Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 22 Tháng Bảy, 2017, 03:23:27 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)  (Đọc 301 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 7218

Lính của PTL


« Trả lời #10 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2017, 08:30:41 PM »

CHƯƠNG MỘT

XÂY DỰNG, BẢO VỆ VÀ CỦNG CỐ CHÍNH QUYỀN DÂN CHỦ NHÂN DÂN,
TÍCH CỰC CHUẨN BỊ CHỐNG CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC (1945-1946)

Cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 giành được thắng lợi hoàn toàn trên phạm vi cả nước. Bộ máy cai trị của phát xít Nhật và chính quyền bù nhìn phong kiến tay sai bị đánh đổ hoàn toàn; chính quyền dân chủ nhân dân được thành lập, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình (Thủ đô Hà Nội) Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập lịch sử của dân tộc: “… Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy"(1). Lần đầu tiên sau tám mươi năm sống dưới ách thống trị của thực dân Pháp, phát xít Nhật, nhân dân Việt Nam được đổi đời, làm dân của một nước độc lập, tự do.

Tuy nhiên, nền độc lập, tự do và chính thể cộng hòa dân chủ non trẻ ấy đang đứng trước muôn vàn khó khăn thử thách trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Ở miền Nam, quân đội Anh mượn tiếng Đông minh vào giải giáp quân đội Nhật, nhưng thực chất là tiếp tay cho thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Ở miền Bắc, hơn 20 vạn quân Tưởng kéo vào cũng mượn tiếng giải giáp quân Nhật, nhưng lại kéo theo các bọn phản động “Việt cách”, “Việt quốc” âm mưu tiêu diệt Đảng ta, thủ tiêu chính quyền cách mạng của nhân dân ta, thành lập chính quyền tay sai để chúng tiến tới thực hiện âm mưu lâu dài thôn tính nước ta. Chưa bao giờ trong lịch sử Việt Nam nhân dân ta lại phải đối phó cùng một lúc với nhiều kẻ thù như vậy.

Trong khó khăn chung của toàn dân tộc, Quảng Ninh còn có những nét đặc thù và khó khăn riêng. Do ở một vùng đất địa đầu đông – bắc Tổ quốc, với địa hình hiểm trở, tình hình chính trị đặc biệt phức tạp, xa sự chỉ đạo của trên, các loại kẻ thù trắng trợn điên cuồng giành giật quyền lực với ta nên trong Cách mạng tháng Tám trên địa bàn mới giành được chính quyền tại tỉnh lỵ Quảng Yên, thị xã Hồng Gai, Cẩm Phả và một số huyện miền tây Quảng Yên, còn một số huyện miền đông Quảng Yên và cả tỉnh Hải Ninh nhân dân ta chưa được quyền làm chủ, phải sống dưới sự khống chế, bóc lột của các loại phản động tay sai cho Quốc dân đảng Trung Hoa như Việt Nam cách mệnh đồng minh hội và Việt Nam quốc dân đảng, cùng các bọn thổ phỉ người Hoa ở địa phương.

Sau Cách mạng tháng Tám phong trào cách mạng ở Quảng Ninh không đều, miền tây mạnh, miền đông chưa được xây dựng, củng cố, lực lượng vũ trang cách mạng còn nhỏ bé, trên dải đất chưa tới 6.000 ki-lô-mét vuông mà lực lượng thù địch rất đông, rất mạnh, bao gồm hàng vạn quân Tưởng, hơn 3.000 quân Nhật và một bộ phận tàn quân của Pháp, hơn 1.000 quân của các bọn phản động “Việt quốc”, “Việt cách” và hàng nghìn tên phỉ hoành hành suốt một dải vùng rừng núi và hải đảo hiểm trở. Đặc biệt nghiêm trọng là tại Móng Cái – tỉnh lỵ của tỉnh Hải Ninh, quân Tưởng từ bên kia biên giới đã tràn sang trắng trợn chiếm đóng từ giữa năm 1945 thực hiện cái gọi là “Kế hoạch Hoa quân nhập Việt” của chúng. Tất cả những bọn này đều trắng trợn hoạt động, sách nhiễu, khủng bố, cướp bóc và giết chóc nhân dân rất dã man. Chính quyền cách mạng non trẻ vừa được thành lập còn đang trong một thời kỳ “trứng nước” đã phải liên tiếp đối phó với mọi âm mưu, thủ đoạn và hành động nham hiểm của kẻ thù.

Nhận rõ đặc điểm và tình hình khó khăn của Quảng Ninh, Trung ương Đảng và Chính phủ đã tăng cường lãnh đạo thực hiện một loạt chủ trương biện pháp để bổ sung, củng cố sức mạnh của Đảng bộ và nhân dân địa phương tạo điều kiện phát triển thực lực của cách mạng, tiếp tục đưa phong trào của địa phương đị lên.

Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Xứ ủy Bắc Kỳ đã cử nhiều cán bộ ra Quảng Ninh để xây dựng lại bộ máy lãnh đạo của tỉnh. Tháng 10 năm 1945, Ban cán sự Đảng bộ tỉnh Quảng Yên được thành lập do đồng chí Nguyễn Hải (tức Hải Chi) làm trưởng ban. Tháng 11 năm 1945, Trung ương Đảng và Chính phủ lại quyết định tách khu mỏ Hồng Gai – Cẩm Phả ra khỏi tỉnh Quảng Yên để thành lập Khu đặc biệt Hồng Gai (gồm hai thị xã Hồng Gai, Cẩm Phả và huyện đảo Cẩm Phả). Ban cán sự Khu đặc biệt Hồng Gai được thành lập do đồng chí Cao Tử Kiến làm trưởng ban.

Về mặt quân sự, sau những ngày đầu Cách mạng tháng Tám, Ủy ban quân sự cách mạng chiến khu Đông Triều được chuyển sang làm nhiệm vụ của Ủy ban quân sự cách nạng liên tỉnh (bao gồm Hải Dương, Hải Phòng, Kiến An, Quảng Yên và Hải Ninh) do hai đồng chí Nguyễn Bình và Lê Quang Hòa phụ trách. Đến tháng 10 năm 1945, thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và Chính phủ về bố trí chiến lược trong cả nước, Chiến khu 3 được thành lập; các tỉnh Quảng Yên, Hải Ninh được biên chế trong chiến khu miền duyên hải của đồng bằng Bắc Bộ này cùng với các tỉnh Hải Phòng, Kiến An, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình. Bộ chỉ huy Chiến khu 3 do đồng chí Hoàng Minh Thảo làm chỉ huy trưởng, đồng chí Lê Quang Hòa làm ủy viên chính trị, đồng chí Vũ Hiển làm tham mưu trưởng. Lực lượng vũ trang tập trung của Chiến khu 3 có bốn chi đội (sau được chuyển thành trung đoàn). Địa bàn Quảng Ninh có hai chi đội hoạt động, chi đội 1 phụ trách khu vực Tiên Yên, Đầm Hà, Móng Cái; chi đội 2 phụ trách khu vực Phả Lại, Đông Triều, Uông Bí, Hồng Gai, Cửa Ông.

Như vậy chỉ ba tháng sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, ở Quảng Ninh đã có những bước chuyển biến rất cơ bản về phương diện quản lý địa lý hành chính và về tổ chức lãnh đạo của Đảng; hai trong số ba vùng lãnh thổ cơ bản của tỉnh là Quảng Yên và Đặc khu Hồng Gai đã có các ban cán sự trực tiếp lãnh đạo phong trào của từng địa phương với tư cách như một cấp ủy Đảng. Lực lượng vũ trang tập trung ở địa phương đã có bước nhảy vọt cả về số lượng và chất lượng. Từ chỗ trong ngày đầu Cách mạng tháng Tám chỉ có một đại đội Ký Con là bộ đội của chiến khu Đông Triều, nay bộ đội tập trung đã có tới hai chi đội (tương đương trung đoàn) làm nhiệm vụ đóng giữ trên các vị trí trọng yếu của tỉnh. Những nhân tố trên đây đã tạo điều kiện cho phong trào của Quảng Ninh phát triển, tiếp tục tiến lên hoàn thành những nhiệm vụ của Cách mạng tháng Tám đã đề ra, xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng, và chuẩn bị cho cuộc kháng chiến sắp tới.


(1) Hồ Chí Minh, Vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1970, tr.55.
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Bảy, 2017, 05:49:51 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 7218

Lính của PTL


« Trả lời #11 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2017, 08:42:46 PM »

1. Xây dựng và củng cố chính quyền mới thành lập, giữ vững chủ quyền độc lập dân tộc

Sau sự kiện Nhật đảo chính Pháp (ngày 9 tháng 3 năm 1945) độc chiếm Đông Dương, cùng với các nơi khác hầu hết quân đội Pháp đóng trên đất Quảng Ninh đã đầu hàng quân Nhật. Một bộ phận của chúng đóng ở Móng Cái lợi dụng lúc quân Nhật chưa đến đã chạy trốn sang Phòng Thành (Trung Quốc). Ngày 15 tháng 8 năm 1945, khi nghe tin phát xít Nhật đầu hàng Đông minh và nhân dân ta đang ráo riết chuẩn bị Tổng khởi nghĩa, bọn tàn quân này được sự dung túng của chính quyền Tưởng Giới Thạch đã quay trở về Quảng Ninh. Lực lượng của chúng gồm một tiểu đoàn lính người Âu, một tiểu đoàn lính người Việt và một bộ phận hải quân gồm bốn chiếc tàu vừa chạy máy vừa chạy buồm với đầy đủ trang thiết bị vũ khí hiện đại. Bọn này đã ngang nhiên chiếm đóng các đảo Vạn Hoa, Cô Tô, xây dựng những nơi này thành các căn cứ để phục vụ cho âm mưu lâu dài của chúng. Bọn chúng vừa ra sức tuyển mộ thêm quân lính, mua chuộc và nuôi dưỡng bọn thổ phỉ người Hoa do tên Voòng A Sáng cầm đầu, vừa tìm cách móc nối với bọn chủ mỏ người Pháp. Cậy có phương tiện hiện đại là những chiếc tàu tuần tiễu chiến đấu, hàng ngày bọn chúng từ căn cứ chính Vạn Hoa tung lực lượng ra khống chế cả một vùng biển và hải đảo từ Quảng Ninh đến Hải Phòng. Bọn này liên tục trinh sát điều tra tình hình, khiêu khích quấy rối cướp bóc hà hiếp nhân dân. Bọn chúng đã nhiều lần ngang nhiên vào tới tận Cửa Lục (Hồng Gai) và bến Cát Bà (Hải Phòng). Sau Cách mạng tháng Tám thành công, lực lượng Đồng minh vào Việt Nam, những hoạt động của bọn tàn quân này càng trở nên trắng trợn liều lĩnh hơn.

Sáng ngày 7 tháng 9 năm 1945, bọn chỉ huy quân Pháp ở Vạn Hoa cho tàu Cray-xắc vào khiêu khích vùng biển Hồng Gai(1).

Khi phát hiện thấy tàu địch ngang nhiên kéo cờ tam tài (quốc kỳ Pháp) chạy ngang qua vịnh Hạ Long, rồi tiến thắng về bến Doan, bộ đội và nhân dân ta vô cùng căm tức. Đại đội Ký Con được lệnh xuất quân. Đại đội trưởng Lê Phú đã trưng dụng và điều động ba tàu dân dụng để đưa bộ đội vận động tiếp cận địch. Bộ phận thứ nhất gồm hai tiểu đội do trung đội trưởng Hoàng Vinh và thuyền trưởng Đạm xuống chiếc tàu Bạch Đằng (là một chiếc tàu kéo cũ, trên tàu có xếp bao cát để thay công sự và làm ụ bắn). Bộ phận thứ hai gồm một tiểu đội xuống chiếc tàu Giao Chỉ (đây là một tàu chở khách hai tầng). Lúc này trên tàu đã có hành khách, nhưng khi nghe bộ đội ta yêu cầu trưng dụng tàu để đi chiến đấu, nhân dân đã vui vẻ rời tàu để bộ đội xuất kích được nhanh chóng. Bộ phận thứ ba đồng thời là mũi chỉ huy do đại đội trưởng Lê Phú, đồng chí Bùi Sinh và bốn chiến sĩ sử dụng một ca nô tốc độ nhanh để vượt lên đón tàu địch.

Phát hiện thấy quân ta xuất kích, bọn chỉ huy trên tàu Cray-xắc liền cho tàu chuyển hướng, bỏ chạy. Nhưng với quyết tâm chiến đấu cao, ba chiếc tàu của ta đã vượt lên đuổi kịp tàu địch, hai chiếc Bạch Đằng và Giao Chỉ kèm sát hai bên phía sau và chiếc ca nô của đại đội trưởng Lê Phú vượt lên áp sát tàu địch. Đồng chí Bùi Sinh và bốn chiến sĩ đã nhanh nhẹn nhảy lên boong tàu địch, chiếm lĩnh các vị trí có lợi khống chế không cho địch kịp đối phó, đồng thời lệnh cho tên quan ba chỉ huy tàu phải cho tàu ngừng máy và đầu hàng vô điều kiện. Trước khí thế và lực lượng áp đảo của quân ta, được sự cổ vũ của nhân dân trên bờ và trên mặt biển, toàn bộ bọn địch trên tàu đã phải đầu hàng. Ta đã làm chủ hoàn toàn tàu Cray-xắc, thu toàn bộ vũ khí và giải thoát cho năm binh lính thủy thủ người Việt bị bọn chúng nhốt dưới hầm tàu.

Tin chiến thắng tàu Cray-xắc nhanh chóng được loan truyền khắp vùng duyên hải. Đồng chí Nguyễn Bình, Tư lệnh Ủy ban quân sự cách mạng liên tỉnh tới động viên cán bộ, chiến sĩ đại đội Ký Con. Thay mặt Ủy ban quân sự cách mạng, đồng chí đã gắn lên tàu Cray-xắc tấm biển đồng với hai chữ “Ký Con”. Tàu Ký Con được biên chế trong lực vệ lượng vũ trang nhân dân cách mạng từ đó, số anh em thủy thủ người Việt tình nguyện gia nhập Vệ quốc đoàn đã được đơn vị tiếp nhận.

Thấy tàu Cray-xắc không trở về căn cứ, ngày 11 tháng 9 bọn chỉ huy Pháp ở Vạn Hoa phái tàu Ô-đa-xi-ơ đi dò tin tàu Cray-xắc. Đây là một chiếc tàu vừa chạy máy vừa chạy buồm, thuộc binh đoàn Móng Cái (cũ) của Pháp. Biên chế trên tàu gồm chín sĩ quan, thủy thủ, do thuyền trưởng La-van-lê chỉ huy. Tàu được trang bị một đại liên, một ba-dô-ca, năm tiểu liên, súng lục, một số lựu đạn và một máy vô tuyến điện.

11 giờ ngày 11 tháng 9, tàu Ô-đa-xi-ơ đến vùng biển Hồng Gai. Được tin, đại đội Ký Con do đồng chí Bùi Sinh chỉ huy lập tức dùng tàu “Ký Con” (Cray-xắc cũ) ra đuổi đánh. Trước ưu thế hơn hẳn về hỏa lực và tốc độ của tàu “Ký Con”, tàu Ô-đa-xi-ơ vừa bắn cầm chừng vừa rút chạy. Tàu “Ký Con” dũng mãnh truy kích. Ra tới ngoài khơi, biết không thể thoát được, tàu Ô-đa-xi-ơ dừng lại đầu hàng.

Đơn vị Ký Con đã chiến thắng lần thứ hai bọn thủy quân Pháp. Từ sau trận này cho tới trước ngày toàn quốc kháng chiến, bọn địch ở Vạn Hoa không dám bén mảng đến vùng biển và hải đảo thuộc Đặc khu Hồng Gai và tỉnh Quảng Yên nữa.

Phát huy chiến thắng, quân ta đã nhiều lần dùng tàu “Ký Con” phối hợp với bộ binh, tiến đánh địch ở nhiều nơi. Có lần ta đã đưa tàu ra pháo kích các vị trí đóng quân của địch ở đảo Vạn Hoa để ngăn chặn các hoạt động phá hoại của chúng trên vùng biển Hải Ninh.

Đến cuối tháng 11 năm 1945, ta tổ chức tiến đánh bọn Pháp để giải phóng đảo Cô Tô. Nhưng ta không nắm được tình hình địch vừa tăng cường thêm lực lượng, nên trận đánh không thành công. Trong trận này ta chỉ diệt được một số tên địch. Nhưng quân ta bị địch bao vây. Mười bảy chiến sĩ hy sinh dũng cảm, một số lớn đồng chí bị bắt, chỉ có một vài người thoát được.

Kể từ ngày thành lập đại đội Ký Con, đây là lần chịu tổn thất tương đối lớn. Sự hy sinh dũng cảm của các chiến sĩ đại đội Ký Con mãi mãi là tấm gương sáng chói về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, về truyền thống anh hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam và mãi khắc ghi trong lòng nhân dân vùng mỏ Quảng Ninh.


(1) Tàu Cray-xắc là chiếc tàu được trang bị mạnh nhất ở Quảng Ninh. Tàu được biên chế 15 sĩ quan và thủy thủ. Trang bị của tàu gồm một khẩu đội pháo 37 mi-li-mét, hai trọng liên 12,7 mi-li-mét, năm đại liên, một ba-dô-ca, năm trung liên, các-bin và một số súng ngắn. Ngoài ra trên tàu còn có một máy vô tuyến điện để liên lạc giữa tàu với căn cứ.
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Bảy, 2017, 05:50:02 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 7218

Lính của PTL


« Trả lời #12 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2017, 08:43:52 PM »



Sơ đồ diễn biến trận đánh chiếm tàu Cray-xắc và tàu Ô-đa-xi-ơ của đại đội Ký Con
(ngày 7 và 11-9-1945)
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Bảy, 2017, 05:50:14 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 7218

Lính của PTL


« Trả lời #13 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2017, 08:46:04 PM »

*

Từ hạ tuần tháng 8 năm 1945, theo hiệp định ký kết giữa các nước Đồng minh chống phát xít, các cánh quân của Tưởng Giới Thạch vào miền Bắc nước ta để giải giáp quân đội Nhật. Tháng 9 năm 1945, các đơn vị của quân đoàn 62 vào Hồng Gai, Quảng Yên. Tháng 11 năm 1945, một bộ phận của quân đoàn 50 vào Đông Triều, Phải Lại. Sáu trăm tên quân “Việt cách” do tên Vũ Kim Thành cầm đầu từ Trung Quốc cũng theo quân Tưởng vào đóng ở Quảng Yên, Hồng Gai.

Trung tuần tháng 9, khi quân Tưởng đến thị xã Hồng Gai, ta đã tổ chức minh tinh đón bọn chúng nhằm biểu thị cho chúng biết “đất này đã có chủ” và biểu dương sức mạnh của quần chúng cách mạng. Nhưng trước thái độ hống hách của quân Tưởng, cuộc mít tinh đã không thành. 12 giờ trưa hôm ấy, quân Tưởng đã bất ngờ nổ súng bắn vào nhân dân và các cơ quan, vị trí đóng quân đòi tước vũ khí của quân ta. Đại đội Ký Con đã nổ súng bắn trả. Cuộc chiến đấu quyết liệt diễn ra trong ba ngày liền. Sau đó do hết đạn, đại đội Ký Con đã rút ra ngoài dãy núi trước Lán Bè. Quân Tưởng đã chiếm đóng các công sở của ta và dựa vào một số Hoa kiều xấu, chúng đã khủng bố nhân dân để trả thù.

Trước hành động của quân Tưởng ở Hồng Gai, Chính phủ ta đã cử phái đoàn đặc biệt về can thiệp. Quân Tưởng buộc phải trả lại các công sở và thả những người bị bắt. Sau sự kiện này, ta đã rút được những kinh nghiệm về đối sách với kẻ thù.

Quán triệt tinh thần chỉ thị của Trung ương trong quan hệ với quân Tưởng, cán bộ, chiến sĩ của ta đã xử trí mềm dẻo, khéo léo, đồng thời kiên quyết giữ vững chủ quyền và độc lập, không cho chúng có cớ để can thiệp vào nội trị của ta; đồng thời ra sức củng cố chính quyền nhân dân, dựa vào sức mạnh to lớn của nhân dân để đấu tranh với những hành động khiêu khích của quân Tưởng và các đảng phái phản động tay sai của chúng.

Để tránh đụng độ có thể tiếp tục xảy ra, đại đội Ký Con về đóng quân ở Cát Bà.

Mặc dù ta đã hết sức mềm dẻo, nhưng với âm mưu thâm độc nhằm thôn tính đất nước ta, quân Tưởng vẫn lấn tới. Một mặt chúng tiếp tay cho bọn “Việt quốc”, “Việt cách” làm càn, mặt khác chúng liên lạc với bọn phỉ ở Đông Triều, Năm Mẫu, Trại Thán, Bang Trới, Dương Huy… để phá hoại. Chúng còn xúi giục một bộ phận Hoa kiều biểu tình gây rối ở Hồng Gai.

Chúng yêu sách nhiều điều vô lý như đồi ta nộp lương thực, thực phẩm cho quân đội của chúng, phải tiêu tiền quan kim đã mất giá, quân của chúng lại luôn cướp bóc, trêu ghẹo phụ nữ. Do đó khó tránh khỏi những vụ xô xát giữa nhân dân ta với đội quân ô hợp này.

Bọn quân “Việt quốc”, “Việt cách” ngoài việc cướp bóc và làm bầy như quan thầy, chúng cũng không che giấu âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng. Bọn này giương cờ xanh sao trắng giống như cờ của Tưởng, mặc quân phục kiểu Tưởng, nêu chiêu bài “ái quốc, ái quần”, tự xưng là “những nhà cách mạng từ hải ngoại trở về”. Chúng phát hành báo chí, truyền đơn và dùng cả loa truyền thanh để phỉ báng chính quyền cách mạng và ra sức lừa bịp nhân dân. Những vụ cướp của, tống tiền, thủ tiêu cán bộ và quần chúng cốt cán của cách mạng được chúng tiến hành thường xuyên. Chúng còn cướp cả một thuyền gạo của Chính phủ mang cứu đói cho đồng bào tại địa phận Yên Hưng. Ở Uông Bí chúng đánh úp bộ đội ta hai trận và bắt hai tiểu đội nên buộc ta phải dùng ba đại đội để bao vây và bắt sống toán quân này.

*

Cùng lúc phải đối phó với quân Tưởng và bọn Việt quốc, Việt cách, chính quyền cách mạng của ta còn phải trấn áp, tiêu diệt bọn thổ phỉ đang hoành hành ở khắp nơi.

Với âm mưu mở rộng địa bàn hoạt động nối thông hành lang giữa vùng cao của tỉnh Quảng Yên với khu mỏ Hồng Gai - Cẩm Phả, đầu tháng 9 năm 1945, hàng nghìn quân phỉ từ Traị Thán (Sơn Động) do tên Cai Hưng chỉ huy đã hợp lực với bọn phỉ ở Trới do tên Bang Phúc cầm đầu tiến đánh thị trấn Trới (huyện lỵ Hoành Bồ). Bọn phỉ đã tập trung quân đánh chiếm huyện lỵ Hoành Bồ. Sau khi chiếm Hoành Bồ địch đã gây cho ta không ít khó khăn trong việc giành chính quyền ở các huyện vùng cao. Chúng đã nhiều lần ra Hà Lầm cướp bóc, quấy phá và có lần chúng đã tập trung phần lớn lực lượng định đổ bộ lên Bãi Cháy để từ đó khống chế và tiến tới đánh chiếm Hồng Gai. Trước ý đồ thâm hiểm của chúng, ta đã khéo léo vận động, tranh thủ sự hỗ trợ của một đơn vị quân Nhật đóng quân tại đây buộc quân phỉ không dám đặt chân lên bờ. Đồng thời lệnh cho đại đội Ký Con tiến quân vào Trới. Được sự hỗ trợ của nhân dân địa phương, đơn vị đã tiêu diệt phần lớn quân phỉ ở đây, đập tan căn cứ sào huyệt của chúng, buộc số còn lại phải tháo chạy. Huyện lỵ Hoành Bồ được giải phóng khỏi ách kìm kẹp của bọn thổ phỉ.

Tháng 11 năm 1945, Ủy ban nhân dân Hoành Bồ được thành lập, cả một vùng cao đông – bắc của tỉnh Quảng Yên đã có chính quyền nhân dân.

Cùng thời gian trấn áp bọn thổ phỉ ở Hoành Bồ, đảng bộ và chính quyền Quảng Yên đã chủ trương giành lạp chính quyền ở huyện Cẩm Phả.

Cẩm Phả là một huyện đảo của tỉnh Quảng Yên. Cái Bầu là đảo lớn nhất và là trung tâm của huyện. Tại đây sau ngày Tổng khởi nghĩa một số địa chủ, cường hào đã đứng ra lập chính quyền, nhưng thực ra là để khéo léo duy trì quyền lực cũ của họ. Trước hành động cướp bóc, phá hoại hàng ngày của bọn tàn quân Pháp từ Vạn Hoa tới và các loại hải phỉ, thổ phỉ, Nghiêm Cảnh Đông – một nhân vật có thể lực trong vùng đã đứng ra chiêu mộ được năm trăm quân tổ chức ra “Duyên biên tự vệ đội” để chiến đấu bảo vệ nhân dân địa phương. Tuy đã có lực lượng vũ trang tự vệ nhưng không có sự lãnh đạo của cách mạng nên sức chiến đấu của tổ chức này ít hiệu lực. Bọn phỉ và Pháp vẫn tiếp tục hoành hành, khống chế nhân dân.

Tháng 10 năm 1945, một bộ phận của đại đội Ký Con được cử ra Cái Bầu để phối hợp hoạt động với các cán bộ của địa phương. Ta đã gây cơ sở trong nhân dân và xây dựng các đoàn thể quần chúng. Cùng với việc vận động nhân dân, bộ đội Ký Con đã chiến đấu tiễu trừ thổ phỉ, diệt nhiều ổ phỉ gian ác, cùng với nhân dân địa phương kêu gọi những người lầm đường theo phỉ ở Cái Bầu, Mông Dương, Ba Chẽ nộp cho cách mạng 80 khẩu súng. Nhiều người đã rời bỏ hàng ngũ phỉ về địa phương làm ăn lương thiện.

Cán bộ địa phương và bộ đội đơn vị Ký Con cũng đã thuyết phục được Nghiêm Cảnh Đông và “Duyên biên tự vệ đội” đi theo cách mạng (sau này Nghiêm Cảnh Đông đã vào căn cứ kháng chiến của tỉnh Quảng Yên và tham gia công tác Hoa vận).

Tháng 11 năm 1945, chính quyền nhân dân được thiết lập trên vùng đảo Cẩm Phả. Đến đây sự nghiệp của cuộc Cách mạng tháng Tám đã được hoàn thành trên toàn bộ địa bàn tỉnh Quảng yên. Trên địa bàn Hải Ninh việc thiết lập chính quyền cách mạng đang gặp nhiều khó khăn trở ngại.
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Bảy, 2017, 05:50:25 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 7218

Lính của PTL


« Trả lời #14 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2017, 08:47:39 PM »

2. Giành lại chủ quyền tại thị xã Móng Cái, thiết lập chính quyền cách mạng trên toàn tỉnh Hải Ninh.

Hải Ninh bao gồm các huyện: Đình Lập, Bình Liêu, Móng Cái, hà Cối, Đầm Hà, Tiên Yên và Ba Chẽ, là phần lãnh thổ phía đông của Quảng Ninh ngày nay và là vùng đất giếp giáp với Trung Quốc ở về phía đông – bắc của Bắc Bộ. Là một tỉnh biên giới, lại ở vào một vị trí đặc biệt xung yếu, tình hình chính trị - xã hội ở đây rất phức tạp.

Trong chiến tranh thế giới thứ hai, khi quân Đồng minh chuyển sang phản công, chính quyền của Tưởng Giới Thạch với tư cách là một nước tham gia phe Đồng minh chống phát xít, đã ôm ấp âm mưu thôn tính nước ta khi quân Nhật bại trận. Chúng đã triển khai kế hoạch “Hoa quân nhập Việt” ngay từ năm 1942 bằng cách nuôi dưỡng và xây dựng lực lượng vũ trang cho các bọn phản động tay sai của chúng trên đất Trung Quốc. Mùa hè năm 1945 khi phát xít Nhật đang đi trên thất bại hoàn toàn, lực lượng vũ trang của các bọn phản động tay sai quân Tưởng là Việt Nam cách mệnh đồng minh hội và Việt Nam quốc dân đảng đã xâm nhập Hải Ninh và Quảng Yên. Một số trong bọn này đã câu kết với bọn thổ phỉ ở địa phương lập các sào huyệt ở Ba Chẽ (Hải Ninh), thị xã Cẩm Phả và huyện Hoành Bồ (Quảng Yên). Trước ngày Tổng khởi nghĩa, để làm một “chuyện đã rồi” quân đội Tưởng từ Đông Hưng, Trung Quốc đã tràn sang chiếm thị xã Móng Cái – tỉnh lỵ của tỉnh Hải Ninh. Tình hình của tỉnh địa đầu này vốn đã phức tạp lại càng thêm phức tạp. Trên địa bàn của tỉnh nơi thì thổ phỉ lập căn cứ, nơi thì bọn tàn quân Pháp chiếm đóng, nơi thì quân đội Tưởng và bọn phản động tay sai quân Tưởng đóng, nơi thì nhân dân địa phương tự quản.

Bằng mọi giá phải đấu tranh để thu hồi lại lãnh thổ và chủ quyền của Tổ quốc đang nằm trong tay quân Tưởng và các loại kẻ thù khác; đó là quyết tâm của Liên khu ủy 3 và Chiến khu 3, cũng như của Trung ương Đảng và Chính phủ. Quá trình khôi phục chủ quyền, thiết lập chính quyền ở Hải Ninh được bắt đầu với việc đánh đuổi bọn phỉ ở Tiên Yên và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trên bốn huyện phía tây và tây – bắc của tỉnh là Tiên Yên, Đình Lập, Đầm Hà, Bình Liêu, trong đó chiến thắng Tiên Yên có ý nghĩa to lớn đối với việc giành quyền làm chủ của các nơi khác cũng như đối với toàn tỉnh Hải Ninh sau này.

Sau khi quân Nhật rút đi (tháng 8 năm 1945) hàng nghìn tên phỉ do các tên Trương Ngộ Kiều và Lưu Sĩ Long chỉ huy từ Lạng Sơn tràn xuống, từ Trung Quốc tràn sang chiếm huyện lỵ Tiên Yên. Lực lượng bảo vệ an ninh của Nhật tan rã, các đồng chí Đào Lộc và đồng chí Hùng là cán bộ Việt Minh của địa phương đã tranh thủ thời cơ vận động được hai chục bảo an binh mang súng về với cách mạng không để bọn phỉ lôi kéo mua chuộc. Trong điều kiện lực lượng địch đông, lực lượng ta quá mỏng không đủ sức để đối đầu với địch, các đồng chí Lộc và Hùng đã đem 30 khẩu súng và hai thuyền lương thực về Hồng Gai để ủng hộ bộ đội và đón anh em ra giải phóng Tiên Yên.

Tháng 9 năm 1945, một trung đội của đại đội Ký Con do đồng chí Nguyễn Mạnh Chất và đồng chí Đoàn Phụng chỉ huy đã đi từ Hồng Gai ra Tiên Lãng (một xã ngoại vi của thị trấn Tiên Yên). Để hạn chế bớt khó khăn ta đã cử người đến gặp bọn chỉ huy quân Tưởng yêu cầu chúng giữ thái độ trung lập khi có đụng độ giữa quân ta và quân phỉ.

Được biết có bộ đội về, mặc dù quân phỉ còn đóng trong thị trấn, nhưng nhân dân vẫn bí mật vượt qua hàng rào kiểm soát của chúng tiếp tế cho bộ đội. Có người còn lấy được cả súng đạn cung cấp cho bộ đội.

Sau một thời gian ngắn vừa tuyên truyền vận động quần chúng, vừa điều tra nghiên cứu tình hình địch và xây dựng kế hoạch tác chiến, bộ đội đã phối hợp với cán bộ địa phương tổ chức được các đoàn thể và ba tiểu đội du kích.

Đầu tháng 10, ta mở cuộc tiến công bọn phỉ ở Tiên yên. Mở đầu trận đánh ta dùng kế hoạch nghi binh. Cho một số chiến sĩ du kích vác cờ đỏ sao vàng tổ chức thành nhiều mũi chạy lên núi. Tưởng quân ta đông, bọn chỉ huy phỉ đã hốt hoảng cho quân rút chạy về Đầm Hà. Tranh thủ thời cơ quân ta liền vượt sông sang chiếm huyện lỵ.

Mấy ngày sau biết lực lượng ta ít, bọn phỉ từ Đầm Hà lại kéo về Tiên Yên dựa vào quân Tưởng để chiếm huyện lỵ. Trước tình hình đó, quân ta tạm rút lui để bảo toàn lực lượng và chờ lực lượng tăng cường của chiến khu.

Từ cuối tháng 10 đến ngày 8 tháng 11 năm 1945, hai tiểu đoàn thuộc chi đội 1 của Chiến khu 3 đến Tiên Yên. Lực lượng “Duyên biên tự vệ đội” huy động gần hai chục thuyền lớn để chuyển quân và lương thực cho chi đội.

Sau ba ngày đêm chiến đấu ác liệt quân ta hết đạn, hết lương thực, trong khi đó bốn thuyền chở đạn và gạo tiếp tế lại không vào được bờ vì bị địch bắn chặn rất dữ dội. Giữa lúc tình hình gay go căng thẳng, hai em thiếu niên ở địa phương là Tuyên và Quân đã bí mật lặn xuống sông dìu thuyền vào bờ, nơi có cây che khuất rồi đưa gạo lên trận địa cho bộ đội.

Biết rõ 700 quân phỉ cũng đang thiếu gạo, bộ đội ta đã tiến công mạnh buộc chúng phải tháo chạy về Đầm Hà. Mấy ngày sau bọn Trương Ngộ Kiều đã huy động 2.000 quân chiếm lại Tiên Yên, nhưng lúc này quân Tưởng đã rút khỏi Tiên Yên, lại bị quân ta đánh mạnh nên chúng buộc phải rút chạy. Tiên Yên đã sạch bóng quân thù. Chính quyền nhân dân và Mặt trận Việt Minh đã được tổ chức từ cấp xã cho đến cấp huyện. Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời huyện Tiên Yên do đồng chí Lê Bảy làm chủ tịch.

Tháng 11 năm 1945, đồng chí Lê Thanh Nghị đặc phái viên của Chính phủ ta đã về kiểm tra tình hình ở Tiên Yên. Thay mặt Chính phủ, đồng chí đã biểu dương bộ đội và nhân dân địa phương. Đồng chí nhắc nhở địa phương phải cảnh giác với âm mưu địch, ra sức xây dựng cơ sở quần chúng, củng cố và giữ vững chính quyền cách mạng.

Sau khi giải phóng Tiên Yên, lợi dụng lúc quân Tưởng vừa rút quân khỏi Đầm Hà, bộ đội ta đã tổ chức nhiều trận chiến đấu đánh đuổi bọn phỉ ở đây và xây dựng chính quyền ở các xã người Kinh. Tiếp đó cán bộ và bộ đội ta đã liên lạc được với các tổ chức tự quản của nhân dân Đình Lập và Bình Liêu. Ngày 18 tháng 11 năm 1945, chính quyền nhân dân cách mạng được thành lập ở huyện Đình Lập và đến cuối tháng 11 thành lập ở huyện Bình Liêu.
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Bảy, 2017, 05:50:39 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 7218

Lính của PTL


« Trả lời #15 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2017, 08:48:53 PM »

*

Sau khi thành lập, Khu ủy và Bộ tư lệnh chiến khu 3, Chiến khu 12 rất quan tâm đến phong trào ở Hải Ninh. Tháng 4 năm 1946, trung đoàn Tiên Yên được lệnh đánh chiếm lại thị xã Móng Cái. Từ Tiên Yên, Đầm Hà quân ta đã đổ bộ lên Móng Cái đánh chiếm được gần hết thị xã. Tình hình đang phát triển thuận lợi thì quân Tưởng từ bên kia biên giới đã vượt sông Bắc Luân sang đánh bật quân ta ra ngoài. Để tăng cường thêm lực lượng cho địa bàn trọng điểm này, cuối tháng 7 năm 1946, Liên khu ủy 12 và Bộ tư lệnh Chiến khu 12 đã điều động trung 132 do đồng chí Ngô Luân chỉ huy tiến vào Hải Ninh. Trung đoàn 132 đã phối hợp cùng lực lượng vũ trang địa phương gây dựng cơ sở ở các xã miền núi thuộc các huyện Đình Lập và Bình Liêu và một số xã thuộc Tiên Yên làm chỗ đứng chân để hoạt động lâu dài.

Cũng trong thời gian này, Trung ương Đảng và Chính phủ đã có chủ trương đấu tranh buộc chính quyền Tưởng Giới Thạch phải trao trả chủ quyền ở Hải Ninh cho ta và không được can thiệp vào tình hình nội trị của ta. Cuối tháng 7 năm 1946, một phái đoàn đại diện của Chính phủ ta đã ra Hải Ninh với chủ trương thành lập một chính quyền liên hiệp cấp tỉnh. Một đơn vị của trung đoàn Tiên Yên được cử đi cùng để bảo vệ đoàn, đồng thời nhằm trấn áp tinh thần bọn chỉ huy quân Tưởng. Ta đã khéo léo đưa một số quan lại cũ vào tham gia Ủy ban hành chính tỉnh Hải Ninh, đồng chí Vũ Đình Đức được cử làm chủ tịch. Trước tình hình đó chính quyền Tưởng không còn cớ gì để lưu quân đội lại nữa, buộc phải rút lui. Thị xã Móng Cái thoát khỏi ách chiếm đóng của quân Tưởng. Lá cờ đỏ sao vàng biểu tượng của nước Việt Nam độc lập, dân chủ phấp phới tung bay ngay trên mỏm Bắc Luân, mảnh đất địa đầu phía đông – bắc của Tổ quốc.

Tuy quân đội Tưởng đã sạch bóng trên đất Móng Cái, nhưng công cuộc xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng ở đây còn nhiều khó khăn gian khổ.

Mặc dù đã thành lập, nhưng ủy ban hành chính cấp tỉnh ở Móng Cái thực chất chỉ làm công tác đối ngoại. Chính quyền địa phương chưa đảm đương được nhiệm vụ nặng nề về công tác nội trị. Mặt khác, ủy ban gồm nhiều người thuộc nhiều phe phái, tầng lớp và dân tộc tham gia do vậy các cán bộ lãnh đạo của ta ở đây vừa phải vận động giáo dục những người có nhiệt tâm phục vụ đất nước, vừa tìm mọi cách hạn chế mọi hành động tiêu cực của những kẻ cơ hội, để xây dựng chính quyền cách mạng ngày một vững mạnh.

Với sự nỗ lực phấn đấu không mệt mỏi của bộ đội trung đoàn Tiên Yên và các cán bộ địa phương, chỉ trong một thời gian ngắn ta đã tổ chức chính quyền địa phương ở 21 xã và các tổng Bát Tràng, Ninh Hải, Vạn Ninh, xây dựng được các ban Việt Minh ở nhiều xã và tổ chức công đoàn ở cấp huyện và thị xã. Ba đội du kích tập trung của thị xã Móng Cái được thành lập, trong đó có nhiều cựu binh sĩ tham gia.

Tháng 8 năm 1946, Liên khu ủy 12 có đồng chí Hoàng Chính và một số cán bộ về Hải Ninh để xây dựng tổ chức Đảng và chính quyền.

Ngày 6 tháng 8 năm 1946, chi bộ Đảng đầu tiên của Hải Ninh được thành lập tại Đình Lập. Chi bộ gồm năm người do đồng chí Hoàng Chính làm bí thư. Ngày 15 tháng 6 năm 1946, chi bộ này được công nhận là Ban cán sự đảng bộ tỉnh Hải Ninh.



Đồng chí Hoàng Chính

Cùng thời gian này, Ủy ban hành chính tỉnh Hải Ninh được thành lập với những chức năng được quy định đầy đủ của một cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo hành chính cấp tỉnh. Đồng chí Nguyễn Xuân Trúc được phân công làm chủ tịch. Trụ sở của ủy ban đóng ở huyện Đình Lập. Như vậy là lúc này ở Hải Ninh tồn tại song song hai ủy ban hành chính cấp tỉnh, một đặt trụ sở ở Móng Cái, một đặt trụ sở ở Đình Lập. Ủy ban hành chính ở Móng Cái thực chất chỉ để làm công tác đối ngoại với quân Tưởng, còn ủy ban ở Đình Lập mới là cơ quan quyền lực thực thực sự của nhân dân. Đây là nét độc đảo của Quảng Ninh trong những ngày đầu cách mạng thành công.

Cuối tháng 8 năm 1946, Ban cán sự Hải Ninh họp phiên đầu tiên và đề ra những nhiệm vụ trước mắt:

- Một là, xây dựng lực lượng và đẩy mạnh hoạt động vũ trang để hỗ trợ mọi mặt công tác. Tất cả các địa phương phải chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu.

- Hai là, đoàn kết các dân tộc anh em, tập hợp mọi lực lượng kháng chiến, xây dựng lại các tổ chức quần chúng.

- Ba là, củng cố chính quyền huyện Tiên Yên, đẩy mạnh mọi hoạt động để giữ vững lòng tin của nhân dân.

Như vậy là gần tròn một năm sau ngày Tổng khởi nghĩa Hải Ninh mới hoàn thành về cơ bản việc thành lập chính quyền trong tỉnh. Trừ huyện Hà Cối, Ba Chẽ và quần đảo Cô Tô lúc này còn bị bọn tàn quân Pháp và bọn phỉ chiếm đóng, tất cả các huyện còn lại trong tỉnh đều đã được giải phóng và có chính quyền nhân dân.
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Bảy, 2017, 05:50:48 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 7218

Lính của PTL


« Trả lời #16 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2017, 08:51:48 PM »

3. Trừng trị bọn phản động Việt quốc, Việt cách. Đấu tranh chống hành động gây hấn của quân Pháp. Tích cực chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến.

Ngày 6 tháng 1 năm 1946, cuộc tổng tuyển cử tự do trong cả nước được tiến hành để bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân củ cộng hòa.

Cùng với cả nước, nhân dân Quảng Ninh nô nức tham gia ngày hội lớn của dân tộc, thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ công dân của nước Việt Nam độc lập, tự do.

Bọn phản động Việt quốc, Việt cách dùng mọi thủ đoạn để phá hoại cuộc bầu cử, tuyên truyền xuyên tạc ý nghĩa cuộc bầu cử, nói xấu Đảng ta, trắng trợn hơn nữa chúng dùng cả vũ lực để uy hiếp quần chúng. Nhưng mặc cho kẻ thù dùng mọi thủ đoạn xấu xa, bỉ ổi, trong ngày hội lớn này nhân dân đã kết thành đội ngũ chặt chẽ dưới rừng cờ đỏ sao vàng và các biểu ngữ đầy khí thế cách mạng, tiến tới các địa điểm bầu cử. Khí thế cách mạng đã lôi cuốn cả những người còn lừng chừng, phân vân hòa nhập vào dòng người đi bỏ phiếu và làm cho lực lượng thù địch phải khiếp sợ, bó tay không dám thực hiện các hành động tội ác, phá hoại.

Ở thị xã Quảng Yên, Hồng Gai, Cẩm Phả, số cử tri đi bỏ phiếu đạt từ 80 đến 90 phần trăm. Những ứng cử viên do Mặt trận Việt Minh giới thiệu cũng trúng cử với tỷ lệ số phiếu từ 80 đến 90 phần trăm. Những tên do bọn đảng phái tay sai quân Tưởng đưa ra bị thất bại thảm hại. ở Quảng Yên chúng chỉ được 200 phiếu bầu trong số cử tri hàng vạn người.

Cuộc Tổng tuyển cử thành công rực rỡ. Sáu đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên đã được bầu ở Quảng Ninh.

Sau Tổng tuyển cử, để tăng cường đoàn kết dân tộc, Chính phủ liên hiệp được thành lập ở Trung ương, bao gồm cả các nhân sĩ không đảng phái và đại diện của các đảng phái như Việt Nam quốc dân đảng, Việt Nam cách mệnh đồng minh hội.

Đến đầu tháng 6 năm 1946, nhân dân tỉnh Quảng Yên, Đặc khu Hồng Gai và huyện Tiên Yên đã tổ chức bầu cử hội đồng nhân dân các cấp. Sau đó ủy ban hành chính các cấp ra đời thay thế cho ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời trước kia.

Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử và bầu cử hội đồng nhân dân các cấp đã củng cố vững chắc thêm một bước chính quyền cách mạng của ta ở Quảng Ninh.

Trái lại, bị thất bại trong cuộc Tổng tuyển cử tháng 1 năm 1946, bọn phản động tay sai Tưởng ở Quảng Ninh vô cùng cay cú. ỷ vào lực lượng đông lại có quân Tưởng hỗ trợ, ngày 26 tháng 2 năm 1946, bọn Việt cách đã bất ngờ bao vây trụ sở làm việc của cơ quan lãnh đạo của Đặc khu Hồng Gai và bắt các đồng chí Cao Tử Kiến và Trịnh Tam Tỉnh là bí thư và chủ tịch của đặc khu. Tình huống xảy ra rất nguy hiểm. Không thể để các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của khu mỏ rơi vào tay địch. Quân ta đã cải trang làm bảo an binh táo bạo đột nhập vào nơi đóng quân của chúng để giải thoát các cán bộ lãnh đạo của ta. Với hành động táo bạo của cán bộ chiến sĩ cải trang lọt vào vị trí địch và với sự khôn khéo, mưu trí của đồng chí Tỉnh và đồng chí Kiến, cả hai đồng chí đã thoát khỏi tay kẻ địch. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, bộ đội ta đã cảnh cáo bọn lính địch và thuyết phục được một số người cầm súng đi theo cách mạng.



Đồng chí Trịnh Tam Tỉnh
(1907-1992)

Tuy giải thoát được các đồng chí Cao Tử Kiến và Trịnh Tam Tỉnh, nhưng chính quyền ở thị xã Hồng Gai đã lọt vào tay địch. Đây là một tổn thất bất ngờ do ta không theo dõi nắm chắc tình hình và âm mưu địch. Sau sự kiện này lãnh đạo Đặc khu Hồng Gai và cá tổ chức vũ trang của ta đã kịp thời rút kinh nghiệm và đề cao cảnh giác với bọn phản động này.

Cuối tháng 2 đầu tháng 3 năm 1946, bọn Việt cách lại theo đường thủy định ra đánh chiếm Cửa Ông. Quân ta đã kịp thời phát hiện và chủ động chuẩn bị chống địch. Một mặt ta đã tập trung lực lượng bộ đội chủ lực và lực lượng tự vệ chiến đấu trên bờ sẵn sàng nổ súng, một mặt ta lãnh đạo công nhân bến cảng Cửa Ông đình công làm áp lực buộc bọn chủ mỏ phải can thiệp với quân Tưởng để ngăn chặn bọn Việt cách. Sự kiện xảy ra đúng vào lúc có tàu nước ngoài đang đến ăn than nên chủ mỏ sợ mất quyền lợi kinh tế đã đề nghị quân Tưởng dùng ảnh hưởng của chúng không cho quân Việt cách lên bờ. Cuộc thương lượng đã đạt được kết quả. Toàn bộ số thuyền của quân Việt cách phải chạy ra đảo Vân Hải. Cửa Ông được bảo vệ an toàn.

Ngày 6 tháng 3 năm 1946, Hiệp định sơ bộ được ký kết giữa Chính phủ ta và Chính phủ Pháp. Theo hiệp định này, đầu tháng 4 năm 1946, 15.000 quân Pháp sẽ thay thế quân Tưởng trên miền Bắc. Tình hình này đòi hỏi ta phải giành lại chính quyền ở thị xã Hồng Gai ngay sau khi quân Tưởng rút và quân Pháp chưa kịp kéo ra. Ban cán sự đặc khu và chính quyền thị xã Hồng Gai đã điều cán bộ tăng cường vào trong nội thị để xây dựng lực lượng tại chỗ, vận động quần chúng nhân dân chuẩn bị đấu tranh với địch. Nhờ có sự hoạt động tích cực của ta nên mặc dù quân Việt cách chiếm được thị xã mà không nắm được dân, không làm chủ được các khu phố, nhà máy, hầm mỏ.

Ngày 4 tháng 4 năm 1946, khi quân Tưởng vừa rút khỏi thị xã thì các dãy phố đã đỏ rực cờ đỏ sao vàng, các chiến sĩ tự vệ đã xuất hiện trên các ngả đường. Các đơn vị bộ đội chủ lực của ta từ các ngả cũng tiến vào thị xã.

Bọn Việt cách vô cùng hoảng sợ, không dám hành động gì. Ngày 12 tháng 4 năm 1946, chúng đã rút chạy khỏi Hồng Gai.

Tiếp theo việc đuổi bọn Việt cách khỏi Hồng Gai, đến tháng 7 năm 1946, nhân vụ Ôn Như hầu bị phát giác tại Hà Nội, chính quyền tỉnh Quảng Yên đã tổ chức khám xét trụ sở của bọn Việt quốc, Việt cách thị thị xã Quảng Yên.

Ta đã tổ chức biểu tình thị uy, được đông đảo nhân dân ở thị xã và các xã lân cận tham gia, làm áp lực cho lực lượng công an của ta vào khám xét trụ sở của chúng. Quần chúng vô cùng căm phẫn khi thấy có dấu vết của những người bị chúng thủ tiêu. Trước áp lực của nhân dân và sức mạnh của chính quyền cách mạng, bọn Việt quốc, Việt cách đã rút lui khỏi thị xã Quảng Yên.
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Bảy, 2017, 05:50:57 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 7218

Lính của PTL


« Trả lời #17 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2017, 08:53:24 PM »

*

Theo Hiệp định sơ bộ ngày 15 tháng 4 năm 1946, 1.025 lính Pháp từ miền Nam ra đóng quân ở thị xã Hồng Gai, Cẩm Phả và Cửa Ông. Để giám sát việc thi hành hiệp định, các ban liên kiểm (gồm đại biểu quân đội ta và quân đội Pháp được thành lập ở các cấp). Dưới Ban liên kiểm có các đơn vị liên quân tiếp phòng (do một bộ phận của quân đội hai bên có lực lượng và trang bị ngang nhau) làm nhiệm vụ canh gác ở các địa điểm do hai bên quy định và giải quyết các vụ tranh chấp về quân sự quân đội hai bên.

Hiệp định sơ bộ được coi là bước đầu để đi tới một giải pháp toàn diện, cơ bản cho vấn đề Việt Nam.

Nhưng ngay từ khi mới đặt chân lên miền Bắc, quân Pháp đã bộc lộ ý đồ muốn xóa bỏ chữ ký chưa ráo mực của chúng.

Ở Hồng Gai, vừa đổ bộ lên đất liền quân Pháp đã ngang nhiên đặt súng ở các đường phố để cấm nhân dân đi lại. Nhân dân ta đã lập tức xuống đường đấu tranh buộc chúng phải phá các ụ súng chặn đường trên các ngã ba, ngã tư.

Trên phạm vi khu mỏ, các địa điểm quân Pháp được phép đóng quân là Đồn Cao, Hà Tu, Hà Lầm, Cột 5 (Hồng Gai), nhà Đại lý thị xã Cẩm Phả, Đồn Cao và Lán Sàng (Cửa Ông). Nhưng đến ngày 5 tháng 6 năm 1946, chúng đã tập kích nơi đóng quân của ta ở Đồn Cay (Cửa Ông) bắn chết một số tự vệ và bộ đội ta, cướp 11 khẩu súng và ngang nhiên đóng lại ở vị trí này. Ở Hồng Gai, chúng cũng nổ súng bừa bãi xuống phố và bắn vào đồn công an.

Ngày 8 tháng 6 năm 1946, để phản đối thực dân Pháp tiếp tục chiến tranh xâm lược Nam Bộ và vi phạm Hiệp định sơ bộ trên phạm vi vùng mỏ, anh chị em công nhân, thợ thủ công, bồi bếp và cả cai ký ở Hồng Gai đã tham gia “Tuần lễ đình công” làm đình trệ sản xuất trong mỏ, ảnh hưởng đến sinh hoạt của bọn chủ mỏ và nhà binh Pháp. Đại diện của quân Pháp và chủ mỏ phải gặp chính quyền của đặc khu hứa thực hiện các yêu sách của cuộc đấu tranh như: Quân Pháp ở khu mỏ phải đình chỉ mọi hành động khiêu khích và xâm lược; đại biểu công nhân phải được tham gia điều khiển sản xuất ở xí nghiệp; chủ mỏ phải cung cấp nước ở những nơi công cộng; phải giảm mức công nhân phải khai thác hàng ngày.

Vụ khiêu khích ngày 5 tháng 6 chưa hết dư âm bất bình trong nhân dân, thì ngày 7 tháng 7 năm 1946 giặc Pháp lại gây ra một tội ác man rợ khác tại khr phố Lán Bè.

Nguyên nhân của vụ này là ngay từ khi đến đóng ở Đồn Cao (Hồng Gai), quân Pháp đã đóng rộng ra nhiều so với quy định đã được hai bên thỏa thuận. Nhân dân Lán Bè đã tổ chức đấu tranh theo hình thức bất hợp tác với chúng như không làm việc, không giao thiệp, không buôn bán với chúng.

Ngày 7 tháng 7, quân Pháp nổ súng khiêu khích vào lực lượng tự vệ của ta, anh em tự vệ liền bắn trả. Chúng tiếp tục bắn vào đồn công an, sau đó cho quân đến bao vây Lán Bè. Bọn Pháp dã man đã cho phun xăng vào dãy phố nhà tranh này và châm lửa đốt. Chín mươi người dân lao động vô tội đã bị giết hại vì đạn và lửa do bọn chúng gây ra, trong đó có nhiều cụ già và em nhỏ.

Vô cùng căm phẫn, nhân dân Hồng Gai đã liên tiếp tổ chức các cuộc đấu tranh. Công nhân nghỉ việc, cửa hàng đóng cửa, chợ búa không người, thuyền bè rời bến, đò phà không chở, bồi bếp không đến làm việc cho chủ Pháp. Các cuộc mít tinh, biểu tình tuần hành tố cáo tội ác của giặc nổ ra khắp nơi. Nhân dân quăng bàn ghế, giường tủ ra đường để chặn lối xe nhà binh. Tin nhân dân Lán Bè bị giặc Pháp tàn sát dã man đã được loan đi khắp nước. Nhân dân các tỉnh trong cả nước đã gửi thư, gửi tiền chia sẻ đau thương và giúp đỡ nhân dân Lán Bè.

*

Trong khi chính quyền của ta đang tập trung sức chỉ đạo phong trào đấu tranh đòi quân Pháp phải chấp hành nghiêm chỉnh các điều khoản trong Hiệp định sơ bộ, thì bọn chủ mỏ cũng gây cho ta những khó khăn phức tạp. Dựa vào thế của quân Pháp, bọn chủ mỏ trắng trợn áp ức, bóc lột công nhân. Chúng đuổi thợ một các vô cớ, hạn chế các hoạt động chính trị của thợ mỏ. Vin cớ khó tiêu thụ than chúng đã bớt lương, bớt gạo của công nhân. Hành động áp bức, bóc lột của bọn chủ mỏ không khác gì dưới thời Pháp thuộc.

Ngày 29 tháng 6 năm 1946, bốn nghìn công nhân của khu mỏ Hồng Gai, Cẩm Phả đã nhất loạt nghỉ việc làm tê liệt toàn bộ dây chuyển sản xuất. Cuộc đình công kéo dài suốt một tuần liền. Để ủng hộ cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân vùng mỏ, cán bộ nhân viên cơ quan và Vệ quốc đoàn ở Đặc khu Hồng Gai đã chi viện lương thực, tiền của cho anh em và gia đình đang trực tiếp bị bọn chủ mỏ cúp lương, cắt gạo. Anh chị em công nhân ở Quảng Yên, Hải Dương và nhiều tỉnh bạn khác ở Bắc Bộ, Trung Bộ đã gửi đến công nhân vùng mỏ 8.300 đồng và một số gạo. Bộ Lao động nước ta ra tuyên bố ủng hộ thợ mỏ đấu tranh. Trước cuộc đấu tranh trực tiếp của 4.000 thợ mỏ và sự ủng hộ mạnh mẽ của phong trào công nhân cả nước, ngày 5 tháng 7 năm 1946, bọn chủ mỏ đã phải thỏa mãn mọi yêu sách của công nhân Hồng Gai – Cẩm Phả.

Từ đó cho đến cuối năm 1946, các cuộc đấu tranh chính trị của công nhân ở khu mỏ liên tiếp nổ ra mạnh mẽ. Đặc biệt từ khi chi bộ Đảng của thị xã Cẩm Phả được xây dựng và công đoàn của đặc khu được thành lập (vào tháng 9 năm 1946) thì phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân càng liên tục và có nội dung sát hợp hơn và ngày càng gắn với công cuộc chuẩn bị kháng chiến của toàn dân.
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Bảy, 2017, 05:51:07 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 7218

Lính của PTL


« Trả lời #18 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2017, 08:54:45 PM »

4. Tích cực xây dựng lực lượng chuẩn bị kháng chiến, Hải Ninh bước vào chiến đấu.

Từ đầu năm 1946 việc xây dựng lực lượng vũ trang và chuẩn bị kháng chiến của quan dân Quảng Ninh đã có những tiến bộ đáng kể. Sau khi ủy ban hành chính các cấp ra đời, trong tổ chức ủy ban có một ủy viên quân sự để giúp chính quyền chăm lo việc xây dựng lực lượng vũ trang và chuẩn bị chiến đấu. Việc phụ trách dân quân du kích và tự vệ trước đây do đoàn thể đảm nhiệm, nay chuyển sang chính quyền phụ trách.

Lúc này, ở nông thôn đã phân rõ: tổ chức dân quân làm nhiệm vụ canh gác và phục vụ chiến đấu do toàn dân tham gia theo nghĩa vụ, tổ chức du kích làm nhiêm vụ chiến đấu, nửa thoát ly sản xuất. Ở huyện do du kích tập trung, thoát ly sản xuất. Ở các thị xã có hai loại tự vệ: một loại làm nhiệm vụ như dân quân ở nông thôn, một loại làm nhiệm vụ chiến đấu. Ở cấp thị xã và tỉnh có các đội tự vệ chiến đấu tập trung hoặc các đội cảnh vệ làm nhiệm vụ bảo vệ cơ quan thay thế cho bộ đội.

Việc trang bị vũ khí cho lực lượng nửa vũ trang và ngay cả bộ đội chủ lực thời gian này không chỉ là vấn đề quân sự và do trên cấp phát, mà còn là phong trào tự trang bị của nhân dân. Nhân dân ta từ các em nhỏ, cụ già, đến các chị phụ nữ đều có nhiều cách để có vũ khí. Họ mua lại của lính Nhật, lính Tàu, lính của bọn đảng phái phản động, có khi họ còn cưỡng chiếm của những tên đi lẻ và thậm chí đột nhập cả vào kho vũ khí của chúng để lấy súng trang bị cho người thân của mình.

Công tác huấn luyện cho các cán bộ làm công tác quân sự do trường quân chính chiến khu và của tỉnh đảm nhiệm. Việc huấn luyện ở cơ sở do cán bộ, chiến sĩ Vệ quốc đoàn hoặc do anh em cựu binh sĩ phụ trách. Nhiều huyện đã tổ chức các đội cơ động đi các xã huấn luyện về cách đánh mìn, làm cạm bẫy.



Du kích Quảng Yên làm hầm chông chống giặc trong kháng chiến chống Pháp

Nguồn cung cấp cho bộ đội lúc này do nhân dân đảm nhiệm. Các đoàn thể đã vận động quần chúng tổ chức các “hũ gạo nuôi quân” hoặc “quỹ nuôi quân”, vận động nhân dân các đoàn thể, cơ quan, xí nghiệp quyên góp hoặc dựa vào sự nhiệt tình ủng hộ của các bà con tiểu thương và những nhà giàu khác.

Tính tới giữa năm 1946, ngoài trung đoàn Tiên Yên và một số trung đội của liên quân tiếp phòng, các lực lượng vũ trang do địa phương xây dựng có: đại đội cảnh vệ Bạch Đằng, đội vũ trang tuyên truyền Trần Hưng Đạo (thuộc tỉnh Quảng Yên), đội thanh niên xung phong thị xã Hồng Gai, ba đại đội của huyện Móng Cái, trung đội quyết tử của thị xã Hồng Gai. Lực lượng nửa thoát ly có các trung đội của Quang Hanh, Tam Hợp (thị xã Cẩm Phả), hai trung đội ở Lán 14 (Hồng Gai), các trung đội của thị trấn Cửa Ông và các đội du kích người dân tộc của Đình Lập, Tiên Yên…

Năm 1946, tổ chức quân đội của ta có một số thay đổi. Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quân sự và lực lượng vũ trang nhân dân, từ tháng 1 năm 1946, Trung ương Quân ủy được thành lập để giúp Ban Chấp hành Trung ương lãnh đạo công tác quân sự. Theo sắc lệnh 71 ngày 22 tháng 5 năm 1946, Vệ quốc quân được chuyển thành Quân đội quốc gia của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Việc phân định địa giới các chiến khu được điều chỉnh lại. Tỉnh Quảng Yên, Hải Ninh và Đặc khu Hồng Gai tách khỏi Chiến khu 3 và trực thuộc Chiến khu 12. Các liên khu ủy lãnh đạo các chiến khu và các tỉnh Đảng bộ của Đặc khu Hồng Gai và hai tỉnh Quảng Yên, Hải Ninh do Liên khu ủy 12 lãnh đạo. Trung đoàn Tiên Yên (chi đội 1 cũ) thuộc sự chỉ huy của Chiến khu 3 và sự lãnh đạo của Liên khu ủy 3.
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Bảy, 2017, 05:51:14 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 7218

Lính của PTL


« Trả lời #19 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2017, 08:55:36 PM »

Cùng với việc xây dựng lực lượng vũ trang, Đảng bộ và chính quyền các địa phương của Quảng Ninh đã tăng cường giáo dục quyết tâm chiến đấu, ý thức cảnh giác phòng gian bảo mật và các quan điểm về chiến tranh nhân dân, về chủ trương tiến hành trường kỳ kháng chiến, v.v.

Đến cuối năm các địa phương được lệnh nỗ lực cao nhất để chuẩn bị cho cuộc chiến tranh chống xâm lược sắp nổ ra. Quán triệt tinh thần chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong văn kiện “Công việc khẩn cấp bây giờ” là: “Một mặt phá hoại, một mặt kiến thiết, phá hoại để ngăn giặc, kiến thết để đánh địch” khắp nơi đều hăng hái làm làng chiến đấu và tổ chức phá hoại giao thông, liên lạc và dựng các kè đập, ụ cản trên các tuyến giao thông huyết mạch đường bộ cũng như đường thủy.

Ở các huyện phía tây và nam của Quảng Ninh phổ biến là có núi xen kẽ, các xã thường gồm nhiều thôn nhỏ nên cách xa nhau hoặc bám quanh các đồi núi. Ở đây các xã đã xây dựng làng chiến đấu bằng các rào tre ở những hướng chủ yếu, còn lại thì đào công sự, dựng vật chướng ngại, tạo thành các làng chiến đấu liên hoàn. Nhiều nơi quân ta đã đào hầm bí mật trong núi. Ở xã Văn Đức (Chí Linh) các thôn Vĩnh Đại, Khe Khâu đào những hào lớn trong núi có thể chứa toàn bộ số dân của thôn mình tập trung vào trong đó một thời gian. Ở xã Nguyễn Huệ (Đông Triều) các thôn đều có lũy tre bao bọc chung quanh, hàng rào tre dày tới gần nửa mét và chu vi 4.000 mét, trong lũy tre có hào giao thông và công sự chiến đấu, phục vụ chiến đấu và ẩn nấp. Hình thức làng chiến đấu kết hợp với đồi núi là phổ biến ở các huyện Chí Linh, Thủy Nguyên, Cát Bà, Hoành Bồ và Cẩm Phả Còn ở Hải Ninh thì việc tổ chức chiến đấu bảo vệ làng chủ yếu dựa vào lối đánh tỉa và tận dụng địa hình thuận lợi ở vùng rừng rậm, núi cao.

Công tác phá hoại được tiến hành khẩn trương ở tỉnh Quảng Yên. Các nhà máy, hầm mỏ của Pháp từ Chí Linh đến Uông Bí, thị xã Quảng Yên đều bị phá. Trên đường quốc lộ 10 ta phá nhiều đoạn và 13 chiếc cầu, có đoạn bị phá nựng mãi bốn đến năm năm sau địch mới khôi phục được. Quảng Ninh có nhiều sông ngòi, giao thông thủy có thể đi lại trong toàn vùng, do đó quân và dân trong tỉnh cũng đắp nhiều kè, đập trên các đoạn sông quan trọng để ngăn chặn địch lợi dụng đường thủy để tiếp tế vận chuyển và tiến công quân ta. Chỉ trong vòng gần hai tháng nhân dân đã huy động tới hàng trăm tà vẹt, cọc sắt, hàng nghìn cọc tre và hàng trăm thuyền đá để xây dựng các kè ở Trới, sông Mành, Từa Xá, Tri Xuyên, Xích Thổ, Quảng La (Hoành Bồ), Bến Vạn (Chí Linh), Chợ Xa (Sơn Động), Bà Kèo (Nam Sách), Nhất Sơn (Kinh Môn), Kiền Bái (Thủy Nguyên). Riêng kè An Biên ở Đông Triều ta đã huy động tới 10 vạn cây tre, hàng trăm khối dá và hơn 1.000 nhân công.

Công tác phá hoại còn được tiến hành cả khi chiến tranh đã bùng nổ và lan rộng. Năm 1948, qua tổng kết riêng tỉnh Quảng Yên đã phá hoại 103 ki-lô-mét đường bộ, 33 cầu, cắt 175 ki-lô-mét dây điện thoại, bóc nhiều đoạn đường xe lửa, làm 19 làng chiến đấu, tám núi chiến đấu, 11.400 hầm bí mật, 185.900 mét hào giao thông và 25.000 mét hào chiến đấu.

*

Tháng 7 năm 1946, khi ta vừa giành được chính quyền tại Móng Cai từ tay quân Tưởng và giải phóng hầu hết các huyện trong tỉnh, lợi dụng các lực lượng của ta chưa được tăng cường, chính quyền chưa được củng cố, quân Pháp đóng ở Vạn Hoa theo lệnh bọn chỉ huy của chúng ở Đông Dương đã bắt đầu nhen ngọn lửa chiến tranh xâm lược ngay tại nơi này. Âm mưu của chúng là từ Vạn Hoa, Cô Tô đánh chiếm lấy một địa bàn trên đất liền để xây dựng thành một căn cứ đầu cầu, bàn đạp để từ đó phát triển rộng ra các nơi khác khi đại quân của chúng tiến ra miền Bắc và chiến tranh xâm lược bùng nổ. Bình Liêu, Đầm Hà, Tiên Yên và Hà Cối là những mục tiêu được chúng lựa chọn.

Để thực hiện âm mưu táo bạo và đầy tham vọng đó, bọn Pháp đã bắt tay với bọn Tưởng ở đất Trung Quốc, lợi dụng lực lượng của quân Tưởng có những điều kiện thuận lợi hơn để tiến đánh các địa bàn sâu trong đất liền như Bình Liêu, Đầm Hà. Còn quân Pháp thì tiến công đánh chiếm Tiên Yên là địa điểm rất gần với đảo Vạn Hoa – căn cứ của chúng

Ngày 17 tháng 7 năm 1946, sau khi đã nhận được một món tiền khá lớn của quân Pháp (gồm 70 vạn đồng tiền Đông Dương) Lưu Chấn Xương, chỉ huy quân Tưởng ở Đông Dương đã huy động 3.000 quân vượt qua biên giới đánh chiếm Bình Liêu, Đầm Hà rồi liên lạc với bọn phỉ người Hoa đánh chiếm Hà Cối. Bị tiến công bất ngờ, lực lượng lại ít, trong khi quân địch đông, các đon vị bảo vệ địa bàn của ta chỉ chiến đấu tiêu hao địch rồi rút lui để bảo toàn lực lượng.

Trong khi đó từ Vạn Hoa, đội quân Pháp do tên quan tư Gơ-ranh-đa chỉ huy, bao gồm cả một tiểu đoàn phỉ của Voòng A Sáng cầm đầu, có phi pháo yểm trợ, tiến đánh Tiên Yên.

Trung đoàn Tiên Yên của ta lúc này đang phải phân tán làm nhiệm vụ ở các địa bàn khác nhau, nên không đủ sức phản công lại quân địch. Các đơn vị Tiên Yên đã chiến đấu nhằm ngăn chặn bước tiến của địch, rồi rút ra ngoài thị trấn, cùng với du kích tổ chức chặn giác trên đường số 4A.

Chiếm xong Tiên Yên, quân Pháp tiến lên Đầm Hà, Bình Liêu để thay thế cho quân Tưởng. Sau đó chúng bắt tay vào củng cố các vị trí đã chiếm được, xây dựng nơi đây thành các căn cứ vững chắc để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu sắp tới. Chúng đã móc nối với bọn phỉ ở Hà Cối và bọn phỉ ở địa phương, dùng bọn này làm đội quân xung kích và làm hàng rào đệm cho chúng.

Tháng 8 năm 1946, với ý định đánh phá hậu phương của ta bọn Pháp đã dùng bọn phỉ lưu Sĩ Long tổ chức một trận càn lớn vào Bảo Hà, Khu Mỏ, Hà Lâu để cướp bóc, đánh phá cơ sở ta và phá hoại thu hoạch của nhân dân địa phương. Trung đoàn Tiên yên và lực lượng du kích đã kiên quyết đánh trả, bẻ gãy cuộc càn của chúng, bảo vệ nhân dân thu hoạch vụ mùa. Phát huy chiến thắng, quân ta đã tập kích vào bọn địch đang chuẩn đóng đồn Vân Mây và Phố Cũ không cho chúng mở rộng các khu vực chiếm đóng.

Như vậy là trên vùng đất Hải Ninh địa đầu đông – bắc của Tổ quốc, tiếng súng kháng chiến chống Pháp đã nổ ra sớm trước năm tháng so với các tỉnh miền Bắc. Trong những trận chiến đấu đầu tiên với giặc Pháp xâm lược, quân và dân Hải Ninh đã tiêu diệt 79 tên địch, thu 25 súng các loại, mở đầu cho trang sử kháng chiến chống Pháp chín năm của quân và dân vùng mỏ anh hùng.
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Bảy, 2017, 05:51:28 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
Trang: « 1 2 3 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM