ cung cấp một phương tiện áp lực và một căn cứ hành quân tương lai chống Ấn Độ.

        Còn lại những vùng Baltes, Ostland, nghĩa là cả vùng lãnh thổ của ba xứ Lituanie, Lettonie và Estonie.

        Quyển hồi ký có ghi: « Phải tổ chức chuyển giao cho "Vùng Trung Nga một phần lớn giới tư sản Lettonie và những nhóm dân tộc thiểu số cấp thấp của Lituanie. Sau đó đến việc thiết lập một dân số vững vàng gốc Đức. Một đoàn thể lớn những người thực dân sẽ có thể lấy ra từ những người Đức ở vùng sông Volga, sau khi loại trừ những phần tử bất hảo. Người ta cũng có thể tính trước việc định cư cho người Đan Ma ch, người Na Uy, người Hòa Lan và ngay cả người Anh, sau khi đại thắng trận chiến tranh này. Trong vòng một hay hai thế hệ, vùng thuộc địa mới cùa Đức này sẽ có thể sát nhập vào Đức Quốc Xã ».

        Vậy là sự thắng trận của Đức phải lôi kéo theo sự tiêu diệt thế lực chính trị của giống người Slave. Và hậu quả phải là những cuộc phân chia lại lãnh thổ một cách rất rộng lớn và những cuộc di dân vĩ đại. Phía Tây Âu Châu cũng không thoát khỏi. Nước Đức sẽ lấy hết dân cư của các xứ gốc Nhật Nhĩ Man, như Hòa Lan và Đan Mạch, ra khỏi nước để đưa sang định cư trong những vùng đồng hoang ở miên Đông. Và người Anh chắc không nghi ngờ rằng họ đã được người ta an bài để hợp tác trong cuộc bành trướng chủ nghĩa Nhật Nhĩ Man ở Lituanie và ờ Estonie.

        Về những tham vọng của người Đức, người ta còn một lời chứng với một giá trị còn quan trọng hơn tài liệu 1017 PS : đó là chính những lời nói của Hitler.

        Vào ngày 16 tháng 7 năm 1941, trong một đại hội nghị về cải tồ miền Đông (tài liệu L.221). Đoàn thiết giáp Đức đang ở Jelna, trên đường tới Mạc tư khoa. Các đạo quân Nga chạy trốn. Cuộc chiến thắng nằm trong tầm tay và Fuhrer tuyên bố với thế của kẻ chiến thắng.

        Ông bắt đầu bằng những lời giận dữ đối với « sự thiếu khôn ngoan » của một tờ nhựt báo của chinh phủ Vichy, tờ này — hùa theo sự tuyên truyền của Hitler — đã dám viết rằng cuộc chiến tranh trên đất Nga phải làm lợi cho toàn thể Châu Âu. Ông ta, Hitler, lại muốn cuộc chiến tranh đó chỉ làm lợi cho nước Đức mà thôi.

        Ông nói:

        « Điều cốt yếu là không được công bố những mục đích của chúng ta vào lúc này, nhưng chúng ta phải biết đúng chúng ta muốn gì.

        Phải hành động như chúng ta đã làm trong trường hợp Na Uy, Đan Mạch, Bỉ và Hòa Lan. Chúng ta sẽ còn tuyên bố rằng chúng ta bó buộc phải chiếm đóng, cai trị và bình định rằng chính vì lọi ích của dân chúng mà chúng ta đứng ra giữ gìn trật tự, điều khiển sự giao thông chuyển vận và sự tiếp tế. Chúng ta sẽ đóng vai người giải phỏng.

        « Đừng để ai có thể nhận ra là chúng ta chuẩn bị một cuộc thanh toán dứt khoát, nhưng như vậy không có nghĩa là chúng ta không được dùng những biện pháp cần thiết — lưu đày, bắn giết — và chúng ta sẽ dùng.

        Chủng ta sẽ hành động như chúng ta đã đòi một sự ủy quyền thường. Nhưng chúng ta biết rõ là chúng ta sẽ không bao giờ rời bỏ xứ ấy ».

        Trước hết, cần phải bảo đảm một cách dứt khoát an ninh cho Đại Đức Quổc Xã.

        « Trong tương lai, Hitler tuyên bố, sẽ chẳng bao giờ cho phép một thế lực quân sự tự tạo ở phía Tây dãy Ọural, nếu cần chúng ta sẽ phải chiến đấu 100 năm đề ngăn chặn việc đó, Tất cả những người kế vị tôi phải biết rằng nước Đức chỉ được an toàn khi ở phía Tây dẫy Oural không có một thế lực quân sự nào. Nguyên tắc bất di bất dịch của chúng ta phải là và phải mãi mãi là : chỉ có người Đức, ngoài ra không ai khác được mang vũ khi.

        Đó là điều chủ yếu. Dù xem ra thuận lợi để võ trang hay đoàn ngũ hóa các dân tộc bị khuất phục, chúng ta cũng chớ có làm việc đó. Chỉ có người Đức được mang vũ khí mà thôi! không phải người Slave, người Tiệp, người Cosaque, hay người Ukraine ».
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 16779


« Trả lời #92 vào lúc: 13 Tháng Một, 2018, 02:57:19 AM »


        Hitler kể ra những chiến lợi phẩm mà ông sắp lấy của những kẻ chiến bại.

        Bán đảo Crimée :

        « Phải đuổi hết dân cư ra khỏi xử Crimée. Và chỉ để người Đức ở lại trồng trọt và làm cho xứ này sinh hoa lợi. Crimée phải nhận một hậu địa thật rộng lớn, để biến thành một lãnh thổ của Đức ».

        Một phần xứ Ukraine :

        « Vùng Galicie, trước kia thuộc cựu Đế quốc Phổ, phải trờ thành lãnh thổ Đức ».

        Vùng Ostland :

        «Tất cả các xứ vùng biển Baltique phải sát nhập vào Đức ».

        Một phần châu thổ sông Volga :

        « Quận người Đức trong vùng sông Volga cũng sẽ trở thành lãnh thổ Đức».

        Một phần Transcaucasie :

        « Chúng ta sẽ biến tỉnh Bakou thành một thuộc đia quân sự của Đức» .

        Bán đảo Kola :

        « Chúng ta sẽ giữ bán đào Kola, vì những quặng mỏ ở đó ».

        Không có ai nêu thắc mắc gì, ngay Goering cũng thế. Ba tháng trước đó, ông này đã
lưu ý Fuhrer về những gánh nặng về sau này sẽ không thể kham nổi mà sự chiếm đóng một nước rộng như nước Nga sẽ đặt ra. Giờ đây, chấp nhận kế hoạch bành trưởng và chinh phục điên khùng đó. Các xứ vùng Baltique, Galicie, Crimée, và vùng lân cận, Bakou, lưu vực sông Volga, bán đảo Kola, lãnh thổ Đức hết ; phần còn lại của nước Nga, kể cả vùng thuộc Châu Á, sẽ bị chia thành những quốc gia chư hầu mà thế lực quân sự của Hitler sẽ giữ trong vòng lệ thuộc. Cộng toàn thể Trung Âu. Cộng các xứ vùng duyên hải của Bắc hải, với Đan Mạch, Hòa Lan, và cả Bỉ, và Bắc Pháp. Cộng những thuộc địa. Cộng cả một chuỗi các căn cứ và điểm tựa mà người ta thấy liệt kê trong một tài liệu của Bộ Ngoại giao ; Trondhjem và Brest, sẽ phải vĩnh viễn là hải cảng chiến tranh của Đức, Dakar, quần đảo Canaries, quần đảo Acores, Sainte-Hèlène, quần đảo, Comores, Seychelles, đảo Maurice, Zanzibar,... Đế quốc đó to lớn hơn tất cả những mơ ước điên rồ nhứt, phù du nhứt trong Lịch sử. Nó quá sức của một nước Đức, dù chiến thắng. Nó không thể bền lâu, theo luật tự nhiên là những quái thai không sống dược. Và những người vây quanh Hitler, trong số đó có một số thông minh, hiểu biết, và thực tế, đã lắng tai nghe, chấp nhận và tán thưởng !

        Goering, tuy vậy, muốn biết những lãnh thổ nào được hứa dành cho các Đồng minh của Đức. Hitler cau mày. Ỏng không thích cho. Ông có cảm tưởng người ta ăn trộm của ông. Ông nói ;

        « Không có gì rõ rệt đã được hứa cho người Slovaque, người Hung và người Thổ,

        Antonesco đòi vùng Bessarabie1 và Odessa. Bang giao của ta với Lỗ tốt đẹp, nhưng không ai rõ tương lai như thế nào, và vì vậy chúng ta phải vạch đường ranh giới.

        Phần Lan muốn vùng Đông Carélie, nhưng họ không thể được bản đảo Kola, chúng ta sẽ giữ bán đảo này cho chúng ta vì những mỏ ở đó. Họ cũng đòi vùng Leningrađ : tôi sẽ san bằng Leningrađ và cho họ mảnh đất trống ».

        Ông nói thêm như trong giấc mơ :

        « Tòi sẽ biến các lãnh thổ chiếm được thành một thiên đường ».

------------------
        1. Đọc ĐỘC HÀNH của C.V. GHEORGIIIU, Người Sông Kiên và Lê thị Duyên dịch.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 16779


« Trả lời #93 vào lúc: 13 Tháng Một, 2018, 02:58:16 AM »

   
*

*      *

        Một thiên đường. Để thực hiện thiên đường, Hitler đã bắt đầu bằng địa ngục, ít ngày trước khi bắt đầu chiến tranh với
Nga, vào tháng 5 năm năm 1941, Thống chế Halđer thuật lại, Fuhrer họp các tướng lãnh cao cấp trong qnàn đội. Ông lại bị kích thích và bực tức.

        « Chiến tranh chống Nga, ông nói, không thể thực hiện theo các quy luật danh dự. Nó sẽ vừa là một cuộc đấu tranh ý thức hệ, vừa là một cuộc đấu tranh chủng tộc, và sẽ phải được điều khiển một cách tàn bạo chưa từng có. Các sĩ quan phải bỏ những quan niệm cũ rích. Tôi biết cách suy tư như tôi vừa trình bày vượt qua sự hiểu biết của các tướng lãnh, và tôi rất giận về việc đó, nhưng lệnh của tôi phải được thi hành.

        « Tôi biết các đoàn quân SS của tôi sẽ không được quân Sô viết nhìn nhận là những chiến sĩ. Do đó, tôi cho rẳng phải thanh toán các chính trị viên.

        « Liên Sô đã không phê chuẩn thỏa ước La Haye. Do đó, những vi phạm luật quốc tế công pháp do quân ta phạm vào phải được tha thứ, trừ những vi phạm xúc phạm tới dân luật như ám sát, hiếp dâm »,

        « Sau khi nói bấy nhiêu, Halder nói tiếp, Hitler băng qua phòng khách và biến mất không nói thêm nửa lời. Những người có mặt cảm thấy bị xúc phạm và quay sang Brauchitsch phản đối. Ông này tuyên bố sẽ tranh đấu và những mệnh lệnh mà Fuhrer vừa ban bành, sẽ không phải thi hành dưới hình thức đó. Ồng lập tức thảo các huấn thị về cách đối xử với các chính trị viên và gởi cho Bộ Tổng tham mưu Quân lực vừa ghi rõ là quân đội không thể thi hành những lệnh khác ».

        Jodl tuyên bố :

        « Giữa Fuhrer và các tướng lãnh có một sự tương khắc trên nguyên tắc về bản chất của cuộc chiến tranh với Nga. Các tướng coi đó là một cuộc xung đột của hai quân đội, trong khi Fuhrer muốn người ta coi đó là một cuộc đấu tranh tiêu diệt giữa hai hình thức vãn minh không thể nào hòa giải được. Ông ta nói : Các ông làm chiến tranh y như là các ông nghĩ rằng sau khi ngưng chiến người chiến thắng và kẻ chiến bại chỉ có việc bắt tay nhau là hết. Các ông không hiểu rằng những luật lệ chi phối cảc cuộc chiến tranh khác không thể đem áp dụng vào cuộc chiến đấu của chúng ta chống Nga. Những ý tưởng mã thượng của các ông không đúng chỗ và hoàn toàn buồn cười».

        « Trong lúc vây hãm Leningrad, Jodl đã thuật lại, tướng Von Leeb, Tư lệnh Binh đoàn miền Bắc, báo cáo về OKW rằng có nhiều đợt sóng thường dân đến xin lánh nạn trong chiến tuyến Đức và ông không có phương tiện để tiếp nhận và nuôi sống họ. Lập tức Fuhrer cho lệnh bắt đoàn người đang đi quay ngược hướng và để trút gánh nặng lên địch quân ».

        Lệnh này đã được giữ lại ; nó đề ngày 7 tháng 10 năm 1941, và trở thành tài liệu C123 ở Nuremberg. Sau đây là bản văn của nó :

        « Fuhrer đã quyết định là sự đầu hàng của Leningrad, và sau này của Mạc-tư-khoa, sẽ không được chấp nhận. Ngay trường hợp địch quân yêu cầu cũng không được ».

        « Lý do luân lý của biện pháp này sẽ được cả thế giới hiểu cho. Vì tại Kiev, quân ta đã bị nguy hiểm quả nhiều bởi những vụ mìn nổ chậm. Tại Leningrad và tại Mạc-tự-khoa cũng có sự nguy hiểm đó và với mức độ rộng lớn hơn. Chính đài phát thanh Sô viết đã loan báo là Leningrad sẽ kháng cự tới người lính cuối cùng và chân móng của thành phố đã bị gài mìn.

        Vì vậy không một người lính Đức nào được vào đó. Bất cứ ai tìm cách bỏ Leningrad chạy về phía ta đều sẽ bị bó buộc quay trở lại bằng hỏa lực.

        Cần phải làm cho cuộc di cư của dân chủng hướng vào nội địa Nga qua các khe hở thật nhỏ hẹp. Thành phố phải chịu hỏa lực của pháo binh và không quàn, để dân chúng bị ép buộc phải chạy trốn.

        Dân cư các thành phố chạy trốn vào nội địa Nga càng đông, thi sự hỗn độn trong hàng ngũ địch càng lớn, đồng thời sự cai trị và khai thác các vùng đất đã chiếm được sẽ càng dễ dàng giản dị cho chúng ta.

        Tất cả các sĩ quan cấp Tướng đều phải đưọc thông báo rõ ràng ý muốn đó của Fuhrer ».

        Von Leeb đã phản đối, Jodl nói. Brauchitsch tuyên bố là ông sẽ không cho lệnh triệt để bận vào thường dân, vả lại, quân sĩ cũng đã chẳng thi hành. Nhưng Hitler đã giữ nguyên những huấn lệnh của ông ta.

        Sự ghê tởm của một số vị Tư lệnh trong quân đội không ngăn cản được những hành động khủng khiếp không thể tả đã xảy ra tại Nga với một mức độ vô cùng rộng lớn. Nhưng những sự chống đối đó đã đủ làm cho Fuhrer giận dữ cực độ. Ông coi đó là một bằng chứng thiếu hiểu biết, nhu nhược, và thù nghịch. Ông lại thấy ở đó điều mà ông coi là sự chống đối muôn đời của giới quân sự đối với những ý định của ông. Chưa bao giờ các Tướng lãnh Đức bị đối xử với sự miệt thị và ngờ vực một cách hỗn xược như ở Nga.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 16779


« Trả lời #94 vào lúc: 14 Tháng Một, 2018, 11:28:33 PM »


        « Vai trò của chúng tôi, họ nói, đã được đắn đo một cách hẹp hòi hết sức. Quân đội đích danh hầu như không có hậu phương. Quyền hành của giới dân sự và các cơ cấu đảng bắt đầu ngay kế cận vùng hỏa tuyến. Sự gia tăng các đơn vị SS làm cho công cuộc điều hành của Bộ tư lệnh trở nên vô cùng tế nhị và không ngừng gây ra cho chúng tôi những sự việc đáng tiếc. Quân cảnh thoát khỏi sự kiểm soát của chúng tôi và sự an toàn của các tuyến hậu trạm của chúng tôi cũng không còn thuộc quyền chúng tôi nữa. Do đó, hoàn cảnh của chúng tôi trở nên khó khăn đến nỗi người ta đã phải nhờ đến binh sĩ của chúng tôi đến dẹp những vụ xáo trộn mà các nhà cai trị dân sự quả khắc nghiệt đã gây nên ».

        Sự tin tưởng của Hitler, các nhà quân sự nói, dành cho những tên cuồng tính man dại, những con quái vật như Himmler. « Dân tộc Nga, tên này nói (tài liệu 1919 PS), phải bị tiêu diệt trên chiến trường, hoặc từng người một, và phải bị cắt tiết cho đến chết ». Hoặc nữa : « Ban đầu chúng tôi đã không ước lượng đúng giá trị của nó, cái vật liệu người. Nghĩ về chung cuộc của các thế hệ thì không đáng tiếc nhưng xét tới sự thiếu nhân công của chủng ta thì thật là một điều vô cùng đáng tiếc khi để cho các tù binh chết hàng trăm ngàn người một vì kiệt lực và đói ».

        Hình phạt của sự dã man ấy là cuộc chiến tranh du kích không ngừng đã làm cho quân đội Đức bị tốn thất không kém một chiến dịch lớn.

        « Trong vòng ba tháng mùa hè năm 1943, Jodl nói, những vụ cắt đường xe lửa đã lên tới những con số sau đây : tháng 7, 1560 vụ, tháng 8, 2121 vụ ; tháng 9, 2000 vụ.

        Đối với các tướng lãnh Đức, cuộc chiến tranh Nga là một cuộc tàn sát ghê gớm. « Hết người nọ đến người kia, Guderian nói, các Tướng lãnh Tư lệnh giỏi nhất của quân đội chúng tôi đã lần lượt bị thải hồi ». Brauchitsch, Rundstedt, Bock, Hoeppner, Leeb và ngay cả Guderian cũng đều biến mất. Khi Fuhrer thãi hồi Thống chế List, Keitel hỏi ông tại sao, và nhắc lại với ông một chiến công lừng lẫy mà Thống chế này đẵ đạt được trong khi cầm quân ở vùng Ba Nhĩ Cán. Hit- ler đáp: «Tôi không thể tha thứ một vị Tướng lãnh tới gặp tôi mà không mang theo bản đồ để chỉ cho tôi thấy những tiến triển của quân đội dưới quyền ». Nhưng, chính Hitler đã cấm ngặt không cho mang tài liệu quân sự trên mảy bay, vì rất nhiều vùng đất do du kích quàn chiếm giữ mà máy bay phải bay qua.

        Khó khăn, càng ngày càng chổng chất, Hitler, cũng như Napoléon, càng mất những ý thức thực tế. Tướng Jodl đã từng biết qua kinh nghiệm đó. Sự trung thành cuồng nhiệt của ông và khả năng chắc chắn của ông cũng khó làm cho ông khỏi bị thất sủng : ông đã phạm phải trọng tội bất đồng ý kiến với Fuhrer về chiến lược.

        Ồng đã viết trong một trang ghi chép dài mà ông trao cho các quan tòa ở Nuremberg : « Sự xích mích của tôi với Fuhrer bắt đầu từ mùa thu năm 1942, ở Winnitza. Hitler, lúc đó có vẻ không được khỏe trong người, đã thường chỉ trích những khẩu lệnh mà chính ông ta đã truyền hoặc cho Tướng Halđer, tham mưu trưởng Lục quân, hoặc cho các Tướng lãnh khác. Tôi đã thảo một giác thư phản đối sự ngược đãi các vị Tư lệnh trong quân đội. Hitler đã chấp nhất tôi về việc đó.

        Ít lâu sau khi gặp Thống chế List và Tướng Conrad ở Stalino, tôi yêu cầu Hitler xét lại lệnh hành quân đánh Caucase. Tôi báo cho ông biết rằng việc đó chắc chắn không thành công vì địa thế khó khăn hiểm trở. Việc đó đối với tôi xem ra rất nguy hiểm vì phải theo đuổi cùng một lúc cuộc tấn công Stalingrad và cuộc chinh phạt Caucase, và tôi nhấn mạnh rằng người ta đã đòi quân đội làm quá nhiều việc cùng một lúc nên chẳng còn phương tiện để hoàn thành một cách tốt đẹp.

        Hitler nổi xung. Ông đùng dùng nỗi giận đến nỗi buộc tội tôi là bất phục tùng.

        Sau biến cố đó, sự liên lạc giữa chúng tôi trở nên rất lạnh nhạt, rất khó chịu, Fuhrer thôi không tới câu lạc bộ của Bộ tham mưu và bắt đầu ăn com một mình trong toa xc của ông. Ông làm như không thấy tôi và không thèm bắt tay tôi. Những báo cáo hàng ngày không còn diễn ra trong phòng bản đồ, nhưng diễn ra trong phòng khách trên toa xe của Fuhrer và lúc nào cũng có mặt một sĩ quan cao cấp ss. Tám tốc ký viên do văn phòng đảng — nghĩa là do Martin Bormann — cung cấp ghi chép tất cả những lời tôi nói.

        Keitel cho tôi biết là Fuhrer có ý định đưa Thống chế Paulus thay tôi khi nào ông này chiếm được Stalingrad ».

        Paulus đã chẳng bao giờ lấy được Stalingrad và chính ông đã bị bắt: Hơn nữa, Hitler đã chọn lầm Paulus, cũng như Đô đốc Canaris, Giám đốc Cơ quan Tình báo quân sự, là người tham gia cuộc âm mưu chống Fuhrer.

        Khi y bị quân Nga bắt làm tù binh, y đã qui thuận phong trào Đức tự do thành lập ở Liên Sô, và lên tiếng trên đài phát thanh mời gọi người Đức thanh toán Hitler cho rồi. Đó là mặt trái của quân đội Đại Đức Quốc Xã kể từ 1943.

        « Mối liên lạc của tôi với Hitler, Jodl nói tiếp, được cải thiện dần dần. Chúng tôi đã làm hòa được với nhau kể từ ngày 30 tháng giêng năm 1944. Đó là một điều bất ngờ cho tôi. Hitler tuyên bố công khai là ông tiếp tục tin rằng tôi đã cho ông lời khuyên không tốt nhưng ông coi tôi dù sao cũng là một sĩ quan ưu tú. Đoạn ông cho tôi huy chương vàng của Đảng. Nhưng lòng tin của tôi nơi óc công bình của Fuhrer vẫn không khỏi bị lay chuyền ».

        Sự bất công và tàn bạo của Hitler đem đến hậu quả làm suy yếu mau chóng giá trị chỉ huy của Đức. Cuộc chiến tranh với Nga bắt đầu với các kẻ chiến thắng ờ Mlawa và Sedan, đã kết thúc với những kẻ tầm thường. Hitler không dung thứ tư cách con người nơi các đại thủ lãnh của quân đội và không chịu nhìn nhận rằng tư cách con người thường đi theo tài cán.

        Keitel nói : « Ở Mondorf, tôi bị thấm vấn trong hai ngày bởi một ủy ban Nga. Sau cuộc thẩm vấn, một Tướng lãnh Nga kéo tôi ra một chỗ và hỏi tôi : « Ông hãy giải thích cho tôi tại sao các ông đã sa thải những Tướng lãnh tài ba nhất của các ông. Chúng tôi cũng có khi giải nhiệm những Tướng lãnh khỏi các chức vụ chỉ huy khi họ thất trận, nhưng nếu họ tốt, chúng tôi tự thu xếp để có thể dùng lại họ. Hãy xem Timochenko, ông ta cũng đã bị thất bại ở Kharkow, nhưng ông ta đã lại trở thành một lãnh tụ lớn. Còn các ông, các ông đã kết thúc cuộc chiến tranh với những người đứng hàng thứ ba ».
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 16779


« Trả lời #95 vào lúc: 14 Tháng Một, 2018, 11:30:18 PM »


MỘT BÀI THUYẾT TRÌNH CỦA TƯỚNG JODL

        Hơn hẳn Keitel, một tay siêu thư lại tham mưu, bộ mặt quân sự nổi bật nhứt của vụ án Nuremberg là Đại tướng Alfred Jodl.

        Ông chính là một nhà chiến lược, một lý thuyết gia về chiến tranh. Nền giáo dục quân sự của ông có một căn bản lịch sử vững mạnh, và ở trong quân đội Đức, ông .được coi là nhà chuyên môn tài ba nhất về các chiến dịch và các lý thuyết của Napoléon. Trong suốt cuộc chiến tranh ông là trưởng ban hành quân của Bộ Tổng tư lệnh tối cao Quân lực. Người ta có thể coi ông như vị cố vấn chính của Hitler — trong phạm vi chữ cố vấn có thể đi theo cái tên này : Hitler.

        Jodl cũng như Keitel là một người bạn đồng hành nhỏ bé trong số những nhà quý tộc còn nắm giữ những chức vụ chỉ huy chính yếu trong quân lực Đức. Phần lớn các vị tướng soái nói về ông vởi một sự hạ cố không xa sự khinh bỉ. Họ nỏi : « Cặp Keitel — Jodl không được quân đội mến chuộng vì họ coi hai người này như những công cụ phục vụ làm nô lệ cho Fuhrer ». Sự khinh bỉ đó, ông cảm thấy, và có lẽ đã đóng góp vào việc làm cho Jodl có những tâm tình Quốc Xã. Ông nhập đoàn những kẻ chống các Tướng lãnh cổ truyền là những người không nhìn nhận ông hoàn toàn là một người của họ. Hơn nữa, ông thán thưởng thiên tài quân sự của Hitler. Con người chuyên nghiệp nghiêng mình trước sự tài giỏi hơn của một kẻ tài tử.

        Nhưng Jodl tỏ ra sáng suốt hơn chủ mình. Ông đã nói trước Tòa án Nuremberg ; « Những nỗi nghi ngờ của tôi đối với chiến thắng của Đức bắt đầu phát sinh vào mùa Đông 1941-1942 ». Người ta đã thấy là vào năm 1942 và 1943 ông đã thử hành động chống lại giấc mơ làm lớn về quân sự của Hitler. Ông thú nhận : « Fuhrer dần dần đã mất cái nhìn đúng đắn về tình hình. Ông đã đi tới chỗ muốn giữ tất cả các mặt trận mà không lo đến sự điều khiển tống quát cuộc chiến. Ông bám chặt cho tới cùng vào tất cả những đất đai đã chiếm được trong một tư tưởng uy tư, cuối cùng với ý tưởng duy nhất là giữ chiến tranh xa biên giới Đức càng lâu càng tốt ».

        Jodl còn nói :

        « Vào mùa xuân năm 1944 tôi trình cho Fuhrer một bản lược trình để chứng tỏ cho ông thấy rằng chúng tôi chỉ còn một hy vọng duy nhất để có được một nền hòa bình danh dự, đó là đẩy lui cuộc đổ bộ của quân Anh Mỹ sắp xảy ra1. Tôi đề nghị, nếu cần, hy sinh các mặt trận khác, để tập trung tại Pháp những phương tiện đủ dùng. Hitler không nghe tôi ».

        Hồ sơ Nuremberg có một tài liệu rất dài do Tướng Jodl, mang số hiệu L 172. Đó là bài thuyết trình ông đọc ở Munich ngày 7 tháng 11 năm 1943 trước các Đảng ủy trưởng, các Khu trưởng, nghĩa là trước những nhân vật cao cấp nhứt của đảng. Bài thuyết trình này và nhứt là những phụ bản do OKW cung cấp và một phần do ông đã xử dụng sẽ rất quý giá cho Lịch sử. Đó là một bảng tổng quát về tình hình chiến lược của Đức vào đầu năm thứ 5 của cuộc chiến tranh, ngay trước khi Đồng minh đồ bộ và Đức đại bại.

        Tôi đã trưng dẫn một vài đoạn, ở đây tôi xin trở lại tài liệu đó và phân tích toàn bộ. Những câu đầu thật là ý nghĩa. Chúng chứng minh sự sa sút tinh thần của Đức và sự suy giảm của mặt trận nội bộ. Ông nói : « Con quỷ khuynh đảo lại gần từng bước một. Tất cả những kẻ hèn nhát tìm một lối thoát ở trong cái mà chúng gọi là một giải phảp chính trị. Chúng khuyên nên thương thuyết thay vì chiến đấu. Đầu hàng sẽ là mạt kỳ của nước Đức. Để chống lại làn sóng tuyên truyền của địch đó là sự hèn nhát đang tràn lan trong dân chúng thuộc các vùng trách nhiệm của quý ông, sức mạnh không đủ. Vì vậy tôi sẽ cho quý ông thấy một ý tưởng tuyệt đối chân thực và khách quan về tình trạng sự việc, của chúng ta hầu quý ông có thể thấy trong đó những yếu tố cần thiết để nâng cao tinh thần của dân tộc».

        Đoạn Jodl nói về lịch sử kể từ khi Đảng Quốc Xã lên cầm quyền. Ông chứng minh những quyết định của Hitler là đúng và nhắc lại các chiến thắng. Những chiến thắng vẻ vang và luôn luôn còn dở dang, ông nói :

        « Đáng lẽ ra chúng ta có phải đưa chiến tranh vào đất Anh bằng một cuộc đổ bộ đại quy mô không ? Hơn nữa, trước giả thuyết của một cuộc can thiệp của Mỹ, cần phải xét đến việc chiếm đóng một số các hòn đảo ở Đại tây dương như Islande và Acores. Từ các đảo ấy chúng ta sẽ có thể tung ra những đòn công hiệu đặc biệt đánh vào sự di chuyển của các tàu Anh và bảo vệ lãnh thổ Chân Âu giống hệt như Nhựt Bổn đang bảo vệ Đại Á nhờ các căn cứ xa xôi của họ trong Thái Bình Dương. Nhưng, Fuhrer rất khôn ngoan, ỏng đã bỏ không chiếm các mục tiêu đó. Vì không những việc chinh phục các mục tiêu đó mà sự bảo vệ chúng và sự duy trì những mối liên lạc với chúng bằng đường biển đòi phải có một lực lượng Hải quân và Không quân hùng hậu mà hiện chúng ta chưa có được.

--------------
        1. Đọc « Hitler và trận đánh Normandie » — Sông-Kiên xuất bản.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 16779


« Trả lời #96 vào lúc: 14 Tháng Một, 2018, 11:30:39 PM »


        Trong thời kỳ đầu của cuộc chiến, là lúc chúng ta có ưu thế tuyệt đối trên bộ và ưu thế đáng kể trên không, nhưng chúng ta đã không toàn thắng được vì Hải quân của chúng ta yếu kém vô vọng. Cuộc đổ bộ lên đất Anh đã được chuẩn bị với những chi tiết tỉ mỉ nhứt, nhưng chỉ với những phương tiện chuyển vận ứng biến, nên đã không dám thi hành vì chúng ta đã không loại hẳn được Không quân Anh khỏi vòng chiến ».

        Sau khi nói về sự thất bại của kế hoạch Gibraltar và những thất bại ở Địa Trung Hải do sự bất lực của Ý gây nên, Jodl nói tới vấn đề nóng bỏng thứ hai của cuộc chiến :

        « Ngày nay, nhìn lại những thất bại triền miên của chúng ta từ năm 1943, một câu hỏi được đặt ra và còn được đặt ra mãi : có phải chúng ta đã đánh giá hoàn toàn không đúng mức lực lượng của bọn Bôn-Sơ-Vích không? Nếu xét về chi tiết các cuộc hành quân, câu trả lời chắc chắn là đúng. Nhưng nếu xét toàn bộ cuộc tấn công Nga, không thể có nghi vấn. Điều khiển chiến tranh cũng như làm chỉnh trị không phải đơn thuần là một bài tính cộng và một trong những bài học kinh nghiệm quan trọng nhứt của chiến tranh là không gì khó bằng đánh giá lực lượng đối phương. Ngay khi mỗi yếu tố đều đã được lượng giá đúng mức, thì vẫn còn những điều không thể cân lường được, đến nỗi toàn bộ chỉ huy trở nên rõ ràng trong chính lúc trận chiến đang diễn tiến.

        «Nhưng tình hình đã sáng tỏ, bằng chứng là trong lúc chúng ta tiến quân vào vùng đất lạ đen tối là đất Nga, chúng ta đã phải dùng những biện pháp không những nhằm gia tăng lực lượng quân số mà còn nhằm cải thiện chiến cụ, nhờ đó chúng ta có thể sẵn sàng cho một cuộc chiến tranh toàn diện là điều chúng ta đã không thể đạt được, nếu chúng ta không bị hoàn cảnh thúc bách. Người ta không thể không run sợ khi nghĩ tới điều sẽ xảy tới cho chúng ta, nếu trước mối nguy hiểm chúng ta đã chọn thái độ chờ xem. Sớm muộn gì chúng ta cũng bị bất ngờ.

        « Tuy trong năm 1941 cũng nhu trong năm 1942 chúng ta đã không thành công trong việc bễ gây lực lượng chiến đấu của địch và bắt Nga phải khuất phục, nhưng chúng ta đã có thể có quyền coi sự đẩy lui cộng sản ra xa bờ cõi là một kết quả cụ thể ».

        Nhưng năm 1943 là năm nhiều thát bại và đe dọa chồng chất mà diễn giả không thể phủ nhận. Tuy việc phê bình sự lãnh đạo chiến tranh của Hitler hiển nhiên không thể có, nhưng Jodl cũng để cho người ta thoáng thấy những lỗi lầm đã phạm.

        « Sau những thất bại đầu vào mùa đông, năm 1941 tại mặt trận Miền Đông và tại Bắc Phi, Đức Quốc và đồng minh của Đức đã tập hợp các lực lượng của mình lại để đánh Nga trong một trận xung phong mới và để lấy của quân Anh những căn cứ ở miền Tây Địa trung hải. Những trận lớn ở Caucase và vùng châu thổ sông Nil đã thất bại vì không đủ quân và vì thiếu khí cụ thích hợp. Lần đầu tiên đối phương tây phương của ta tỏ ra có ưu thế về Không quân trên Địa trung hải, về phẩm chất cũng như về số lượng. Nga đã ổn định được trận chiến trước stalingrad và ở Caucase và nhờ có mùa đông giúp sức, những thế trận mới của Nga đã thành công trong việc phá vỡ những mặt trận vững chắc và quá rộng lớn mà một phần đã do Đồng minh của chúng ta chiếm đóng ở vùng sông Volga và sông Don. Lộ quân thứ 6, gồm những phần tử ưu tủ trong quân đội Đức, nhưng không được tiếp tế đầy đủ, và bị bão tuyết vùi đập, đã gục ngã trước ưu thế địch

        Cuộc đổ bộ của Đồng Minh lên Bắc Phi, chiến dịch Tunisie đă gây cho nước Đức những tổn thất nặng nề khác. «Cuối mùa đông năm 1942-1943, Jodl nói, lực lượng Đức trải ra đến cùng cực. Có thể chính đốn lại lộ quân thứ 6 và đại đoàn 5 Thiết giáp, nhưng bốn lộ quân bạn lại bị vĩnh viễn tan rã ».

        Tướng Jodl không cho thính giả của ông một hy vọng nào về một sự phục hồi quân sự tương lai. Ông nói :

        « Các lực lượng trù bì chiến thuật phía Đông thực ra được trang bị hết sức đặc biệt nhưng quân số của những lực lượng này không cho phép tính đến những cuộc hành quân quan trọng. Sự linh hoạt của quân đội đà hết rồi, và ưu thế của không quân cũng đã hết, chỉ trừ ở mặt trận miền Đông. Các lực lượng kinh tế của đối phương và ưu thế của tiềm năng nhân lực của chúng được tập trung để có thể tạo một trọng tâm chống lại Âu Cháu, đã bắt đầu ló dạng. Sự thất bại hoàn toàn của Ý trong tất cả các lãnh vực và khả năng sản xuất đạn dược không còn ở những nước Đồng minh. Những cố gắng kỳ diệu của Đức không thể bù đắp lại những thiếu sót này.

        « Vì vậy, thế chủ động đã chuyển sang đối phương, và vì vậy chúng ta và các nước thuộc phe chúng ta đã phải rút về thế thủ ».
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 16779


« Trả lời #97 vào lúc: 15 Tháng Một, 2018, 10:58:16 PM »


        Đoạn Jodl mô tả sự bội phản của Ý và các hậu quả tai hại của nó. Ông nhìn nhận rằng địa vị trung ương của Đức không cho phép chuyển giao lực lượng chiến lược là lực lượng đã đưa tới những thắng lợi lớn cho Đức trong năm 1917 và dầu năm 1918, vì ngày nay đối phương đã nắm ưu thế khắp nơi. Ông nêu lên cuộc khủng hoảng về quân số, cuộc khủng hoảng vè nhân công, cuộc khủng hoảng về nhiên liệu, tất cả những bệnh tật trầm trọng đó đang hám chặt vào cơ thể của một nước Đức mòn mỏi ».

        « Nhưng, ông nói, điều ngày nay đè nặng nhất trên mặt trận nội địa của chúng ta là do phản ứng trên các chiến tuyến, chính là những cuộc đột kích khủng bố nhắm vào các gia đình của chúng ta, vào vợ con chúng ta. Về mặt đó người ta sẽ chẳng bao giờ nhắc lại dù rằng chiến tranh do lỗi của người Anh đã mang một hình thức người ta tưởng rằng không thể xảy ra bao giờ kể từ thời kỳ có các cuộc chiến tranh chủng tộc và tôn giáo.

        «Những ảnh hưởng tâm lý, luân lý và vật chất của các cuộc oanh tạc khủng bố ấy đã đến mức cần phải tuyệt đối giảm bớt nếu không phải là loại trừ hẳn. Đúng là những cuộc khủng bố đó cũng có một vài hậu quả tốt, như tất cả những sự bất hạnh lớn lao. Trước các sự đổ nát, tất cả các vấn đề xã hội, tất cả những sự ghen tưông và tất cả những tình cảm ti tiện của tâm hồn nhân loại đều biến tan. Nhưng đó không phải là một niềm an ủi đối với chúng ta. Những cố gắng quá lớn lao mà chúng ta đã đòi không quân của chúng ta phải làm và sự bất lực của chúng ta trong việc duy trì một mức độ ngang với quân địch trong lãnh vực sản xuất hàng không và khám phá các máy bay địch đã đưa chúng ta tới cảnh huống ngày hôm nay. Những cố gắng của Fuhrer và của Thống chế Tư lệnh Không quân đang chế ngự cuộc khủng hoảng này. Những hiệu quả đầu tiên đang xuất hiện. Chúng ta lấy lại thế thăng bằng để chống lại các phóng pháo cơ bốn máy hạng nặng bằng một đội đại bác phòng không bắn xa. Chỉ cần quân địch tổn thất chắc chắn, cả ban ngày lẫn ban đêm, 10 cho tới 12 phẫn trăm các máy bay của chúng. Có lẽ địch quân sẽ có thể bù đắp. lại sự tồn thất về vật chất nhưng không thể bù đắp được về nhân mạng, và trên hết là tinh thần các phi hành đoàn sẽ không đứng vững, đặc biệt là tinh thần phi công Mỹ, là những kẻ duy vật và không có một ý tưởng nào về lý do chiến đấu của chúng. Tôi hoàn toàn tưởng rằng nhờ vũ khí của chúng ta và nhờ các sự tiến bộ mới về kỹ thuật1, các cuộc oanh kích theo đội hình hẹp mà các máy bay địch đã xử dụng để trút xuống chúng ta những màn bom phá hoại ghê gớm sẽ không thoát khỏi số phận dành cho chúng».

        Đó là hy vọng đầu tiên mà vị tướng đã gợi lên cho các vị chỉ huy hành chánh và các đảng viên cao cấp Quốc Xã đi tìm một niềm hy vọng thứ hai.

        « Tuy nhiên, ông nói, những hy vọng lớn nhất của Bộ tư lệnh Đức và nhân dân Đức là đặt nền móng trên chiến tranh tiềm thủy đĩnh. Có thể coi đây là khu vực duy nhất mà chúng ta ở thế công. Đúng là nhiều thất bại nặng nề trong lãnh vực này phải được ghi nhận trong những tháng cuối cùng làm chúng ta không thể giữ sự phá hoại trọng tải của địch ở mức cao hơn mức sản xuất. Sự sa sút của chiến tranh tiềm thủy đĩnh là do địch quân đã áp dụng các biện pháp như tăng cường phòng thủ không quân và đem xử dụng các máy tìm tàu ngầm hoàn bị cũng như các thủy lôi chống tàu ngầm hết sức mạnh. Nhưng khó khăn này phải được khắc phục và chắc chắn sẽ được khắc phục. Về phía chúng ta cũng đã có những biện pháp nhằm bẻ gãy các cuộc phòng thủ của địch và đưa tới một sự cải thiện hoàn toàn khả năng tác chiến của các tiềm thủy đĩnh của ta».

        Bài thuyết trình của Jodl là một lời thú nhận sự thất bại. ông đã chứng minh một cách không thể chối cãi là nước Đức đã tự xếp hạng quá cao trong tất cả các lãnh vực của cuộc chiến và cán cân lực lượng càng ngày càng đè nặng trên Đức. Như vậy, đảng lý ra ở một nước không bị điên, người ta đã kết luận là phải tìm cách điều đình hoặc tính cả đến chuyện đầu hàng, hầu giảm thiều các cuộc tàn sát vô ích và các cuộc hy sinh vô bờ bến không có đối tượng. Nhưng viên tướng của Hitler đã kết thúc bài thuyết trình thảm khốc của ông bằng một lời ca tụng Fuhrer : « Lý do sâu sắc nhất của niềm tin của tôi, ông nói, là căn cứ trên sự kiện Đức có một lãnh tụ đã được tiền định để dẫn dắt dân tộc chúng ta tới một tương lai sáng lạn. Tôi có thể xác định, chống lại tất cả các ý kiến trái ngược, rằng ông là linh hồn của sự lãnh đạo quân sự và chính trị, và sức mạnh của ý chí ông cũng như khả năng sáng tạo của ông làm cho tất cả các lực lượng võ trang Đức sống động và đứng vững... Lòng trung thành của tôi đối với Fuhrer và niềm tin tưởng của tôi nơi người thật là vô bờ bến».

-------------------
        1. Đọc: « Cuộc săn tìm vũ khí bí mật của Hitler » — Sông Kiên xuất bản.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 16779


« Trả lời #98 vào lúc: 15 Tháng Một, 2018, 10:58:39 PM »

 
        Những lời trên đây là của cùng một Jodl, là người đã muốn chứng minh trước các quan tòa ở Nuremberg rằng lúc đó mình đã bị thất sủng 50 phần trăm và niềm tin của mình nơi óc công bình của Hitler đã lay chuyển...

        Bài thuyết trình có kèm theo nhưng con số và những tấm bảng do OKW cung cấp. Những tài liệu này cho người ta một ý kiến đầy đủ và chính xác về các lực lượng Đức cùng sự phân phối của chúng trong giai đoạn đó của của chiến.

        Ở Phần Lan, quân Đức có 176.800 quân sĩ ưu tú. Ở Na Uy có 380.000, gồm 13 sư đoàn và 1.000 khẩu đại bác nòng cỡ lớn hơn 100 ly. Ở Đan Mạch, quân Đức chỉ có 3 sư đoàn có giá trị tác chiến kém với một quân số tổng quát là 106.500 người.

        Ở phía tây, quân Đức chờ đợi cuộc xung phong. Những văn thư của Bộ tham mưu nói
rằng bờ biền bầu như chỗ nào cũng có các phương tiện đổ bộ và hệ thống giao thông bằng đường lộ và đường hỏa xa sẽ giúp địch tiến quần mau lẹ.

        Mau lẹ và nguy hiểm !

        «Xâm nhập được vào tuyến phòng thủ của chúng ta ở bờ Đại tây dương, địch có thể vào được Bỉ, Hòa Lan, miền Bắc nước Pháp và các vùng kỹ nghệ miền Tây nước Đức. Như vậy thật là chí nguy cho chủng ta.

        Dù chỉ thành công một phần, lập được một đầu cầu, cũng đă nguy lắm rồi. Địch quân, nhờ có ưn thè' về quàn số và chiến cụ, sẽ không gặp khó khăn trong việc mở rộng đầu cầu đó và chọc thủng phòng tuyến chúng ta.

        Do đó cần phải đẩy lui và tiêu diệt địch trước khi chúng tới bờ biển ».

        Để làm việc đó, quân Đức đã xây bức tường thành Đại tây dương. Các văn thư của Bộ tham mưu nói : « Không thể tăng cường bờ biển suốt 2.600 cây số với một hệ thống pháo đài có chiều sâu đồng nhất. Nhưng số các vị trí đóng quân và số điểm tựa đã được chuẩn bị đã cao hơn bắt cứ hệ thống pháo đài nào khác, kể cả chiến lũy Maginot ».

        Năm triệu ba trăm ngàn thước khối bê tông đã được đúc ; 8.149 vị trí đã được đóng quân thường trực ; 2.692 khẩu đại bác nòng cỡ trên 75 ly và 2354 khẩu đại bác chống chiến xa đã được bố trí — những cố gắng khổng lồ của chiến tranh, dành cho một sự vô dụng muôn đời. 27 Sư đoàn đặt để phòng thủ miền duyên hải, 21 Sư đoàn khác, trong đó có 11 Sư doàn thiết giáp sẵn sằng can thiệp trong cuộc tổng phản công và 7 Sư đoàn mới, trong đó có 3 Sư đoàn nhảy dù, đang được thành lập. Số người nhận khẩu phần lên tới 1.708.990 số người chiến đấu là 1.370.708.

        Đối diện, bên kia bờ biển Manche, đợi lệnh đổ bộ, các cơ quan tình báo Đức đếm được 40 hay 41 Sư đoàn Bộ binh, trong số đó có 4 hay 5 Sư đoàn quân Mỹ ; 9 Sư đoàn và 1 Lữ đoàn Thiết giáp ; hai Sư đoàn Không vận và 7 tiẽu đoàn nhảy dù. Khả năng chuyển vận quan và phương tiện đổ bộ được ước lượng là 11 hay 12 Sư đoàn Bộ binh và 1 hay 2 Sư đoàn Thiết giáp. « Lực lượng và tài nguyên của địch, Bộ tham mưu nói, từ lúc này đã đủ cho một cuộc hành quân đại quy mô và cuộc đổ bộ lên lục địa Âu Châu đòi hỏi. Các lực lượng này chắc chắn sẽ được tăng cường vào những tháng sắp tới.

        Kết luận như sau :

        « Trong trường hợp có một cuộc tấn công ở phía Tây, các phương tiện của ta dù cho rằng các lực lượng trừ bị chiến thuật đều được tập hợp cũng sẽ không đủ để đối phó với một trận đánh quyết liệt, cần phải động viên tất cả mọi người Đức có thể cầm vũ khí, và dù cho phải bỏ ngỏ mẫu quốc đi nữa. »

        Những tài liệu trên chứng tỏ cuộc tấn công của Anh-Mỹ tháng sáu năm 1944 không phải đã xảy đến với một quân đội Đức bị bất ngờ cũng như không phải với một đối thủ đã bị giải giới. Nếu người ta xét đến các khó khăn kỹ thuật, như người ta phải làm, thì cuộc đổ bộ Normandie càng ngày càng xứng đáng là một trong những chiến thắng quân sự lẫy lừng nhất và hoàn toàn nhất trong Lịch sử.

        Tại Ý, mặt trận phụ, quân Đức duy trì 396.000 người. Vùng Ba Nhĩ Cán là nơi không có chiến tranh công khai cũng thu hút nhiều nhân lực vật lực hơn. Trong nền kinh tể chiến tranh bị tàn lụn của Đức, vùng này đã chiếm một địa vị rất quan trọng ; nó đã cung cấp 50 phần trăm dầu lửa, 100 phần trăm « chromc », 60 phần trăm chất « bốc xít », 29 phần trăm chất « antimoine », 21 phần trăm đồng. Vùng này phải có một trại quân hùng mạnh để chống một cuộc đổ bộ có thể xảy ra và cũng để chống các người yêu nước kháng chiến đang chiếm giữ các vùng núi non và kiểm soát những vùng đất bao la. Bộ tham mưu Đức ước lượng có 90.000 du kích quân của Tito và 30.000 du kích quân của Mihailovitch, thêm vào đó còn có từ 20.000 đến 25.000 quân Hy Lạp do Zervas chỉ huy.
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Một, 2018, 11:10:55 PM gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 16779


« Trả lời #99 vào lúc: 17 Tháng Một, 2018, 11:09:47 PM »

   

Được vinh thăng Thống chế sau trận đảnh nước Pháp, VON KLUGE được chuyên về chỉ huy trận tuyến miền Đông trong khi cảc cuộc ihươnq thuyết giữa Nqa-sồ và Đức-quốc đang tiếp diễn.



Đại tướng VON BOCR chỉ hay Binh đoàn Trung ương với 49 sư đoàn.



Đại tướng ALFRED JOLD



Thống chế von REICHENAU (bên trái) và Đại tưởng PAULUS đang nghiên cửu cuộc « hành quản BARBAROSSA ».
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM