Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 20 Tháng Chín, 2017, 02:23:32 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)  (Đọc 2415 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 7307

Lính của PTL


« vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2017, 08:10:39 PM »

Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
Nhà xuất bản Quân đội nhân dân
Hà Nội - 1991
Người số hóa: macbupda

Chỉ đạo nội dung:
   - THƯỜNG VỤ TỈNH ỦY QUẢNG NINH
   - THƯỜNG VỤ ĐẢNG ỦY VÀ BỘ CHỈ HUY QUÂN SỰ TỈNH QUẢNG NINH
   - VŨ CẨM Trưởng ban Tuyên giáo tỉnh ủy   
   - Đại tá NGUYỄN THẾ TRỊ
   - Thượng tá NGUYỄN TIẾN LONG
   - Thượng tá PhẠM NGỌC CƯƠNG

Người viết:
   - TRẦN MINH THÁI
   - NGUYỄN VĂN KỲ
   - PHẠM HỒNG THỤY

LỜI NÓI ĐẦU

Quảng Ninh là tỉnh địa đầu án ngữ phía đông-bắc của Tổ quốc, là một trung tâm công nghiệp khai khoảng, có hải cảng và đường giao thông thủy bộ thuận lợi giữ vị trí chiến lược quan trọng cả về kinh tế và quốc phòng

Do vị trí quan trọng của địa bàn nên trong suốt 30 năm qua thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã tập trung lực lượng với các thủ đoạn xảo quyết để đánh phá mảnh đất địa đầu của Tổ quốc này.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Bác Hồ và Trung ương Đảng, Tỉnh ủy Quảng Yên, Hải Ninh và Đặc khu Hồng Gai đã lãnh đạo nhân dân vượt mọi khó khăn gian khổ tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ toàn dân toàn diện, vừa chiến đấu, vừa xây dựng lực lượng, làm thất bại mọi âm mưu chiếm đóng và bình định của địch, góp phần cùng quân và dân cả nước đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quân dân Quảng Ninh vừa xây dựng tỉnh nhà, cùng miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội, chi viện sức người sức của cho đồng bào miền Nam ruột thịt vừa góp phần đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ trên miền Bắc nước ta.

Trong 30 năm qua, quân và dân Quảng Ninh đã cùng cả nước đánh bại hai cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Thắng lợi của quân và dân ta trong hai cuộc kháng chiến và trong xây dựng chủ nghĩa xã hội chứng minh sự đúng đắn và sáng tạo của đường lối chiến tranh nhân dân và đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng ta, đồng thời càng chứng minh sức mạnh kỳ diệu của dân tộc Việt Nam mà Quảng Ninh là một bộ phận.

Để ghi lại những chặng đường lịch sử hào hùng ấy, chấp hành nghị quyết của Đảng ủy quân sự Trung ương, chỉ thị của Bộ Quốc phòng về công tác biên soạn lịch sử quân sự, Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh tổ chức viết bộ Lịch sử quân sự, gồm hai tập: Tập 1 viết về cuộc chiến tranh nhân dân ở Quảng Ninh trong kháng chiến chống Pháp, tập 2 viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ trên địa bàn tỉnh.

Nhân dịp cuốn “Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược” ra mắt bạn đọc, chúng tôi xin cảm ơn Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Phòng khoa học lịch sử quân sự Quân khu 3, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Quảng Ninh, các cơ quan liên quan, các cán bộ cách mạng lão thành, cán bộ, chiến sĩ đã tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp ở Quảng Ninh đã tận tình giúp đỡ để tập sách ra đời.

Tuy công việc sưu tầm tư liệu và biên soạn đã có nhiều cố gắng, song không thể không có thiếu sót mặt này, mặt khác. Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ninh kính mong được sự quan tâm góp ý kiến của các đồng chí và các bạn.


                                                                                                           
THƯỜNG VỤ ĐẢNG ỦY – BỘ CHỈ HUY QUÂN SỰ
TỈNH QUẢNG NINH
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Bảy, 2017, 05:47:15 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 7307

Lính của PTL


« Trả lời #1 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2017, 08:13:47 PM »

CHƯƠNG MỞ ĐẦU

QUẢNG NINH – ĐỊA BÀN CHIẾN LƯỢC,
MỘT VÙNG ĐẤT GIÀU TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG

Quảng Ninh, vùng đất ở ven biển Đông, kề sát với biên giới Việt – Trung, thuộc vùng đông – bắc nước ta. Phía bắc và đông – bắc có đường biên giới trên bộ 132,8 ki-lô-mét (giáp tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc). Địa bàn Quảng Ninh giáp biển Đông, với bờ biển 250 ki-lô-mét và nối liền với ranh giới trên biển. Trên đất liền Quảng Ninh tiếp giáp Lạng Sơn ở phía bắc, Hà Bắc ở phía Tây, Hải Phòng và Hải Hưng ở phía tây nam.

Tỉnh Quảng Ninh có diện tích 5.938 ki-lô-mét vuông, trong đó đất liền chiếm 87 phần trăm, đảo chiếm 13 phần trăm, đồi núi chiếm 90 phần trăm diện tích toàn tỉnh. Các dãy núi đá vôi chạy dài từ Phả Lại tới Móng Cái kết hợp với những đảo chạy sóng đôi tạo nên vòng cung Hồng Quảng ở vùng đông - bắc. Các dãy núi này còn chứa nhiều mỏ than chạy suốt từ Đông Triều, Mạo Khê, Uông Bí, Vàng Danh, Hoành Bồ, Hồng Gai, Cẩm Phả, Mông Dương, với trữ lượng bằng 90% trữ lượng than đá của cả nước. Quảng Ninh còn có các khoáng sản khác có giá trị như đá hoa và đất sét trắng Đông Triều, đá vôi Hạ Long, cát Vân Hải, đá Tấn Mài.

Rừng Quảng Ninh với diện tích 213.469 héc-ta là một vùng có ý nghĩa quan trọng cả về quân sự và kinh tế. Rừng có nhiều gỗ quý với nhiều đặc sản như hồi, trầu, sả, có nhựa thông Uông Bí, rừng quế Bình Liêu, Quảng Hà (là một trong bốn rừng quế có tiếng của nước ta).

Dọc bờ biển Quảng Ninh có nhiều cửa sông, luồng lạch, hải càng thuận lợi cho thuyền bè vào ra như Cửa Ông, Hồng Gai. Ngoài ra Quảng Ninh còn có một quần thể đảo chạy dài từ Vịnh Hạ Long đến Móng Cải. Vùng ven biển đã xuất hiện từ sớm nghề đánh bắt thủy sản.

Đi đôi với những hoạt động kinh tế nông – lâm – ngư nhiệp từ cuối thế kỷ 19 khi tư bản Pháp xâm nhập nước ta thì công nghiệp khai khoáng ở Quảng Ninh ngày một phát triển. Năm 1888, vùng mỏ có 3.000 công nhân, tới năm 1929 thợ mỏ Quảng Ninh có 35.000 trong tổng số 38.655 công nhân ngành mỏ nhiên liệu toàn Đông Dương. Quảng Ninh trở thành một trung tâm kinh tế chính trị và trở thành một khu công nghiệp trong cả nước.

Vai trò của Quảng Ninh là cửa ngõ đi vào Bắc Bộ, là bình phong che chở cho “chiếc bản lề”, “cái chìa khóa của mặt bể Bắc Kỳ”, khi phát triển hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông với các phương tiện vận chuyển cơ giới với các tỉnh đông bằng Bắc Bộ và Việt Bắc.

Ngoài ba tuyến đường gần như song song theo chiều dài của tỉnh từ phía tây ngược lên đông – bắc như đường 13, đường 18 và đường thủy chạy dọc ven biển là các con đường Hữu Nghị 1, đường sông Bắc Đằng, đường 4A, đường 10, đường Máng Nước, đường Bến Triều – Đò May, đường Bến Đụn, đường qua Hoàng Thạch về Hải Phòng và tới quốc lộ số 5. Đặc biệt những năm gần đây Quảng Ninh lại có thêm tuyến đường sắt Yên Viên – Bãi Cháy. Hệ thống đường sá được mở rộng tạo điều kiện cho Quảng Ninh đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng kinh tế,  củng cố quốc phòng.

Về địa lý quân sự, địa bàn Quảng Ninh chia làm ba vùng rõ rệt: rừng núi, trung du và hải đảo. Vùng rừng núi, trung du thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ cách mạng, căn cứ kháng chiến, xây dựng nghĩa quân, lực lượng vũ trang tập trung. Vùng ven biển, hải đảo thuận lợi trong tổ chức phòng ngự đánh được quân địch tiến công bằng đường biển vào địa bàn.

Khí hậu thời tiết ở Quảng Ninh thuộc vùng nhiệt đới gió mùa. Mùa hè nóng, mùa đông khá lạnh. Lượng mưa trung bình là 1.675 mi-li-mét. Nhiệt độ trung bình tháng 6 là 28,5 độ, tháng 1 là 16,5 độ. Nhiệt độ thấp nhất là 4 độ, cao nhất là 42 độ. Thời tiết, khí hậu ở Quảng Ninh vừa thuận lợi vừa khắc nghiệt đối với sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, đồng thời ảnh hưởng lớn đến các hoạt đông quân sự. Nạn bão lụt, hạn hán thường xảy ra.
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Bảy, 2017, 05:47:28 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 7307

Lính của PTL


« Trả lời #2 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2017, 08:14:39 PM »

*

Tỉnh Quảng Ninh ngày nay cũng như các tỉnh Hải Ninh, Quảng Yên, Đặc khu Hồng Gai (trong kháng chiến chống Pháp) là một trong những vùng đất có lịch sử lâu đời và đã có đóng góp xứng đáng vào lịch sử dân tộc.

Nhờ có điều kiện thiên nhiên thuận lợi, địa bàn chiến lược này dân cư ngày một tập trung đông, đến nay mật độ dân số lên tới 100 người trên một ki-lô-mét vuông. Bên cạnh bộ phận đông nhất là người Kinh còn có nhiều dân tộc anh em sinh sống chủ yếu ở vùng rừng núi, trong đó các nhóm người tương đối đông là người Tày, Sán Dìu, Sán Chỉ, Cao Lan, Dao, Hoa.

Về cơ cấu giai cấp ở Quảng Ninh trong kháng chiến chống Pháp, nông dân lao động chiếm số đông nhất. Tầng lớp phú nông, địa chủ chiếm một tỷ lệ thấp và ngày càng bị thu hẹp. Giai cấp công nhân và tầng lớp thợ thủ công tập trung chủ yếu ở các khu mỏ và các thị xã như Uông Bí, Hồng Gai, Cẩm Phả.

Qua đấu tranh với thiên nhiên và đấu tranh xã hội để tồn tại, nhân dân các dân tộc Quảng Ninh đã đóng góp to lớn sức mình vào công cuộc dựng nước và giữ nước.

Những phố phường, thôn xóm đã từng bước thực hiện sản xuất chuyên môn có nhiều sản phầm truyền thống và những sản phẩm mới có chất lượng và thẩm mỹ. Các công trình kiến trúc độc đáo và những nơi nghỉ mát nổi tiếng; những hệ thống đê sông, đê biển với chiều dài hàng trăm ki-lô-mét nói lên sự sáng tạo cần cù lao động của nhân dân Quảng Ninh.

Cùng với việc dựng nước, nhân dân các dân tộc Quảng Ninh đã bao đời đóng góp công sức và xương máu của mình vào công cuộc giữ nước.

Mỗi khi phát động chiến tranh xâm lược nước ta, kẻ thù thường tập trung lực lượng đánh chiếm vùng cửa ngõ đông – bắc. Về phía ta, do vị trí địa lý của mình, Quảng Ninh giữ một vai trò quan trọng về chiến lược trong chiến tranh giữ nước. Có lúc nhân dân các dân tộc Quảng Ninh đứng ở tuyến đầu chống quân xâm lược, cũng có khi là nơi đứng chân của các cơ quan đầu não – đại bản doanh của các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược.

Năm 40 đầu Công nguyên, cùng với quân dân các địa phương vùng duyên hải, nhân dân Quảng Ninh đã anh dũng đứng lên hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Với điều kiện trang bị kỹ thuật còn thô sơ và tình độ cơ động có hạn, quân xâm lược phương Bắc đã nhiều lần lấy sông Bạch Đằng làm đường tiến quân về Thăng Long. Nơi đây đã ba lần trở thành quyết chiến điểm mang ý nghĩa chiến lược của quân và dân ta vào các thời Ngô (938), Lê (981), Trần (1288). Trong các trận quyết chiến chiến lược ấy, nhân dân các dân tộc Quảng Ninh đã đóng góp biết bao xương máu và công sức của mình và chiến thắng chung của dân tộc.

Với tư tưởng “lấy đại nghĩa thắng hung tàn”, nhân dân ta đã tiến hành cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược thắng lợi. Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, nhân dân các dân tộc Quảng Ninh dưới sự lãnh đạo của Lê Ngã chiến đấu trong hai năm 1419 – 1420, góp phần cùng cả nước đập tan ý chí xâm lược của nhà Minh.

Cái họa phương Bắc vừa dứt thì họa ngoại xâm của bọn thực dân tư bản lại đến. Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhân dân Quảng Ninh đã cùng nhân dân cả nước đứng lên chống Pháp.

Lúc đầu các phong trào chống Pháp của nhân dân Quảng Ninh vừa chịu ảnh hưởng của Việt Nam quang phục hội do Phan Bội Châu lãnh đạo, vừa là sự nối tiếp của phong trào Cần Vương, đồng thời có quan hệ ít nhiều với phong trào nông dân ở phía nam Trung Quốc. Phong trào chống Pháp của nhân dân Quảng Ninh cũng như cả nước phát triển hơn 20 năm.

Từ năm 1885 đến năm 1889 dưới sự lãnh đạo của Đốc Tít, nghĩa quân Đông Triều đã mở rộng địa bàn hoạt động chống Pháp tới thị xã Hải Dương. Năm 1891 hàng ngàn nghĩa quân do Lưu kỳ chỉ huy đã mở nhiều trận tiến công quân Pháp từ Đông Triều, Uông Bí, Quảng Yên, Hoành Bồ đến Hà Cối, Móng Cái.

Trong cuộc đấu tranh với thiên nhiên và xã hội, nhân dân các dân tộc Quảng Ninh luôn thủy chung, đoàn kết gắn bó với nhau trong tình làng nghĩa xóm, lao động cần cù nhẫn nại, yêu nước nồng nàn, vừa xây dựng vừa bảo vệ Tổ quốc. Từ khi có Đảng Cộng sản và Bác Hồ vĩ đại lãnh đạo cách mạng, những tính cách và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc Quảng Ninh càng được bồi bổ và phát huy trở thành nhân tố cơ bản để xây dựng quê hương giàu mạnh.
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Bảy, 2017, 05:47:47 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 7307

Lính của PTL


« Trả lời #3 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2017, 08:16:04 PM »

*

Sau khi xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã thi hành những chính sách vô cùng tàn bạo nhằm kìm kẹp bóc lột nhân dân ta. Trong quá trình bóc lột, chúng đã tiến hành cái gọi là “mở mang công nghiệp” nhằm vơ vét tài nguyên để bổ sung cho công nghiệp chính quốc và bóc lột nhân công. Do vậy ở Việt Nam thời kỳ này đã xuất hiện một giai cấp mới – giai cấp công nhân công nghiệp.

Sau khi Công ty mỏ than Bắc Kỳ ra đời, đội ngũ công nhân mỏ mà đa số xuất thân từ nông dân ngày một phát triển. Tới năm 1929 công nhân vùng mỏ từ 3.000 người lên tới 35.000 người.

Do bị áp bức bóc lột ngày một nặng nề, công nhân mỏ ở Quảng Ninh đấu tranh với các hình thức từ thấp (như đốt lán trại, bỏ trốn tập thể) đến cao như đình công, bãi công, kết hợp đấu tranh kinh tế với đấu tranh chính trị.

Trong lúc phong trào cách mạng Việt Nam đang phát triển, giai cấp công nhân nói chung cũng như công nhân vùng mỏ Quảng Ninh nói riêng đang trưởng thành thì lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sau nhiều năm bôn ba hải ngoại, tìm đường cứu nước, đã tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lê-nin trở về nước lãnh đạo cách mạng. Người quyết định “Trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do, độc lập”(1).

Trong quá trình đấu tranh cách mạng, do vị trí địa lý và vị trí kinh tế, chính trị của mình, tỉnh Quảng Ninh là một trong những địa phương sớm có cơ sở cách mạng và đây cũng là địa bàn mà nhiều cán bộ lãnh đạo của Đảng thường xuyên qua lại xây dựng cơ sở chỉ đạo đấu tranh.

Từ năm 1926 đến năm 1935, các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Quốc Việt, Lê Thanh Nghị, Nguyễn Đức Cảnh, Hoàng Đình Giong đã về hoạt động trong các nhà máy, hầm mỏ từ Mạo Khê đến Cửa Ông. Tháng 9 năm 1930, đồng chí Trần Phú, Tổng bí thư của Đảng đã về khảo sát phong trào công nhân Quảng Ninh để có thêm tài liệu khởi thảo Cương lĩnh chính trị của Đảng ta.

Được các cán bộ đảng thường xuyên qua lại hoạt động xây dựng cơ sở, phong trào công nhân trong hệ thống mỏ than ở Mạo Khê, Uông Bí, Vàng Danh, nhà máy kẽm Quảng Yên, Hồng Gai, Cẩm Phả, Mông Dương ngày một phát triển. Từ ngày Đảng ra đời, phong trào cách mạng của Quảng Ninh chịu sự lãnh đạo của Xứ ủy Bắc Kỳ và Ban cán sự liên tỉnh B chịu trách nhiệm lãnh đạo trực tiếp.

Các chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương lần lượt được xây dựng ở Uông Bí, Vàng Danh, Hồng Gai, Hà Tu, Cẩm Phả, Cửa Ông, nhà máy kẽm Quảng Yên. Từ cuối tháng 2 năm 1930, chi bộ đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập ở Mạo Khê.

Tháng 9 năm 1930, tỉnh Quảng Ninh có đảng ủy mở ở Uông Bí, Vàng Danh, Hồng Gai và Cẩm Phả. Tháng 10 năm 1930, Đảng bộ Đặc khu Hồng Gai được thành lập bao gồm hai đảng bộ: Hồng Gai và Cẩm Phả. Từ năm 1929 đến năm 1944, cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân Quảng Ninh đã diễn ra dưới nhiều hình thức phong phú. Ngày 1 tháng 5 năm 1930, lá cờ búa liềm do các chiến sĩ cộng sản treo lên trên núi Bài Thơ chào mừng ngày chi bộ đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Quảng Ninh được thành lập đã mở đầu các hoạt động của phong trào công nhân mỏ trong giai đoạn này. Tiếp đó là cuộc đấu tranh của toàn vùng mỏ ngày 21 tháng 11 năm 1936, cuộc đấu tranh của hàng vạn công nhân mỏ Vàng Danh ngày 22 tháng 9 năm 1937, của 2.000 công nhân Uông Bí ngày 1 tháng 7 năm 1939, của 700 công nhân nhà máy kẽm Quảng Yên ngày 13 tháng 3 năm 1940 và cuộc đình công của 700 công nhân Uông Bí tháng 12 năm 1944.

Qua đấu tranh cách mạng, các đảng bộ ở Quảng Ninh đã từng bước trưởng thành. Được sự lãnh đạo của Xứ ủy và Ban cán sự liên tỉnh, các đảng bộ trong tỉnh đã kiên cường đứng vững qua nhiều lần địch khủng bố, quyết tâm đưa quê hương mình tiến lên kịp phong trào cách mạng của cả nước.

Một trong những thành công của các đảng bộ ở Quảng Ninh là trong giáo dục, tập hợp quần chúng từ năm 1942 đến năm 1944 đã xây dựng được phong trào Việt Minh trong tỉnh.

Đầu năm 1941, một số đảng viên được Xứ ủy Bắc Kỳ cử về Vàng Danh, Uông Bí hoạt động và đã xây dựng được một tổ Việt Minh 10 đồng chí.

Ở xã Rãng Động, các đảng viên bị địch bắt từ năm 1941, đến tháng 8 năm 1944 khi hết hạn tù đã xây dựng lại chi bộ với năm đảng viên. Chi bộ lại tổ chức được các đoàn thể quần chúng, lãnh đạo nhân dân chống địch thu thuế, thu thóc. Phong trào từ Rãng Động đã lan sang Lưu Kiếm, Phả Lễ và tổng Hà Nam.

Sau này chi bộ Rãng Động, chi bộ duy nhất còn lại của Quảng Ninh trong năm 1945 đã góp phần tích cực vào việc giành chính quyền cách mạng ở địa phương, và đã cung cấp cho Quảng Ninh nhiều cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo phong trào cách mạng của tỉnh.


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1980, t. 1, tr. 174
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Bảy, 2017, 05:47:58 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 7307

Lính của PTL


« Trả lời #4 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2017, 08:16:46 PM »

*

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, phát xít Nhật làm đảo chính hất cẳng Pháp độc chiếm Đông Dương. Hầu hết số quân của Pháp ở Quảng Ninh đã bị bắt hoặc hàng quân Nhật. Số quân ở biên giới Việt – Trung chạy sang Trung Quốc. Phần đông binh lĩnh người Việt đã bỏ quê quán, nhiều người mang theo cả vũ khí.

Dẹp xong quân Pháp, quân đội Nhật đã đóng thành nhiều cụm ở các nơi xung yếu như tỉnh lỵ Quảng Yên, Yên Lập, Bãi Cháy, Hồng Gai, Tiên Yên, Hà Cối.

Theo dõi sát diễn biến tình hình, ngày 12 tháng 3, Ban thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Hội nghị chủ trương “phát động một cao trào chống Nhật, cứu nước mạnh mẽ, làm tiền đề cho Tổng khởi nghĩa”.

Chủ trương sáng suốt của Trung ương Đảng đã nhanh chóng được quán triệt đến các huyện, thị xã và cơ sở cách mạng ở Quảng Ninh. Nhân dân Quảng Ninh đã đón nhận tinh thần chuẩn bị Tổng khởi nghĩa của Trung ương trong hoàn cảnh sôi sục nhưng cũng vô cùng phức tạp.

Do chính sách vơ vét của Nhật – Pháp, nhân dân Quảng Ninh đang trải qua nạn đói có một không hai trong lịch sử. Sớm sớm ở các thị xã Hồng Gai, Cẩm Phả người ta phải chôn hàng chục người chết đói. Ở cá xã La Khê, Bái Xá (Yên Hưng) có tới 90 gia đình chết đói, các xã Thạch Hà (huyện Cẩm Phả), Hoành Lỗ (Yên Hưng) bị mất tới hơn hai phần ba số dân.

Chủ trương “phá kho thóc giải quyết nạn đói” của Đảng đã đáp ứng nguyện vọng của nhân da,a đã phát động quần chúng ở Quảng Ninh vùng dậy mạnh mẽ. Nhân dân tham gia Mặt trận Việt Minh, tự vệ cứu quốc. Trước cao trào chống Nhật, cứu nước của nhân dân, chính quyền bù nhìn ở Quảng Ninh ngày càng trở nên rệu rã. Một số người trong ngụy quyền và nhiều người trong bảo an binh đã liên lạc với cách mạng. Tuy thế, hành động của các lực lượng chống đối cũng rất đáng lo ngại.

*

Từ các trung tâm cách mạng như Đông Triều, Quảng Yên, Rãng Động, Hồng Gai – Cẩm Phả, Móng Cái… phong trào chống Nhật, cứu nước đã phát triển tới các huyện ở miền biên giới Hải Ninh, cả ở những nơi cơ sở Việt Minh hầu như chưa có. Từ Quảng Yên và Rãng Động, phong trào còn lan sang Hà Nam, Phục Lễ, Hà Luận (Hải Phòng). Các đội “Danh dự võ trang” đã tiến hành võ trang tuyên truyền ở tây Yên Hưng, đông Thủy Nguyên, hỗ trợ cho nhân dân nổi dậy, bắt tổng lý ngưng thu thóc tạ và trả lại tiền thuế đã thu của dân, đồng thời trừng trị những tên ngoan cố. Tự vệ Rãng Động đã tước vũ khí của toán lính cơ từ huyện về thu thóc thuế.

Tháng 4 năm 1945, các đội tự vệ của xã Phục Lễ (Thủy Nguyên) và vùng Hà Nam (Yên Hưng) đã đánh đồn bảo an binh Cát Hải, thu 12 súng. Trước uy thế và chính nghĩa của cách mạng, binh lính ở trại bảo an binh tỉnh lỵ Quảng Yên, ở trại lính cơ huyện Yên Hưng và đồn Uông Bí đã liên lạc với Việt Minh.

Ở khu mỏ Hồng Gai – Cảm Phả, cuối tháng 3 năm 1945, Xứ ủy đã cử đồng chí Trịnh Tam Tính và một số cán bộ xã hoạt động. Cơ sở Việt Minh ở nhà máy cơ khí Hồng Gai, mỏ Hà Tu, Hà Lầm, các phố Ba Đèo, Vụng Đăng và nhà máy cơ khí Cẩm Phả, trục số 2 Cẩm Phả cũng được xây dựng. Một số thanh niên làm cho Nhật ở Bãi Cháy đã được ta giác ngộ và giao cho làm công tác cứu đói, bảo vệ trật tự trị an.

Tháng 5 năm 1945, một đơn vị quân Tưởng kéo theo quân của tên Vĩ Kim Thành (tên cầm đầu Việt Nam cách mệnh đồng minh hội) từ Trung Quốc tiến vào Móng Cái.

Mặt trận Việt Minh huyện đã tổ chức một cuộc biểu tình tuần hành lớn. Hàng ngàn người vừa đi vừa hô vang các khẩu hiệu “Ủng hộ Việt Minh”, “Hoan nghênh quân đội Đồng minh đánh Nhật”.

Các khẩu hiệu này vừa xác định chủ quyền của nhân dân, vừa nhắc nhở nhiệm vụ của quân đội Đồng minh, vừa biểu dương được lực lượng và khí thế của quần chúng.

Cùng với việc chống Nhật, cứu đói, các cuộc biểu tình chống quân Tưởng của quần chúng cũng lên rất cao. Phong trào mua sắm vũ khí cho du kích và luyện tập quân sự trở nên rất sôi nổi. Tháng 6 năm 1945, một trung đội du kích tập trung chống Nhật ở Quảng Ninh được thành lập. Trung đội có 27 cán bộ, chiến sĩ.

Ngay sau đó, quân Nhật ở Hà Cối đã kéo lên chiếm Mỏng Cái, quân Tưởng và quân Việt Cách đều bỏ chạy.

Đội du kích của Móng Cái đã rút lui về phía sau và định vào Ba Chẽ để lập căn cứ nhưng bị lộ. Cán bộ, chiến sĩ trung đội đã chiến đấu anh dũng với bọn thổ phỉ và tay sai Nhật, nhiều người đã hy sinh, trong đó có các đồng chí Nguyễn Đức Minh, Bùi Văn Lập, còn một số về tham gia quân du kích cách mạng ở chiến khu Đông Triều.
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Bảy, 2017, 05:48:08 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 7307

Lính của PTL


« Trả lời #5 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2017, 08:21:45 PM »

*

Tình hình ở vùng đông – bắc lúc này đang ở tình trạng “đêm trước của cách mạng”.

Để chuẩn bị Tổng khởi nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy Bắc Kỳ, từ tháng 4 năm 1945 các làng Bắc Mã, Hỗ Lao, Đạm Thủy và mỏ Mạo Khê (Đông Triều) đã tổ chức được hầu hết nhân dân vào Việt Minh và thành lập được các đội tự vệ ở Trạo Hà, Mạo Khê và Bắc Mã.

Bằng hình thức võ trang tuyên truyền, ta đã tổ chức các cuộc diễn thuyết, treo cờ, căng biểu ngữ, trừ gian và mở rộng hoạt động sang Kinh Môn, Nam Sách, Thủy Nguyên.

Phong trào Việt Minh ở Quảng Yên – Rãng Động lên cao. Cơ sở cách mạng của ta trong lính ngụy được xây dựng ở tỉnh lỵ Quảng Yên và các đồn Cát Hải, Uông Bí, v.v.

Ngày 10 tháng 5 năm 1945, đồng chí Nguyễn Bình đã tập hợp ở căn cứ Bắc Mã hai tiểu đội “du kích cách mạng quân” với 19 người, gồm ba người là thủy thủ của tàu Com-măng-dăng Buốc-đe (Commandant Bourdair) đã mang một đại liên từ Hải Phòng về và với 16 người là bảo an binh ở đồn Cửa Ông do Phan Mạnh Hà chỉ huy đã về với cách mạng.

Cũng trong tháng 5 năm 1945, trên vùng duyên hải đông – bắc đã hình thành căn cứ cách mạng ở Chí Linh, Đông Triều. Ở cả hai nơi đã không ngừng phát triển chiến tranh du kích, xây dựng căn cứ địa chống Nhật, xây dựng chiến khu để chuẩn bị Tổng khởi nghĩa.

Đông Triều vừa là nơi hội tụ của phong trào cách mạng của Hải Hưng, Hải Phòng, Quảng Yên, vừa là nơi quân cách mạng có thể nhanh chóng tỏa đi khắp miền duyên hải đông – bắc.

Từ địa bàn này ta vừa có thế hiểm để bảo tồn lực lượng khi gặp khó khăn, lại vừa có bàn đạp cơ động để nhanh chóng áp sát các địa bàn trọng yếu về chính trị, kinh tế, quân sự của địch.

Ngày 8 tháng 6 năm 1945, sau các trận đánh thắng lợi ở Chí Linh, Đông Triều, Mạo Khê và Tràng Bạch, chiến khu Đông Triều (Trần Hưng Đạo) được thành lập. Ủy ban quân sự cách mạng của chiến khu gồm các đồng chí Nguyễn Bình, Trần Cung, Hải Thanh và một số ủy viên khác.

Đồng chí Trần Cung
Đồng chí Hải Thanh

Cũng sau các trận đánh ngày 8 tháng 6 năm 1945, quân Nhật đã càn lớn vào Chí Linh và Đông Triều.

Để đối phó với các hoạt động quân sự của ta, địch đã đưa 3.000 quân đóng ở nhiều nơi như Núi Đèo, Tràng Kênh, Bến Rừng, thị xã Quảng Yên, Uông Bí, Yên Lập, Hoành Bồ, Bãi Cháy, Hồng Gai, thị xã Cẩm Phả, Móng Cái.

Trong hai ngày 10 và 17 tháng 6, địch còn tổ chức hai đại đội tiến công các căn cứ của ta. Do vậy ở hướng Đông Triều, quân ta chuyển căn cứ chính về An Sinh và cơ động đánh tỉa giặc ở Lốc, Sấu, Quan, Thông, Long.
« Sửa lần cuối: 22 Tháng Bảy, 2017, 07:50:38 PM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 7307

Lính của PTL


« Trả lời #6 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2017, 08:25:12 PM »

Ngày 17 tháng 6 năm 1945, quân Nhật tấn công Bắc Nồi (Chí Linh), quân ta cùng nhân dân các xã Đại Tâm, Phao Sơn đã cắt phà, phá cầu, đánh đoàn thuyền tiếp tế, tập kích nơi chúng đóng quân, diệt tám tên, thu tám súng và sáu thuyền lương khô. Bọn Nhật đóng ở Phả Lại đã buộc phải rút lui.

Sau khi thành lập, Ủy ban quân sự cách mạng chiến khu đã đặc biệt quan tâm đến công tác hậu cần… Các hào phú, tăng ni phật tử trong vùng đã vui vẻ đóng góp lương thực để nuôi quân. Công nhân mỏ Mạo Khê và nhiều cơ sở công nghiệp trong vùng đã tổ chức các cơ sở sửa chữa vũ khí cho nghĩa quân.

Ủy ban quân sự cách mạng chủ trương kiên quyết tiến công địch mở rộng địa bàn hoạt động và đẩy mạnh cao trào đấu tranh nổi dậy của quần chúng.

Ngày 2 tháng 7 năm 1945, được sự hỗ trợ của cơ sở ta trong binh lính địch, quân du kích cách mạng đánh chiếm đồn Uông Bí. Đồng chí Nguyễn Bình, ủy viên quân sự của chiến khu đã trực tiếp chỉ huy. Mở đầu trận đánh, hai tiểu đội của ta bất ngờ tập kích trại huấn luyện thanh niên của đảng Đại Việt quốc gia liên minh (một tổ chức thân Nhật) ở Bí Chợ, thu hết vũ khí và giải tán trại. Thừa thắng, ta tiến công đồn Xếp Sâm, tước vũ khí của lính gác và phá kho thóc chi cho dân. Hai trận đánh này làm bọn quan lại và lính ngụy ở Quảng Yên rất khiếp sợ, tạo điều kiện cho ta gây được cơ sở trong hàng ngũ địch ở tỉnh lỵ.



Diễn biến chiến đấu trận tập kích đồn Uông Bí và trại Bí Chợ
của du kích quân chiến khu Trần Hưng Đạo

Với hơn 100 súng và nhiều quân trang, quân dụng thu được của địch, số quân của ta ở đây đã lên tới 400 người và biên chế thành các đơn vị như: đại đội Hoàng Văn Thụ, trung đội Đề Thám, trung đội bảo vệ căn cứ, tiểu đội nữ du kích và các đội vũ trang tuyên truyền, cứu thương, trinh sát. Tự vệ mỏ Mạo Khê cướp được một tàu chở gạo của địch trên sông Kinh Thầy (tàu Đi-a-măng Si-măng) để làm tàu tuần tiễu và vận tải cho chiến khu.

Ủy ban quân sự cách mạng của chiến khu tích cực phát động quần chúng nổi dậy giành chính quyền ở cơ sở và cử cán bộ xuống giúp các huyện chỉ đạo phong trào.

Trong tháng 7, phần lớn các xã thuộc bốn huyện Chí Linh, Thủy Nguyên, Kinh Môn, Đông Triều đã thành lập được Ủy ban nhân dân cách mạng, riêng Đông Triều còn lập được Ủy ban nhân dân cách mạng huyện, do đồng chí Nguyễn Văn Tuệ làm chủ tịch. Trong bốn huyện Kinh Môn, Thanh Hà, Thủy Nguyên, Nam Sách, ta đã phát động được nhân dân tước được của địch 65 súng trường và trung liên và phá hai kho thóc chia cho dân.


Đ/c Nguyễn Văn Tuệ (người ngồi ghế) lãnh đạo chiến khu Đông Triều làm việc tại thôn Mễ Xá tháng 6/1945, Lê Thị Nhuần (người đứng) cán bộ tuyên truyền, y tế; Lê Kim Anh (người đứng) liên lạc viên

Các tòa án nhân dân đã tuyên án xử tử những tên phản động, tay sai đắc lực của Pháp và Nhật, và hàng chục tên phỉ chuyên đi cướp bóc của nhân dân ở Chí Linh, Thủy Nguyên, Thanh Hà, Đông Triều. Tự vệ Phả Lại bao vây Hố Gỗ (sau đền Kiếp Bạc) sào huyệt của phỉ tiêu diệt một số tên đầu sỏ.
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Bảy, 2017, 05:48:36 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 7307

Lính của PTL


« Trả lời #7 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2017, 08:26:43 PM »

Trên đà thắng lợi quân ta tổ chức tiến công tỉnh lỵ Quảng Yên. Đây là một mục tiêu rất quan trọng ở vùng đông – bắc. Tiến công Quảng Yên sẽ làm rung chuyển cả vùng mỏ và gây tác động lớn tới cả Hải Phòng. Nhận thức được vấn đề này nên sau chiến thắng Bí Chợ, Uông Bí, Ủy ban quân sự cách mạng của chiến khu quyết định tiến công quân địch ở tỉnh lỵ Quảng Yên (tháng 7 năm 1945).

Thị xã Quảng Yên có 85 lính cơ và 500 bảo an binh đóng. Ngày 10 tháng 7 năm 1945, đại diện chiến khu và Ban Việt Minh thị xã họp bàn kế hoạch đánh chiếm tỉnh lỵ Quảng Yên. Hội nghị dự định ngày 25 tháng 7 năm 1945 quân ta sẽ tiến công tỉnh lỵ.

Cuộc tiến công này nhằm làm lung lay ngụy quyền cấp tỉnh, thúc đẩy phong trào Việt Minh trong huyện Yên Hưng, đồng thời thu tiền bạc, lương thực, vải vóc để phục vụ cho việc xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng của chiến khu.

Về sử dụng lực lượng, ta chủ trương chỉ dùng lực lượng nhỏ mà tinh, bất ngờ đột nhập dinh tỉnh trưởng và trại bảo an binh, kết hợp với người của ta trong binh lính địch, bức hàng bọn cầm đầu và kêu gọi binh lính ngả theo cách mạng, sau đó chiếm các công sở và kho tàng của chúng.

Ngày 20 tháng 7 năm 1945, khi bốn trung đội “du kích cách mạng quân” của chiến khu do đồng chí Nguyễn Bình chỉ huy về tới hai xã Hiệp Hòa và Yên Giang thì được tin có ba tên thuộc đảng Đại Việt quốc gia liên minh (thân Nhật) từ Hải Phòng sang, đang vận động tỉnh trưởng Quảng Yên Ngô Ngọc Thanh giao vũ khí cho chúng. Trước tình hình đó, đồng chí Nguyễn Bình quyết định phải hành động ngay trong sáng ngày 20 tháng 7 năm 1945.

Sau khi bắt liên lạc được với đội Rỡ (người chỉ huy lính cơ ở dinh tỉnh trưởng), quân ta bất ngờ vào dinh tỉnh trưởng bắt bọn Đại Việt, sau đó đột nhập nhà riêng của tỉnh trưởng Ngô Ngọc Thanh và ra lệnh cho Thanh phải chịu sự giám sát của Ban Việt Minh thị xã. Đội lính cơ do đội Rỡ chỉ huy có liên lạc với đơn vị bộ đội của chiến khu để lại, thực hiện lệnh quản chế đối với tỉnh trưởng Quảng Yên.

Chiều ngày 20 tháng 7, quân ta đột nhập nhà tên Nguyễn Văn Tiếp, chỉ huy trưởng của 500 lính bảo an binh, buộc y ra lệnh cho binh lính phải đầu hàng. Khi Nguyễn Văn Tiếp tập hợp xong đơn vị và giới thiệu đồng chí Nguyễn Bình là đại diện của chiến khu Đông Triều thì 500 lính bảo an binh hoan hô vang “Hoan hô Việt Minh” và nhất tề theo cách mạng.

Tới 9 giờ đêm ngày 20 tháng 7 năm 1945, quân ta đã hoàn toàn làm chủ tỉnh lỵ Quảng Yên.

Các đơn vị bộ đội của chiến khu đã tỏa đi chiếm các công sở và bố trí chặn quân tiếp viện ở ven tỉnh lỵ. Các đội du kích của Hiệp Hòa, Hà Nam, Quỳnh Lâu, La Khê cùng đội tự vệ thị xã chia nhau đi bắt những tên tay sai Nhật và cùng bộ đội canh gác các mục tiêu, phá nhà tù của địch.

Trên đường phố, đội vũ trang tuyên truyền của chiến khu do các đồng chí Chất và Đoàn Phụng chỉ huy, dùng loa thông tin báo tin cách mạng đã chiếm tỉnh lỵ và lời kêu gọi của Ủy ban quân sự cách mạng chiến khu Đông Triều. Những bài ca cách mạng hùng tráng vang vọng trong đêm làm nức lòng đồng bào ta trong các dãy phố, bến thuyền và những xóm làng ven thị.

9 giờ sáng ngày 21 tháng 7 năm 1945, đoàn thuyền ca nô của chiến khu Đông Triều cắm cờ đỏ sao vàng, chở bộ đội và chiến lợi phẩm đã rời bến Quảng Yên hướng về phía Đông Triều.

Một đại đội của chiến khu do đồng chí Chất và Đoàn Phụng chỉ huy ở lại Quảng Yên để hỗ trợ cho Ban Việt Minh thị xã.

Ngày 23 tháng 7 năm 1945, một cuộc mít tinh lớn được tổ chức để phổ biến chính sách đoàn kết toàn dân chống Nhật của Mặt trận Việt Minh và chào mừng thắng lợi của cách mạng.

Trận tiến công tỉnh lỵ Quảng Yên ngày 20 tháng 7 năm 1945 là trận đánh lớn của ta trong thời kỳ đó. Chiến khu Đông Triều (Trần Hưng Đạo) đã dùng phần lớn lực lượng chiến đấu của mình, phối hợp với hàng trăm du kích của các xã quanh tỉnh lỵ để tiến công quân địch.

Trong trận này, ta đã mạnh bạo nắm thời cơ, dùng lực lượng nhỏ mà tinh, bất ngờ đánh trúng đầu não của địch, phối hợp với lực lượng ngầm của ta ở bên trong các nên chỉ một thời gian rất ngắn với trận chiến đấu chưa cần nổ súng, quân ta đã chiếm gọn một tỉnh lỵ mà ở đó có tới gần 600 binh lính địch. Trong thời kỳ tiền khởi nghĩa, Quảng Yên là tỉnh lỵ đầu tiên được giải phóng.

Phối hợp giữa tiến công và nổi dậy, quân sự và địch vận, sau trận đánh, lại biết khéo léo duy trì quyền làm chủ của cách mạng bằng cách lợi dụng ngụy quyền và khống chế ngụy quyền, trận tiến công này đã đạt được những tiêu chuẩn cơ bản của một cuộc khởi nghĩa từng phần.
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Bảy, 2017, 05:48:56 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 7307

Lính của PTL


« Trả lời #8 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2017, 08:27:55 PM »



Diễn biến chiến đấu trận tập kích đánh chiếm tỉnh lỵ Quảng Yên
Ngày 20-7-1945
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Bảy, 2017, 05:49:07 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 7307

Lính của PTL


« Trả lời #9 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2017, 08:29:35 PM »

*

Đến cuối tháng 7 năm 1945, sau thắng lợi ở thị xã Quảng Yên, lực lượng vũ trang của chiến khu đã lên tới 500 người và được biên chế thành hai đại đội, ba trung đội.

Sau khi thành lập 42 ngày, lực lượng của chiến khu đã cùng các địa phương xóa sổ hàng ngàn quân địch, thu gần 100 khẩu súng và từ một địa bàn nhỏ hẹp ở miền núi đã hỗ trợ đắc lực cho phong trào cách mạng của nhân dân trên phạm vi bảy huyện (Chí Linh, Nam Sách, Thanh Hà, Kinh Môn, Đông Triều, Thủy Nguyên, Yên Hưng).

Trong quá trình phát triển, chiến khu Đông Triều (Trần Hưng Đạo) đã tạo thế uy hiếp địch ngay trên một địa bàn quan trọng có tính chất chiến lược ở miền duyên hải và đông – bắc nước ta. Sức mạnh to lớn của chiến khu vừa là kết quả của cao trào cách mạng ở vùng duyên hải, lại vừa là động lực thúc đẩy cao trào ấy.

Có hình mẫu là vùng chiến khu cách mạng Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Thái Nguyên, Tuyên Quang, lại được quán triệt các quan điểm của Đảng về xây dựng căn cứ địa cách mạng, khởi nghĩa vũ trang làm phương hướng, chiến khu Đông Triều (Trần Hưng Đạo) đã góp phần tích cực vào công cuộc chuẩn bị và tiến hành Tổng khởi nghĩa ở vùng duyên hải.

Cho đến tháng 8 năm 1945, tình hình ở huyện Đông Triều và hai tỉnh Quảng Yên (gổm cả vùng mỏ), Hải Ninh có những diễn biến khá phức tạp.

Bọn thổ phỉ và các lực lượng phản động trong nước cùng bọn chủ mỏ, bọn tàn quân Pháp và chính quyền Tưởng bên kia biên giới câu kết với nhau có âm mưu chiếm chính quyền trong tay Nhật.

Âm mưu của chúng gồm hai điểm:

Một là, dùng lực lượng của Pháp đóng ở Vạn Hoa, Cô Tô để chuẩn bị đánh chiếm vùng mỏ và tiến vào Tiên Yên để liên hệ với bọn thổ phỉ người Hoa đang hoạt động trên các huyện thuộc Hải Ninh. Khi có đủ điều kiện sẽ đánh chiếm tỉnh biên giới này.

Hai là, tung bọn biệt kích nhảy dù xuống Chí Linh để liên hệ với bọn phản động địa phương và liên lạc với bọn phỉ đang hoạt động ở vùng rừng núi bắc đường 18, phát triển lực lượng phản động ở địa phương, nhằm hỗ trợ cho kế hoạch đánh chiếm vùng Đông Bắc của quân đội Pháp sau này.

Thực hiện ý định trên, quân Pháp ở Cô Tô làm cho tàu chiến đi dò xét tình hình ở vùng biển Hải Phòng, Quảng Yên và có lần vào tận cảng Điền Công và Cửa Lục. Cũng trong tháng 8, địch cho tám tên Pháp mang theo vũ khí, điện đài, tiền bạc, nhảy dù xuống Chân Hồ (Chí Linh) định liên lạc với bọn tay sai nhưng chúng bị quân ta bắt gọn.

Trên đất Đông Hưng (Trung Quốc), tên Vũ Kim Thành, tay sai của chính quyền Tưởng đã dùng tiền và vũ khí của quan thầy trợ giúp để chiêu mộ quân, nhằm thành lập lực lượng vũ trang phản động, gọi là quân của Việt Nam cách mạng đồng minh hội.

Vũ Kim Thành phái tay sai là Nguyễn Ái trở về vùng Hải Chi và vùng giáp thị xã Cẩm Phả để lập căn cứ phản động. Dựa vào vùng dân tộc ít người, Ái đã lôi kéo được một số người đi theo và xưng là đảng cách mạng Việt Trí. Ái còn lừa gạt một số thanh niên và học sinh ở Cẩm Phả, Cửa Ông và dụ dỗ họ về Hải Chi để “lập chiến khu cách mạng”.

Nguyễn Ái đã đột nhập vào thị xã Cẩm Phả và đánh đồn bảo an binh, cướp được vũ khí, sau đó chúng liên hệ với bọn phỉ ở Vũ Oai, Dương Huy và qua đó bắt tay với bọn trùm phỉ như Bang Phúc ở Trới và Cai Hưng Trại Thán (Sơn Động).

Về phía ta, mặc dù trong hai tỉnh Hải Ninh và Quảng Yên (bao gồm cả vùng mỏ) chỉ có một chi bộ Đảng ở Rãng Động vào tháng 8 năm 1945, nhưng phong trào cách mạng vẫn phát triển mạnh. Ở Đông Triều, ta đã có chính quyền cách mạng ở cấp huyện. Ở tỉnh lỵ Quảng Yên, ngụy quyền cấp tỉnh vẫn chịu sự kiểm soát của cách mạng từ sau trận tiến công ngày 20 tháng 7 năm 1945. Phong trào cách mạng từ Yên Hưng đang phát triển sang Cát Hải. Ở huyện Cẩm Phả và một số huyện biên giới của Hải Nhinh phong trào Việt Minh và phong trào tự quản của nhân dân đang phát triển.

*

Ngày 19 tháng 8 năm 1945, tin Hà Nội giành được chính quyền truyền đi khắp nước.

Được tin hàng ngàn thổ phỉ đã tập trung ở Nam Mẫu, Yên Lập, Hoành Bồ thuộc Quảng Yên và Trại Thán (Sơn Động) từ giữa tháng 8 năm 1945 nay đang sắp tiến về cướp chính quyền ở tỉnh lỵ, đồng chí Nguyễn Bình cùng hai đại đội Phạm Hồng Thái và Ký Con đã theo đường thủy tăng cường cho tỉnh lỵ Quảng Yên. Thấy vậy bọn phỉ đã rút về Hoành Bồ tập hợp lực lượng với Nguyễn Ái để đánh chiếm Hồng Gai.

Ngày 24 tháng 8 năm 1945, đại diện của chiến khu Đông Triều và Ban Việt Minh thị xã đã ra lệnh cho tỉnh trưởng Quảng Yên giao chính quyền cho cách mạng, sau đó cho phép ông ta được trở về quê quán để làm ăn. Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời của tỉnh Quảng Yên được thành lập. Ta lần lượt tổ chức chính quyền cách mạng ở hai huyện Yên Hưng và Cát Hải.

Ngày 26 tháng 8 năm 1945, 30 người của đại đội Hoàng Hoa Thám đang ở Hải Phòng đã được lệnh tiến về thị xã Hồng Gai để hợp lực cùng lực lượng cách mạng tại chỗ cướp chính quyền.

Lúc này bọn quân Việt cách do Nguyễn Ái chỉ huy đã có mặt trong thị xã với lực lượng đông hơn ta nhiều lần. Bọn này lại có sự hậu thuẫn của bọn phỉ đang chiếm đóng ở Hoành Bồ.

Ta chủ trương thương lượng với bọn Việt cách và dựa vào sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân để đấu tranh với chúng.

Ngày 26 tháng 8 năm 1943, một cuộc mít tinh lớn được tổ chức ở sân bóng thị xã Hồng Gai. Toàn thể nhân dân, công nhân và ngư dân đều phấn khởi về họp mặt trong ngày lịch sử này.

Ở thị xã Cẩm Phả, sau khi quân của Nguyễn Ái vào đánh đồn bảo an binh, ngụy quyền hầu như tan rã. Một số thanh niên tiến bộ đứng lên tổ chức ra các đội giữ trật tự trị an ở các khu phố, với hình thức nhân dân tự quản. Được tin quân ta đã cướp chính quyền ở Hồng Gai, số thanh niên này bắt liên lạc với cách mạng và quân ta đã thành lập Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời ở thị xã Cẩm Phả rồi phát triển xuống Cửa Ông.

Đến cuối tháng 9 năm 1945, về cơ bản tỉnh Quảng Yên (bao gồm cả vùng mỏ) đã giành được chính quyền trong toàn tỉnh. Ở Hải Ninh đến hết năm 1945, ba huyện Tiên Yên, Đình Lập, Bình Liêu mới có chính quyền cách mạng.

Sau một thời gian liên tục tiến công và nổi dậy, từ khởi nghĩa từng phần đến Tổng khởi nghĩa, nhân dân tỉnh Quảng Yên (bao gồm cả vùng mỏ) đã hoàn thành tốt đẹp nhiệm vụ của mình trong Cách mạng tháng Tám. Nhưng ở tỉnh biên giới xa xội, nhiệm vụ cướp chính quyền của nhân dân Hải Ninh đang gặp những khó khăn chưa thể khắc phục ngay được.
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Bảy, 2017, 05:49:36 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM