Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 20 Tháng Mười Một, 2017, 08:20:09 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam  (Đọc 4530 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 13510


« vào lúc: 13 Tháng Năm, 2017, 05:16:18 AM »

         
        - Tên sách: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam
        - Tác giả: Đặng Phong
        - Số hóa: Ptlinh


       
MỤC LỤC
       
        Chương I: Những ý đồ của Mỹ ở Việt Nam
         
                1. Những lợi ích kinh tế trực tiếp
         
                2. Vì lợi ích chiến lược của Mỹ trên trường quốc tế
         
        Chương II: Quá trình xâm nhập của Mỹ và các giai đoạn của viện trợ Mỹ
         
                1. Trước Đại chiến thế giới thứ hai
         
                2. Trong Đại chiến thế giới thứ II
         
                3. Thời kỳ 1945-1954
         
                4. Thời kỳ 1954-1960
         
                5. Thời kỳ 1961-1964
         
                6. Thời kỳ 1965-1969
         
                7. Thời kỳ 1969-1975
         
                8. Nhìn lại quá trình xâm nhập của Mỹ vào miền Nam Việt Nam
         
        Chương III: Số lượng viện trợ-Những nhận xét sơ bộ
         
        Chương IV: Cơ chế và các hình thức viện trợ Mỹ

         
                1. Viện trợ quân sự trực tiếp
         
                2. Viện trợ thương mại hóa
         
                3. Viện trợ theo dự án
         
                4. Viện trợ nông phẩm
         
                5. Viện trợ cho vay
         
        Chương V: Chi phí trực tiếp của Mỹ
         
                1. Chí phí trực tiếp cho chiến tranh
         
               2. Đồ phế thải của quân đội Mỹ
         
                3. Đổi đôla đỏ lấy bạc Sài Gòn
         
                4.Chi tiêu bằng tiền mặt của Mỹ ở Nam Việt Nam
         
                5. Hàng PX
         
        Thay kết luận
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 13510


« Trả lời #1 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2017, 09:00:49 PM »

         
Chương I

NHỮNG Ý ĐỒ CỦA MỸ Ở VIỆT NAM
         
        Theo các con số thống kê chính thức của Mỹ, thì trong 21 năm (từ năm 1954 đến 1975), Mỹ đã viện trợ cho Nam Việt Nam hơn 26 tỷ đô la. Nhưng ngoài số tiền viện trợ cho ngụy quân và ngụy quyền, Mỹ đã trực tiếp đưa cả quân đội, các bộ máy quân sự, dân sự vào miền Nam. Nếu tính tất cả các loại chi phí, trong hơn 20 năm đó, Mỹ đã bỏ vào ViệtNam khoảng hơn 160 tỷ đô la.
         
        Hầu như chưa có nơi nào trên thế giới mà Mỹ phải bỏ ra nhiều tiền của và nhiều người như thế.
         
        Mỹ nhằm mục đích gì ở đây?
         
        Đó là một trong những vấn đề then chốt để hiểu được bản chất của viện trợ Mỹ, ý nghĩa, tác dụng và hậu quả của nó.
       
        I. NHỮNG LỢI ÍCH KINH TẾ TRỰC TIẾP
         
        Trong suốt quá trình dính líu ở Việt Nam và ngay cả trước quá trình đó, tư bản Mỹ đã quan tâm đến những nguồn lợi ở Việt Nam: các tài nguyên, nhất là khoáng sản, các sản phẩm chiến lược, nhất là lúa gạo và cao su, những nguồn cung cấp nhân công, thị trường đầu tư và thị trường tiêu thụ hàng hóa v.v…
         
        Từ lâu, tài nguyên của Đông Dương đã được báo chí và các chính khách Mỹ nhắc tới.
         
        Năm 1950, tờ New York Times viết: “Đông Dương là một miếng mồi đáng cho chúng ta đánh một ván bài lớn. Nó có thể xuất khẩu thiếc, tungstène, manganèse, than đá, gỗ, gạo, cao su, dừa, hạt tiêu và da thuộc. Cho đến trước chiến tranh thế giới lần thứ hai II, lợi tức thu được ở Đông Dương đã tới khoảng 300 triệu đô la hàng năm” (New YorkTimes, Xã luận, ngày 12-2-1950).
         
        Tổng thống Eisenhower trong diễn văn đọc ngày 4-8-1953 tại Seatlenói: “Nếu chúng ta mất Đông Dương thì khối lượng thiếc và tungstène mà chúng ta đánh giá rất cao sẽ không còn thuộc về tay chúng ta nữa. Chúng ta đang tìm cách nào rẻ tiền nhất để ngăn chặn điều bất hạnh có thể xảy đến, đó là việc mất khả năng lấy được những thứ gì chúng ta muốn lấy từ số tài nguyên giàu có của Đông Dương và Đông Nam Á” (“Nghiên cứu lịch sử” Hà Nội, số 124).
         
        Ở đây, có một điểm đáng lưu ý:
         
        -Trong số các tài nguyên và sản phẩm của Đông Dương có những thứ đối với nền công nghiệp hoặc thị trường nội địa của Mỹ, không phải là cần thiết trực tiếp, hoặc không cần tới mức gay gắt như vậy. Nhưng đối với lợi ích toàn cầu của Mỹ, thì đó là những thứ cần phải nắm lấy để chi phối thị trường thế giới (trường hợp gạo, cao su, than đá và gần đây là dầu lửa).
         
        Tờ New York Times số ra ngày 21-10-1962 nói về điều này: “Sự buôn bán và các sản phẩm của Đông Nam Á không phải là cần thiết đối với nền kinh tế Mỹ, nhưng lại là rất quan trọng đối với chúng ta và các đồng minh của chúng ta”.
       
        Cũng vì thế ngay từ trước khi xâm lược Việt Nam, Mỹ đã thông qua con đường thương nghiệp để nắm lấy nhiều sản phẩm quan trọng của Đông Dương. Lúc đó, Mỹ chưa mua nhiều thóc gạo, vì thóc gạo chưa quan trọng chiến lược như sau này. Nhưng cao su thì ngay từ trước đại chiến thế giớ thứ II Mỹ đã mua khá nhiều. Từ năm 1930 đến 1939, Mỹ đã mua 39% tổng số cao su xuất khẩu của Đông Dương. Thời kỳ từ 1946 đến 1950 cao su chiếm 98% giá trị hàng hàng hóa của Đông Dương bán cho Mỹ (Henry Lauque, Activités économiqués americanes. Cahiers Internationaux, No-5-1942).
         
        Có thể thấy rõ những tham vọng đó qua các “dự án phát triển” của các cơ quan nghiên cứu Mỹ về triển vọng của nền kinh tế Việt Nam khi chiến tranh chấm dứt (trong các dự án đó, sự chấm dứt chiến tranh phải được giả định là Mỹ thắng). Trong tất cả các dự án đó, điểm được chú ý nhất là: khả năng xuất khẩu, mà đứng đầu là lúa gạo, cao su, gỗ,hải sản và dầu hỏa.
         
        -Theo con số của nhóm nghiên cứu do Lilienthal phụ trách (công bố vào tháng 12 năm 1970) thì tổng mức xuất khẩu của Nam Việt Nam đến năm 1980 vào khoảng 425 triệu đô la hàng năm (Trích trong báo cáo của D.M.Donald, Giám đốc Phái bộ viện trợ Mỹ ở Sài Gòn (USAID)về tình hình Nam Việt Nam trước Ủy ban Đối ngoại Thượng nghị viện Mỹ ngày 17-3-1970. Tin tức của USIS, Washington, ngày 17-3-1970).
         
        Các tác giả của dự án trên cũng còn tính đến khoảng 1985, mỗi năm miền Nam Việt Nam sẽ xuất cảng tới 1 tỷ đô la dầu hỏa.
         
        Đầu tư là sự khai thác ở trình độ cao. Trong các dự án phát triển kinh tế của Nam Việt Nam, các cơ quan điều tra và nghiên cứu của Mỹ dự kiến khả năng thu hồi vốn đầu tư rất nhanh chóng. Có thể nêu một thí dụ: Kế hoạch sông Mê Công. Riêng về thủy điện, kế hoạch dự tính xây dựng cơ bản 1.300 triệu đô la. Nếu được hoàn thành, mỗi năm sẽ lãi 300 triệu đô la. Rồi nhờ có điện, chỉ riêng đẩy mạnh khai khoáng hàng năm cũng thu lợi nhuận khoảng 300 triệu đô la nữa. Vì vậy, Mỹ đã ”tự nguyện” đóng góp 1 tỷ đô la cho kế hoạch này.
         
        Để nắm độc quyền đầu tư, ngay từ năm 1961 Mỹ đã yêu cầu Ngô Đình Diệm ký bản cam kết ưu đãi đầu tư của Mỹ, gọi là “Hiệp ước thân hữu và liên lạc kinh tế Việt-Mỹ”. Trong Hiệp ước này, Diệm bảo đảm cho tư bản đầu tư của Mỹ được thuận lợi trong mọi ngành kinh tế, về mọi mặt - trong việc mua đất đai, nguyên liệu, sử dụng các phương tiện công ích, thuê nhân công, chuyển lãi hàng năm về nước, có hiệp đồng tiêu thụ các sản phẩm sản xuất ra, hứa sẽ không quốc hữu hóa trong một thời gian dài (tùy từng nghành, có ngành thì thời gian đó được đảm bảo tới 99 năm)…
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 13510


« Trả lời #2 vào lúc: 15 Tháng Năm, 2017, 05:09:55 AM »

         
        Như vậy, tuy Mỹ chưa thực hiện, hoặc mới thực hiện đầu tư nhỏ giọt, song đó chính là một trong những mục tiêu mà Mỹ đã nhằm và đã chuẩn bị.
         
        Mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa. Tham vọng này không chỉ nhằm vào viễn cảnh. Nó đã được thực hiện từ lâu. Ngay từ trước chiến tranh thế giới thứ II, tỷ lệ hàng hóa Mỹ trong tổng ngạch nhập khẩu của Đông Dương đã đạt tới mức cao: Trong thời kỳ 1930-1939: bông 27%, sản phẩm dầu lửa 19,1%, máy móc 17,5%, ô tô và phụ tùng13,4%. Trong thời kỳ 1946-1950; bông, 9,3%, sản phẩm dầu lửa7,7%, kim khí 4,9%, máy móc 19,3%, ô tô và phụ tùng 10%, sợi và hàng dệt 13,6%, thuốc lá 7,1%.
         
        Trong thời kỳ tiến hành chiến tranh, việc tiêu thụ hàng hóa không những không gặp khó khăn, mà lại có thêm điều kiện để mở rộng. Số viện trợ hàng chục tỷ đô la và toàn bộ số phí tổn hàng trăm tỷ đô la, suy cho cùng, cũng là sự tiêu thụ một khối lượng hàng hóa khổng lồ.
         
        Chiến tranh xâm lược đã dẫn đến một hiện tượng lạ lùng: hình như cái đất nước nhỏ bé và nghèo nàn này bỗng nhiên “tiêu xài” tới vài chục tỷ đô la mỗi năm; Nếu tính theo đầu người thì mỗi người dân Việt Nam mỗi năm tiêu xài gần hai ngàn đô la của Mỹ!
         
        Nhưng theo chính sự tính toán của các cơ quan nghiên cứu Mỹ, thì thu nhập thực tế của mỗi người dân Việt Nam chỉ vào khoảng trên dưới trăm đô la.
         
        Vậy, nói đúng ra, trong số hàng trăm tỷ đô la hàng hóa mà Mỹ đổ vào đất nước này, chỉ có một phần rất nhỏ là những thứ hữu ích cho con người. Còn phần lớn là những hàng hóa để giết người và tàn phá(Năm 1968, số viện trợ kinh tế cho Nam Việt Nam là 536 triệu đô la, số đơn đặt hàng của các công ty sản xuất vũ khí cho chiến tranh Việt Namlà 8,4 tỷ đô la. Năm 1969, số viện trợ kinh tế là 413 triệu đô la, số đơn đặt hàng vũ khí cho chiến tranh Việt Nam là 7,4 tỷ đô la. Tin của AP.Washington ngày 19-4-1969).
         
        Như vậy, phần lớn những khoản gọi là chi phí cho Việt Nam, thực ra,lại là chi phí cho nước Mỹ. Phần lớn cái gọi là viện trợ cho Việt Nam,thực ra, lại vào túi tư bản Mỹ. Điều này báo chí Mỹ cũng đã nói rõ. Tờ U.S.News and World report ngày 6-8-1962 viết: “Trong 6,1 tỷ đô la ngoại trợ trong tài khoản 1960-1961, có 4,8 (80%) tỷ được chi ngay ở Mỹ. Sơ dĩ như vậy vì 90% ngân khoản viện trợ quân sự đã ở lại nướcMỹ. Nếu không có viện trợ, xuất cảng của Mỹ sẽ tụt 12%, nông phẩm thừa sẽ tăng lên đáng sợ. Vậy ngoại viện thực ra lại là sự trợ cấp cho nền kinh tế Mỹ”.
         
        Ta biết, phần lớn viện trợ và các chi phí của Mỹ là lấy từ ngân sách.Ngân sách là tiền đóng góp của nhân dân Mỹ, thông qua thuế. Nhưng Mỹ hầu như không đem thẳng tiền mặt cấp cho một nước nào cả. Viện trợ hay chi phí đều bằng hàng hóa, chủ yếu là hàng hóa Mỹ, mua của các công ty Mỹ. Như vậy, viện trợ và chi phí chiến tranh chỉ là cơ hội để lấy tiền trong túi nhân dân Mỹ bỏ vào túi các nhà tư bản Mỹ, mà ngân sách là guồng máy thực hiện sự phân phối lại đó. Nguyên Chủ tịch Ngân hàng thế giới Eugener R.Black phân tích như sau:
         
         “Chương trình ngoại viện của ta rất có lợi cho các xí nghiệp tư nhân Mỹ. Có ba nguồn lợi chính:
         
        a.Ngoại viện tạo ra thị trường vững vàng và trực tiếp cho những hàng hóa và dịch vụ của Mỹ.
         
        b.Ngoại viện khuyến khích sự phát triển thị trường mới ở hải ngoại của các công ty Mỹ.
         
        c.Ngoại viện hướng nền kinh tế các nước nhận viện trợ vào một hệ thống tự do kinh doanh mà nhờ đó các công ty Mỹ có thể làm giàu” (Columbia Journal of World Business: Autumne, 1965).
         
        Khi nói về những quyền lợi kinh tế trực tiếp mà Mỹ muốn tìm kiếm ở Việt Nam, có một điểm đáng lưu ý: trong hơn 20 năm dính líu vào ViệtNam, số của cải mà Mỹ đã bỏ vào lớn hơn nhiều so với số đã lấy được.Đó là điều nằm ngoài ý muốn của Mỹ.
         
        Một là, cho đến tận 30-4 năm 1975, Mỹ vẫn chưa kết thúc được giai đoạn xâm nhập và bình định, là giai đoạn mà số phí tổn để chuẩn bị khai thác thường phải lớn hơn số của cải đã khai thác được.
         
        Hai là, con số quyết toán cuối cùng những phí tổn của Mỹ ở ViệtNam là con số vượt quá xa dự kiến ban đầu. Năm 1972, khi trả lời phỏng vấn của một tờ báo, rằng “cuộc chiến tranh Việt Nam có xứng đáng với cái giá phải trả về sinh mạng và của cải của Mỹ không?”,Tướng Tylor trả lời: “Chắc chắn là cuộc chiến tranh này đã tốn kém hơn rất nhiều, nếu ta tính đến những tổn thất cụ thể đếm được so với những gì cụ thể mà ta thu lợi được” (The Americanin New and World12-6-1972). Hầu hết các chính khách, các nhà quân sự, các nhà kinh tế và giới kinh doanh Mỹ, khi tham gia hoặc tán thành việc can thiệp vàoViệt Nam đều không ngờ rằng những ý đồ của họ được thực hiện chậm trễ và tốn kém đến thế. Nếu như lúc nào, có ai trong họ giác ngộ được điều đó và muốn rút lui, thì người kế tiếp cũng kế tiếp cả sự tính toán chủ quan mà người đi trước đã muốn chấm dứt. Một trong những khía cạnh chua chát nhất trong sự dính líu của Mỹ ở Việt Nam là: Mỹ đã tính sai liên tiếp, mà những người tỉnh ngộ muốn đi tới con đường đúng đắn thì lại liên tiếp bị đào thải.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 13510


« Trả lời #3 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2017, 04:54:33 AM »

       
        II. VÌ LỢI ÍCH CHIẾN LƯỢC CỦA MỸ TRÊN TRƯỜNG QUỐC TẾ
         
        Quả là Mỹ muốn khai thác những món lợi ở Việt Nam. Nhưng đó không phải là động cơ lớn nhất chi phối những hành động của Mỹ ở đây. Lúa gạo, cao su, các khoáng sản… có thể là những sự hấp dẫn ban đầu. Càng vào sâu bao nhiêu lại càng thấy việc khai thác khó khăn bấy nhiêu.
         
        Nhưng Mỹ không rút lui, cũng không dừng lại. Cái logic cay nghiệt đối với Mỹ là: vì tham vọng của Mỹ bị ngăn chặn, cho nên sức mạnh và uy tín của Mỹ bị đặt trước một sự thách thức.
         
        Như vậy, khi việc khai thác của cải càng gặp khó khăn, thì lại nẩy sinh một động cơ khác, một sự hấp dẫn khác - phải giữ lấy “uy tín” của Mỹ, không phải chỉ ở Việt Nam mà còn thông qua Việt Nam để giữ lấy “uy tín” của Mỹ trên thế giới. Động cơ này bản thân nó đã rất lớn. Trong quá trình xâm lược, trong quá trình thất bại liên tiếp, động cơ đó càng ngày lớn hơn lên và càng có sức lôi kéo mạnh mẽ đối với ý chí của Mỹ.Sức lôi kéo đó dần dần trở nên mạnh hơn sức lôi kéo của những vựa lúa, những rừng cao su, những bể dầu ở Nam bộ…
         
        Nếu chỉ vì những món lợi trực tiếp, thì những khó khăn và thất bại có thể làm chi giới chính khách Mỹ phải tính toán lại và dừng bước.
         
        Nhưng nếu là để cứu vãn uy tín của một cường quốc bá chủ thế giới, thì càng thất bại, cái động cơ đó càng mạnh hơn, càng lôi kéo Mỹ sa lầy lâu hơn. Chỉ đến khi nào dùng hết sức mạnh có thể dùng đến, thi hành tất cả những thủ đoạn có thể thi hành, và không còn cách nào cứu vãn nổi thất bại nữa, thì Mỹ mới đành rút lui.
         
        Các chính khách Mỹ đã tự nói lên điều day dứt của họ trong nhiều thập kỷ:
         
         “Thực tế, việc mất Đông Dương tạo ra nguy cơ gây nên một phảnứng dây chuyền có thể đưa tới sự sụp đổ của toàn thể khu vực” (phát biểu của Eisenhower tháng 2 năm 1950) (Trích theo P.DeilersJ.Laconture. La fin d’une guèrre. Ed du Seuil.P.1960.103)
         
         “Nước Mỹ bỏ ra 400 triệu đô la cho cuộc chiến tranh này không phải để vứt đi. Chúng ta đã chọn biện pháp rẻ nhất để ngăn chặn sự biến đổi có thể mang lại những hậu quả khủng khiếp cho nước Mỹ, cho sự an toàn của chúng ta…” (phát biểu của Eisenhower tháng 9 năm 1950)(Humannité 15-2-1950).
         
         “Nếu chúng ta mất Đông Dương thì chúng ta sẽ mất cả châu Á và chỉ còn là vấn đề thời gian để đi tới mất phần còn lại của thế giới” (phát biểu tại Quốc hội Mỹ đầu 1954 của Symilton thượng nghị sĩ bang Cleveland) (The Pentagon’ Papers (Tài liệu mật của Lầu NămGóc).Ek.Bantm, New York, 1971).
         
         “Nếu người Pháp không thắng được trong cuộc chiến tranh này thì vị trí chiến lược toàn cầu của chúng tôi cũng như của các ngài có thể sẽ trở thành thảm họa” (Thư của Eisenhower gửi thủ tướng Anh Churchillngày 4-4-1954, yêu cầu Anh nhúng tay vào Đông Dương).
         
         “Mỹ phải giữ lấy miền Nam Việt Nam, y như đã giữ ở Nam Triều Tiên và Đài Loan. Ba vùng đó có một tầm quan trọng quyết định đến vị trí của Mỹ ở Đông Nam Á” (Phát biểu của J.Dulles trước Ủy ban đối ngoại thượng nghị viện Mỹ ngày 30-4-1956).
         
         “Việt Nam đang giới thiệu một sự thí nghiệm về trách nhiệm và quyết tâm của người Mỹ ở châu Á. Nếu như lúc này chúng ta chưa hẳn là cha đẻ của nước Việt Nam nhỏ bé này, thì sau này chắc chắn là chúng ta sẽ là bậc cha mẹ đỡ đầu của nước Việt Nam đó. Chúng ta đã chi phối sự khai sinh ra nó. Chúng ta đã trợ giúp cho cuộc sống của nó… Trong khi ảnh hưởng của Pháp trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế và quân sự suy sụp ở Việt Nam, thì ảnh hưởng của Mỹ phát triển một cách vững vàng. Đó là sản phẩm của chúng ta. Chúng ta không thể bỏ rơi nó. Nước Mỹ nhất định sẽ gánh lấy trách nhiệm. Uy danh của chúng ta nhất định sẽ nâng lên một bước mới” (Lời phát biểu tại Quốc hội Mỹ năm 1956 của John Kennedy, khi đó mới là thượng nghị sĩ, sau này là Tổng thống Mỹ) (Frank N.Trager. Why Vietnam, New York Praeger1960,p.112).
         
         “Không thể cắt giảm thật nhiều viện trợ được, trừ khi Mỹ muốn rút khỏi Đông Nam Á và để cho vùng này rơi vào tay cộng sản. Một hành động như vậy dứt khoát không phù hợp với quyền lợi của Mỹ… Chúng tôi cũng muốn giảm bớt gánh nặng lắm chứ. Nhưng trước mắt, không thấy có hy vọng nào như vậy cả” (trả lời của J.Kennedy, Tổng thống Mỹ đối với đề nghị của phái bộ Mansfield về việc cắt giảm viện trợ cho Nam Việt Nam sau khi phái bộ này đi khảo sát ở Nam Việt Nam về, hồi đầu 1963) (Tin tham khảo, ngày 7-3-1963).
         
         “Phải thi hành tất cả mọi biện pháp nhằm ngăn chặn không cho cộng sản thắng lợi” (Tuyên bố của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mc.Namara.Tháng 3-1962) (Tin do hãng UPI đưa ngày 11-3-1963).
         
         “Mất Việt Nam sẽ làm cho các nước còn lại ở Đông Nam Á đứng trước nguy cơ tiêu vong… Có nhiều lý do rộng lớn chỉ rõ tại sao việc bảo vệ Nam Việt Nam là điều sống còn đối với chúng ta và đối với cả thế giới tự do” (Phát biểu của Dean Ruck, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ, tại câu lạc bộ kinh tế New York ngày 21 tháng 4 năm 1963) (AP, ngày 22-4-1963).
         
         “Tôi không muốn chứng kiến cái phòng tuyến đó bị bẻ gãy, để cho tất cả Đông Nam Á bị phơi lưng ra” (trả lời của Thượng nghị sĩ Mỹ Dirksen trong cuộc tranh luận với Fulbrigt tại Quốc hội Mỹ 1967)(International Herald Tribune số 7 và 8-10-1967).
         
         “Nếu Hạ nghị viện biểu quyết ngừng viện trợ cho Nam Việt Nam trong một năm thì gây ra một thảm họa đối với nền an ninh của bản thân nước Mỹ và sẽ đẻ ra nhiều vấn đề mới đối với toàn thế giới” (Điều trần của T.E.Morgan, Chủ tịch Ủy ban đối ngoại Hạ nghị viện Mỹ, tháng 7-1968) (Theo tin của hãng Reuter Washington, ngày 16-7-1968).
         
         “Nam Việt Nam là một khâu then chốt trong cuộc chiến đấu giữa chủ nghĩa cộng sản và thế giới tự do. Kết quả của cuộc chiến đấu ở ViệtNam sẽ ảnh hưởng lớn đến diễn biến tình hình sau này ở châu Mỹ La tinh, châu Phi và cả châu Âu nữa” (Nixon) (The Pentagon’ Papers đãdẫn).
         
         “Trong ba mươi năm cuối cùng của thế kỷ 20, không phải châu Âu và châu Mỹ La tinh, mà chính là châu Á sẽ gây nên một nguy cơ lớn nhất của một sự đụng độ có thể leo thang dẫn đến chiến tranh thế giới thứ ba” (Nixon) (Châu Á sau Việt Nam).
         
        Những đoạn trích dẫn trên giúp ta vừa hiểu rõ ý đồ của Mỹ ở ViệtNam, vừa giải thích sự dính líu chặt chẽ, lâu dài và tốn kém chưa từngthấy của Mỹ trong hơn 20 năm ở Việt Nam.
         
        Bây giờ, hãy đi vào xem xét những tư tưởng đó được thực hiện trongcác giai đoạn lịch sử cụ thể như thế nào.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 13510


« Trả lời #4 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2017, 02:03:54 AM »

       
Chương II
 
QUÁ TRÌNH XÂM NHẬP CỦA MỸ VÀ CÁC GIAI ĐOẠN CỦA VIỆN TRỢ MỸ

        I. TRƯỚC ĐẠI CHIẾN THẾ GIỚI THỨ HAI
         
        Từ đầu thế kỷ XX, người dân Đông Dương bắt đầu biết đến Mỹ qua một số sản phẩm do các tầu buôn Mỹ đem tới bán, trong đó thứ được chú ý nhất là dầu hỏa dùng để thắp đèn. Để giúp dân có thể thắp đèn bằng dầu hỏa, Công ty Caltex Petroleum chế tạo một loại đèn mới, lúc đầu đem biếu không, về sau được bán rẻ kèm dầu hỏa. Cũng vì thế, người Việt Nam gọi chiếc đèn này là “đèn Hoa Kỳ”. Từ đó, mức tiêu thụ của dầu hỏa tăng lên cùng với sự phổ biến nhanh chóng của “đèn Hoa Kỳ”. Công ty Caltex Petroleum bắt đầu đặt những đại lý ở Đông Dương.Đó là những cơ sở đầu tiên của Mỹ ở đây.
         
        Ngoài dầu lửa, Mỹ còn bán cho Đông Dương bông, một số máy móc,và sau đại chiến thế giới thứ hai thì cả ô tô. Nhưng đối với thứ hàng kể trên, Pháp chỉ cho phép Đông Dương nhập khẩu với số lượng hạn chế, không cho Mỹ đặt đại lý.
         
        Trong số những thứ Mỹ mua của Đông Dương, trước hết phải kể đến cao su, thiếc.
         
        Nếu tính bằng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Đông Dương thì phần buôn bán với Mỹ trong thời kỳ 1925-1929 là 2,6%, trong thời kỳ1930-1034 là 2,3%, trong thời kỳ 1935-1939 là 6,6%.
         
        Nếu tính riêng xuất và nhập thì trong thời kỳ giữa hai đại chiến Mỹ chiếm 3,8% nhập cảng, 8,4% xuất cảng của Đông Dương.
         
        Nếu xét riêng một số mặt hàng xuất và nhập chủ yếu, ta có nhữngcon số sau đây: thời kỳ 1935-1939, Mỹ chiếm 27% bông, 19,1% sảnphẩm dầu lửa, 17,5% máy móc, 13,4% ô tô và phụ tùng nhập vào Đông Dương. Cũng thời kỳ đó, Mỹ mua tới 92.000 tấn cao su Đông Dương, bằng 38% tổng số cao su xuất cảng của Đông Dương bán cho Mỹ.

        II. TRONG ĐẠI CHIẾN THẾ GIỚI THỨ II
         
        Tháng 9-1940, Nhật đột nhập vào Lạng Sơn và sau đó xâm nhập toàn Đông Dương. Sau này, giới sử học Mỹ vẫn coi đó là sự kiện đầu tiên thôi thúc sự quan tâm của Mỹ đối với Đông Dương. Mùa xuân năm1941 Cục Hải quân Mỹ gửi một báo cáo đặc biệt về Đông Dương lên Tổng thống Mỹ Roosevelt. Đây có lẽ là tài liệu đầu tiên của Mỹ phản ánh tương đối toàn diện tình hình các mặt về tầm quan trọng chiến lược của Đông Dương đối với Mỹ. Từ đó, chính sách của Mỹ đối với khu vực này có nhiều thay đổi. Như một sử gia Mỹ nhận xét: “Từ cuối năm1940, Mỹ bắt đầu nhận thấy ý nghĩa chiến lược quan trọng của ViệtNam. Và đến đầu năm 1941, trên thực tế, Mỹ đã xem Việt Nam có tầm quan trọng chiến lược lớn đến mức là một cuộc xung đột về quyền lợi với Nhật ở đó đã trở thành nguyên nhận chủ yếu của cuộc chiến tranh giữa hai nước” (Edward Drachman United States Policy Towards VietNam 1940-1945 Cambủy New Jersey, Associated University Press1970.P.62)
         
        Ngày 7-12-1941, Nhật bất ngờ đánh Trân Châu Cảng, trực tiếp lôi cuốn Mỹ vào cuộc chiến. Lúc này, Mỹ thấy cần và có thể loại trừ được thực dân Pháp, nhưng chưa đủ lý do và điều kiện để trực tiếp nhúng tay vào khu vực này. Thời kỳ 1942 và 1945 là thời kỳ Mỹ tìm kiếm một thực lực thứ 3 ở Đông Dương, trong đó không có Pháp. Đã có lúc, Mỹ đề nghị sát nhập Việt Nam vào Trung Hoa, mà Tưởng Giới Thạch là đại diện.Nhưng chính Tưởng cũng phải khước từ đề nghị đó (11/1943) vì thấy quá vô lý với tình hình và khả năng thực tế. Dần dần, Mỹ tìm cách vận động thiết lập sự kiểm soát quốc tế đối với Đông Dương.
         
        Tháng 3-1943, Roosevelt chỉ thị cho Bộ Ngoại giao Mỹ dự thảo về kế hoạch chế độ ủng hộ quốc tế đối với Đông Dương và dựa trên nguyên tắc của Hiến chương Đại Tây Dương để phủ định sự thống trị độc quyềncũ của Pháp.
         
        Tháng 10-1943, tại Hội nghị các nước đồng minh họp tại Maskva, Mỹ đưa ra “Kế hoạch ủy trị quốc tế đối với các nước thuộc địa chưa sẵn sàng giành độc lập”, trong đó có Đông Dương. Kế hoạch này lại đượcMỹ đưa ra một lần nữa tại Hội nghị Teheran (20-11 đến 1-12-1943). Roosevelt đã biện bạch cho kế hoạch đó rằng “Đồng minh đổ máu không phải nhằm khôi phục ách thống trị của Pháp ở Đông Dương”. Chủ trương này dù sao cũng tiến bộ hơn việc duy trì chế độ thuộc địa kiểu cũ. Trong những điều kiện lúc đó, Liên Xô đã tán thành đề nghị này. Anh và Pháp thì phản đối quyết liệt.
         
        Nhưng đến mùa hè năm 1944 thì chính Mỹ lại thay đổi kiến và muốn tự phủ định đề nghị của mình. Tại Hội nghị Đồng minh ở Dumbarton Oaks (tháng 8-1944), Mỹ không còn nhắc đến kế hoạch ủy trị quốc tế đối với Đông Dương nữa. Tình thế lúc này đã đổi khác. Có hai nhân tố trực tiếp để buộc Mỹ phải tính toán lại:
         
        -Chiến tranh sắp kết thúc. Việc đánh bại Nhật Bản không còn xa.Nước Nhật đang nhích vào tầm tay của Mỹ. Chế độ ủy trị quốc tế, là cái có lợi cho Mỹ xâm nhập Đông Dương, thì lúc này lại tạo ra khó khăn và bất lợi cho Mỹ độc chiếm Nhật Bản.
         
        -Trước những thắng lợi của Liên Xô và phong trào giải phóng ở các nước châu Âu, Mỹ thấy cần phải củng cố lại khối liên minh với Anh và Pháp. Việc làm Pháp suy yếu và gây bất hòa với Pháp là việc không có lợi. Nhất là từ tháng 7-1944, khi De Gaulle đã công bố kế hoạch về quyền tự trị của Đông Dương trong Liên hợp Pháp, thì việc Mỹ can thiệp vào Đông Dương không còn thuận lợi như trước nữa.
         
        Tháng 2-1945, Roosevelt công nhận lực lượng chống Nhật của Pháp ở Đông Dương trong hàng ngũ Đồng minh và quyết định ủng hộ lực lượng đó. Cuối tháng 3-1945, những máy bay của Tướng Mỹ Chemeult được lệnh chở vũ khí tiếp tế cho những nhóm kháng chiến của Pháp ở Đông Dương.
         
        Tháng 5-1945, Đức đầu hàng. Tháng 8-1945 đến lượt Nhật đầuhàng. Vấn đề ám ảnh Mỹ từ những năm 1942, 1943, nay lại đặt ra như một thực tế cấp bách: Làm sao ngăn cản Pháp lập lại quyền thống trị ở đây, để Mỹ có một chân ở đó?
         
        Giữa lúc đó thì cách mạng tháng Tám bùng nổ.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 13510


« Trả lời #5 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2017, 03:04:32 AM »


        III. THỜI KỲ 1945-1954
         
        Cách mạng tháng 8-1945 thành công. Bằng nhiều thủ đoạn ngoại giao, Truman đã đưa được quân đội Tưởng Giới Thạch vào Bắc Việt Nam và quân Anh vào Nam Việt Nam, dưới danh nghĩa “Giám sát sự đầu hàng của Nhật”. Thực ra, đây là một ngón đòn rất xảo quyệt củaTruman: vừa quét sạch quân Nhật, vừa không để cho Pháp trở về, vừa muốn dùng quân Anh và quân Tưởng kiềm chế những lực lượng cách mạng trong nước, vừa thông qua hai “đồng minh” này mở đường cho Mỹ xâm nhập Đông Dương.
         
        Hiệp ước 6-3-1946 đã giúp ta đẩy quân Tưởng ra khỏi miền Bắc một cách êm thấm. Pháp trở lại Việt Nam. Đối với Mỹ lúc này, vấn đề là không phải lựa chọn giữa Tưởng Giới Thạch và Pháp nữa, mà là giữa Pháp và chính quyền cách mạng Việt Nam. Đầu năm 1952, Truman triệu tập Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ. Trong quyết nghị của Hội đồng có nói rõ: “Bảo vệ thành công Bắc kỳ là điều quan trọng nhất để giữ cho Đông Nam Á không nằm trong tay các lực lượng cộng sản”.
         
        Mỹ đã giúp Pháp, đứng đằng sau Pháp để tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam.
         
        Ngày 8-5-1950, Truman chính thức quyết định viện trợ cho Pháp trong chiến tranh Đông Dương. Theo các “Tài liệu mật của Lầu Năm Góc”, đó là “bước đầu tiên làm cho nước Mỹ trực tiếp dính líu vào tấn bi kịch đang phát triển ở Nam Việt Nam (The Pentagon’ Papers, đã dẫn,P.130).
         
        Tháng 12-1950, ký với Pháp Hiệp định viện trợ quân sự cho Pháp ở Đông Dương.
         
        Từ sau những hiệp định đó, người Việt Nam nghe nói nhiều đến “Viện trợ Mỹ”, và ngày càng đụng chạm bằng xương bằng thịt với viện trợ Mỹ.
         
        Ở các đô thị do Pháp chiếm đóng, người ta thấy ngày càng nhiều sữa bột Guigoz, bột Ovemanltine, rượu Whisky, thuốc lá Philip, bút máy Parker v.v… Những thứ đó từ các đô thị bắt đầu lan ra các thị trấn nhỏ và các chợ thôn quê.
        Đồng thời, trên bầu trời, xuất hiện những máy bay oanh tạc B24, B26, B29, Spitfire, King-Cobra…
         
        Cũng từ năm 1951, bom napalm bắt đầu được ném xuống Việt Nam. Chợ bắt đầu phải họp ban đêm. Rồi đến các trường học ban đêm…
         
        Trên các ngả đường hành quân của của quân đội Pháp, người ta thấy những xe GMC, chở lính Pháp, mang súng Mỹ.
         
        Đó là những vật gửi tới đầu tiên của viện trợ Mỹ.
         
        Qua mỗi năm, viện trợ Mỹ một tăng lên nhanh chóng. Dần dần, nó trở thành nguồn cung cấp chủ yếu cho chiến tranh của Pháp. Theo tính toán của Pháp, viện trợ Mỹ đã chiếm gần 80% chiến phí của Pháp, tổng cộng khoảng 1.700 triệu đô la. Tất nhiên, trong tổng số 1.700 triệu đô la viện trợ Mỹ đó, tuyệt đại bộ phận là vũ khí và dụng cụ chiến tranh. (Nếu kể từng loại cụ thể, theo “Tài liệu mật của Lầu Năm Góc” thì tính đến ngày 21-1-1954, Mỹ đã viện trợ cho Pháp 1.400 xe tăng và xe bọc thép, 619 máy bay, 390 tàu đổ bộ, 16.000 ôtô, 175.000 súng trường và súng máy, 2.555 triệu viên đạn, trong đó có 15 triệu viên đại bác. Nếu tính theo đầu người dân Việt Nam lúc đó thì cứ 2 người chịu 1 quả đại bác, mỗi người chịu một viên đạn).
         
        Đối với người Việt Nam lúc đó không có vấn đề lựa chọn giữa sữa bột Guigoz hay bom napalm, bút Parker hay đạn rocket. Giữa cuộc kháng chiến chống Pháp đã xuất hiện một khẩu hiệu mới: “Đả đảo can thiệp Mỹ”. Khẩu hiệu đó xuất hiện trên mỗi mảnh tường, trên mỗi cổng làng, trên mỗi vách đá, và ở khắp mọi nơi trong nước Việt Nam kháng chiến.
         
        Về phía Mỹ, vấn đề cũng không chỉ đơn giản là giúp Pháp “ngăn chặn họa cộng sản” ở Đông Dương. Nước cờ mà Mỹ tính phức tạp hơn: giúp Pháp nhưng thắng lợi rơi vào tay Mỹ. Như chính Eisenhower đã nói: Mỹ bỏ đô la vào cuộc chiến tranh này không để tiêu phí. Trong thực tế, khi Mỹ đã trả đến 80% chi phí của cuộc chiến tranh, thì đó không còn là cuộc chiến tranh của Pháp nữa, mà đã là cuộc chiến tranh của Mỹ rồi. Lính Pháp và lính ngụy đánh trận. Nhưng vũ khí của Mỹ, trang bị của Mỹ, lương của Mỹ. Từng bước, Mỹ đã biến cuộc chiến tranh của Pháp thành cuộc chiến tranh của Mỹ, biến người bạn “đồng minh” thành kẻ đánh thuê, xâm lược thuê cho Mỹ.
         
        Cùng với viện trợ, Mỹ thi hành hàng loạt biện pháp nhằm lấn át quyền thống trị của Pháp, ràng buộc quyền bản địa và chuẩn bị trực tiếp nắm lấy nó.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 13510


« Trả lời #6 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2017, 03:05:12 AM »

         
        Với lý do “độc lập”, “bình đẳng”, “giải phóng”, “chống chủ nghĩa thực dân”… Mỹ đã gây áp lực với Pháp, buộc Pháp phải cho lập ra một chính quyền bản xứ. Với Hiệp ước Bảo Đại-Auriel ngày 8-3-1949, Chính quyền bản xứ ra đời. Tuy đây vẫn chỉ gồm những tay sai cũ, song về hình thức dù sao đó cũng là những “chính khách”, những “đại biểu” của một “quốc gia”, có bộ máy chính quyền, có chính phủ, có quốc trưởng,có thủ tướng, có các bộ, có quân đội…
         
        Tháng 5-1950, Chính phủ Pháp bãi bỏ Bộ “Hải ngoại Pháp quốc” và thay bằng Bộ “Các quốc gia liên hiệp”. Các nước Đông Dương nằm trong Liên hiệp Pháp, nhưng được coi là “độc lập”. Trên cơ sở quyền “độc lập” đó, Mỹ có thể liên kết các Hiệp ước thẳng với các quốc gia này.
         
        Tháng 12-1950, theo sự sắp đặt của Mỹ, Năm chính phủ gồm Mỹ, Pháp, bù nhìn Việt, Miên, Lào đã ký “Hiệp định phòng thủ chung Đông Dương”, trong khi khắp Đông Dương không hề có một kẻ ngoại xâm nào ngoài bản thân những kẻ tổ chức ra việc phòng thủ đó.
         
        Về viện trợ Mỹ, khoản 1, điều III của “Hiệp nghị phòng thủ chung” quy định: “Mỗi chính phủ được cấp viện trợ có nhiệm vụ chỉ sử dụng số viện trợ đó vào mục đích phòng thủ Đông Dương”.
         
        Khoản 2, điều I của Hiệp nghị quy định: Mọi chính phủ nhận trang bị, vật liệu và dụng cụ của Mỹ trên cơ sở Hiệp nghị này, tùy khả năng của mình, phải góp phần sản xuất, vận chuyển và cung cấp cho Chính phủ Mỹ những hàng hóa đặt mua, nguyên liệu, nửa chế phẩm mà Mỹ không có hay chưa khai thác được, phải cung cấp cho Chính phủ Mỹ tiền địa phương để chi phí vào những việc có liên quan đến việc thực hiện hiệp nghị này ở Đông Dương”.
         
        Đến tháng 9-1951, Mỹ ký thẳng một hiệp ước tay đôi với chính phủ Bảo Đại, gọi là “Hiệp ước hợp tác kinh tế Việt Mỹ”, nhằm chuyển thẳng một phần viện trợ Mỹ qua tay chính phủ đó và trực tiếp ràng buộc nó vào Mỹ.
         
        Ngoài một số điểm giống như trong “Hiệp nghị phòng thủ chung Đông Dương, Mỹ đã tiến xa hơn nữa trong một số điều khoản của Hiệp ước tay đôi này. Chẳng hạn:
         
        Điều III quy định: “Chính phủ Việt Nam phải cung cấp cho Chính phủ Mỹ các tài liệu chi tiết cần thiết để đảm bảo việc thi hành các quyđịnh của hiệp ước”, “ba tháng báo cáo một lần về việc sử dụng các số tiền, sản phẩm, dịch vụ nhận được”…
         
        Điều IV quy định: “Mỹ đưa vào Việt Nam một “Phái đoàn kinh tế và kỹ thuật đặc biệt” để đảm bảo chấp hành những trách nhiệm của Chínhphủ Mỹ. Chính phủ Việt Nam để cho phái đoàn và các nhân viên của nóđược hưởng những quyền ưu đãi bất khả xâm phạm… hưởng mọi dễ dàng cần thiết để quan sát và kiểm tra việc thực hiện hiệp ước, nhất làviệc sử dụng viện trợ đúng theo tinh thần của văn bản hiệp ước”.
         
        Các điều khoảng kể trên là cơ sở để suốt 25 năm sau đó các phái đoàn viện trợ Mỹ trở thành một thứ “Chính phủ” của Mỹ ở Việt Nam và nhúng tay vào mọi ngóc ngách của đời sống kinh tế Nam Việt Nam.
         
        Đến tháng 12-1951, đề gò tất cả các hiệp ước đã ký vào khuôn khổ của “Luật an ninh chung” do Quốc hội Mỹ thông qua, Mỹ lại ký với Chính phủ Bảo Đại một bản hiệp nghị nữa, gọi là “Hiệp nghị an ninh chung”. Trong Hiệp nghị này, các điều khoản của các hiệp định trước được nhắc lại, khẳng định thêm đồng thời có nhấn mạnh tinh thần trong Luật an ninh chung của Mỹ:
         
        1. Nếu viện trợ-kinh tế không đảm bảo tăng cường nền an ninh của nước Mỹ thì không được phép cấp.
         
        2.Mọi nước nhận viện trợ, nếu không chấp hành các điều quy định trong các hiệp nghị, thì sẽ bị cắt viện trợ.
         
        Từ năm 1950 đến 1954, Mỹ đã viện trợ cho Chính phủ Bảo Đại 23triệu đô la bằng hàng hóa và khoảng 36 triệu đô la bằng tiền Việt Nam (Mỹ có số tiền này do bán hàng, dịch vụ cho chính quyền Bảo Đại đã cung cấp cho Mỹ một số ngân khoản để chi tiêu như điều III Hiệp định phòng thủ chung). Ngoài ra, Mỹ cũng viện trợ thẳng cho Bảo Đại khoảng 15 triệu đô la vũ khí. Tuy nhiên, tổng số các loại viện trợ này khoảng 75 triệu đô la, vẫn còn chiếm một tỷ lệ rất nhỏ so với viện trợ cho Pháp.
         
        Trước khi các hiệp nghị được ký kết, các phái đoàn viện trợ Mỹ đã vào Đông Dương, đã hoạt động, tìm hiểu, lấy tin tức và kiểm tra tình hình. Tháng 5-1950 Robert Blum dẫn đầu phái đoàn viện trợ Mỹ đếnSài Gòn. Đến tháng 9-1950, phái đoàn cố vấn quân sự Mỹ MAAG đượcthành lập ở Nam Việt Nam. Từ 1951, các Phòng thông tin Mỹ được đặt ở nhiều trung tâm vùng tạm chiếm. Lãnh sự quán Mỹ ngày càng mở rộng nhà cửa và phạm vi hoạt động. Nhiều công ty tư bản Mỹ đã đặt cơ sở giao dịch ở Hà Nội và Sài Gòn. Các nhân viên của Công ty phốt phát Florida (Florida Phosphat Company) đã đến lấy tài liệu về các mỏ quặng ở Lào Cai. Các chi nhánh ngân hàng Mỹ ở Hồng Công đã mở những cuộc giao dịch và bàn kế hoạch tài trợ việc xuất cảng cao su, thiếc và hải sản của Việt Nam.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 13510


« Trả lời #7 vào lúc: 19 Tháng Năm, 2017, 05:07:15 AM »

         
        Năm 1951, Phó Tổng thống Mỹ Nixon đến Hà Nội, Sài Gòn, và trực tiếp đi thăm quan các trận càn quét của quân đội Pháp. Các chính khách Mỹ, tướng tá Mỹ đi về Đông Dương ngày càng tấp nập. Cố vấn Mỹ ngày càng đông.
         
        Trong tổ chức bộ máy chính quyền và quân đội bản địa, Mỹ đã dần dần thay thế số thân Pháp bằng số thân Mỹ. Ngay từ 1947, đại sứ Mỹ ở Pháp đã được lệnh tìm kiếm những nhân vật Việt Nam để chuẩn bị lập Chính phủ thân Mỹ sau này. Năm 1949, Nguyễn Phan Long (thân Mỹ) lên làm Thủ tướng. Những ai thân Pháp cực đoan, không biết thay đổi thái độ theo thời thế, bị gạt bỏ dần. Các trường và các trung tâm huấn luyện của Mỹ bắt đầu đưa người từ Việt Nam sang học để chuẩn bị xây dựng bộ máy mới. Trong đó có Ngô Đình Diệm.
         
        Về quân sự, đầu năm 1952, Tổng thống Truman triệu tập Hội nghịan ninh quốc gia, chỉ thị cho Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng phải tích cực củng cố các lực lượng quân sự độc lập của các quốc gia ĐôngDương, làm cho nó đứng vững mà không cần có Pháp nữa.
         
        Tháng 4-1954, Pháp hấp hối ở Điện Biên Phủ. Nixon lúc đó là PhóTổng thống Mỹ, nói: “Chính phủ Mỹ phải nhìn nhận một cách tỉnh táo những diễn biến trước mắt và hãy gửi lực lượng sang” (The Pentagon’ Papers đã dẫn).
         
        Pháp dần dần thấy rõ viện trợ Mỹ thấm đến đâu thì bàn tay Mỹ cũng nhúng tới đó, quyền lợi của Pháp cũng bị cắt xén tới đó. Nhưng tình thế đã buộc Pháp phải chấp nhận điều này. Chiến tranh kéo dài và ngày càng tổn thất lớn. Nền tài chính Pháp kiệt quệ. Không dựa vào Mỹ thì không thể tiếp tục chiến tranh được. Nhưng dựa vào Mỹ thì tất phải lệ thuộc Mỹ, và bị Mỹ chiếm lấy các quyền lợi. Tình cảnh của Pháp lúc nàythật khốn quẫn. Trước mặt, đối phương càng đánh càng mạnh, càng dìm Pháp sa lầy sâu hơn trong những thất bại ngày càng lớn.
         
        Sau lưng, người “đồng minh” giầu có giúp đõ càng nhiều thì món nợ càng lớn hơn và cái gia tài Đông Dương ngày càng phải gán dần cho Mỹ. Cho đến cuối cuộc chiến tranh, các nhà chiến lược Pháp đã cảm thấy rằng dù chiến tranh kết thúc như thế nào thì Đông Dương cũng không còn nằm trong tay Pháp nữa. Đó là kết quả thực sự của viện trợ Mỹ đối với Pháp.
         
        Để kết luận về viện trợ Mỹ trong thời kỳ này, có thể trích tiếng nói của người “trong cuộc”.
         
        Ta còn nhớ Tướng Henri Navarre, tổng chỉ huy quân đội Pháp ở ĐôngDương thời kỳ 1953-1954, thời kỳ cuối cùng ác liệt nhất của chiến tranh, cũng là thời kỳ cao điểm của viện trợ Mỹ. Sau khi thất trận, ngồi bình tĩnh và ngẫm lại quá khứ, trong cuốn “Đông Dương hấp hối”, Navarre đã viết:
         
        Điều nguy khốn nghiêm trọng nhất của viện trợ Mỹ là, về mặt chính trị, nó làm cho Mỹ nhúng tay ngày càng sâu vào các công việc của chúng ta. Nó làm cho ảnh hưởng của Mỹ thay thế dần ảnh hưởng của Pháp đối với các quốc gia liên kết.
         
        Do nhận viện trợ Mỹ, chúng ta đã lâm vào trạng huống đầy mâu thuẫn… Đó là tấn bi kịch lớn trong đường lối chính sách của chúng ta.
         
        Bây giờ đến lượt đế quốc Anh và đế quốc của chúng ta bị dòm ngó đến. Nhưng phương pháp thì đã thay đổi. Người ta giúp đỡ các dân tộc thuộc địa. Người ta đặt trên đất nước họ các căn cứ chiến lược. Người ta gửi đến vô số phái đoàn quân sự, kinh tế, ngoại giao, văn hóa, tôn giáo và những ngân khoản lớn. Người ta chỉ ra cho thấy, ít nhất là đối với lớp người cầm đầu, rằng trong sự “liên minh tự nguyện” với Mỹ thì cuộc đời sẽ tốt đẹp hơn biết bao so với sự “đô hộ” của chúng ta. Trong mọi trường hợp, người ta tỏ thái độ phản đối chúng ta và bày tỏ cảm tình của dân chúng Mỹ đối vớinhững nguyện vọng của “dân thuộc địa”.
         
        Nếu cần người ta gọi Liên Hiệp Quốc can thiệp. Dần dần, họ đẩy chúng ta ra ngoài. Nhờ sức mạnh của đồng đô la, họ đã chiếm lấy vị trí của chúng ta, nhưng dưới một hình thức dường như không thấy được. Không có toàn quyền, công sứ, cao ủy Mỹ, nhưng có một đại sứ Mỹ, và không có một điều gì có thể làm được nếu không được ông ta cho phép.Các dân tộc tưởng mình được tự do, mà không thấy rằng mình đã bị tiền bạc chi phối một cách khắc nghiệt, mình chỉ là những con rối của Mỹ”.
         
        Cũng như nhiều chính khách Pháp, Navarre cho rằng đến những năm 1953, 1954, khi viện trợ Mỹ đã chiếm đến 80% chiến phí, thì “Chúng ta đã gần như chắc chắn mất Đông Dương, dù rằng viện trợ có giúp chúng ta chiến thắng trong cuộc chiến tranh” (H.Navarre L’ AgonieL’ Indochine Ed Plon Paris 1957 P.529).
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 13510


« Trả lời #8 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2017, 04:38:01 AM »


        IV. THỜI KỲ 1954-1960
         
        Sau Hiệp nghị Geneve, Mỹ đã thiết lập trên một nửa lãnh thổ Việt Nam một chính quyền thân Mỹ. Năm 1955, Diệm lên làm Thủ tướng. Năm 1956, Bảo Đại bị phế truất. Diệm lên làm Tổng thống. Họ hàng Diệm và những tay chân của Diệm đã nắm các vị trí then chốt của chính quyền.
         
        Để cho đám người này gắn bó chặt chẽ với Mỹ, dựa vào nguồn gốc xuất thân địa chủ và tư sản chưa đủ, có hận thù với cách mạng chưa đủ, dùng áp lực của cảnh sát và mật vụ chưa đủ, mà còn phải cấp bổng lộc. Ngoài tiền lương và những thu nhập chính thức khác, thì hối lộ, tham nhũng, buôn lậu, ăn cắp, ăn cướp, là những cái gắn liền với viện trợ Mỹ và với những hoạt động của Mỹ, đã bắt đầu trở thành nguồn làm giàu quyết định. Những thủ đoạn làm giầu có tính chất lưu manh đó đã phát triển mạnh hơn trước rất nhiều và dần dần đã nhuốm một mầu sắc giai cấp đặc biệt trên bộ máy chính quyền và quân đội bản xứ.
         
        So với những chính quyền thân Mỹ ở nhiều nước thuộc địa kiểu mới khác, bộ máy chính quyền miền Nam có một đặc điểm: Từ cách mạng tháng Tám 1945, những lực lượng tiến bộ, những tầng lớp yêu nước,những lương tri và giá trị của dân tộc đều đã quy tụ về cách mạng. Những tay sai mới của Mỹ đều đã có một quá trình làm tay sai cho Pháp, hoặc cho Nhật, hoặc Quốc dân Đảng, hoặc cho cả hai ba thế lực đó. Trước quốc dân, đám người này không còn chút tư cách đại diện, cũng không có uy tín.
         
        Ở đây, cần tính đến một đặc điểm lịch sử. Mỹ xâm nhập vào miền Nam sau khi cách mạng tháng Tám đã thắng lợi trên toàn quốc. Qua 9 năm kháng chiến chống Pháp, các lực lượng xã hội đã phân hóa triệt để. Ở Việt Nam, không còn lực lượng đáng kể nào nằm ngoài hai xu hướng chính trị là cách mạng và phản cách mạng. Để có một chỗ dựa, Mỹ không còn cách nào khác là phải tìm lại trong đám tay sai cũ của Pháp. Để “mua” lại đám người này, chỉ có một cách là dùng bổng lộc nhiều hơn. Chính vì vậy mà dưới trướng của Diệm, vẫn gồm có gần đủ ngần ấy bộ mặt thời Pháp, nhưng bổng lộc cao hơn trước rất nhiều. Có vô số những cai, đội và lính trơn thời Pháp đã được thăng vọt lên cấp úy và cấp tá. Cũng không ít sỹ quan cấp úy thời Pháp được thăng cấp tướng…
        Cũng vì lẽ đó, để dựng lên một bộ máy chính quyền thì việc quan trọng nhất là viện trợ. Tổng số viện trợ các loại của Mỹ cho Diệm từ 1955 đến 1960 vào khoảng gần 2 tỷ đô la. Tính trung bình, mỗi năm trên dưới ba trăm triệu đô la. Với ba trăm triệu đô la hàng năm mà dựng được cả một bộ máy chính quyền bản xứ, nuôi dưỡng và sử dụng được hàng chục vạn quân đánh thuê bản xứ, đó là một giá rẻ. Nếu thuê Pháp làm việc đó (điều này Mỹ đã làm) thì đắt hơn. Mỹ trực tiếp làm lấy (điều này đến các năm sau sẽ thấy) thì càng đắt hơn rất nhiều.
         
        Hơn nữa, viện trợ trong giai đoạn này lại có xu hướng giảm dần. Từ các năm 1959, 1960, viện trợ chỉ còn khoảng hơn trăm triệu đô la. Ta biết, thời kỳ 1957-1960 là thời kỳ tương đối ổn định của Mỹ-ngụy.Trong những năm 1958, 1959, không những Mỹ giảm viện trợ, mà còn có kế hoạch chuẩn bị khai thác và kinh doanh (Tháng 5-1957, Diệmtuyên bố tại Mỹ: “Miền Nam sẽ mở rộng cho việc đầu tư và thương mại quốc tế, giành đặc lợi cho ngoại quốc đầu tư và không xem việc đầu tư của Mỹ như một mối đe dọa cho độc lập quốc gia”. Sau đó Rookefeller đến thăm Sài Gòn. Phái đoàn Goodrich đến miền Nam nghiên cứu kế hoạch sông Mê Kông. Các phái bộ của “Quỹ tiền tệ quốc tế”, “Viện khảo cứu và kiểm soát hối đoái” của Mỹ cũng liên tiếp đến Sài Gòn). Mỹ hy vọng giai đoạn bình định sẽ sớm kết thúc, có thể chuyển dần sang khai thác. Chính những diễn biến đó cho phép ta thể nghiệm những tính quy luật sau đây: Nếu cuộc kháng chiến mà suy yếu đi, thì viện trợ sẽ diễn biến như thế nào.
         
        Kèm theo viện trợ, một biện pháp quan trọng nữa để khống chế đời sống xã hội miền Nam là: đưa người Mỹ vào.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 13510


« Trả lời #9 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2017, 04:38:19 AM »

         
        Ngay từ năm 1955, khi Diệm mới lên cầm quyền, Nixon, lúc đó là phó Tổng thống đã chỉ thị cho trường Đại học chính trị Michigan cử một đoàn cố vấn tối cao, gồm 54 người, sang giúp Diệm xây dựng về mọi mặt: lập hiến pháp, xây dựng quân đội, hệ thống tình báo, cảnh sát, nhà tù, bộ máy ngoại giao, tổ chức các cấp hành chính, chế độ kinh tế, tài chính và tiền tệ, tổ chức ngoại thương, cải cách điền địa… Mỗi cố vấn đảm nhiệm một công tác kể trên như một bộ trưởng của Chính phủ Diệm. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, nước Mỹ cử một phái đoàn cố vấn cao cấp đông và toàn diện như thế ra nước ngoài, gần như xuất cảng cả một chính phủ sang lắp ráp ở một nước khác.
         
        Nhưng khác với chế độ thực dân Pháp, Mỹ không có một cơ quan nào trực tiếp cai trị ở đây. Không có toàn quyền. Không có công sứ và khâm sứ. Nam Việt Nam vẫn có danh nghĩa một quốc gia có chủ quyền. Mỹ chỉ đặt đại sứ, các phái bộ ngoại giao, kinh tế, văn hóa xã hội, quân sự. Các nhân viên Mỹ thuộc các cơ quan này làm việc bên cạnh người Việt Nam với tư cách cố vấn.
         
        Trong thời kỳ 1955-1960, số lượng các cố vấn chưa nhiều. Ngoài số cố vấn cao cấp như đã nói, có một số cố vấn cho các ngành, tổng cộng khoảng trên một ngàn người. Thời kỳ này Mỹ chưa có khả năng nắm đến tận làng xã, cũng chưa có cố vấn tới các đơn vị quân đội ở cơ sở.
         
        Nhìn lại, trong 5 năm đầu xâm nhập, Mỹ đã đạt được những gì?
         
        Việc chủ yếu nhất là: Mỹ đã dựng được lên một bộ máy chính quyền. Hơn ba trăm triệu đô la hàng năm đủ nuôi cả bộ máy đó. Với sự kèm cặp trực tiếp của đại sứ Mỹ và các cố vấn Mỹ, bộ máy đó đã hoạt động theo yêu cầu của Mỹ.
         
        Trong mấy năm đầu cầm quyền, Diệm đã thanh toán xong những lựclượng đối lập thân Pháp. Chính quyền đã nằm trong tay Diệm. Quân đội đã nằm trong tay Diệm. Về sự gắn bó với Mỹ, thì Diệm đã được cácTổng thống Mỹ gọi là, có “đức tính của C.Washington”, có “sự dũng cảmcủa Wilson”, có “tính sâu sắc của Roosevelt”, còn về quyết tâm chống cộng thì Diệm được coi là một “Churchill của châu Á” (Lời của L.Johnsontrong diễn văn đọc tại Sài Gòn tháng 5-1961).
         
        Về chính trị và tư tưởng, với đô la Mỹ, Diệm cũng có những sách báo và những người viết sách báo, có nhà in, có đài phát thanh, phim, ảnh, ca nhạc, các trường học, các sách giáo khoa… Bằng những thứ đó, Diệm cũng đã dựng lên những thuyết, những tư tưởng, những giáo lý,những quốc sách, những khẩu hiệu, như “thuyết duy linh, tư tưởng “quốc gia”, “cần lao”, “nhân vị”, “bài phong phản thực”, “bào tồn dân t ộc”…
         
        Về mặt kinh tế, Diệm chưa xây dựng được gì, vì hàng viện trợ phần lớn là hàng tiêu dùng trực tiếp. Nhưng số hàng viện trợ này, khi đem bán ra thị trường để lấy tiền cho ngân sách, cũng thấm một phần ra dân chúng, nhất là dân đô thị. Việc đó cũng tạo ra cho xã hội một bộ mặt phồn vinh.
        Nhưng ở nông thông thì tình hình kinh tế vẫn không có sự cải thiện nào đáng kể. Hàng viện trợ Mỹ chưa thấm tới nông thôn là bao. Người nông dân cũng chưa tìm thấy ở người Mỹ và chính quyền Diệm một nguồn tiêu thụ nông phẩm mạnh mẽ tới mức có thể cải thiện kinh tế của họ. Vấn đề căn bản nhất là vấn đề ruộng đất vẫn chưa giải quyết. Kế hoạch “Cải cách điền địa” do cố vấn Mỹ Lade Jinsky hoạch định hầu như không thực hiện được gì. Việc cải thiện đời sống của nông dân bị coi rất nhẹ. Đây có lẽ là một trong những điểm bất đồng đáng kể nhất giữa Diệm và Mỹ. Đây cũng là một trong những “thiếu sót” lớn nhất sẽ đưa Diệm vào cái chết thê thảm.
         
        Việc coi nhẹ vấn đề nông dân còn gắn liền với chủ trương chống cộng cực đoan và mù quáng của Diệm. Dưới con mắt của Diệm, nông thôn là thành trì của cộng sản. Đối với Diệm, vấn đề chỉ đơn giản là đập nát cái thành trì kiên cố đó, Diệm coi đó là việc lớn nhất. Chống cộng được Diệm coi là “quốc sách số 1”.
         
        Tuy những tiếng súng ròn rã nhất của quân đội Diệm là những tiếngsúng bắn vào quân đội các giáo phái, nhưng Diệm vẫn thấy kẻ thù số 1của mình là cộng sản. Tham vọng chủ yếu của Diệm là “chặt đầu cộngsản”. Trong các chiến dịch chống cộng, ít thấy những tiếng đại bác và những đoàn quân xa ồn ào. Nhưng đây vẫn là chiến dịch to lớn nhất,quyết liệt nhất của Diệm. Trong chiến dịch này, Diệm huy động tới hàng chục vạn cảnh sát, mật vụ, thám báo, cai ngục, đao phủ, tỏa đi khắp miền Nam. Đội quân này ít dùng đại bác và chiến xa, nhưng dùng súnglục, chó săn, thuốc độc, xích sắt, gông, cùm, xà lim và máy chém. MiềnNam đã đổ bao nhiêu máu và nước mắt trong chiến dịch này. Nhưng lựclượng cách mạng vẫn không bị bóp chết.
         
        Phải có nhiều biện pháp, phải tốn kém hơn nữa.
Logged

Trang: 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM