Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 22 Tháng Bảy, 2017, 03:23:46 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)  (Đọc 302 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 7218

Lính của PTL


« Trả lời #20 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2017, 08:58:33 PM »

CHƯƠNG HAI

CHỐNG ĐỊCH LẤN CHIẾM, BÌNH ĐỊNH,
GÂY DỰNG CƠ SỞ CHIẾN TRANH NHÂN DÂN
(1946-1948)

1. Phá hoại kinh tế, tiêu hao sinh lực địch làm chậm bước tiến của chúng trong những ngày đầu kháng chiến.

Trong khi quân dân ba tỉnh Quảng Yên, Hải Ninh và Hồng Gai xây dựng, bảo vệ chính quyền cách mạng chuẩn bị chống chiến tranh xâm lược thì tình hình trong nước có những diễn biến quan trọng.

Ngày 6 tháng 3, nhằm gạt bớt kẻ thù và thực hiện chủ trương “hòa để tiến”, Chính phủ ta đã ký Hiệp định sơ bộ với đại diện chính phủ Pháp. Tiếng súng trên các chiến trường vì thế cũng tạm lắng xuống.

Nhưng Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 và Tạm ước ngày 14 tháng 9 ký chưa ráo mực, thực Pháp đã trở mặt nổ súng tiến công ta ở nhiều nơi.

Nhân dân ta đã tự động đứng lên đấu tranh để giữ lấy độc lập và tự do.

Phản ánh ý chí và nguyện vọng của toàn dân, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng (họp ở rộng ở làng Vạn Phúc) ngày 18 và 19 tháng 12 năm 1946 đã chủ trương phát động cuộc kháng chiến trong cả nước, và đề ra những phương pháp cơ bản cho cuộc kháng chiến. Đêm 19 tháng 12 năm 1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ.

Ngày 20 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi nhân dân cả nước:

“Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa.

Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!... Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu Tổ quốc”(1).

Ngày 22 tháng 12 năm 1946, Trung ương Đảng ra chỉ thị toàn dân kháng chiến. Chỉ thị vạch rõ mục đích cuộc kháng chiến là giành độc lập và thống nhất Tổ quốc. Phương châm cơ bản của cuộc kháng chiến là toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh. Khẩu hiệu được nêu lên là “mỗi phố là một mặt trận, mỗi làng là một pháo đài”, “vừa kháng chiến vừa kiến quốc”, “triệt để dùng chiến thuật du kích và chiến thuật vận động”.

Đáp lời kêu gọi cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh và đường lối kháng chiến đúng đắn của Đảng, nhân dân cả nước quyết sống mái với giặc, cứu nước, cứu nhà.

 Tại địa bàn vùng đông bằng Bắc Bộ và đông – bắc Tổ quốc, từ ngày 20 tháng 11 năm 1946, quân Pháp đã đánh chiếm Hải Phòng và Lạng Sơn, ngày 17 tháng 12 năm 1946 quân Pháp gây hấn tại Thủ đô Hà Nội. Và cũng trong những ngày này trên địa bàn Đông Bắc quân Pháp có tới 1.050 tên tập trung ở xung quanh khu mỏ, chiếm những vị trí quan trọng như các điểm cao, các đồn binh cũ, nhà cửa kiên cố, khống chế các đường giao thông thủy, bộ. Trong khi đó ở thị xã Hồng Gai, ta chỉ có hai trung đội Vệ quốc quân, một trung đội cảnh vệ, một trung đội quyết tử (tự vệ) bố trí ở Hồng Gai, Hà Tu, Hà Lầm, Bãi Cháy. Ở thị xã Cẩm Phả ta có một trung đội vệ quốc quân, một trung đội cảnh vệ, một trung đội tự vệ chiến đấu. Ở Cửa Ông, ta có một trung đội Vệ quốc quân, một trung đội tự vệ chiến đấu. Nhìn chung lực lượng ta so với địch quá ít, thiếu súng đạn (bình quân hai đến ba chiến sĩ Vệ quốc quân một khẩu súng, các đơn vị tự vệ ở cơ sở thường chỉ có một vài khẩu súng trường cũ và một số lựu đạn để canh gác), đóng quân phân tán và ở những địa hình thấp hơn so với địch.

Để đối phó với âm mưu và thủ đoạn của địch, đồng thời để giúp cho Đặc khu ủy và Ủy ban hành chính đặc khu lãnh đạo chỉ đạo công tác quân sự trong thời gian này, ta đã thành lập Ủy ban bảo vệ do đồng chí Nguyễn Kim Cương làm trưởng ban.

Ngày 16 tháng 12 năm 1946 Ban Chấp hành Đảng bộ đặc khu họp hội nghị bất thường tại Hồng Gai và chủ trương: khi nhận được lệnh kháng chiến sẽ tiến công và phá hoại kinh tế của địch đồng loạt ở khu mỏ, sau đó rút lực lượng ra ngoài lập căn cứ kháng chiến.

Một kế hoạch phá hoại nhà máy cơ khí Hồng Gai và nhà máy điện Cột 5 được vạch ra khá chu đáo. Theo kế hoạch các trung đội Vệ quốc quân đang đóng ở ba thị xã khi có lệnh sẽ bất ngờ tiến công các vị trí đóng quân của giặc Pháp.

Tối 19 tháng 12 năm 1946, Pháp tăng thêm quân ở Hồng Gai. Sáng ngày 20 chúng đưa tối hậu thư yêu cầu Ủy ban đặc khu đầu hàng. 11 giờ trưa cùng ngày từ các điểm cao có lợi thế, chúng tỏa ra bao vây thị xã Hồng Gai, tăng cường kiểm soát các nhà máy và hầm mỏ, đánh chiếm các công sở của ta.

Mặc dù cho tới lúc này Đặc khu ủy và Ủy ban hành chính đặc khu chưa nhận được mệnh lệnh từ Trung ương, nhưng quân ta vẫn tổ chức chặn đánh địch khu chúng tiến công các trụ sở ủy ban hành chính, Mặt trận Việt Minh, nhà bưu điện. Ngay đêm hôm đó, bộ đội và tự vệ chiến đấu đã bảo đảm an toàn cho các cơ quan dân, chính, Đảng rút ra ngoài thị xã.

Trong khi bộ đội nổ súng, tự vệ và công nhân đã phá nhà máy cơ khí Cẩm Phả, cần trục, hai bốt điện (Núi Ngọc và Cột 2), máng than.

Ở Cửa Ông, do có sự chuẩn bị rất đầy đủ từ trước, nên ta đã chủ động đối phó với địch. Trước ngày toàn quốc kháng chiến tự vệ ta đã giác ngộ được một số cai ký có tinh thần yêu nước, tạo thuận lợi cho việc đặt sẵn các quả mìn vào những nơi cần thiết để phá hoại máy móc khi có lệnh kháng chiến. Các em thiến niên (phần đông là con em công nhân mỏ) thường xuyên theo dõi và nắm tình hình của quân Pháp để báo cho bộ đội và du kích. Đêm 19 tháng 12 năm 1946, thấy bọn Pháp ở địa phương có những hoạt động khác thường, đài Tiếng nói Việt Nam ngừng hoạt động, các lực lượng của ta đã bước vào tư thế sẵn sàng chiến đấu. Trước khí thế của quân và dân Cửa Ông, cả ngày 20 tháng 12 năm 1946, giặc Pháp không dám rời khỏi vị trí.

Ngay đêm 20 tháng 12 năm 1946, bộ đội ta tập kích quân Pháp đóng ở Đồn Cao, Cửa Ông. Các đơn vị cảnh vệ và tự vệ đã tham gia phá hoại các máy móc, phương tiện của địch và bảo vệ cho các cơ quan và nhân dân rút ra ngoài thị xã. Công nhân đã dùng xăng lửa, bom mìn, lựu đạn và cả choòng, búa để phá nhà máy sáng, nhà máy bào, đánh sập một số cần trục, sáu tàu hỏa và lao cả xe goòng xuống vực. Máy ba nhà sàng Cửa Ông bị phá bởi một quả mìn với lượng thuốc nhồi vào phuy xăng 200 lít, mái tôn bay rào rào vào phố Cửa Ông trở thành một biển lửa, khói đen cả một góc trời. Đám cháy kéo dài cho tới ngày 22 tháng 12 năm 1946.

Tuy vậy, những ngày đầu toàn quốc kháng chiến do không nhận được mệnh lệnh của trên, một số nơi đã bị tổn thất. Ở Bãi Cháy, chủ tịch khu phố bị bắt. Ở Hà Lầm, tiểu đội cảnh vệ bị Pháp đánh úp bắt bảy người, thu ba súng. Ở thị xã Cẩm Phả, chiều 20 tháng 12 năm 1946, quân Pháp bất ngờ bao vây trụ sở ủy ban hành chính, bắt chủ tịch và công an thị xã. Các lực lượng vũ trang của ta đối phó với địch một cách bị động rồi rút ra ngoài thị xã.

Sau khi các cơ quan, các đơn vị bộ đội, tự vệ, cảnh vệ và nhân dân vượt Tài Xá sang Cái Bầu thì một số công nhân và phần lớn nhân dân được vận động quay về Cửa Ông (sau này nhiều người trong số hồi cư ngày ấy trở thành cơ sở của ta).

Các lực lượng chính trị, vũ trang và cơ quan lãnh đạo của Cửa Ông về Hoành Bồ, nơi tập kết của các lực lượng trong toàn đặc khu.


(1) Hồ Chí Minh, Vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1970, tr.67.
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Bảy, 2017, 05:51:42 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 7218

Lính của PTL


« Trả lời #21 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2017, 09:01:05 PM »

*

Ngày 21 tháng 12 năm 1946, lực lượng của đặc khu và thị xã Hồng Gai đã tới Xích Thổ (Hoành Bồ) rồi sau đó về Sơn Dương. Một số cán bộ được lệnh quay lại thị xã để nắm quần chúng và sau đó đưa thêm một số công nhân ra ngoài.

Sau khi ổn định lại biên chế, đặc khu chủ trương tiếp tục đưa lực lượng vào khu mỏ để đánh địch và phá hoại tiêu hao sinh lực địch, phá cơ sở kinh tế của chúng.

Được cơ sở báo về địch sẽ tập trung 24 sĩ quan tại nhà tên Pháp Ca-chi-e ở Hà Lầm để bàn kế hoạch quân sự vào ngày 25 tháng 12 năm 1946, Đặc khu đã khẩn trương tổ chức lực lượng tiêu diệt bọn sĩ quan Pháp ở đây. Lực lượng ta tham gia trận đánh có một trung đội Vệ quốc đoàn do đồng chí Lan trực tiếp chỉ huy. Đặc khu ủy cử đồng chí Nguyễn Kim Cương, ủy viên thường vụ Đặc khu ủy chỉ huy chung.

Trận đánh diễn ra vào đúng đêm Nô-en, khi bọn địch đang say rượu thì quân ta bắt đầu nổ súng. Một số tên địch canh gác dùng trung liên chống trả nhưng bị quân ta nhanh chóng tiêu diệt. Trận đánh đã kết thúc thắng lợi giòn giã. Gần 30 tên Pháp bị tiêu diệt, trong đó có 24 sĩ quan. Ta thu hai trung liên, 14 tiểu liên, bảy súng trường và mốt số quân trang, quân dụng.



Đồn Hà Lầm, nơi ghi nhận chiến công đêm Nô-en 24-12-1946, diệt gọn hơn 20 sĩ quan Pháp


Hòa cùng tiếng súng tiến công của bộ đội ở Hà Lầm, tự vệ và công nhân đã đốt kho, phá bốt điện và cần trục, đánh sập lò và phóng xe goòng xuống vực thẳm.

Sau trận Hà Lầm, ta tổ chức cho nhân dân tản cư quay về khu mỏ và gài cán bộ đi theo để trở về vùng tạm chiếm hoạt động.

Trung đội Vệ quốc quân và một số người trong “Duyên biên tự vệ đội” giác ngộ cách mạng đã được bổ sung cho bộ đội chủ lực. Số còn lại của “Duyên biên tự vệ đội” do bản chất phản động đã lần lượt quay lại chống phá cách mạng, chống phá kháng chiến. Các đơn vị cảnh vệ, tự vệ chiến đấu được biên chế lại thành một đại đội gồm bốn trung đội, mỗi trung đội có một đảng viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 1946 tại xã Sơn Dương, đại đội này được chính thức thành lập và mang tên của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cán bộ chiến sĩ đại đội hầu hết là công nhân mỏ. Đây cũng là đại đội đầu tiên của khu mỏ. Đồng chí Trần Quốc Thảo, bí thư Đặc khu ủy Hồng Gai đã công bố quyết định thành lập đơn vị và quyết định công nhận chi bộ Đảng của đại đội Hồ Chí Minh.



Liệt sĩ Trần Quốc Thảo (Hồ Xuân Lưu) – Đảng viên năm 1930, Bí thư Đặc khu ủy Hồng Gai, Ủy viên Trung ương Cục miền Nam, Bí thư Thành ủy Sài Gòn – Chợ Lớn

Từ đầu năm 1947, các cơ quan lãnh đạo của đặc khu đóng tại Sơn Dương đã tổ chức ra các bộ phận như: Ủy ban bảo vệ, ban tiếp tế, ban dân vận, xưởng công binh. Đặc khu còn có ý định tổ chức đội biệt động để đánh địch trên đường 18 và tập kích vào các mục tiêu trong mỏ (lúc đó cấp trên có dự kiến và thành lập liên tỉnh Quảng Hồng nên đặc khu chưa có quyết định về việc xây dựng căn cứ chính thức ở Sơn Dương).
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Bảy, 2017, 05:51:52 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 7218

Lính của PTL


« Trả lời #22 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2017, 09:08:25 PM »

Để bảo vệ căn cứ của đặc khu Sơn Dương, đại đội Hồ Chí Minh đã tổ chức bốn trung đội và một tiểu đội súng máy bố trí trên các hướng: Đồng Đăng, Trới, Yên Mỹ, Bang, Đá Trắng.

Phát hiện lực lượng ta tập trung ở Sơn Dương, ngày 11 tháng 1 năm 1947, giặc Pháp đã bất ngờ tiến công từ ba hướng Đồng Đăng, Yên Mỹ, Đá Trắng vào nơi đóng quân của ta.

Mũi tiến công của địch bằng ca nô từ Yên Mỹ lên đã bao vây một tiểu đội của ta về phía Đồng Đăng. Một trung đội của ta ra giải vây cho tiểu đội ở Đá Trắng cũng bị giặc từ trên đồi nổ súng dữ đội vào đội hình.

Đại đội trưởng Nguyễn Kim Cương đã điều tiểu đội súng máy ra đánh bật chúng về Yên Mỹ. Hai cánh quân của địch từ hướng Đông Đăng, Đá Trắng buộc phải rút lui.

Trong trận này, ta đã tiêu diệt được một số địch, bảo vệ an toàn cho cơ quan lãnh đạo nhưng cũng bị hy sinh một trung đội.

Sau trận Sơn Dương không lâu, các lực lượng của đặc khu đều rút về Đông Triều để chuẩn bị thành lập liên tỉnh Quảng Hồng. Trên chiến trường Đặc khu Hồng Gai và huyện Hoành Bồ hầu như không còn lực lượng quân sự của ta.

Từ tháng 1 đến tháng 7 năm 1947, địch đóng các vị trí Trới, Yên Lập, Quảng La, Đồng Đăng. Chúng nuôi dưỡng tên trùm phỉ người Hoa là Quang Phô và 80 tên phỉ khác, để bọn này biến Trại Thán thành một làng phản động ở phía tây – bắc Hoành Bồ.

Từ Trại Thán, An Châu, chúng tổ chức một trận càn lớn tới tận Vũ Oai (Hoành Bồ) và huyện Đình Lập, nhằm xây dựng cơ sở phản động trong vùng rừng núi.

Sau khi lập được hành lang bảo vệ phía sau khu mỏ, giặc Pháp đã lập tề ở các xã ven thị, phục hồi hệ thống mật thám mỏ, mua chuộc một số trong tầng lớp trên của người thiểu số.

*

Sau khi chiếm được thành phố Hải Phòng, ngày 22 tháng 12 năm 1946 địch tổ chức tiến công trên quy mô lớn nhằm đánh thông đường 5, giải vây cho Hải Dương.

Dưới sự chỉ huy của Chiến khu 3, quân dân Quảng Yên không những đánh địch trên địa bàn của tỉnh mà còn liên tục tiến công địch phối hợp với mặt trận Hải Phòng. Ngày 28 tháng 1 năm 1947, giặc Pháp tiến vào Yên Lập. Đại đội Hồ Chí Minh cùng với bộ đội chủ lực chặn đánh quyết liệt. Địch bị diệt 50 tên và bị chìm một ca nô.

Đến cuối tháng 2 năm 1947, địch được tăng viện từ chính quốc sang, những tiểu đoàn đầu tiên đã tới Hải Phòng. Ngày 28 tháng 2 năm 1947, giặc Pháp tiến công thị xã Quảng Yên theo ba hướng Núi Đèo, Yên Lập và toán quân đổ bộ lên bến Đò Lá…

Trước tình hình đó, đại đội Ký Con được lệnh rời Cát Bà. Một bộ phận của đại đội cùng du kích Tiền An chặn đánh địch. Các đại đội 41 (Trung đoàn 98) , Bạch Đằng, Hồ Chí Minh từ Uông Bí tiến vào Yên Lập. Quân ta đã liên tiếp đánh chặn địch tiêu diệt một số tên, phá hủy hai xe quân sự.

Do lực lượng ta quá ít so với địch, nên giặc Pháp đã chiếm được thị xã Quảng Yên. Giặc càn sang Cát Hải và giết 400 đồng bào ta một cách dã man. Ngày 19 tháng 3 năm 1946 giặc Pháp đánh chiếm Phả Lại, Chí Linh, Đông Triều, Lục Nam và Chũ.

Lúc này trung đoàn 98 đang đảm nhiệm việc bảo vệ tuyến đường 18 từ Chí Linh tới Uông Bí và giúp đỡ phong trào kháng chiến của các huyện bên đường 18 thuộc Hải Hưng và Quảng Yên. Trung đoàn đã giúp các đại đội Bạch Đằng, Hồ Chí Minh và dân quân du kích bảo vệ vùng căn cứ và chủ động tìm địch mà đánh. Bộ đội và du kích Nguyễn Huệ, Yên Đức, Yên Thọ đã sang tận Đồn Lưu (Kinh Môn) và Phú Thái (đường số 5) để đột kích vào nơi sơ hở của địch.

Ngày 20 tháng 3 năm 1947, bộ đội của lực ta đột nhập vào thành phố Hải Phòng và tiến công Lộc Bình (Lạng Sơn), buộc địch rút khỏi Đông Triều, Phả Lại, Nam Sách vào ngày 23 tháng 3 năm 1947.

Trong những trận cùng bộ đội đánh địch trên đường 18, du kích Chí Linh và du kích Yên Đức, Đông Triều đã đánh “chim sẻ” phá hơn 40 ki-lô-mét đường 18, phá cột điện, cắt dây điện. Du kích Yên Thanh, Uông Bí, Thượng Yên Công (Yên Hưng) đã phá đường, đánh tàu, đánh xe và trừ gian ven các đường giao thông thủy bộ.
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Bảy, 2017, 05:52:08 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 7218

Lính của PTL


« Trả lời #23 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2017, 09:10:28 PM »



Tinh hình địch trên chiến trường Quảng Ninh (từ sau tháng 8-1945 đến 12-1946)
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Bảy, 2017, 05:52:17 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
Trang: « 1 2 3   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM