Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Offline QKTĐ
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 15 Tháng Mười Hai, 2017, 01:11:55 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)  (Đọc 4357 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 7488

Lính của PTL


« Trả lời #30 vào lúc: 22 Tháng Bảy, 2017, 06:46:46 PM »

*

Về phía địch, trước tình hình mất ổn định và thường xuyên bị uy hiếp, chúng ra sức chống phá quyết liệt.

Để ngăn chặn các cuộc tiến công của ta và để có một hành lang an toàn, bảo đảm cho việc chiếm đóng và khai thác mỏ, từ năm 1948, giặc Pháp đã xây dựng một vành đai phản động kéo từ An Châu, Trại Thán (Sơn Động) qua Hoành Bồ, Cái Bầu, nối với Tiên Yên, Ba Chẽ ra tới Móng Cái.

Trên vành đai này, chúng lừa gạt, mua chuộc và khống chế đồng bào Hoa (Nùng), đồng bào Mán (Thanh Phán) và phát súng cho họ để chống lại kháng chiến.

Lợi dụng những sai lầm của một số cán bộ và tổ chức quần chúng đối với các dân tộc ít người ở Hoành Bồ, thực dân Pháp đã tuyên truyền, xuyên tác chính sách của cách mạng, nuôi dưỡng bọn trùm phỉ (là người dân tộc ít người) chống phá cách mạng.

Thấy rõ âm mưu của giặc, Liên tỉnh ủy đã tăng cường cán bộ cho Hoành Bồ, đồng thời đẩy mạnh việc tác chiến để thu hẹp phạm vi kiểm soát của giặc và tăng cường công tác vận đồng đồng bào Hoa, do vậy phong trào cách mạng ở Hoành Bồ và hải đảo, vùng cao có dân tộc ít người sinh sống vẫn phát triển mạnh.

Trước Cách mạng tháng Tám, vùng cao Cẩm Phả thuộc hai đầu mối hành chính khác nhau. Đảo Bản Sen có xã Vân Hải, nơi có đông người Kinh, là một tổng thuộc quyền tỉnh trưởng Quảng Yên. Đảo Cái Bầu và quần đảo Cô Tô có đông người Hoa và người Sán Dìu thì nằm trong châu Vạn Hoa.

Từ sau Cách mạng tháng Tám cho đến năm 1949, Cái Bầu thuộc liên thị Cầm Phả - Cửa Ông, còn đảo Bản Sen thì cuối năm 1948 được bàn giao từ huyện Thụy Anh (Thái Bình) về cho liên thị Cẩm Phả - Cửa Ông.

Ngày 9 tháng 8 năm 1948, ban cán sự đảng liên thị ra nghị quyết thành lập các xã ở đảo và mặt nước. Liên thị đã cử cán bộ về củng cố các xã Thạch Hà, Đoàn Kết để tạo bàn đạp vào hoạt động trong khu mỏ.

Chi bộ xã Đoàn Kết, Cộng Hòa, Thạch Hà, Văn Châu, Hạ Long đã lãnh đạo nhân dân hăng hái góp đảm phụ quốc phòng, mua công phiếu kháng chiến, góp “hũ gạo kháng chiến”. Nhân dân Thạch Hà, Vân Hải, Đoàn Kết đã đánh cá, kiếm củi, bán lâm thổ sản được hàng vạn đồng tiền Đông Dương để nuôi cán bộ, ủng hộ kháng chiến hoặc mua súng đạn cho du kích.

Các xã Đoàn Kết, Thạch Hà, Văn Hải có 100 phần trăm số dân vào đoàn thể, mỗi nơi có hàng tiểu đội hoặc trung đội du kích, nhưng vũ khí của anh em hầu hết là dao găm, lựu đạn.

Lục Sơn Hải (gồm phần đất của ba huyện Lục Ngạn, Sơn Động, Hải Chi) là vùng rừng rậm, núi cao, có các dân tộc ít người sống rải rác, nối liền một dải với vùng rừng núi chải Hải Ninh và Bắc Giang và của “đại hậu phương” Việt Bắc. Gắn liền một khối với Lục Sơn Hải là vùng rừng núi phía bắc đường 18 của ba huyện: Chí Linh, Đông Triều, Yên Hưng. Vùng này dựa vào Lục Sơn Hải nhưng lại ôm sát lấy đường 18, một quốc lộ rất quan trọng đối với vùng đông – bắc.

Từ hồi tiền khởi nghĩa, Thường vụ Trung ương Đảng, Xứ ủy Bắc Kỳ và tỉnh ủy Hải Dương, thành ủy Hải Phòng đã có ý định chọn vùng rừng núi phía bắc đường 18 làm căn cứ cho chiến khu Trần Hưng Đạo (chiến khu Đông Triều).

Bước vào kháng chiến chống Pháp, liên tỉnh Quảng Hồng có ý định trước mắt là dựa vào vùng rừng núi bắc đường 18, đồng thời cũng chuẩn bị từng bước để xây dựng phong trào trong núi rừng Lục Sơn Hải (sau này là huyện Sơn Động).

Bộ tư lệnh Liên khu 1 chủ trương xây dựng vùng rừng núi của Quảng Hồng và Hải Ninh thành căn cứ chung của mặt trận Đông Bắc, do Bộ tư lệnh Liên khu chỉ đạo.

Trong những năm đầu kháng chiến, ta lấy vùng rừng núi phía bắc đường 18 làm chỗ dựa.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 7488

Lính của PTL


« Trả lời #31 vào lúc: 22 Tháng Bảy, 2017, 06:47:15 PM »

Năm 1947, liên tỉnh Quảng Hồng và trung đoàn 98 bám sát vùng rừng núi từ Yên Hưng, Đông Triều đến Chí Linh (Khe Chàm, Năm Mẫu, Tràng Lương, Linh Tràng…). Năm 1948, liên tỉnh và trung đoàn 98 chuyển về phía Chí Linh và Sơn Động (Trại Gạo, Đá Súng, Hồ Gỗ, Đại Tân, Bắc Nồi, Bắc An, Lê Lợi, Hoàng Hoa Thám, Bến Tấm, Mai Sưu…). Vùng rừng núi thuộc Đông Triều, Yên Hưng có căn cứ của hai huyện này và thành đội Hải Phòng cũng đang đặt căn cứ ở Bãi Bằng.

Nhân dân ở vùng rừng núi bắc đường 18 phần lớn là người Kinh và là tá điền cũ. Chính quyền cách mạng đã chia cho nhân dân ruộng đất của các đồn điền vắng chủ - bằng hình thức tạm cấp – giúp người dân nâng cao mức sống của mình. Do đó nhân dân rất bắn bó với cách mạng.

Từ khi bước vào kháng chiến, vùng rừng núi bắc đường 18 đã trở thành đông vui với sự có mặt của nhiều cơ quan, nhiều đơn vị bộ đội và nhất là đồng bào tản cư của các tỉnh Quảng Yên, Hải Dương, Hải Phòng vào rừng làm ăn để đánh giặc.

Việc xây dựng cơ sở ở vùng Sơn Động gắn liền với việc tiễu phỉ diễn ra lâu dài gay go, ác liệt. Sau cuộc tiến công lớn của bộ đội chủ lực trên đường mười ba, 500 tên phỉ ở Lục Nam, Chũ… đã phải chạy theo Pháp để làm ngụy binh. Hàng trăm tên còn lại tập trung và các vị trí, các làng quanh An Châu, trong đó có cứ điểm của phản động trong Trại Thán.

Trung đoàn 98 đã kiên trì vận động người Hoa, vây ép, thu hẹp và tiêu diệt thổ phỉ. Cứ điểm Trại Thán, An Châu mấy lần bị quân ta diệt; phỉ ở gần Năm Mẫu, Cây Châm nhiều người nộp súng trở về làm ăn, nhiều người lầm đường sau khi được giác ngộ đã vào bộ đội hoặc tham gia các ban Hoa vận của ta.

Cuối năm 1948, vùng căn cứ của ta từ Hố Gỗ, Bến Tắm, Hố Yếu, Thanh Mai (Chí Linh) qua Mau Sưu, Vy Loại và Trại Thán đã có du kích của ta hoạt động. Căn cứ địa của Quảng Hồng đã vào đến trung tâm của huyện Sơn Động (Lục Sơn Hải). Sau khi xây dựng được cơ sở cách mạng, cán bộ và bộ đội đã hướng dẫn nhân dân phát triển sản xuất ổn định đời sống.

Quán triệt nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 1 năm 1948), bên cạnh việc xây dựng bộ đội chủ lực mạnh, Bộ Tổng tư lệnh đã đưa một số trung đoàn chủ lực về các địa phương hoạt động theo phương châm “đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung”.

Trên địa bàn liên tỉnh Quảng Hồng có hai trung đoàn chủ lực về hoạt động.

Một trung đoàn độc lập có hai tiểu đoàn và một ban Hoa vận. Anh em trong đơn vị phần lớn là người Hoa, ngoài ra còn có cả một số người trong đội du kích “Việt Quế” của Đảng Cộng sản Trung Quốc, sau khi sang Việt Nam để tránh quân Tưởng vây quét, đã ở lại chiến đấu chống Pháp trong đội ngũ trung đoàn. Trung đoàn độc lập làm nhiệm vụ vận đông người Hoa tham gia kháng chiến và tiêu diệt thổ phỉ.

Trung đoàn 98 hoạt động theo phương thức “đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung”. Các đại đội độc lập đã “giúp du kích trở nên những bộ đội địa phương”. Mỗi trung đoàn hoạt động theo phương thức này phải giữ một tiểu đoàn tập trung làm nóng cốt cho việc xây dựng và tác chiến chính quy.

Trung đoàn 98 có tiểu đoàn 215 đóng ở Đại Tân, Đại Bộ, Đại Bát, Bắc Nồi (Chí Linh) để bảo vệ vành ngoài của căn cứ địa liên tỉnh. Trung đoàn bộ đóng ở Hố Gỗ. Đại đội 34 được cử về huyện Thủy Nguyên, đại đội 53 về Yên Hưng, đại đội 39 (đại đội Hồ Chí Minh cũ) về Hoành Bồ… Với nhiệm vụ “giúp du kích trở thành bộ đội địa phương”, các dại đội độc lập này có nhiệm vụ giúp đỡ các đại đội của liên tỉnh lúc ấy còn gọi là “du kích tập trung”.

Trên thực tế, các đại đội Bạch Đằng, Hồ Chí Minh, Lê Lợi của liên tỉnh và của Thủy Nguyên đã từ lâu làm nhiệm vụ của bộ đội địa phương và có trình độ hoạt động tương đương như các đại đội độc lập. Ngày 1 tháng 7 năm 1948, đại đội Hồ Chí Minh được bổ sung cho trung đoàn 98, lấy phiên hiệu là đại đội 39.

Trong năm 1948, ở Quảng Hồng có các trung đội du kích tập trung của các huyện như Hoàng Văn Thụ (Thủy Nguyên), Phạm Hồng Thái, Lê Hồng Phong (Kinh Môn), Trần Phú (Lục Sơn Hải), Phan Đình Phùng (Hoành Bồ), Quang Trung (Yên Hưng), Tô Hiệu ở Hồng Cẩm (Hồng Gai, Cẩm Phả), Hoàng Diệu (Đông Triều), Phạm Ngũ Lão (Chí Linh), Hoàng Hoa Thám (Nam Sách) và trung đội Cát Hải.

Phong trào dân quân du kích của Quảng Hồng phát triển mạnh. Đến tháng 8 trong 88 xã của liên tỉnh thì 70 xã có ban xã đội, trong đó có 20 ban làm việc khá vững. Số du kích của toàn liên tỉnh lúc này có 2.000 người.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 7488

Lính của PTL


« Trả lời #32 vào lúc: 22 Tháng Bảy, 2017, 06:47:40 PM »

Dưới sự chỉ đạo thống nhất của tỉnh ủy, ủy ban hành chính kháng chiến tỉnh, các đơn vị đã thực hiện tốt đợt “Luyện quân, lập công”. Các “đại hội luyện quân, lập công” của ba thứ quân được tổ chức ở căn cứ đã thúc đẩy khí thế học tập quân sự trong các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân. Ngoài ra, Trường quân chính Bạch Đằng (liên tỉnh) đã đào tạo và bồi dưỡng cán bộ tiểu đội du kích, cán bộ xã đội và cán bộ tiểu đội cho bộ đội địa phương.

Năm 1948 cũng là năm các đại đội liên tỉnh và các trung đội của Lục Sơn Hải, Hoành Bồ, Cát Hải không những thiếu quân số, chăn màn, mà còn thiếu gạo, thiếu thuốc, một số đơn vị phải giảm số quân, nhiều trung đội của các huyện phải giải thể.

Để khắc phục những khó khăn trên, qua các cuộc vận động “bán thóc cho Hồ Chủ tịch khao quân”, “Hũ gạo nuôi quân”, “Thửa ruộng nuôi quân”, nhân dân các xã, huyện đã đóng góp được nhiều lương thực, thực phẩm, giải quyết một phần khó khăn cho bộ đội.

Hội phụ nữ, phụ lão đã tổ chức “Hội mẹ chiến sĩ” để đỡ đầu bộ đội hoặc góp tiền, góp công để may vá quần, áo cho chiến sĩ. Huyện Nam Sách không những chỉ chăm lo cho trung đội của huyện mình mà còn đỡ đầu cả trung đội của Lục Sơn Hải.

Hội bảo trợ dân quân ở huyện, xã vận động nhân dân quyên góp tiền để mua vũ khí cho dân quân du kích. Xã Nguyễn Huệ (Đông Triều) mua 2.000 quả mìn và lựu đạn cho du kích. Huyện Cát Hải có phong trào “thi đua yêu nước” sôi nổi, nhân dân đã góp tiền mua vũ khí nuôi trung đội của huyện trong hoàn cảnh bị bao vây ngặt nghèo.

Cuộc đấu tranh trong vùng tạm bị địch chiếm của ta càng phát triển thì ở vùng địch kiểm soát càng bị uy hiếp mạnh. Thực dân Pháp đã tổ chức nhiều cuộc càn quét tàn sát nhân dân một cách dã man. Vừa khủng bố nhân dân, giặc Pháp vừa thúc ép lập lại các ban tề đã bị ta phá.

Ngày 25 tháng 8 năm 1948, trong nghị quyết “Tiến gấp tới tổng giải tán hội tề”, Thường vụ Liên khu ủy 1 đã nêu rõ:”Trong dịp Thu Đông này, để kết hợp chặt chẽ công tác quân sự và chính trị, cần phải gấp rút đẩy mạnh cuộc vật lộn với địch ở ngay hậu phương chúng với hình thức quyết liệt và quét sạch các chính quyền bù nhìn địa phương của chúng, tổng giải tán hội tề để thực hiện kế hoạch biến hậu phương địch thành địa bàn hoạt động của ta”.

Thực hiện nghị quyết của Liên khu ủy, ngày 5 tháng 10 năm 1948, liên tỉnh ủy Quảng Hồng quyết định mở một đợt tổng phá tề ở Chí Linh, Nam Sách, Kinh Môn, Đông Triều, Yên Hưng, Cát Hải, Hoành Bồ, Thủy Nguyên. Tuy gọi là tổng phá tề nhưng liên tỉnh có quy định các mức độ khác nhau cho từng nơi. Nơi có sở mạnh thì kết hợp giữa lệnh của chính quyền kháng chiến về phá tề với áp lực đấu tranh của nhân dân, và việc trừ gian hoặc đánh du kích của công an, bộ đội, du kích. Nơi cơ sở yếu thì phá tề một cách hợp pháp để tránh sự khủng bố của địch.

Sau khi lệnh của chính quyền kháng chiến được công bố, trong tiếng trống mõ vang dậy ở các thôn, xã, du kích và công an tỏa đi giải tán tề, thu sổ sách và giấy tờ của chúng, cảnh cáo những tên có hành động xấu. Bộ đội tập trung ở các khu du kích sẵn sàng đánh địch để bảo vệ dân.

Những nơi gần địch hoặc lực lượng ta chưa mạnh thì dùng cách phá tề “hợp pháp”. Đêm đến ta đốt một số đống rơm nổ vài phát súng, trong lúc du kích đưa các nhân viên ban tề vào rừng để tạm lánh, thì nhân dân nổi trống, mõ báo động. Sớm hôm sau, ta cho người lên đồn báo với “Tây” là “hôm qua Việt Minh có nhiều quân, nhiều súng đã về bắt hội tề đem vào rừng”.

Huyện Hoành Bồ tổ chức phá tề một cách hợp pháp, đồng thời diệt những tên phản động ở Trới, Quảng La.

Ở Hà Sen (Cát Hải) các ban tề hàng ngày vẫn do ta điều khiển nên khi có lệnh phá tề thì họ nộp con dấu, sổ sách, giấy tờ cho ta rồi chấm dứt hoạt động.

Đợt tổng phá tề năm 1948 có những huyện đã phá 100 phần trăm số hội tề như Đông Triều, Kinh Môn, Hoành Bồ, Chí Linh. Qua tổng phá tề ở Kinh Môn ta diệt 80 Việt gian, phá ba ổ Việt Nam quốc dân đảng. Còn ở Chí Linh, Đông Triều, Hoành Bồ ta diệt 43 tên gian ác. Ngoài ra cũng qua phá tề, bọn địch đã phải rút bỏ vị trí Yên Đức (Đông Triều).

Các huyện Chí Linh, Kinh Môn, Nam Sách, Đông Triều, Yên Hưng, Hoành Bồ đã tiến hành tổng phá tề bằng nhiều hình thức với mức độ đấu tranh khác nhau, tiến hành thành nhiều đợt, nhiều cuộc. Địch lập tề, ta phá, địch lập lại tề, ta lại phá, làm cho ngụy quyền không có điều kiện củng cố.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 7488

Lính của PTL


« Trả lời #33 vào lúc: 22 Tháng Bảy, 2017, 06:48:08 PM »

Huyện ủy Thủy Nguyên đã đưa người của ta vào hàng ngũ địch, khi có thời cơ thì đồng loạt phá tề bằng hình thức quyết liệt theo kiểu “Tổng khởi nghĩa”.

Tháng 8 năm 1948, thôn nào ở Thủy Nguyên cũng có cơ sở quần chúng, xã nào cũng có cơ sở Đảng. Trong tề, dõng, bảo an có cán bộ, du kích, đảng viên cài vào. Ta nắm hết ngụy quyền từ xã đến huyện. Lực lượng quân sự của ta có một đại đội, một trung đội của huyện, một đại đội của trung đoàn 98.

Huyện ủy còn chủ trương đưa người của ta vào dõng, bảo an. Cứ mỗi thôn có 10 người giữ súng cho địch thì với 82 thôn trong huyện, sau khi tổng phá tề, ta có thể thu tới 800 súng.

Ngày 25 tháng 10 năm 1948, Thủy Nguyên nhận được lệnh phá tề. Huyện ủy họp với bí thư chi bộ các xã và chủ trương:

- Diệt một số vị trí bằng cách đánh nội ứng, tước súng của bảo an để trang bị cho bộ đội và du kích.

- Giải tán tề toàn huyện, nếu tình hình xấu thì cho từng nơi lập lại tề.

- Phát động chiến tranh du kích lẻ tẻ ở các nơi. Xây dựng vùng Doãn Lại, Trại Sơn thành căn cứ du kích.

- Triệt để giảm tô, thực hiện tiêu tiền Việt Nam ở các chợ.

Sau cuộc họp, các huyện ủy viên đã xuống các thôn, xã chỉ đạo phong trào. Khi có hiệu lệnh tổng phá tề, cuộc đấu tranh của nhân dân trong toàn huyện diễn ra với khí thế của một cuộc khởi nghĩa.

Nhân dân các thôn xóm giương cao quốc kỳ, mang gậy gộc, giáo mác, gõ trống, khua chiêng, rúc tù và, rào làng, đào hầm hố, cắt dây điện thoại của địch, rầm rộ cùng bộ đội, du kích đi phá tề, uy hiếp các đồn giặc. Chỉ cách Hải Phòng một con sông nhưng ủy ban kháng chiến xã Lâm Đông, Bình Động đã đặt trụ sở và kéo cờ đỏ sao vàng ngay trong tầm súng địch.

Trong đợt phá tề này, ta tước được 25 súng ở năm đồn bảo an và thu được 100 súng của lính dõng. Nhưng trận đánh càn vào vị trí Núi Đèo (nơi có một tiểu đoàn pháo của Pháp) và vị trí Thanh Lãng (nơi có một đại đội mà hai phần ba là Âu – Phi) đã thất bại. Khi đánh đồn Thanh Lãng một cụ già vác dao xông vào dồn đã bị địch bắn chết, một số chị vác dao ra đường cái để chặn xe của địch cũng đã hy sinh.

Ở Thủy Nguyên, trong ba tháng cuối năm 1948, giặc càn quét, vây sục 230 lần, đốt hàng vạn nóc nhà, hàng vạn thúng thóc. Trong các cuộc càn từ 30 tháng 11 năm 1948 đến 18 tháng 4 năm 1949, chúng đã giết 165 cụ già, em bé, đàn bà bằng nhiều hình thức dã man như chặt đầu, mổ bụng, bắn chết và đốt xác. Riêng trong trận Lâm Động ngày 16 tháng 1 năm 1949, giặc giết 108 người.

Trước tình hình đó, huyện ủy Thủy Nguyên đã chia nhau đi bám dân, bám đất, vận động nhân dân chôn cất người bị giết hại, thu dọn nơi bị đốt phá. Vận động nhân dân giúp nhau khi hoạn nạn, giúp nhau tiền bạo và làm lại nhà cửa. Một cuộc tuyên truyền gây căm thù đối với sự dã man của giặc được tiến hành trong toàn huyện. Huyện ủy đã chỉ đạo cho lập lại tề và phát động các hình thức đấu tranh chống khủng bố.

Tinh thần anh dũng của nhân dân huyện Thủy Nguyên trong cuộc tổng phá tề rất đáng khâm phục. Tuy nhiên qua cuộc đấu tranh này, nhân dân và phong trào ở Thủy Nguyên đã phải chịu những tổn thất nặng nề. Trong khi đó thì sau tổng phá tề, phong trào các huyện khác trong liên tỉnh đều có sự tiến bộ lớn.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 7488

Lính của PTL


« Trả lời #34 vào lúc: 22 Tháng Bảy, 2017, 06:49:04 PM »

*

Đối với khu mỏ, từ cuối năm 1947, sau khi ta đưa cán bộ trở về nắm phong trào, cơ sở chính trị của ta đã được phục hồi và phát triển. Hội nghị Liên tỉnh ủy tháng 11 năm 1947 đã giao nhiệm vụ cho Đặc khu ủy Hồng Gai: Phát triển Đảng trong mỏ và các xã ven thị. Tổ chức công đoàn và xây dựng các lực lượng vũ trang bí mật chuẩn bị hoạt động phối hợp với chiến dịch Đông Bắc do Liên khu mở vào tháng 10 năm 1948.

Phương châm hoạt động của khu mỏ là hoạt động bí mật, tránh manh động, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh kinh tế để đòi quyền lợi hàng ngày cho công nhân.

Từ đầu năm 1948, ta đã lãnh đạo nhiều cuộc đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm, chống đánh đập, cúp phạt ở các nhà máy, tầng lò. Ngày 22 tháng 4 năm 1948, công nhân nhà máy điện Hồng Gai đã đấu tranh thắng lợi, buộc bọn chủ phải tăng lương 30 phần trăm.

Để trừ khử những tên gian ác, đội trừ gian đã bắt một số tên phản động ở Hồng Gai và xử bắn ba tên đặc vụ ở Quang Hanh; đột nhập nơi làm việc của chủ thầu Xương Bình (cách nơi đóng quân của lính Âu – Phi 100 mét). Ta thu ba súng ngắn, đọc lệnh cảnh cáo và yêu cầu y phải nộp thuế cho kháng chiến, phả trả đủ lương cho công nhâ. Chỉ sau 15 ngày, Xương Bình phải theo đúng lệnh của kháng chiến.

Công nhân và nhân dân khu mỏ hăng hái góp của, góp công cho kháng chiến. Thuốc nổ, kíp mìn, xẻng, búa, gạo, muối, kim loại, thuốc tây, hóa chất, giấy viết… được chuyển ra cho kháng chiến, có khi bằng cả chuyến xe ô-tô. Nhân dân che chở và nuôi dưỡng cán bộ ngay trong thị xã, nhiều người mua công phiếu kháng chiến, có người mua tới hàng ngàn đồng Đông Dương. Cán bộ ta còn tổ chức cửa hàng tạp hóa trong thị xã với số vốn hàng vạn đồng để thu tiền lãi nộp vào quỹ công.

Đầu năm 1948, các tổ du kích bí mật được xây dựng trong khu mỏ. Thị xã Hồng Gai có hai tiểu đội, thị xã Cầm Phả có 10 tổ du kích làm nhiệm vụ phá hoại, trừ gian, diệt tề. ngày 8 tháng 6 năm 1948, thị xã Cẩm phả xây dựng đội vũ trang tuyên truyền gồm 18 người, có hai đảng viên. Dựa vào các xã Dương Huy, Quang Hanh, đội này vào thị xã làm công tác cơ sở, trừ gian và phối hợp chiến đấu với bộ đội.

Các xã Vũ Oai, Dương Huy, Cẩm Bình, Quang Hanh đã thành bàn đạp cho đại đội Hồ Chí Minh cùng du kích các xã này vào nội thị hoạt động.

Ngày 19 tháng 5 năm 1948, ta chủ trương đưa đại đội Hồ Chí Minh từ Dương Huy vào thị xã Cẩm Phả để phối hợp các tổ du kích, công nhân nổ súng đánh bốt điện Cột 3, đồng thời phá hoại máy móc của địch, rải truyền đơn, dán áp phích và trừ gian. Theo kế hoạch ta phải làm cho địch tưởng các hoạt động này đều do bộ đội từ ngoài vào đánh phá.

Nhưng tới giờ quy định chưa thấy bộ đội tới, công nhân cũng cứ đánh bốt điện và nổ súng trong thị xã. Do đó địch đã phát hiện ta có lực lượng ở bên trong nên chúng tập trung lực lượng để phá cơ sở.

Cho đến tháng 12 năm 1948, mặc dù qua nhiều lần vỡ cơ sở, các tổ chức của ta vẫn bám rễ được vào công nhân và nhân dân khu mỏ. Ta đã xây dựng được hai chi bộ Đảng với 64 đảng viên, đã có hệ thống chính quyền và đoàn thể trong các thị xã, hai ban chấp hành công đoàn thị xã và các ban chấp hành công đoàn cơ sở.

Cũng do lộ liễu, ngày 2 tháng 6 năm 1948, địch bắt 300 người ở Quang Hanh, Tam Hợp trong hai tháng 8 và 9 năm 1948, sau đó chúng lại bắt ở Hồng Gai và Hà Lầm hơn 120 người. Nhưng tổn thất lớn nhất là vụ vỡ cơ sở ở thị xã Cẩm Pha do có nội phản. Hàng trăm đảng viên và đoàn viên công đoàn bị bắt, bị giặc xâu dây thép gai vào tay rồi ném xuống Vũng Đục.

Tuy vậy giặc cũng chỉ có thể gây tội ác man rợ chứ không thể đè bẹp được cuộc đấu tranh của nhân dân khu mỏ.

Ngay trong những tháng địch ra tay khủng bố như vậy, những cán bộ đảng viên ta vẫn bám cơ sở, gây dựng phong trào chống giặc Pháp.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 7488

Lính của PTL


« Trả lời #35 vào lúc: 22 Tháng Bảy, 2017, 07:38:40 PM »

4. Đẩy mạnh tác chiến của bộ đội chủ lực để hỗ trợ cho chiến tranh du kích trong vùng sau lưng địch.

Năm 1948 cũng là năm thực dân Pháp mở nhiều cuộc càn vào các khu căn cứ du kích của ta.

Từ 26 tháng 2 năm 1948 đến 5 tháng 3 năm 1948, 3.000 tên giặc, có máy bay và chín tàu chiến yểm hộ, đã tiến công vào vùng núi đá Áng Sơn thuộc xã Minh Tân (Kinh Môn), nhằm diệt ban lãnh đạo và bộ đội của Kinh Môn, Thủy Nguyên.

Chúng bao vây hang rồi dùng pháo và súng máy bắn vào cửa hang. Bộ đội ta đã anh dũng đánh chặn địch và tranh chấp với chúng từng cửa hang. Bọn giặc có vũ khí mạnh, số quân đông, đã dồn ép ta từng bước một. Quân ta đã phá được vây và rút ra ngoài.

Trong trận này ta diệt 250 tên địch. Về phía ta hy sinh hai trung đội của đại đội Lê Lợi và đại đội 34, một trung đội của huyện.

Sau trận này, huyện ủy Thủy Nguyên đã quyết định đưa đại đội Lê Lợi về đồng bằng để phát triển cơ sở và dìu dắt dân quân du kích.

Ngày 30 và 31 tháng 3 năm 1948, 10 đại đội giặc đã càn vào Đèo Mới, Thanh Mai, Hố Sấu (Chí Linh) để tìm diệt bộ phận lãnh đạo của ta ở trong căn cứ. Đại đội Bạch Đằng đã bám sát địch để chặn đường tiến của chúng, bảo vệ an toàn cho cơ quan lãnh đạo.

Nhận thấy nếu co lại trong căn cứ sẽ bị địch vây quét, bộ đội của huyện Chí Linh đã tăng cường đánh địch ngoài căn cứ. Tháng 3 năm 1948, trung đoàn 98 phục kích trên đường 18, diệt 17 xe địch.

Trong những tháng cuối năm 1948, với chủ trương “mở đường cho bộ đội chủ lực vượt đường 13” của liên khu và ý định mở đường từ Sơn Động xuống Hoành Bồ của liên tỉnh, các đơn vị bộ đội chủ lực cùng với lực lượng vũ trang địa phương liên tỉnh tiến công địch gây cho chúng nhiều thiệt hại.

Tháng 7 năm 1948, tiểu đoàn 215 trung đoàn 98 phục kích địch ở Đồng Đăng và hỗ trợ cho du kích Quảng La và Sơn Dương bức địch phải rút đồn Quảng La. Ngày 22 tháng 8 năm 1948, tiểu đoàn 215 và đại đội Hồ Chí Minh đánh Trại Thán, vị trí tiền tiêu của tiểu khu An Châu và huyện lỵ Sơn Động.

Trại Thán là cứ điểm của bọn phản động. Địch bố trí nhiều lô cốt xen kẽ với các nhà, xung quanh trại là tường bằng đất dày gần một mét, có lỗ châu mai. Trong trại có 200 tên phỉ cũ, nay theo Pháp.

Ngay từ phút đầu quân ta đã ném lựu đạn giết chết tên quan hai đồn trưởng và sau đó tỏa ra đánh chiếm các lô cốt. Tới 8 giờ sáng thì trận đánh kết thúc. Ta diệt 60 tên, trong đó có trưởng phó đồn, gọi hàng 10 tên. Ngoài ra đại đội Hồ Chí Minh còn đón lõng trên đường địch rút chạy, bắt 30 tên, thu 15 súng.

Sau trận đánh, đại đội 2 thuộc tiểu đoàn 215 đã ở lại để gây cơ sở và tiêu diệt nốt bọn phỉ còn lén lút. Cuối tháng 8 năm 1948 ta đã xây dựng được du kích ở Trại Thán.

Để chuẩn bị cho bộ đội chủ lực của ta về chiến đấu ở Đông Bắc nhằm chọc thủng tuyến đường 13 và đánh thông vào vùng đảo và biển, trong chỉ thị ngày 1 tháng 7 năm 1948, Bộ tư lệnh Liên khu 1 đã nhận định: “Cơ sở của ta ở An Châu, Đình Lập, Tiên Yên, Cẩm Phả chưa đảm bảo được hoạt động của mặt trận Đông Bắc… Do đó ta chủ trương phải dùng một số lực lượng của trung đoàn đột lập, trung đoàn 17, trung đoàn 18 và du kích Hải Chi để làm nhiệm vụ vũ trang tuyên truyền ở vùng này”… “Sau khi diệt Trại Thán, trung đoàn độc lập sẽ hoạt động ở đường số 4 và cho 100 đồng chí về Hà Gián, Dương Huy, tiến tới lập khu du kích ở Tài Xá. Trung đoàn độc lập phải cử người vào Hồng Gai nơi có đông công nhân người Hoa để hoạt động”.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 7488

Lính của PTL


« Trả lời #36 vào lúc: 22 Tháng Bảy, 2017, 07:39:12 PM »

Tháng 10 năm 1948, chiến dịch Lê Hồng Phong 1 (cũng gọi là chiến dịch Đông Bắc) tiến hành trên phạm vị đường 13 thuộc địa bàn ba tỉnh Lạng Sơn, Hải Ninh, Quảng Hồng. Tham gia chiến dịch có các trung đoàn 28, 59, 98 và hai tiểu đoàn 29, 18.

Ngày 1 tháng 10 năm 1948, quân ta đánh đồn, đồng thời là vị trí chỉ huy của tiểu khu An Châu, diệt được hai phần ba đồn. Tháng 11 năm 1948, tiểu đoàn Bình Ca (18) diệt đồn Đồng Dương (nằm trong tiểu khu An Châu). Đồn do 100 tên phỉ người Hoa trước kia chiếm đóng.

Giặc Pháp đã đối phó quyết liệt nhằm chặn đường quân ta tiến ra bờ biển. Sau khi ta tiến công không thành công, địch đã củng cố thêm đồn An Châu và cho quân nhảy dù xuống Mao Lưu (Sơn Động) để phá cơ sở hậu cần và lực lượng dự bị của ta.

Trận đánh Mai Lưu địch đã tiến hành bằng bốn mũi: 200 quân dù được thả xuống Mai Lưu để tiến công vào tiểu đoàn 215 (trung đoàn 98) và ba mũi tiến quân khác từ Lục Nam, Lục Ngạn.

Tháng 11 năm 1948, một bộ phận của trung đoàn 98 đã tiến vào Thủy Nguyên. Nhờ chị em phụ nữ Pháp Cổ xếp những bó rạ trên đường nên bộ đội ém quân phục kích giữ được yếu tố bí mật bất ngờ, khi địch hành quân đến vị trí phục kích, quân ta xông ra đánh địch và cướp được một xe. Trung đoàn trưởng Mạnh Hùng lái xe vào làng và tháo lấy khẩu pháo 40 mi-li-mét. Sau đó anh lái xe ra đường để chiến sĩ gài lựu đạn vào xe trước khi quân ta rút lui.

Sáng hôm sau địch kéo đến địch đốt làng để trả thù thì nhân dân Pháp Cổ, Phi Liệt, Trại Sơn và cả nhân dân Minh Tân (Kinh Môn) đã gõ thanh la báo động, làm địch không dám đốt làng. Khi địch tới kéo chiếc xe bị phá máy về đồn thì một số tên lại chết vì lựu đạn ta gài lại. Trong trận Pháp Cổ, ta phá hai xe giặc, diệt một số tên, thu một khẩu pháo 40 mi-li-mét.

Sau trận này, tháng 12 năm 1948, tiểu đoàn 215 lại tiến lên Nà Tèng (đường 13) đoạn Lục Ngạn – Đình Lập, phục kích diệt 10 xe địch.

Trong dịp phối hợp với mặt trận Đông Bắc của Liên khu 1, các lực lượng vũ trang của liên tỉnh Quảng Hồng đã đánh 40 trận, diệt 87 tên Pháp, ngụy và phỉ, làm bị thương 24 tên, thu 183 súng, phá 2.245 mét đường, tám cầu, cắt 53.500 mét dây điện, vận động được 47 tên ngụy mang cả vũ khí ra hàng.

Phong trào đánh địch trong vùng tạm bị địch chiếm ngày một phát triển. Bộ đội Chí Linh nhân lúc địch ở đồn Hai Tô đang chào cờ đã bắt ngờ xông ra, dùng mã tấu để tiêu diệt chúng. Trong một tháng bộ đội và du kích Chí Linh chống càn 30 trận, trong đó có trận đã đánh lui 10 đại đội địch càn vào Thành Mai, Hồ Yếu. Từ tháng 6 đến tháng 8 năm 1948, du kích Đồng Lạc (Chí Linh) với lối đánh gần bằng súng trường, lựu đạn, mìn đã chống càn thắng lợi sáu trận. Ở Văn Đức (Chí Linh) khi nhân dân đào sông An Bài, đào núi Mặc Động, lấp sông Bến Vạn để làm thủy lợi, du kích đã đánh lui quân địch đi càn để bảo vệ nhân dân đang làm thủy lội. Tháng 8 năm 1948, bộ đội và du kích Nhân Huệ đã vận động nhân dân đấu tranh kết hợp với các trận chiến đấu phá được âm mưu lập “vệ sĩ công giáo” phản động ở xã này.

Phong trào dùng mưu để đánh giặc rất phát triển trong năm 1948. Du kích Minh Tân, Lưu Kiếm, Yên Thanh (Yên Hưng) đã cải trang để vào đồn Tràng Kênh diệt giặc, đánh úp giặc hai trận trên đường Máng Nước và bắt gọn một tiểu đội địch ở Điền Công.

Cụ Ngọ ở Đông Triều đã bắt chuột, tẩm dầu hỏa, rồi đốt lửa để thả vào đồn giặc, làm nhà của chúng bị cháy.

Tháng 6 năm 1948, du kích Nam Sách đã đánh mìn ngay phố huyện, diệt 10 tên giặc, làm chúng phải bỏ dở cuộc càn.

Từ ngày 18 đến 22 tháng 12 (âm lịch) năm 1948, xã Yên Dức đã đánh lui năm trận càn của địch, có cả máy bay và tàu chiến yểm hộ. Chi bộ Yên Đức có 100 đảng viên thì hầu hết đã vào du kích, các chi ủy viên đều tham gia ban chỉ huy xã đội. Xã có 200 dân quân du kích, mỗi thôn có một trung đội.

Tổng kết phong trào thi đua năm 1948, Yên Đức là một trong hai xã khá nhất của Liên khu 1 về chiến đấu và xây dựng cơ sở, được công nhận là “xã kiểu mẫu” và được tặng cờ danh dự của Liên khu.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 7488

Lính của PTL


« Trả lời #37 vào lúc: 22 Tháng Bảy, 2017, 07:39:40 PM »

*

Cuối tháng 4 năm 1948, dọc theo bờ biển tỉnh Hải Ninh, từ Tiên Yên, Ba Chẽ đến Móng Cái, giặc Pháp đã xây dựng hai hành lang chạy sóng đôi, hình thành bởi các lực lượng phản động có vũ trang chống lại kháng chiến. Hệ thống lành lang ở rẻo cao chúng dựa vào vùng dân tộc Thanh Phán. Hành lang bên ngoài là một tiểu đoàn ngụy người Nùng do tên Voòng A Sáng chỉ huy – lực lượng nòng cốt của cái gọi là “Xứ Nùng tự trị”.

Vùng Tiên Yên – Khe Tú là căn cứ để tiếp tế về hậu cần cho liên khu biên giới của Pháp theo trục đường 4, từ Móng Cái đến Bắc Cạn.

Ngày 19 tháng 5 năm 1946, đồng chí Nguyễn Xuân Trúc, ủy viên thường vụ tỉnh ủy Hải Ninh và một số cán bộ lãnh đạo quyết định tổ chức một cuộc “Đông tiến” nhằm tiến về phía đông của tỉnh, xây dựng cơ sở để lập căn cứ chống Pháp.

Theo kế hoạch này, Hải Ninh dùng hai đại đội của tiểu đoàn 239 cùng 300 cán bộ các ngành của tỉnh, men theo biên giới, tiến về phía đông Hải Ninh. Khi tới Mã Đầu Sơn, ta đã quét sạch các đồn nhỏ của địch ở quanh đó để lập căn cứ, sau đó mở rộng sang Tĩnh Húc Động (Bình Liêu). Từ hai bàn đạp này ta sẽ tiến dần xuống Hà Cối, Đầm Hà, Tiên Yên.

Đoàn quân “Đông tiến” của Hải Ninh phấn khởi lên đường, vừa đi vừa phải đánh phỉ để mở đường. Khi tới Mã Đầu Sơn thì gặp các cán bộ quân sự, chính trị của Hải Ninh đang gây cơ sở ở Đầm Hà, Tiên Yên, Móng Cái.

Nghe tin có cán bộ và bộ đội về làng, nhân dân các huyện rất phấn khởi, đã góp hàng chục tấn gạo để ủng hộ bộ đội. Nhưng khi đoàn “Đông tiến” vừa tới nơi thì được lệnh Liên khu 1 nên phải quay về vị trí cũ. Ngày 17 tháng 7 năm 1948, đoàn “Đông tiến” lần thứ nhất của Hải Ninh mới về được vị trí quy định.

Ngày 16 tháng 6 năm 1948, đại hội đại biểu Đảng bộ Hải Ninh lần thứ nhất họp tại xã Ái Quốc (Lộc Bình). Ngày 16 tháng 8 năm 1948, tỉnh ủy Hải Ninh mở hội nghị cán bộ để rút kinh nghiệm của cuộc “Đông tiến”. Hội nghị đánh giá chủ trương “Đông tiến” là đúng đắn, cán bộ và bộ đội có quyết tâm cao, đã gây được ảnh hưởng tốt đối với nhân dân vùng biển. Nhưng trong kế hoạch còn chưa chú trọng củng cố căn cứ đã có, và chưa chú ý đến công tác vũ trang tuyên truyền trong giai đoạn đầu.

Từ đó tỉnh ủy quyết định mở cuộc “Đông tiến” lần thứ hai phải tạo chuyển biến cho phong trào kháng chiến của Hải Ninh. Phải coi trọng việc xây dựng chính quyền và đoàn thể vùng tạm bị địch chiếm. Phải thu phục hết hội tề, đưa quần chúng lên đấu tranh và tích cực phát triển dân quân du kích. Thực hiện phương châm lúc đầu lấy chính trị là chủ yếu để phá “Xứ Nùng tự trị”. Tỉnh ủy cử một tỉnh ủy viên phụ trách vấn đề này. Mặt khác phải coi trọng thực hiện chính sách dân tộc đối với người Thanh Phán. Hết sức tránh đụng độ với quân Tưởng trong khi hành quân.

- Hướng công tác của ta là toàn bộ miền đông, nhưng trọng tâm là Bình Liêu, nơi có thể dựa vào Quảng Đông, Quảng Tây là khu vực Giải phóng quân Trung Quốc đang hoạt động. Từ Bình Liêu, ta có thể mở rộng sang Hà Cối, Đầm Hà, Tiên Yên, Móng Cái.

Về sử dụng lực lượng, đại đội 1481 được giao nhiệm vụ ở lại bảo vệ khu Chi Lăng, vũ trang tuyên truyền cho Nà Thuộc và luôn tập kích, phục kích địch trên đường Nà Thuộc – Đình Lập. Đại đội 1480 chia thành bốn đội vũ trang tuyên truyền tham gia vào đoàn “Đông tiến” (lần thứ hai) làm nòng cốt cho bốn đội “Xung phong xây dựng cơ sở”.

Ban chỉ huy cuộc “Đông tiến” lần thứ hai do bí thư tỉnh ủy Hoàng Chính trực tiếp chỉ đạo. Ngày 28 tháng 10 năm 1948, đoàn “Đông tiến” hai xuất phát. Thời gian hoạt động của đoàn “Đông tiến” lần thứ hai trùng hợp với hoạt động của chiến dịch Đông Bắc.

Phát huy ảnh hưởng của chiến dịch Đông Bắc, đoàn “Đông tiến” đã nhanh chóng chắp nối được với tất cả các cơ sở cũ ở miền Đông. Ta đã gây được cơ sở trong hàng trăm công nhân lò bát Móng Cái, trong 10 xã của Hà Cối và đã phát triển được 350 hội viên cứu quốc.

Ta đã xây dựng được 14 ban chỉ huy xã đội, với lực lượng du kích là 57 người (có 36 du kích bí mật), 100 du kích tập trung với 509 súng (có 200 súng kíp, một súng cối). Trong một đợt phá tề, ta đã thu được 50 súng.

Nhờ ảnh hưởng của chiến dịch Đông Bắc và kết quả của cuộc “Đông tiến”, phong trào kháng chiến của nhân dân Hải Ninh trong năm 1948 lên rất cao.

Cho đến tháng 12 năm 1948, quân và dân Hải Ninh đã hoạt động mạnh trên đường số 4 và đường 13, đã diệt và bắt 150 tên địch, giải phóng được hai xã Đồng Thắng, Cường Lợi. Đồng bào Thanh Phán ở Đồng Văn (Bình Liêu) đã sát cánh cùng bộ đội chống càn thắng lợi. Nhân dân Lộc Bình, Bình Liêu cũng hăng hái tham gia chống giặc, bảo vệ bảo làng.

Ở một chiến trường nghèo như Hải Ninh, bên cạnh lòng dũng cảm, bộ đội và nhân dân đã phải chịu đựng gian khổ. Anh bộ đội Hải Ninh phải lấy tre, nứa, lâm sản, đốt than bán lấy tiền và cấy lúa, trồng khoai để tự túc từ ba đến bốn tháng lương thực trong năm. Anh du kích của Hải Ninh khi vượt núi, luồn rừng vẫn mang theo ống tre đựng cháo loãng để lấy sức đánh giặc.

Với chủ trương tiến về phía đông, phong trào chiến tranh nhân dân ở Hải Ninh đã được nhen nhóm lại và ngày một phát triển vững chắc.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 7488

Lính của PTL


« Trả lời #38 vào lúc: 22 Tháng Bảy, 2017, 07:41:53 PM »

CHƯƠNG BA

TÍCH CỰC XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG ĐỊA PHƯƠNG,
PHỐI HỢP VỚI CHIẾN TRƯỜNG CHÍNH, ĐÁNH PHÁ CÁC TUYẾN
PHÒNG THỦ CHIẾN LƯỢC CỦA ĐỊCH TRÊN ĐỊA BÀN ĐÔNG BĂNG BẮC BỘ
GIỮ VỮNG VÀ PHÁT TRIỂN CHIẾN TRANH NHÂN DÂN ĐỊA PHƯƠNG
(1946-1948)

1. Phối hợp với bộ đội chủ lực tiêu diệt địch, mở thông hành lang biên giới Việt – Trung. Tham gia chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Quế biên khu của Trung Quốc.

Sau ba năm chiến đấu cực kì khó khăn gian khổ chống thực dân Pháp xâm lược, bước vào năm 1949, cuộc kháng chiến của nhân dân ta có những biến chuyển lớn. Trước phong trào chiến tranh du kích của quân và dân ta phát triển mạnh mẽ, rộng khắp, bộ đội chủ lực ta đang trên đà tập trung để thành lập những trung đoàn, đại đoàn chủ lực có sức chiến đấu mạnh, thực dân Pháp rất lúng túng, khốn quẫn.

Để tiếp tục đẩy mạnh cuộc kháng chiến tiến tới giành được những thắng lợi to lớn hơn, từ ngày 15 tháng 1 năm 1949 đến ngày 18 tháng 1 năm 1949, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta đã triệu tập Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ 6 để quyết định những chủ trương, phương hướng và nhiệm vụ mới cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta.

Hội nghị nhận định: Trong ba năm kháng chiến ta càng đánh càng mạnh, Pháp càng đánh càng suy yếu, càng lâm vào thế lúng túng. Tương quan lực lượng giữa ta và địch đã thay đổi, có lợi cho ta.

Nhận định về thời cơ mới, hội nghị chỉ rõ: “Ngọn trào dân chủ mới của Trung Hoa sẽ tiến đến sát biên giới Đông Dương”, “chúng ta phải nỗ lực chuẩn bị sẵn sàng đón lấy dịp tốt, tuyệt đối không nên bỏ lỡ cơ hội chiến lược”(1). Hội nghị chủ trương: “Động viên mọi lực lượng tinh thần và vật chất của toàn dân vào công cuộc kháng chiến kiến quốc, giành kỳ được độc lập và dân chủ thực sự”, “tất cả để chiến thắng”(2).

Về nhiệm vụ và công tác quân sự cần kíp, hội nghị quyết định; “Tiếp tục phá tan chiến dịch thu – đông của địch, nỗ lực thực hiện phương châm chiến lược của giai đoạn mới, đánh mạnh hơn nữa vào hậu phương địch, đánh vào các vị trí chiến lược, cắt đường giao thông quan trọng” nhằm tạo nên một chuyển biến lớn và phải quyết tâm “từ chủ động chiến dịch đi đến chủ động chiến lược từng bộ phận một cách mạnh bạo hơn”(3).

Tại hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ tư tưởng chỉ đạo trong giai đoạn này là “Kháng chiến trên hết, quân sự trên hết. Mọi việc phải nhằm vào điểm làm cho kháng chiến thắng lợi”(4).

Nghị quyết Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ 6 được truyền đạt tới các cấp ủy, đảng bộ các cấp. Cuối tháng 2 năm 1949, hội nghị Ban Chấp hành đảng bộ Liên khu 1 đã họp để bàn những nhiệm vụ công tác lớn trong năm 1949. Hội nghị đã đánh giá cao những thắng lợi giành được trong năm 1948, đặc biệt là trong thu – đông ta đã mở chiến dịch chủ động tiến công địch ở mặt trận Đông Bắc, tiêu diệt được nhiều cứ điểm nhỏ buộc địch phải thu hẹp phạm vi kiểm soát và lúng túng đối phó; ở vùng tạm chiếm, du kích chiến tranh tương đối mạnh đã mở rộng và đi đúng hướng, đặc biệt là ở Cao Lộc (Lạng Sơn), Hải Ninh và Lục Sơn Hải (Quảng Yên) phong trào có nhiều triển vọng phát triển.

Hội nghị cũng nghiêm khắc kiểm điểm những mặt khuyết điểm, không thành công như đổ vỡ cơ sở ở Hồng Gai, chưa thanh toán được nạn phỉ, chưa cải tiện được dân sinh, v.v.

Xác định nhiệm vụ công tác lớn của liên khu năm 1949, hội nghị quyết định: Phải phát triển du kích chiến tranh rộng rãi, đẩy mạnh vận động chiến tới trình độ cao, chuyển mặt trận chính của ta về hậu phương địch, thiết lập nhiều vùng tự do ngay trong lòng địch.

Thực hiện nghị quyết của hội nghị Ban Chấp hành đảng bộ liên khu, Bộ chỉ huy Liên khu 1 quyết định mở một đợt hoạt động lớn trên phạm vi rộng từ Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn đến Quảng Yên, Móng Cái, nhằm tiêu hao tiêu diệt địch, làm tê liệt giao thông, uy hiếp, cô lập, tiến tới bức địch rút khỏi Bắc Cạn, phát triển phong trào du kích chiến tranh.

Đến cuối tháng 3, theo mệnh lệnh của Bộ Tổng tư lệnh, Liên khu 1 mở hai chiến dịch song song cùng một lúc: Chiến dịch Cao – Bắc – Lạng 2 và chiến dịch Đông Bắc trên phạm vi toàn địa bàn liên khu biên giới của địch. Chiến dịch Cao - Bắc - Lạng 2 (từ ngày 1 tháng 3 đến ngày 1 tháng 5 năm 1949) có nhiệm vụ làm tê liệt đường giao thông số 4, triệt tiếp tế của địch trên toàn bộ khu vực phía bắc, đông – bắc, tiêu diệt sinh lực địch, làm tan rã ngụy binh, buộc địch phải rút khỏi Bắc Cạn.

Chiến dịch Đông Bắc là chiến dịch mở ở hướng phối hợp nhằm mục đích kiềm chế và đánh quân tiếp viện, phá hoại giao thông, nghi binh đánh lạc hướng phán đoán của địch, mở vùng duyên hải, liên lạc với Quân giải phóng Trung Quốc. Địa bàn của chiến dịch Đông Bắc nằm trên khu nam của liên khu biên giới của địch, bao gồm năm phân khu: An Châu, Tiên Yên, Móng Cái, Lạng Sơn và Lộc Bình. Lực lượng tham gia chiến dịch Đông Bắc gồm trung đoàn 98, trung đoàn độc lập Hải Ninh và một tiểu đoàn của trung đoàn 59.

Để tiến hành công tác chuẩn bị và chỉ huy chung cả hai chiến dịch, Bộ Tổng tư lệnh quyết định thành lập Ban chỉ huy Mặt trận 7 do đồng chí Lê Quảng Ba trực tiếp làm chỉ huy trưởng kiêm chính ủy.


(1), (2) Báo cáo Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ 9 (tháng 1 năm 1949).
(3) Nghị quyết Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ 6 (tháng 1 năm 1949).
(4) Hồ Chí Minh: Tuyển tập, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1966, tr. 301.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 7488

Lính của PTL


« Trả lời #39 vào lúc: 22 Tháng Bảy, 2017, 07:44:29 PM »

Trong khi quân ta đang tập kết lực lượng, chuẩn bị mọi mặt cho chiến dịch, địch vẫn không hay biết gì. Với lực lượng ngụy là chính, kết hợp với bọn phản động, chỉ điểm tại chỗ, trên địa bàn Hải Ninh trong tháng 1 năm 1949, địch đã càn năm lần vào Bình Liêu, Hà Cối, Vạn Ninh, Bình Ngọc, Xuân Lan, Vĩnh Thực, Cái Chiên, Đồng Khuy, Khe Phít, Khe Đài, Đình Đại. Chúng đã giết hại 16 người và bắt trên 170 người dân thường. Từ ngày 14 đến 25 tháng 1, một tiểu đoàn của địch có tàu chiến yểm hộ đã bao vây một trung đội bộ đội địa phương của ta ở đảo Cái Chiên. Được nhân dân hết lòng che chở, bộ đội ta đã chiến đấu liên tục với địch và rút lui an toàn.

Sang đầu tháng 3, công tác chuẩn bị đã xong. Để đánh lạc hướng phán đoán của địch, giành thế bất ngờ cho hướng chính, các đơn vị tham gia chiến dịch Đông Bắc được lệnh đánh địch trước, tiến công chúng trên đường số 4, đồng thời tiến hành nghi binh ở hướng Đông Triều, Phả Lại thuộc Quảng Yên.

Trận mở màn cho chiến dịch Đông Bắc là trận phục kích ở Khe Mò - Điền Xá. Lực lượng tham gia trận đánh này là tiểu đoàn 215 (trung đoàn 98) và tiểu đoàn 426 (trung đoàn 59). Ngày 4 tháng 3, một đoàn xe vận tải của địch gồm 30 chiếc chở một tiểu đoàn Lê-dương đi thay phiên cho quân chúng ở Lạng Sơn. Khi đoàn xe ở Tiên Yên qua Đình Lập tới Khe Mò – Điền Xá thì lọt vào trận địa phục kích. Quân ta nổ súng, đồng loạt xung phong chia cắt đội hình địch. Sau 30 phút chiến đấu dũng mãnh, quân ta đã diệt tại chỗ 125 tên địch, bắt sống 25 tên, trong đó có tên quan hai Bay-ơ chỉ huy đoàn xe, phá 16 xe vận tải quân sự, thu 68 súng, hai máy vô tuyến diện. Toàn bộ số địch bị diệt và bị bắt đều là lính Âu – Phi. Trong số súng ta thu được, có 42 khẩu đại liên và trung liên. 25 tên Âu – Phi bị bắt, ta đã giải thích chính sách khoan hồng của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, giao cho mỗi tên một số truyền đơn rồi phóng thích tại chỗ.

Chiến thắng ngày 4 tháng 3 ở Khe Mò – Điền Xá có công đóng góp của đồng bào người Thanh Phán ở Châu Sơn, Bác Lãng. Đồng bào ở đây đã che giấu bố đội, tiếp tế hậu cần và dẫn đường, cung cấp tin tức cho ta.

Sau chiến thắng giòn giã này, đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi điện khen ngợi đơn vị: “Tôi đã được tin thắng lợi của quân ta trong trận tiêu diệt chiến Điền Xá (Tiên Yên), Tôi có lời khen ngợi chiến công mùa xuân của các đồng chí. Các đồng chí hãy cố gắng hơn nữa”.

Phát huy thắng lợi, ngày 13 tháng 3, lợi dụng quân địch chưa kịp đề phòng, quân ta lại bất ngờ tập kích vào đồn Cửa Cái ở Ba Chẽ. Ta đã diệt 32 tên, bắn bị thương nhiều tên khác, thu bốn súng.

Để đối phó với ta, địch tăng cường 300 quân từ Tiên Yên lên Đình Lập và mở nhiều trận càn vào Tài Moòng, Mã Hắc Phềnh, Poóc Tắc Lẻng. Địch điên cuồng tìm diệt ban chỉ đạo miền đông Hải Ninh, cơ quan lãnh đạo huyện Đầm Hà và đánh bật các đơn vị ta ra xa trục đường số 4. Nhưng các cơ quan lãnh đạo của ta và bộ đội vẫn bám sát chiến trường, địa bàn tạo thời cơ và tìm nơi sơ hở của địch mà đánh.

Trên hướng Móng Cái, sau khi nắm được địch đã điều bớt lực lượng đi chi viện cho Lạng Sơn, tiểu đoàn 1 thuộc trung đoàn độc lập hoạt động ở Hải Ninh đã quyết định tập kích vào thị xã Móng Cái – tỉnh lỵ của tỉnh Hải Ninh. Ngày 27 tháng 3, với sự phối hợp của cơ sở ta đã gài sẵn vào hàng ngũ lính ngụy từ mấy tháng trước, cán bộ, chiến sĩ của tiểu đoàn 1 đã cải trang như lính ngụy, du kích thì cải trang làm dân phu đi làm đột nhập vào thị xã. Sau gần 30 phút chiến đấu, quân ta đã diệt hơn một trăm lính Pháp và 30 lính ngụy, thu nhận 200 lính ngụy đầu hàng và giải phóng cho 200 đồng bào, cán bộ ta bị địch bắt. Ta đã phá năm xe, phá kho bạc của tỉnh Hải Ninh, thu trên 900 khẩu súng các loại và nhiều đồ dùng quân sự khác. Quân ta làm chủ thị xã Móng Cái gần trọn một ngày.



Ba chiến sĩ nội ứng trong trận bộ đội ta tấn công thị xã Móng Cái
ngày 29 tháng 3 năm 1949
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM