Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 21 Tháng Tám, 2017, 01:15:45 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Béc-lin tháng năm 1945  (Đọc 2889 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 12620


« vào lúc: 14 Tháng Năm, 2017, 09:50:29 PM »

    
        - Tên sách: Béc-lin tháng năm 1945
        - Tác giả: Ê-lê-na-rgiép-xcai-a; Đức Thuần dịch
        - Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
        - Năm xuất bản: 1988
        - Số hóa: Giangtvx



VÀO VÁC-SA-VA

        Cuối năm 1944, tập đoàn quân xung kích số ba, nơi tôi làm phiên dịch quân sự trong bộ tham mưu, được lệnh chuyển sang Ba Lan. Lần đầu tiên trong suốt cuộc chiến tranh, chúng tôi hành quân bằng đường sắt, chúng tôi vượt qua Xê-lét. Qua cánh cửa mở rộng của toa tàu hàng chở chúng tôi, tôi nhìn rõ những cánh cửa sổ sáng ánh đèn với cây thông trên bậu cửa. Đã là tuần lễ Giáng sinh.

        Suốt ba năm ròng rã chủng tôi chỉ đi trên những miền đất chỉ có một quang cảnh chung là chiến tranh. Thế nhưng ở đây, qua những khung cửa sổ sáng ánh đèn thoáng hiện và lưót qua mắt chúng tôi là một cuộc sống khác, một cuộc sống có vẻ xa lạ, cho dù vẫn còn nặng nề, gian khổ, nghèo nàn, nhưng dầu sao cũng vẫn là một cuộc sống. Cuộc sống đó đang hồi hộp đợi chờ và nung nấu bao Ý nghĩ về hòa bình.

        Trước mắt đã là Vác-sa-va. Tôi muốn nói kỹ hơn về thành phố này sau, còn ở đây tôi chỉ lướt qua thôi.

        Chúng tôi từ một vùng ngoại ô Pra-ha tiến vào Vác-sa-va qua thành phố Vi-xla. Màn sương mù dày đặc lạnh ngắt từ bờ sông tỏa lên, phủ mờ cả thành phố đã bị tàn phá hầu hết. Người lính gác cầu phao luôn đưa tay xoa xoa đôi tai lạnh cóng. Những nhip cầu bị đánh gục xuống sông Vít-xla nhấp nhô cong queo từng đoạn nhô lên mặt nước. Các chiến sĩ Ba Lan đang bì bõm trong nước, chèo lắp những khoang phao cầu. 

        Tất cả những gì chúng tôi nhìn thấy ở thành phố này khi đã sang được bờ đều không thể diễn tả bằng lời được. Những đống đồ nát, những cảnh điêu tàn của cái thành phố đáng tự hào này - tấn bi kịch và sự cao cả hùng vĩ của nó - sẽ mãi mãi khắc sâu vào ký ức con người

        Sau những trận đánh giải phóng Vác-sa-va, bộ đội mặt trận chứng tôi đồng loạt tiến nhanh lên trước nhằm phát huy những thắng lợi đã giành được. Chúng tôi lướt nhanh cạnh những cây thánh giá mang tượng chúa Giê-su nằm ngổn ngang hai bên đường và những tấm biển gỗ vê người lính đang cuốn lại xà cạp dưới chân với dòng chữ: "Hãy cùng nhau tiến tới Béc-lin!".
« Sửa lần cuối: 14 Tháng Năm, 2017, 09:56:11 PM gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 12620


« Trả lời #1 vào lúc: 15 Tháng Năm, 2017, 05:30:24 AM »


        Dọc đường chúng tôi được lệnh nghĩ một ngày tại thị trấn N. (Tôi quên mất tên gọi của nó). Trong ký ức vế thị trấn đông dân này chỉ còn lưu lại được những hình ảnh tiêu điều của những ngôi nhà nhỏ đổ gục, xiêu vẹo, tấm biền sắt tây hoen gỉ của hiệu bánh mỳ "Pieczywo" lay lắt đung đưa trên cột điện thoại, những cánh cửa cháy xém cùng mảnh kính vỡ và đá dăm lạo xạo dưới chân.

        Sau ngày sau khi giải phóng Vác-sa-va các đơn vị chúng tôi đánh chiếm thành phố Brôm-béc (thành phố Bư-gốt theo tiếng Ba Lan), và tiếp tục tiến lên truy kích quân địch đang tháo chạy. Đường phố đặc biệt nhộn nhịp. Hầu như toàn thể nhân dân Ba Lan ở thành phố Bư-gốt đều rời khỏi nhà, đổ ra đường phố. Mọi người ôm lấy nhau, cười nói và khóc nức nở. Và trên ngực áo mọi người lất phất rung rinh mẩu cờ nhỏ màu trắng - đỏ. Từng đám trẻ con đua nhau chạy reo hò lạc giọng biểu lộ sự vui sướng phấn chấn của mình. Nhiều em bé trong bọn chúng không thể biết được rằng, tiếng reo hò của các em đã gây những cảm xúc mãnh liệt mà những người lớn tuổi hơn đã hầu như quên đi trong năm năm bị áp bức, đau khổ và đọa đày là thời kỳ mà ngay cả tiếng nói to cũng không được phép. Nếu như có một người Nga xuất hiện đâu đó trên đường phố thì lập tức chung quanh anh sẽ hình thành ngay một đám đông. Mặc dầu đang là tháng giêng giá, rét và có tuyết rơi nhưng thành phố vẫn rộn lên không khí mùa xuân qua tiếng cười nói rộn rã của những dòng người, tiếng hò reo la hét của trẻ em.

        Ít giờ sau đường phố Bư-gốt lại tràn ngập thêm những tốp tù binh được giải thoát khỏi các trại tập trung phát xít: những người lính Pháp lặng lẽ,những tốp lính Anh cao gầy trong quân phục bằng vải ka ki, những người lính I-ta-li-a, những con người cách đây không lâu còn là đồng minh của người Đức thế nhưng cũng đã bị dồn vào các dãy hàng rào dây thép gai, lúc đầu còn ngỡ ngàng đứng tách ra thành nhóm riêng nhưng dần dần cũng hòa chung vào dòng người hân hoan trong không khí ngày hội.

        Những người lính Nga và Ba Lan đứng gác ở đầu cầu, không cần tránh dòng xe qua lại, ùa ra ôm chầm lấy những con người đủ các thành phần các dân tộc khác nhau vừa được giải phóng. Tiếng ca bất bật lên, vang vang phấn chấn... Một cụ già mù đang lần bước trên vỉa hè, trên mũ da cừu gài một ngọn cờ nhỏ Ba Lan, tay đeo dải băng vàng viền đen. Ông cụ đứng lại, nghển cao đầu như cố nuốt lấy tiếng huyên náo trên đường phố.

        Và kia, một người lính Ba Lan ngà ngà say đang khoác tay hai trung sĩ Pháp. Còn đây là một anh chàng phi công Mỹ cũng vừa được giải phóng khỏi trại tù binh bận bộ quân phục màu phòng không, đầu trần và gặp bất cứ ai cũng kéo dừng lại, ôm hôn, bắt tay cười ngây ngất, nét mặt rạng rỡ hạnh phúc.

        Một ngõ cụt, chật hẹp chạy thẳng ra ngã tư đường phố và đoàn "trẩy hội" không đi vào đấy. Dọc theo đường hẻm này là một dãy dài đoàn người với hòm xiểng, tay nải, túi bị xếp đầy, chồng chất trên xe ngựa, xe trượt và cả trên lưng. Đó là nhóm người Đức, chủ các trang trại đang chuẩn bị chuồn khỏi "dinh cơ" của chúng để chạy trốn về bất cứ nơi đâu chúng có thể đi được. Một người

        Ba Lan cam đầu đám thiếu niên đứng chặn lối đi. Một mụ đàn bà Đức khoác chiếc bành tô bẩn thỉu đang cố giải thích điều gì đó với người Ba Lan ngồi trên ngựa còn anh ta thì cứ vung gậy chỉ vào các đống túi, bị thét lên: "Sao không nói bằng tiếng Ba Lan ? Sao không nói bằng tiếng Ba Lan ?". Tôi liền lay vai anh ta hỏi: "Anh làm gì vậy ? Để cho họ đi". Anh ta ngẩng nhìn lên nét mặt đầy căm phẫn và nước mắt. Anh nhìn tôi, đúng hơn là nhìn vào chiếc áo quân phục và ngôi sao nhỏ trên mũ tôi và dịch sang một bên. Cứ vậy anh ta căm giận và có vẻ lo lắng nhìn chúng tôi: có lẽ anh ta không thể chịu nổi cái cảnh tượng là tại sao lại để cho đám người Đức kìa hôm nay được tự do ra đi trên mảnh đất sau khi đã xảy ra tất cả những gì do chúng gây nên.

        Làn sóng ngày hội lôi cuốn chúng tôi hòa vào khung cảnh lồng lộng trên đường phố. Ở đây mọi người đều cảm thấy tràn ngập không khí tự do và trong ngày hôm ấy, hình như ai ai cũng đều không tiếc một thứ gì đối với những người khác.

        Chúng tôi say sưa vui cùng đoàn người và không hề biết mình ra tới ngoại vi thành phố từ lúc nào. Trên đường cái lớn chúng tôi gặp một đoàn người tay cầm một chiếc khăn tay lớn màu xanh - trắng - đỏ đi trước. Khi đoàn người tới gần chúng tôi nhìn thấy những tù binh Pháp trong những chiếc áo khoác cũ kỹ, sờn rách đang đi hai bên và ở giữa là những người phụ nữ, quấn mình trong những chiếc chăn, trong các bao tải và có người chỉ quấn độc một chiếc áo khoác rách rưới. Đó là đoàn phụ nữ Do Thái vừa thoát ra khỏi trại tập trung. Té ra những người tù binh Pháp đã bảo vệ và mang hộ đồ đạc cho đoàn phụ nữ này trên suốt quãng đường dài mười cây số từ trại tập trung ra tới thành phố. Tuy đồ dạc không nhiều nhặn gì nhưng chúng ta cũng rõ là, đối với một con người bị đau khổ đọa đầy bao ngày tháng ròng rã thì một chiếc kim thôi cũng đủ là một gánh nặng đối với họ.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 12620


« Trả lời #2 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2017, 05:03:14 AM »


        Bỗng trong đám chiến sĩ bật lên tiếng hô lớn: "Nước Pháp tự do muôn năm". Mấy người lính Pháp xô vào người chiến sĩ ấy. Một trung sĩ người Ai-len, cầm chiếc mũ rộng vành, phía trên nổi bật chiếc huy hiệu chiến sĩ cận vệ do một người lính Nga nào đó đã tặng anh ta làm kỷ niệm, giơ lên vẫy vẫy những người lính Pháp và nói một tràng dài câu gì đó rất nhiệt tình bằng tiếng Ai-len.

        Gần bốn ngày trôi qua sau khi quân ta giải phóng Bư-gốt và đuổi quân địch chạy dài về hướng Tây, trong thành phố này chỉ còn lại một số đơn vị nhỏ, chúng tôi nhận được thông báo cho biết: quân Đức đang tập hợp lực lượng từ hướng Bắc chuẩn bị phản công chiếm lại thành phố này.

        Lúc đó đã gần nửa đêm, đội tuần tra của bộ chỉ huy quân quản dẫn đến chỗ chúng tôi "một cái lưỡi" họ vừa tóm được. Đó là một tên lính bẩn thỉu, mặc chiếc áo khoác dạ dài quét đất, đầu lại quấn chiếc khăn quàng nữ như thường thấy ở bọn lính Đức khác. Ngồi một lúc có vẻ đã bớt được nỗi sợ hãi ban đầu và sau khi được sưởi ấm đôi chút, tên Đức có phần phấn chấn hơn, cởi áo khoác và bỏ khăn trùm đầu ra. Trong áo khoác té ra còn chiếc bành tô rồi trong bành tô là bộ váy bó chặt lấy mông đùi và dưới chiếc khăn quàng là mái tóc phỉ dê vàng óng ả.

        Tóm lại, đây là một phụ nữ thực sự chứ không phải là tên lính Đức nào cả. Ả tên là Mác-ta Cát-xen-mai-ơ, gái nhà chứa ở phố Phli-um-đe, nhà 15. Ả chạy trốn cùng với một tên lỉnh Đức nào đó đang trú đêm tại nhà chứa này. Tên này bị bắt làm tù binh ngay sau đấy còn ả đành cô đơn quay lại nhà mình. Ả đi ngược lại dòng người và xe quân sự chở các chiến sĩ Hồng quân và một chiến sĩ động lòng thương ngươi đàn bà rét mướt gập mình trong chiếc bành tô mỏng, liền vất cho à ta chiếc áo khoác chiến lợi phẩm.

        Tóm tắt,vài nét về ả ta. Sinh ra vào năm cuối cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Mẹ mất sớm còn ông bố là thương binh lại nghiện rượu, lấy vợ kế và gửi cô ta vào trại trẻ mồ côi. Khi được ra khỏi trại này thì, theo điều luật mới của chế độ quốc xã, cô Mác-ta Cát-xen-maí-ơ phải dự một kỳ thi kiểm tra. Cô ta phải trả lời một loạt câu hỏi đại loạt: Hít-le sinh năm nào, bố mẹ quốc trưởng sinh bao giờ, cái bàn và cái ghế khác nhau thế nào, châu Mỹ được phát hiện bao giờ và vân vân... Nói chung là khá nhiều câu hỏi làm cho cô gái mồ côi ấy sợ hoảng lên và đâm ra lầm lẫn. Rồi phải thi lại lần thứ hai. Và cô ta lại sợ hãi, lại lầm lẫn. Cơ quan kiểm tra di truyền xác định cô ta không phải thuộc loại thuần chủng Đức và theo luật mới của Hít-le, cô ta bị tiêm thuốc tuyệt sinh đẻ không có khả năng làm hại dòng giống thuần chủng. Và cũng theo luật này thì cô ta bị cấm lấy chồng. Chỉ có những đàn ông ngoài bốn mươi lăm tuổi mới được phép cưới cô ta làm vợ và cũng phải là người cũng đã bị làm tuyệt sinh như cô ta. Nỗi đau khổ và xấu hổ đã vất cô ra khỏi đời sống xã hội và dẫn cô ta tới nhà chứa.

        Chúng tôi tròn mắt kinh ngạc trước lời khai của cô ta. Quả thật, chúng tôi chưa hề được đọc biết gì về cái đạo luật này. Còn cô ta thì có vẻ như được cổ vũ bởi các câu hỏi dồn dập, vì tại đây cô ta được chú ý và sự ấm áp trong căn phòng làm cô ta có vẻ thoải mái hơn. Đưa tay vuốt nhẹ mái tóc rất duyên dáng, cô ta kể: Thưa bà trung úy, bà hãy tin tằng, thật khổ sở và thất vọng xiết bao đối với người con gái không được đi lấy chồng! Và hơn nữa tôi lại muốn có người chồng trẻ. Nguyền rủa bất cần phó mặc cuộc đời trôi qua ở Brét-xlau cô đã tiếp những hạng khách chơi là công nhân xây dựng keo kiệt và bẩn thỉu. Còn ở đây, ở cái thành phố Brôm-béc này thì lại là chuyện khác. Đây là nơi dừng chân của những người lính từ mặt trận phía Đông trở về. Nếu người lính nào có giấy nghĩ phép và muốn ở lại một tối với tôi thì phải trả một trăm mác. Chà, bà có biết là những người lính từ mặt trận trở về luôn luôn là những người có nhiều tiền. Cô ta có thể cứ vậy sống những ngày đen tối ở đây cho đến già. Và biết đâu được, nếu công việc làm ăn của cô ta cứ tiếp tục dễ dàng như vậy thì có thể cô ta sẽ thu thập dành dụm được một số vốn kha khá và cung có thể có nhà riêng của mình.

        Cô ta cứ nói huyên thuyên không ngừng. Còn chứng tôi thì im lặng, buồn rầu và choáng váng.

        Chúng tôi cho Mác-ta đi ra. Ngay gần đâu đây vang lên tiếng súng lớn. Bọn địch định phản công vào nửa đêm. Các đơn vị chúng tôi đã đánh trả lại và cuộc phản công của địch bị thất bại thế nhưng chúng tôi vẫn cứ bình tĩnh chờ đợi cuộc phản công khác lặp lại vì mọi người chúng tôi đã quen và hiểu rõ mối nguy hiềm chính là không nắm được tin tức chính xác.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 12620


« Trả lời #3 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2017, 01:58:03 PM »


        Bỗng trong đám chiến sĩ bật lên tiếng hô lớn: "Nước Pháp tự do muôn năm". Mấy người lính Pháp xô vào người chiến sĩ ấy. Một trung sĩ người Ai-len, cầm chiếc mũ rộng vành, phía trên nổi bật chiếc huy hiệu chiến sĩ cận vệ do một người lính Nga nào đó đã tặng anh ta làm kỷ niệm, giơ lên vẫy vẫy những người lính Pháp và nói một tràng dài câu gì đó rất nhiệt tình bằng tiếng Ai-len.

        Gần bốn ngày trôi qua sau khi quân ta giải phóng Bư-gốt và đuổi quân địch chạy dài về hướng Tây, trong thành phố này chỉ còn lại một số đơn vị nhỏ, chúng tôi nhận được thông báo cho biết: quân Đức đang tập hợp lực lượng từ hướng Bắc chuẩn bị phản công chiếm lại thành phố này.

        Lúc đó đã gần nửa đêm, đội tuần tra của bộ chỉ huy quân quản dẫn đến chỗ chúng tôi "một cái lưỡi" họ vừa tóm được. Đó là một tên lính bẩn thỉu, mặc chiếc áo khoác dạ dài quét đất, đầu lại quấn chiếc khăn quàng nữ như thường thấy ở bọn lính Đức khác. Ngồi một lúc có vẻ đã bớt được nỗi sợ hãi ban đầu và sau khi được sưởi ấm đôi chút, tên Đức có phần phấn chấn hơn, cởi áo khoác và bỏ khăn trùm đầu ra. Trong áo khoác té ra còn chiếc bành tô rồi trong bành tô là bộ váy bó chặt lấy mông đùi và dưới chiếc khăn quàng là mái tóc phỉ dê vàng óng ả.

        Tóm lại, đây là một phụ nữ thực sự chứ không phải là tên lính Đức nào cả. Ả tên là Mác-ta Cát-xen-mai-ơ, gái nhà chứa ở phố Phli-um-đe, nhà 15. Ả chạy trốn cùng với một tên lỉnh Đức nào đó đang trú đêm tại nhà chứa này. Tên này bị bắt làm tù binh ngay sau đấy còn ả đành cô đơn quay lại nhà mình. Ả đi ngược lại dòng người và xe quân sự chở các chiến sĩ Hồng quân và một chiến sĩ động lòng thương ngươi đàn bà rét mướt gập mình trong chiếc bành tô mỏng, liền vất cho à ta chiếc áo khoác chiến lợi phẩm.

        Tóm tắt,vài nét về ả ta. Sinh ra vào năm cuối cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Mẹ mất sớm còn ông bố là thương binh lại nghiện rượu, lấy vợ kế và gửi cô ta vào trại trẻ mồ côi. Khi được ra khỏi trại này thì, theo điều luật mới của chế độ quốc xã, cô Mác-ta Cát-xen-maí-ơ phải dự một kỳ thi kiểm tra. Cô ta phải trả lời một loạt câu hỏi đại loạt: Hít-le sinh năm nào, bố mẹ quốc trưởng sinh bao giờ, cái bàn và cái ghế khác nhau thế nào, châu Mỹ được phát hiện bao giờ và vân vân... Nói chung là khá nhiều câu hỏi làm cho cô gái mồ côi ấy sợ hoảng lên và đâm ra lầm lẫn. Rồi phải thi lại lần thứ hai. Và cô ta lại sợ hãi, lại lầm lẫn. Cơ quan kiểm tra di truyền xác định cô ta không phải thuộc loại thuần chủng Đức và theo luật mới của Hít-le, cô ta bị tiêm thuốc tuyệt sinh đẻ không có khả năng làm hại dòng giống thuần chủng. Và cũng theo luật này thì cô ta bị cấm lấy chồng. Chỉ có những đàn ông ngoài bốn mươi lăm tuổi mới được phép cưới cô ta làm vợ và cũng phải là người cũng đã bị làm tuyệt sinh như cô ta. Nỗi đau khổ và xấu hổ đã vất cô ra khỏi đời sống xã hội và dẫn cô ta tới nhà chứa.

        Chúng tôi tròn mắt kinh ngạc trước lời khai của cô ta. Quả thật, chúng tôi chưa hề được đọc biết gì về cái đạo luật này. Còn cô ta thì có vẻ như được cổ vũ bởi các câu hỏi dồn dập, vì tại đây cô ta được chú ý và sự ấm áp trong căn phòng làm cô ta có vẻ thoải mái hơn. Đưa tay vuốt nhẹ mái tóc rất duyên dáng, cô ta kể: Thưa bà trung úy, bà hãy tin tằng, thật khổ sở và thất vọng xiết bao đối với người con gái không được đi lấy chồng! Và hơn nữa tôi lại muốn có người chồng trẻ. Nguyền rủa bất cần phó mặc cuộc đời trôi qua ở Brét-xlau cô đã tiếp những hạng khách chơi là công nhân xây dựng keo kiệt và bẩn thỉu. Còn ở đây, ở cái thành phố Brôm-béc này thì lại là chuyện khác. Đây là nơi dừng chân của những người lính từ mặt trận phía Đông trở về. Nếu người lính nào có giấy nghĩ phép và muốn ở lại một tối với tôi thì phải trả một trăm mác. Chà, bà có biết là những người lính từ mặt trận trở về luôn luôn là những người có nhiều tiền. Cô ta có thể cứ vậy sống những ngày đen tối ở đây cho đến già. Và biết đâu được, nếu công việc làm ăn của cô ta cứ tiếp tục dễ dàng như vậy thì có thể cô ta sẽ thu thập dành dụm được một số vốn kha khá và cung có thể có nhà riêng của mình.

        Cô ta cứ nói huyên thuyên không ngừng. Còn chứng tôi thì im lặng, buồn rầu và choáng váng.

        Chúng tôi cho Mác-ta đi ra. Ngay gần đâu đây vang lên tiếng súng lớn. Bọn địch định phản công vào nửa đêm. Các đơn vị chúng tôi đã đánh trả lại và cuộc phản công của địch bị thất bại thế nhưng chúng tôi vẫn cứ bình tĩnh chờ đợi cuộc phản công khác lặp lại vì mọi người chúng tôi đã quen và hiểu rõ mối nguy hiềm chính là không nắm được tin tức chính xác.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 12620


« Trả lời #4 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2017, 03:22:48 AM »


        Những giờ đầu tiên sau khi chiếm thành phố Bư-gốt, khi những trận lốc tuyết tuy đã dịu đi nhưng vẫn còn hoành hành trên các đường phố, khi giao thông còn chưa hoạt động lại được nhưng trên khắp nẻo đường các ngã ha ngã tư, người dân thành phố này đã ùa ra đường, đang vui sướng phá những cửa hàng thực phẩm, bánh kẹo của ngườì Đức và truyền cho nhau tin tức về một mụ già người Đức nào đó định đổi ngôi nhà cách đây chừng đâu hai ba dãy phố. Và giờ đây xác mụ đang nằm phơi trên tuyết lạnh, mấy cô gái cười vang trước anh lính Ba Lan đang đi chiếc xe đạp nữ định vượt qua quãng đường đầy tuyết và trượt ngã, một anh lính Ba Lan khác, khi đi qua chiếc xe bị tắc đường của chúng tôi đang chờ ở giữa phố, liền rút trong túi ra một hộp sô-cô-la đưa cho tôi và nói: "Mời chị nhấm nháp cho đỡ buồn!".

        Cũng trong những giờ phút đầu tiên sau ngày giải phóng này tôi đã tận mắt trông thấy những người tù đang từ trong nhà tù lớn tỏa ra đường phố.

        Đó là những người bị tập trung về đây đề xây dựng các công sự phòng thủ của bọn Đức. Những người này sau khi làm việc ban ngày ở công sự, tối bị giam vào nhà tù. Thôi thì đủ... người Bỉ, Đan Mạch, Pháp và cả tù binh

        Nga... Có cả người Ba Lan. Sau khi giúp đỡ bộ chỉ huy quân quản, tổ chức lập danh sách những người hồi hương, chúng tôi lại lên đường.

        Trước khi rời Bư-gốt, chúng tôi quyết định dạo lần cuối cùng trên những dãy phố nhỏ hẹp nhưng náo nhiệt gồm những dãy nhà cũ kỹ xây bằng đá xám. Những mái nhà nhọn cao nhô lên trong bầu trời đùng đục của buổi sáng mùa đông lạnh buốt.

        Trước mắt chúng tôi có một nhóm đàn ông đang dọn tuyết trên vỉa hè. Đến gần, chúng tôi thấy trên áo khoác mọi người đều có vẽ chữ thập ngoặc bằng phấn. Té ra đây là nhóm người Đưc bị bắt phải đi dọn quét đường theo quyết định của cơ quan giao thông thành phố.

        Chúng tôi không có gì khó hiểu trước lòng căm thù của người Ba Lan. Bởi vì họ đã phải trải qua thời kỳ cưỡng chế "đại Đức hóa". Có nghĩa là đóng cửa các trường học Ba Lan, người dân bị bắt, bị đuổi ra ngay khỏi nhà của mình, bị dồn vào những toa tàu dành riêng có xích cửa và nhiều thứ quy đinh nhục nhã khác nữa. Đó là sư đàn áp của chế độ quốc xã bằng nạn đói, bắt bớ đày đọa và trại tập trung. Làm sao mà chúng tôi lại không hiểu được tình cảm của họ. Chúng tôi là những con người đã trải qua nỗi đau khổ kinh hoàng, đã đi qua cái chết và những cảnh tàn phá đã chứng kiến biết bao tàn tích man rợ của chủ nghĩa phát xít để lại.

        Đã bao lần chúng tôi cứ tự hỏi mình: chả lẽ những cái đó sẽ lại không bị trừng phạt hay sao, chả lẽ chúng lại không bị trừng phạt vì tất cả những tội ác này hay sao? Chả lẽ lòng căm thù của chúng ta lại không được đền ,bù bằng sự báo thù hay sao ?

        Nhưng những hình bóng ảm đạm, đen tối của những con người này, những dấu chữ thập ngoặc trên lưng áo của họ giờ đây lại là chuyện khác... Cho đến giờ tôi vẫn không thể quên được những chữ thập ngoặc nặng nề bằng phấn đè lên lưng những con người ấy.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 12620


« Trả lời #5 vào lúc: 19 Tháng Năm, 2017, 05:23:11 AM »


PÔ-DƠ-NAN

        Chúng tôi tiến theo đường lớn đến Pô-dơ-nan. Cả một dải đồng bằng yên tĩnh không có tuyết phủ, xác một tên lính Đức chân trần, những con ngựa chết co quắp, những từ truyền đơn trắng do quân ta tung ra trước cuộc tiến công, những chiếc mũ lính và những hố đạn đen ngòm trên trận địa - đó là tất cả những gì thấy được trước mắt chúng tôi. Hàng đoàn tù binh đang bị dẫn đi. Tiếng đại bác vẫn rền vang đâu đây. Các đơn vi bộ đội tuyến hai, tuyến ba của chúng ta đang hành quân. Những lá quân kỳ được gói bọc cần thận trong túi cờ. Xe ô tô, xe ngựa, xe đẩy, xe trượt tuyết và nhiều nhất, đông nhất vẫn là bộ binh, bộ binh và... bộ binh lũ lượt nối nhau. Tất cả dòng người xe chuyển động, hành quân vội vã trên những nẻo đường Ba Lan. Một ông già ngồi trên chiếc ghế đẩu sau thùng xe cứ nảy lên như người gỗ. Bên vệ đường, một người Ba Lan đang hôn tay một phụ nữ. Hai bà "xơ" đội mũ rộng vành trắng phau như tuyết đang im lặng miệt mài cất bước. Một bà mẹ đeo bẵng tang kéo lê một đứa trẻ bước theo mình.

        Thỉnh thoảng mới gặp một vài đống tuyết. Trời lạnh. Hai bên đường những hàng cây im lìm thân trắng xóa màu vôi.

        Tại thành-phố Gơ-ne-dơ-nô, trong gia đình một nhà thợ sửa chữa điện người ta chỉ cho tôi xem lá thư được bí mật chuyền từ Brê-xlau tới: "Bọn Nga đã đi chưa, nếu không thì chúng ta chết hết".

        Các đơn vị Hồng quân phối hợp cùng với bộ đội Ba Lan quét sạch bọn phát xít khỏi những vùng đất Ba Lan bị Đức chiếm đóng.

        Ngày 9 tháng 2, tờ báo của tập đoàn quân chúng tôi ra số đặc biệt với dòng chữ: "Nước Đức đang khiếp sợ, nước Nga đang tiến về Béc-lin".

        Chúng ta còn nhớ, các lực lưọmg vũ trang phát xít đã tiến công vào Ba Lan rạng sáng ngày 1 tháng 9 năm 1939. Sau khi thực hiện kế hoạch bàn đạp đầu tiên của mình, bọn Hức bắt đầu chia cắt phần lớn lãnh thổ Ba Lan sáp nhập vào lãnh thổ quốc xã. Còn lại một phần nhỏ đất đai, người Đức tuyên bố lập chế độ "Toàn quyền Đức" tại phần đất Ba Lan.

        "Chủ quyền trên phần lãnh thổ này thuộc về quốc trưởng của nước đại Đức và tướng quân toàn quyền là người được ủy quyền đại diện quốc trưởng vĩ đại, cai quản vùng đất này". Cách đây hơn một năm tướng Phran- cô, toàn quyền nước Đức tại Ba Lan, đã công khai, hách dịch tuyên bố : "Nếu tôi được đến trước quốc trưởng, tôi sẽ báo cáo với Ngài: Thưa quốc trưởng kính mến, tôi xin báo cáo, tôi đã thủ tiêu thêm được 950 nghìn người Ba Lan cộng sản". Có lẽ Ngài sẽ đáp: "Tuyệt lắm, nếu như đó là điều cần làm". Quốc trưởng lại nhấn mạnh thêm là "đối với người Ba Lan thì chỉ cần một ông chủ thôi - đó là người Đức, không thể có hai ông chủ cùng song song tồn tại bên nhau, điều đó là không cần thiết và không thể được; vì vậy cần phải thủ tiêu hết những tên đại diện của lớp trí thức. Cái này là tàn bạo đấy, nhưng quy luật cuộc sống đòi hỏi như vậy. Nước Ba Lan là nguồn dự trữ của chúng ta, là trại tập trung lớn về sức lao động của chúng ta. Và nếu để cho người Ba Lan lớn lên, đất nước Ba Lan phát triển đến trình độ cao thì họ sẽ ngừng cung cấp cho chúng ta nguồn lao động mà chúng ta rất cần".

        "Chúng ta cần tiêu diệt bớt một phần dân chúng, vì điều đó là sứ mệnh của chúng ta nhằm bảo tồn phồn vinh của dân tộc Đức - Hít-le chí thị cho lũ tay sai - Chúng ta cần phải nhanh chóng phát triển kỹ thuật giết ngươi. Nếu như người ta hỏi tôi, thế nào là thủ tiêu dân chúng, thì tôi sẽ trả lời cho họ hiểu ý tôi nói thủ tiêu tức là giết hàng loạt, tiêu diệt gọn cả một dân tộc hoặc chủng tộc. Tôi sẵn sàng làm điều đó - hay nói một cách thẳng thừng, thì đó là nhiệm vụ của tôi".

        Trên đường tiến quân, trong những ngày này các đơn vị bộ đội chúng ta đã giải phóng các địa ngục Trem-blin-ca, Mai-dơ-nen và hàng trăm trại tập trung giết người khác.

        Cảc chiến sĩ lao vào phá các cổng lớn, bắn đứt dây cáp và cắt dòng điện mạnh ở hàng rào dây thép gai. Tất cả những gì mà tôi đã được trông thấy sau các cánh cổng nặng nề ở các trại tập trung này có lẽ chưa bao giờ nằm trong trí tưởng tượng của con người. Đó là hàng trăm nghìn con người bị đầy đọa, chết chóc, đói khát đang sống vất vưởng. Những ai còn thở được thì cũng trong tình trạng ngắc ngoải, chờ chết do đói khát, ốm đau, mất sức vì bị đọa đầy về thể xác và tinh thần.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 12620


« Trả lời #6 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2017, 05:09:44 AM »


        Bộ đội phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a một đang ngày đêm đầy nhanh tốc độ tiến công,- phá tan những vành đai phòng ngự của địch. Hàng đoàn xe tăng ào ạt xông lên đè bẹp mạng lưới phòng thủ nhiều tuyến chiều sâu của đich và tiếp tục tiến lên, tạo điều kiện cho bộ binh phía sau củng cố tiếp thắng lợi của các cuộc tiến công. Các lực lượng tiến công chính không ngừng bám theo lực lượng chủ yếu của địch. Quân Đức không thể chịu đựng nổi nhịp độ tiến công mà chúng phải chấp nhận nên bắt buộc phải cuống cuồng bỏ chạy khỏi nhiều thành phố, vùng dân cư vội vã đến nỗi không kịp phá hoại như trong kế hoạch đã định, thậm chí không kíp dỡ bỏ các bến phà. Nhưng cũng phải thấy rõ là càng tiến sâu vào đất Ba Lan, càng gần đến biên giới nước Đức thì sự chống cự của quân phát xít càng ác liệt hơn, ngoan cố hơn.

        Tại các khư dân cư, các thành phố quân địch bỏ lại, khắp trên tường nhà, đâu đâu cũng thấy những dòng chữ cảnh cáo dân chúng Ba Lan bị chiếm đóng: "Licht-dein Tod!" (Ánh đèn là cái chết). Trên các bức tường và cánh cửa trước mỗi ngôi nhà đều nổi bật những tấm áp phích in hình một bóng đen trùm lên một con người: "Pst! Tcc!" - (Im lặng. Kẻ thù đang rình nghe!).

        Chúng tôi dừng chân nghỉ lại trong một ngôi nhà vắng chủ cách Pô-dơ-nan không xa. Trên bàn nhỏ có chiếc khung ảnh đánh bóng lồng bức hình một cậu bé, nét mặt nghiêm trang, hai tay bắt chéo trước bụng. Bố cậu "ngài Pao-un- phôn-gan-den-rai-khơ" đang đọc bản kinh Tân Ước và vở kịch của Sin-le. Trên bàn làm việc của chủ nhân vắng mặt còn vương lại bản sao tờ quyết định mà vào một đêm tháng 10 năm 1939, Pao-un-phôn-gan-den-rai-khơ cùng đội hộ tống của cảnh sát Đức cầm đến đọc cho chủ cũ ngôi biệt thự này biết: Theo quyết định của ngài thị trưởng chính quyền mới của nước Đức tại đây, từ nay ngôi biệt thư sang trọng của nhà kiến trúc Ba Lan Bô-lê-xlao Ma- tu-sép-xki, nằm trên đường phố Mít-kê-vít này sẽ thuộc quyền sử dụng của gia đình "ngài" Pao-un. Người ta chỉ cho chủ nhân mang đi hai bộ quần áo và cái áo khoác mà thôi. Chưa đầy hai lăm phút sau nhà kiến trúc sư phải ra khỏi nhà... Hít-le muôn năm !

        Thế là chúng tôi đã đặt chân lên phần lớn vùng đất đai Ba Lan bị sáp nhập hẳn vào nước Đức và bọn phát xít đã dùng bạo lực để khuất phục dân chúng.

        Vượt qua hai con sông Vác-ta và Nét-xe, bộ đội của tướng Trui-cốp bắt đầu bao vây Pô-dơ-nan. Các ngả đường vào khu ngoại vi được bố trí nhiều vành đai đồn bốt bảo vệ dày đặc khá mạnh. Các cuộc tiến công đều bị chặn lại. Đành phải bao vây chặt từng đồn và diệt gọn từng cụm.

        Tại Pô-dơ-nan này, ngày 4 tháng 10 năm 1943, Him-le đã từng tuyên bố: «Tôi hoàn toàn không cần biết, người Nga, người Tiệp sống ra sao. Chúng ta chỉ cần chọn lọc những gì tinh túy nhất trong dòng máu của chủng tộc. Và nếu cần thì chúng ta sẽ tự mình chọn lọc bọn trẻ con, sẽ nuôi nấng chúng. Các dân tộc khác sống phồn vinh hay đói khổ, đó không phải là điều tôi quan tâm, điều tôi cần là họ sẽ làm nô lệ cho nền văn hóa chúng ta ở  mức độ nào và ngoài điều này ra thì tôi không cần gì hết".

         Pô-dơ-nan là một trong những thành phố Ba Lan bị quân Đức chiếm đóng đầu tiên. Từ sau ngày 1 tháng 9 năm 1939, đã có hàng nghìn nhà kinh doanh và quan chức đảng quốc xã theo gót các sư đoàn quân Đức kéo đến đây. Kể từ khi chúng chinh phục được "Tỉnh Vác-te-gau". Người Ba Lan bất kể lớn, bé, già, trẻ, đều bị đuổi ra khỏi ngôi nhà thân yêu của mình. Họ chẳng còn gì cả, từ nhà máy, cửa hiệu, trường học, nhà ở và đồ dùng cá nhân.

        Đường phố bị đổi tên, tiếng mẹ đẻ bị cấm, các tượng đài bị phá đổ, nhà thờ bị bôi bẩn, phóng uế.

        Các công sự, đồn trú được xây dựng khắp nơi. Người Ba Lan bị dồn sang Đức làm khổ sai. Người Do Thái bị bắn ngay tạì vùng ngoại ô thành phố.

        Bọn phát xít đã ăn mừng thắng lợi của chúng theo tinh thần chủ nghĩa quốc xã như vậy đấy.

        Các phân đội chiến đấu từng được thử thách, tôi luyện ở Xta-lin-grát đã chiến đấu dũng cảm chiếm từng đường phố, lừng ngõ hẻm, từng căn nhà, trong các trận đánh giáp lá cà với bọn địch. Mặc dù có pháo binh yểm trợ nhưng các trận đánh vẫn kết thúc bằng những đợt giáp lá cà và đôi khi chuyền thành những trận đấu tay không. Trên bầu trời thành phố luôn thấy cuộn lên những đám mây hồng, những vùng đỏ rực lấp lóa vì bị mất hết căn nhà này sang căn nhà khác, bọn Đức đã tức tối đốt trụi các khu phố, đánh sập các ngôi nhà ở trung tâm thành phố. Và cuối cùng chúng co cụm lại trong thành Pô-dơ-nan, một vùng thành cổ đế làm nơi kháng cự cuối cùng. Ngôi thành nổi bật trên thành phố chiếm diện tích rộng khoảng hai cây số vuông. Trên đường vào thành cổ chi chít hố chiến đấu, sáu chúng là dãy hào sâu và tiếp đấy là tường thành dày xây bằng đá khối nặng.

        Mặc dầu những khu phố khác bị bọn Đức thiêu trụi nhưng những người dân Pô-dơ-nan sống sót vẫn liều mình mang bánh mì, thịt, thức ăn mà họ cất giấu được, đổ ra đường đón mừng Hồng quân.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 12620


« Trả lời #7 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2017, 08:46:13 PM »


        Các em học sinh sung sướng trong những chiếc áo blu- dông đồng phục được giấu kỹ từ lâu, dù áo đã quá chật đối với chúng, nhưng trong ánh mắt chúng vẫn toát lên niềm tự hào - vì chúng đã giữ được bộ đồng phục bị cấm, vẫn mặc được bộ quần áo thuần túy Ba Lan mà bọn chiếm đóng hằn học.

        Từng đội nhạc công đổ ra đường. Những bản nhạc dân tộc vang lên. Các đội nhạc được dân chúng, bộ đội hoan nghênh cổ vũ vì thật đáng tự hào là họ vẫn giữ được bản sắc những bài ca Ba Lan. Từ lâu họ đã bị cấm đàn hát -  bọn chiếm đóng rất sợ tình đoàn kết dân tộc và lòng yêu nước toát lên trong những bài hát dân tộc và không ít người vì hát mà đã bị bắn chết một cách dã man. Những tổ chức, những nhóm kháng chiến bí mật vẫn tồn tại và tiếp tục hoạt động trong thành phố bi chiếm đóng trên năm năm ròng.

        Tòa thị chính thành phố được khôi phục, bắt đầu hoạt động. Các trường học, cơ quan, cửa hàng Ba Lan hoạt động trở lại. Trong khi đó thì một vùng nhỏ trong ngôi thành cổ vẫn còn bị đội quân hàng nghìn tên Đức chiếm giữ, kháng cự. Những đơn vị tàn quân của cụm quân Pô-dơ-nan đang co cụm tại đó. Ngày ngày chúng vẫn dùng pháo binh bắn phá bừa bãi các khu phố vừa được giải phóng. "Nhưng dần dẫn chúng đã bị pháo binh Hồng quân tiêu diệt. Đêm đến, từ các đường ngầm trong khu thành cổ, bọn Đức vẫn đột nhập vào trung tâm thành phố, cướp bóc, giết người và cải trang thành dân thường để chạy trốn. Khu thành cổ vẫn bị vây hãm chặt.

        Ít hôm sau hầu như mọi người dân trong thành phố mới giải phóng này đã quên đi sự tồn tại cua cụm quân Đức ở đấy vì thành phố mới giải phóng còn bao công việc phải làm, Bộ đội của tướng Trui-cốp chỉ để lại một vài đơn vị vây hãm còn đại bộ phận tiếp tục tiến về phía

        Tây. Họ đã tiến gần đến biên giới Bran-đen-buốc Tà Pô- me-ran-ni. Trong những ngày này tôi được phân công ở lại với các đơn vị trong thành phố Pô-dơ-nan.

        Mãi mấy ngày sau chứng tôi mới biết cách Pô-dơ-nan bốn chục cây số, tại một địa điềm nằm sâu trong vùng hậu phương quân ta, có một trại tù binh giam toàn các tướng tá quân đội I-ta-li-a. Chúng tôi quyết định tới đó.

        Đội canh gác cùng toàn bộ ban chỉ huy trại tù binh này đã bỏ chạy từ lâu trước khi chúng tôi tới nơi và trên một trăm sáu mươi vị tướng, tá I-ta-li-a không ai canh giữ vẫn thầp thỏm sống trong trại. Mới ít tháng trước đây họ còn là những kẻ chống lại chúng ta, nhưng sau cuộc đảo chỉnh ở I-ta-li-a bộ chỉ huy quân Đức đã ra mệnh lệnh giả triệu tập họ lại và tại đó chúng tuyên bố tước vũ khí, bắt họ là tù binh rồi tống vào trại tập trung riêng này. Trước các sự kiện dồn dập, họ đã sống hoang mang, căng thẳng, đợi chờ như tâm trạng của bọn lính I-ta-lì-a ở thị trấn Bư-gốt trước khi được Hồng quân giải phóng. Bởi với chúng ta, họ là đồng minh của Hít-le hay vẫn là kẻ thù vừa mới hôm qua?

        Chúng tôi tiến vào cổng, qua hàng rào dây thép gai. Hoang vắng, im lìm. Một vài dãy nhà gỗ. Có hai người đang cưa. Chúng tôi đến gần họ. Họ bỏ cưa, đứng dậy, im lặng đợi chờ. Đó là hai người đứng tuổi mệt mỏi, cặp mắt u sầu và nhẫn nhục lặng lẽ nhìn chúng tôi.

        Chúng tôi chào họ bằng tiếng Đức. Một người mặt gầy sạm đầy nếp nhăn, cổ quấn chiếc khăn quàng len, gật đầu đáp lại. Đó là tướng Mác-xen-lô. Người thứ hai bắt chuyện với chúng tôi tên là Van-te Trấy-blút, trung úy, phiên dịch người Đức, nhân vật duy nhất của bộ máy quản lý trại tù binh còn ở lại đây. Anh ta đầu đề trần, tóc đã bạc, mũi khoằm, môi trên vầu ra.

        Đồng chí đại tá cùng viên trung úy phiên dịch Đức Van-te đi xem xét các dãy nhà trại và tuyên bố với các sĩ quan tướng tá tù binh I-ta-Ii-a rằng, họ sẽ được tự do, đợi khi nào tình hình mặt trận cho phép họ sẽ được giúp đỡ trở về nước họ.

        Ít lâu sau, khi trời ấm áp hơn và cũng là lúc dự trữ lương thực trong trại đã hết nên các tướng tá tù binh I-ta-li-a được lên đường trở về quê hương, tôi lại có dịp gặp và nói chuyện với Van-te - chả là anh ta đã bị bắt giữ vì ngủ đêm ngoài vườn hoa của thành phố.

        Sau khi chia tay cùng tù binh I-ta-li-a, anh ta chẳng biết làm gì hơn nên đã quay lại Pô-dơ-nan, đến gần ngôi nhà cũ mà anh ta đã sống mấy năm và tin chắc rằng người chủ nhân Ba Lan đã từng bị đuổi khỏi ngôi nhà này có lẽ đã quay trở lại, do đó anh ta quyết định ngủ ngoài vườn hoa còn hơn là vào nhà để gây thêm sự căm thù vào mình. Anh ta đang đói và có vẻ quá mệt mỏi.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 12620


« Trả lời #8 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2017, 05:52:24 PM »


        Tôi hỏi, tại sao anh ta không chạy cùng đám sĩ quan và binh lính của trại tập trung. Anh ta chỉ im lặng nhún vai chẳng nói gì cả. Lát sau anh ta mới kể vắn tắt về mình.

        Anh ta sinh ở Rê-ven. Chủ nhân một phòng thí nghiệm hóa chất sản xuất dược liệu và đưa hàng bán ở hiệu dược phẩm của ông bố. Bị đau phổi, anh ta làm một chuyến du lịch sang I-ta-li-a, và tại đây, đã làm quen với con gái một viên chức nhỏ ở Dô-ma-dô trên hồ Cô-mô. Họ chỉ biết nhau vẻn vẹn có năm ngày, hơn nữa lại quen nhau trong tình trạng, cô gái I-ta-li-a không biết nói một tiếng Đức nào, còn anh ta thì cũng chi bập bẹ dăm tiếng I-ta-li-a thông thường. Trở về Rê-ven, anh ta ra sức học gạo tiếng I-ta-li-a, gửi cho người yêu ở Dô-ma-đô hàng lô bưu ảnh và cuối cùng là lời đề nghị được hiến trái tim mình cho nàng Nê-rây-de Bê-tét-ti. Đám cưới của họ được tổ chức ở hồ Cô-mô, sau đấy Van-te đưa cô gái Ý trở về Rê-ven với quốc tịch người E-xtô-ni-a.

        - Văn học Đức đã viết nhiều về lòng chung thủy cũng như sự nhẹ dạ của những người phụ nữ Đức, về sự nham hiểm, trục lợi của phụ nữ Pháp và I-ta-li-a. Thế nhưng tôi cảm thấy rất hạnh phút trong mối tình với cô gái I-ta-li-a này.

        Vài ngày sau chúng tôi tiến hành việc "hồi hương" người Đức, nhưng anh ta xin ở lại Pô-dơ-nan với lý do chủ nghĩa quốc xã đã từng hoành hành và anh ta cũng là nạn nhân của nó. Chẳng hạn ở đây, chính quyền quốc xã đã không công nhận cô con gái của anh ta là người Đức vì anh ta đã đặt tên con mình theo tiếng I-ta-lì-a là Phi-a- mét-ta, có nghĩa là "ngọn lửa nhỏ".

        Anh ta im lặng thở dài. Đôi mắt màu hung mở to và bất động. Anh ta không biết gì thêm về số phận gia đình cũng như số phận tiếp theo của mình sẽ ra sao đây. Anh ta đã quá mệt mỏi bởi cuộc sống trong thế giới của chủ nghĩa quốc xã và chiến tranh.

        Thành phố Pô-dơ-nan đã nằm sâu trong hậu phương của tập đoàn quân đang tiếp tục tiến lên. Bộ đội Xô-viết đã vượt sông Ô-đe. Bộ đội phương diện quân Bê-lô-ru-xi-a một, dưới sự chỉ huy của nguyên soái Giu-cốp vừa đánh vừa tiến được bốn trăm ki-lô-mét trong vòng hai tuần. Hồng quân Liên Xô còn cách Béc-lin tám chục ki-lô-mét.

        Ngày 23 tháng 2 năm 1945 tàn quân Đức trong thành Pô-dơ-nan đầu hàng. Tướng Đức Cô-nen tư lệnh cụm quân này đã ra lệnh đình chỉ kháng cự và ngừng bắn. Đoàn tù bỉnh Đức gồm hàng nghìn tên kéo dài suốt con đường chính trong thành phố. Viên tư lệnh thành Pô-dơ-nan, thiếu tướng Mác-ten-nô đi đầu đội quân tù binh mỏi mệt, ủ rũ, đói khát trong những chiếc áo lính màu xanh lá cây.

        Ngày thứ tư, 7 tháng 3 trên quảng trường Hội chợ bộ đội Ba Lan đi duyệt binh trước tòa nhà thị chính.

        Lễ đài trang trí toàn mầu xanh. Đi đầu là đội danh dự mang lá cờ và biểu tượng của tòa thị chính thành phố vẫn còn cất giữ được. Hai hàng phụ nữ danh dự tay đeo băng màu cờ đỏ - trắng Ba Lan đi hai bên ngọn cờ thành phố. Bộ binh đầu đội mũ sắt, súng cắm lê ba cạnh của Liên Xô và trên cắm quốc kỳ nhỏ Ba Lan. Sau đấy là một đơn vị nhỏ trang bị vũ khí chống tăng diễu qua lễ đài.

        Một phụ nữ Ba Lan tay giơ cao bó hoa tươi, lách qua đám đông chạy đến trao tặng viên chỉ huy đơn vị bộ đội Ba Lan. Đơn vị súng tiểu liên, lưng quàng các băng đạn, súng cũng cắm những lá cờ nhỏ. Cuối hàng là các chiến sĩ cứu thương.

        Rồi tiếp theo là các đơn vị tiểu liên, từng khối, sáu hàng lần lượt diễu qua. Các chỉ huy đi đầu, tay cầm hoa và cuối cùng vẫn là các chiến sĩ cứu thương. Lại một đơn vị nữ chiến sĩ tiểu liên nữa tiến qua lễ đài. Đến lượt các đơn vị kỵ binh- trên bờm ngựa đều đính băng quốc huy hình con đại bàng và cờ Ba Lan hai màu. Cuối cùng đến lượt các khối nhân dân với các phiên hiệu cờ khác nhau tiến về lễ đài. Dàn nhạc quần chung hòa với dàn nhạc quân đội tiến đến đây rồi dừng lại cạnh lễ đài. Cờ đỏ Xô-viết quyện vào với cờ đỏ - trắng Ba Lan trên khắp quảng trường.

        -Quân đội tướng Tréc-vôn muôn năm!

        -Muôn năm! - Từ lễ đài vang lên tiếng hô hòa theo.

        Chung quanh quảng trường và dọc đường diễu binh người lớn, trẻ em đều bám, trèo lên các cột điện thoại, thân cây và ngay cả trên hàng rào nhà thờ.

        -Hoan hô các chiến sĩ giải phóng Pô-dơ-nan!

        , Người ta tung mũ lên cao chào mừng, từng bó hoa đỏ thắm, hoặc vàng rực màu da cam thi nhau bay ào vào các chiến sĩ.

        Tổng tư lệnh quân đội giải phóng Ba Lan, tướng Rô-li-an Gi-méc-xki đứng trên đài danh dự trước lễ đài đón chào đoàn quân duyệt binh. Nét mặt ông không giấu nổi vẻ cảm động, ở tay trái ông cầm bó hoa lớn hơi nâng trên vai áo. Tướng Coóc-xít, người cao, gầy, tổng tham mưu trưởng đứng bên cạnh. Một lá cờ hai màu đỏ - đen thẫm, lá cờ của đảng công nhân Ba Lan do một một,ông già đeo kính đang giơ cao trên đầu tiến vào quảng trường. Một thanh niên đứng chờ cạnh lễ đài liền tiến đến trước máy phóng thanh đọc bản báo cáo thành tích của đoàn biểu tình này trong tiếng quốc ca vang dội.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 12620


« Trả lời #9 vào lúc: 23 Tháng Năm, 2017, 11:38:44 PM »


        Cuối cùng là sáu chiếc xe tăng diễu qua lễ đài, tiếng xích rịn rít nghiến trên mặt đường. Khi tiếng xe tăng vừa ngớt bỗng đám dông có tiếng reo vui mừng làm mọi người chú ý: "Đàn chim sếu kìa! Sếu đã về!".

        Mọi người bỏ mũ ngang nhìn lên bầu trời đã quang mây, dõi theo bóng đàn sếu đang chậm chạp bay thành hình mũi tên từ phía Nam thành phố về. Mùa xuân đã đến!

        Và khi những người tụ tập ở nhà thờ đã giải tán, người ta thấy sau hàng rào hiện rõ lên những nấm mồ của những người chiến sĩ Xô-viết anh em xếp hàng lặng lẽ. "Ở đây yên nghĩ thiếu tá Xu-đi-lốp-xki I-van Phô-inít, sinh năm 1923, người chiến sĩ vinh quang, được thưởng năm huân chương, đã hy sinh anh dũng trong cuộc chiến đấu chiếm ngọn đồi thành phố bị quân phát xít Đức chiếm  đóng. Pô-dơ-nan ngày 15-02-1945. Vinh quang đời đời thuộc về người anh hùng giải phóng!".

        Dù lúc đó là đêm tối đày đặc hay trong buổi sáng sương mù, dù là ngoài trời nắng ấm hay mây mù che phủ, bất cứ ở đâu, lúc trên đường phố ồn ào của thành phố xa lạ hay trong cánh rừng êm ả hoặc trên bình nguyên sông Ô-đe, khi các chiến sĩ chúng ta đang vui sướng nghỉ ngơi giữa hai trận đánh có lẽ chúng ta thường chỉ nghe thấy những câu nói đùa, những nguyện vọng, ước mơ, về cuộc sống hòa bình, về những công việc cần làm khi trở về nhà sau chiến thắng.

        Mùa xuân năm bốn lăm đến với trái đất cùng tin vui vang dội về cuộc chiến tranh sắp kết thúc. Những đống tuyết dần tan, những hồ nước cuộn chảy, những thân cây đen sẫm đều như có một sức mạnh cuốn hút cuộc sống.

        Thế nhưng trước mặt vẫn là những trận chiến đấu ác liệt. Nhất định sẽ có những người đi được đến thắng lợi cuối cùng và cũng chẳng tránh được khi có những người nào đó sẽ ngã xuống trong khói lửa của những trận đánh khốc liệt này.

        Chúng tôi đã ở lại pô-dư-nan hơn hai tháng và đã tận mắt chứng kiến sự thay đổi của thành phố từ ngày này sang ngày khác. Trước hết, thành phố đã khoác bộ áo mùa xuân. Điều này có vẻ như là việc bình thường của thiên nhiên, nhưng có lẽ nhiều ngưởi trong chúng ta còn nhớ mùa xuân đầy phấn chấn của năm bốn lăm ở phía Tây với những làn gió nhẹ thổi mang theo hơi thở từ những cánh đồng đang thức dậy cùng với người nông dân Ba Lan tự do, với màu xanh êm dịu và niềm hy vọng mới, mùa xuân hòa bình và lao động.   

        Thành phố đưực khôi phục nhanh chóng. Nó đã sống lại tuv còn khắc khổ nhưng đã mang sức sống mùa xuân. Trên các bức tường nhà dân đã thấy những giàn dáo với thợ xây và người quét vôi. Xe đạp chạy ngược xuôi đây đó. Sáng sáng học sinh đã vội vã đến trường cho kịp tiếng chuông vào lớp. Bất cứ gặp một em nào trong số chúng, chúng tôi cũng đều được nghe tiếng chào thân thiết: "Chào cô trung úy!".

        Tôi sống trong tầng ba ngôi nhà của ông bà Bu-gin-xki, người Ba Lan.

        Ngay từ sáng sớm, chủ gia đình, ông Xtê-phan Bu-gin-xki đã thức dậy, mặc chiếc quần thợ đã chật, khoác chiếc áo blu-dông bảo hộ lao động đi đến xưởng sửa chữa toa xe. Vợ ông, bà Vích-tô-ri-a, nghề chính là thợ may nhưng giờ đây lại làm công việc của người đưa hàng thực phẩm. Ở tầng một là các cô gái điều khiển giao thông và phục vụ sinh hoạt của đơn vị chúng tôi. Trong mùa xuân này họ là những người đang đứng ở khắp các nẻo đường châu Âu nên vẻ bề ngoài đòi hỏi phải thật nghiêm trang, gọn gàng. Do đó suốt từ sáng đến tối bà chủ nhà Vích-tô-ri-a cứ bị các cô gái quấy rầy, nũng nịu.

        Công việc nội trợ trong nhà chủ yếu do cô con gái lớn An-ca đảm nhiệm. Cô khả đẹp, cử chỉ chậm chạp và hay suy tư. Cậu con trai bà Vích-tô-ri-a đang ở tuổi thành niên, được mẹ rất chiều, trước đây đã từng học ở trường nhạc, chơi đàn vĩ cầm. Trước chiến tranh, một bà giáo ở nhạc viện nhận ra bài tập cho cậu bé và để đổi lại, bà Vích-tô-ri-a đã đến dọn dẹp nhà cửa, giặt giũ quần áo cho bà giáo. Trong những năm bị chiếm đóng cậu bé chỉ dám tập vụng vì cảnh sát Đức cấm đàn.

        Bà chủ nhà thường tâm sự với tôi, bà rất hy vọng giờ đây con trai bà sẽ được nhận tiếp vào trường nhạc.

        Tập đoàn quân xung kích sổ 3 của thượng tướng Cu-dơ-nép-xốp là đơn vị đầu tiên tiến công Béc-lin bằng những trận đánh tiếp cận trên đường phố Đông-Bắc ngoại ô. Chúng tôi rất sốt ruột chờ lệnh rời khỏi Pô-dơ-nan trở về với đơn vị lớn.

        Trong những ngày này tôi thường mơ máy thu thanh nghe đài phát thanh Béc-lin. Lần này tôi mở đúng lúc giọng nữ phát thanh viên đang kêu gọi lòng trung thành với Tổ quốc, và sau đấy là đội đồng ca trẻ - chủng hát bài "Chúng ta không bao giờ được quên..." Và, bỗng nhiên đài ngừng bặt im lặng hồi lâu kéo dài. Chờ mãi cuối cùng rồi một giọng nam nghiêm trang và hồi hộp cất lên: "Gửi các đơn vị bộ đội Béc-lin, toàn thể nhân dân Béc-lin! Văn phòng quốc trưởng thông báo: quốc trưởng vẫn luôn luôn có mặt ở Béc-lin. Người đang trực tiếp chỉ huy các đơn vị chiến đấu bảo vệ Béc-lin".
Logged

Trang: 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM