Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 21 Tháng Mười Một, 2017, 04:50:56 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Yên Thế  (Đọc 4647 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 10950



WWW
« Trả lời #40 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2017, 11:24:15 AM »


Câu hỏi 20: Từ việc bắt cóc hai người Pháp đến cuộc giảng hòa lần thứ nhất, nghĩa quân Yên Thế đã biết lợi dụng thời gian hòa hoãn để bổ sung lực lượng, hãy cho biết tình hình của nghĩa quân và của địch trong thời gian này?
Trả lời:


Sau cuộc mưu sát thất bại ngày 18 tháng 5, Đề Thám tuy thoát chết và sau đó đánh bại được mục tiêu tấn công của địch trong trận ngày 19 tháng 5, nhưng lực lượng nghĩa quân cũng không tránh khỏi bị tiêu hao. Vì thế sau khi phá hủy các kho tàng và công sự phòng thủ trong đồn Hữu Nhuế, đại bộ phận nghĩa quân rút sang mạn Thái Nguyên; số còn lại phân tán ra từng toán nhỏ đánh du kích quấy rối để tiêu hao sinh lực địch và bảo vệ cơ sở. Ngày 22 tháng 5, vẫn có cuộc giao tranh kịch liệt giữa một toán nghĩa quân và quân của tổng đốc Lê Hoan ở làng An Gốc. Địch ở Nhã Nam kéo đại bác đến tiếp viện cũng bị một toán nghĩa quân chặn đánh làm bị thương 7 lính Pháp. Rồi chiều ngày 31 tháng 5, trong trận giao chiến ở phía Bắc làng Nứa, đội quân của thiếu tá Va-lăng-sơ lại bị kết thêm 1 lính Pháp, 1 lính khố đỏ và bị thương 5 lính Pháp trong đó có cả đại úy Tô-ken.

Sau đó tình hình Yên Thế tạm yên trong mấy tháng. Qua đầu tháng 9 năm 1894, nghĩa quân lại xuất hiện ở Yên Thế. Một điền chủ trong vùng là Bang Kinh đem 50 thủ hạ và vũ khí gia nhập nghĩa quân. Lực lượng nghĩa quân lúc này ước chừng 200 người vũ trang đầy đủ dưới quyền chỉ huy của Đề Thám, Thống Luận, Bang Kinh và Tổng Trụ đóng ở hai pháo đài. Nghĩa quân liên tiếp chặn đánh các đội quân tuần tiễu của địch. Ngày 9 tháng 9, quân của đại úy Gơ-ri-mô (Grimaud) trưởng đồn Bố Hạ bị quân Bang Kinh chặn đánh gần Phủ Lạng Thương, 1 hạ sĩ quan Pháp bị tiêu diệt.

Chủ trương của nghĩa quân lúc này là muốn có một thời gian tạm thời hòa hoãn với địch để có thì giờ xây dựng thêm lực lượng. Nhưng qua mấy lần thương thuyết, dã tâm của địch vẫn là buộc nghĩa quân đầu hàng vô điều kiện và nộp toàn bộ vũ khí. Vì vậy, muốn có một áp lực để điều đình, tháng 9 năm 1894, các tướng lĩnh Yên Thế bàn mưu phục kích bắt một, hai người Âu để làm con tin; đồng thời cũng có thể thêm một số tiền chuộc để mua thêm vũ khí ở ngoài.

Cần nhắc lại rằng ngay từ năm 1890, thực dân Pháp đã khởi công làm con đường xe lửa tuyến Phủ Lạng Thương - Lạng Sơn nhằm mục đích chiến lược là vận tải cho căn cứ Lạng Sơn, đồng thời vừa ngăn chặn quân Thanh tràn qua, vừa cắt đứt được liên lạc giữa nghĩa quân với Lưỡng Quảng. Do sự phản kháng của nhân dân Việt Nam nên nhân công làm đường lúc đầu toàn người Trung Quốc mãi sau chật vật lắm mới mộ được 6.000 người Việt. Công việc tiến hành khá trầy trật, nhân công chết vô số, nghĩa quân lại luôn luôn đánh úp các toán quân đồn trú bảo vệ công trường, nên 5 năm sau (1894) mới hoàn thành con đường chỉ dài mấy chục cây số và chỉ rộng có 60 phân. Số tiền tốn đến 16 triệu phờ-răng. Trong thời gian làm đường, địch bố trí lực lượng quân sự bảo vệ các công trường rất nghiêm mật, nhưng nghĩa quân vẫn thỉnh thoảng phục kích đón bắt sống các tên thầu khoán người Pháp, vừa lấy tiền chuộc, vừa để gây áp lực buộc bọn cầm quyền thương thuyết. Như tháng 7 năm 1892, nghĩa quân Lưu Kỳ đã đón bắt sống tên thầu khoán Vê-danh (Vezin) đòi chuộc 25.000 đồng bạc trắng. Sau đó (năm 1893), đến lượt các tên Bu-ê (Bouyer), Rô-ty (Roty), Pi-ga-ni-ôn (Piganiol), Đơ-rô (Droz) mất tích, rồi tên Phơ-rít (Fritz) sa vào tay nghĩa quân Cai Kinh.
Logged

...Chuyện bình thường, chiến tranh người trai ấy quên mình, anh dâng hiến mùa xuân cho tương lai...

chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 10950



WWW
« Trả lời #41 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2017, 11:24:40 AM »


Rút kinh nghiệm từ những lần trước, lần này nghĩa quân Yên Thế cũng đem binh phục kích bên đường xe lửa. Lúc này tuy đường xe lửa Phủ Lạng Thương - Lạng Sơn đã hoàn thành về căn bản, nhưng mới chỉ dùng tạm được thôi. Mỗi chuyến xe thế nào cũng phải có thầu khoán hay nhân viên kỹ thuật đi kèm để kiểm tra, hoặc cùng đi trên tàu, hoặc đi bằng goòng máy trước đoàn tàu độ nửa tiếng đồng hồ.

Chiều ngày 17 tháng 9 năm 1894, Đề Thám sai một toán quân do Đốc Khế chỉ huy phục kích ở bụi rậm bên đường xe lửa và một toán khác do Bang Kinh cầm đầu phục kích ở cây số giữa suối Ghềnh và Bắc Lệ. Đúng như dự đoán của nghĩa quân, hồi 3 giờ rưỡi chiều hôm đó tên Sét-nay, vừa là đại địa chủ ở Yên Thế, vừa là thầu khoán đường xe lửa Phủ Lạng Thương - Hà Nội, đồng thời là chủ nhiệm tờ báo Pháp "Avenir du Tonkin" cùng đi goòng máy với tên Lô-gi-u (Logiou) và hai người thợ máy nữa. Chúng lọt vào ổ phục kích của Đốc Khế. Đạn từ trong bụi rậm bắn ra tới tấp. Người cầm lái chết ngay, người phụ lái bị thương, hai tên Sét-nay và Lô-gi-u tháo chạy vào rừng nhưng bị nghĩa quân đuổi theo bắt sống giải về trại. Trong khi đó tại cây số 53, nghĩa quân Bang Kinh đã chặt cây, lấy đá bỏ vào rọ rồi chất đống trên đường sắt. Đúng giờ, chuyến xe lửa thường lệ từ Lạng Sơn xuống, thấy chướng ngại vật chặn ngang đường, đoàn tàu dừng bánh, một công nhân Hoa kiều làm thợ máy cùng 3 người phụ lái nhảy xuống định khuân gỗ và khiêng các rọ đá ra ngoài thì súng nổ tới tấp, 4 người chết ngay tại chỗ, người lái tàu hốt hoảng cho tàu chạy về Bắc Lệ.

Bắt được hai tên lính Pháp, nghĩa quân liền đưa thư xin giảng hòa. Việc bắt hai tên lính Pháp làm con tin, nhất là tên Sét-nay lại là một đại địa chủ kiêm thầu khoán làm dư luận xôn xao trên báo chí. Bọn tư bản và thực dân kêu la om sòm đòi nhà cầm quyền phải cứu thoát Sét-nay bằng bất cứ cách nào.

Hàng tập thư của Sét-nay từ pháo đài Đề Thám gửi ra càng thúc giục bọn cầm quyền phải xúc tiến việc thương thuyết. Hơn nữa, sau việc này lực lượng nghĩa quân lại ngày một phát triển, khó bề đàn áp nổi mà lại còn có thể nguy hiểm đến tính mạng tên Sét-nay. Biện pháp duy nhất lúc đó đối với bè lũ thực dân chỉ có thể là giảng hòa.

Cuộc thương thuyết kéo dài 5 tuần lễ do giám mục địa phận Bắc Ninh là cha Vê-lát-cô (Velasco) làm trung gian.

Kết quả ngày 25 tháng 10 năm 1894, hai tên Sét-nay và Lô-gi-u được tha. Địch phải chuộc món tiền 15.000 đồng bạc trắng và rút quân khỏi bốn tổng Nhã Nam, Mục Sơn, Yên Lễ, Hữu Thượng, giao quyền cai trị cho nghĩa quân. Dân bốn tổng không phải nộp thuế cho giặc trong ba năm mà đem nộp số thuế ấy cho nghĩa quân, số tiền vào khoảng 3.000 đồng mỗi năm. Thế là từ nay nghĩa quân đã chính thức có một căn cứ rộng rãi, có tiền và cả thời gian để dưỡng uy sức nhuệ.
Logged

...Chuyện bình thường, chiến tranh người trai ấy quên mình, anh dâng hiến mùa xuân cho tương lai...

chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 10950



WWW
« Trả lời #42 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2017, 11:25:01 AM »


Trong thời gian giảng hòa, mặt ngoài cụ Thám vẫn giữ quan hệ tốt với bọn cầm quyền thực dân để che mắt chúng. Bản doanh nghĩa quân đặt ở Phồn Xương, gia đình cụ Thám, Cả Trọng, Cả Dinh, Cả Huỳnh và các tùy tướng đều ở cả đó. Thỉnh thoảng cụ ra chơi Nhã Nam thăm tên đại lý Pháp Láp-bê (Labbez), hoặc gửi biếu các tên công sứ, thống sứ, toàn quyền những lâm sản quý như nhung, cao, mật ong... có khi còn tổ chức đi săn bắn chung với chúng, hay ăn và nghe hát trong đồn. Có lần toàn quyền Rút-sô (Rousseau) viết thư mời cụ ra chơi Hà Nội, nhưng cụ viện cớ thoái thác đề phòng địch trở mặt. Nhưng bên trong cụ vẫn ngấm ngầm liên kết với giang hồ hảo hán các nơi, ra sức chiêu mộ nghĩa sĩ, luyện tập quân sĩ, chế tạo vũ khí và cho người sang Trung Quốc mua thêm khí giới; lại còn phái thủ hạ xuống miền đồng bằng gây cơ sở, quyên lương thực, chặn đánh tước vũ khí của các toán lính ngụy đi tuần. Cũng có khi nghĩa quân chủ động tấn công vị trí giặc như tháng 4 năm 1895, Đốc Thu cầm đầu một toán nghĩa quân đột nhập thị xã Bắc Ninh giết chết hai viên sen đầm cùng một lính đoan và ít lâu sau, Lãnh Túc kéo quân về đánh Phủ Liễn gần Phủ Lạng Thương lấy lương thực.

Chiến thuật "đàm rồi lại đánh" này của nghĩa quân Yên Thế kéo dài được hơn chục năm (26-11-1897 - 29-1-1909). Trong thời gian hòa hoãn, nghĩa quân vừa bồi dưỡng lực lượng quân sự, vừa mở rộng giao tiếp về chính trị, đã đem lại kết quả cụ thể. Hoàng Hoa Thám tham gia Hội Duy Tân, dung nạp nghĩa sĩ Trung Kỳ và ứng viện khi Trung Kỳ bạo động vũ trang... Bước đầu, đồn Tú Nghệ được xây dựng ở Yên Thế và đón Tùng Nham, Hoành Hành - những nghĩa sĩ Trung Kỳ đầu tiên đến để hợp tác với nghĩa quân Yên Thế.

Thời gian này, nhiều nhóm nghĩa quân kháng Pháp ở các nơi bị địch đánh bật khỏi căn cứ, đều tìm cách tiến về Yên Thế nhập với quân Đề Thám. Như nhóm nghĩa quân vùng Bắc Ninh và Thái Nguyên bị Lương Tam Kỳ bỏ rơi sau khi về hàng Pháp, hay toàn bộ nghĩa quân của Đề Nguyên tại Tam Đảo. Cũng tại Tam Đảo, Đề Công và Thượng Lẫm cũng tìm cách liên lạc chặt chẽ với nghĩa quân Đề Thám.

Tóm lại, nghĩa quân Yên Thế đã biết lợi dụng thời gian hòa hoãn để bổ sung lực lượng, nên gần một năm sau thanh thế đã lan rộng, lực lượng đã lớn mạnh hơn trước gấp bội.

Tình hình đó khiến thực dân Pháp rất lo ngại. Trước đây, dưới áp lực của giới tư bản, cực chẳng đã bọn quan văn phải điều đình với âm mưu mua chuộc cụ Thám, như chúng đã mua chuộc thành công Lương Tam Kỳ và một số thổ hào khác. Đồng thời chúng cũng muốn tranh thủ thời cơ hoàn thành gấp con đường xe lửa Hà Nội - Lạng Sơn. Chủ trương giảng hòa đã bị giới võ quan phản đối kịch liệt. Trong thư gửi bộ thuộc địa Pháp tháng 11 năm 1894 chúng đã trách cứ nhà cầm quyền quá nhượng bộ và cho rằng việc nhượng bộ cụ Thám một địa bàn rộng lớn cạnh đường xe lửa Hà Nội - Lạng Sơn là một thất sách lớn. Vì vậy khi rút quân khỏi bốn tổng thuộc Yên Thế thượng, bọn thống trị Pháp lo củng cố các đồn Bố Hạ, Mỏ Trạng, Mỏ Na Lương, Kép, chợ Phổng, chợ Tràng, tạo thành một hàng rào chặt chẽ dọc đường xe lửa. Chúng còn dùng bọn tay sai như Đốc Xúy án ngữ vùng núi Bảo Đài để ngăn nghĩa quân tràn về và đặt sẵn một đạo quân luôn luôn đề phòng mọi việc bất trắc xảy ra.

Mặc dù thế, tháng 9 năm 1895, công sứ Bắc Ninh còn báo cáo rằng:

"Các toán giặc đều lấy sào huyệt Đề Thám làm nơi trú ẩn và noi gương Đề Thám để bắt cóc người Âu".

Rồi y đề nghị cần tái lập gấp chính quyền quân sự trong vùng Yên Thế và tích cực chuẩn bị tiêu diệt Đề Thám.

Tình trạng đối kháng ngấm ngầm này không thể kéo dài mãi được. Cuối cùng thấy không mua chuộc được Đề Thám mà càng để lâu càng nguy hiểm, nên cuối cùng năm 1895 thực dân Pháp đã phản bội các điều ký kết, huy động một lực lượng rất lớn, hùng hổ kéo lên Yên Thế quyết tâm đàn áp kỳ được nghĩa quân Đề Thám.
Logged

...Chuyện bình thường, chiến tranh người trai ấy quên mình, anh dâng hiến mùa xuân cho tương lai...

chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 10950



WWW
« Trả lời #43 vào lúc: 21 Tháng Hai, 2017, 04:37:43 PM »


Câu hỏi 21: Cuộc hành binh của đại tá Ga-li-ê-ni (Galliéni) khiến nghĩa quân bị đánh bật khỏi Yên Thế. Hãy cho biết về cuộc hành binh này?
Trả lời:


Tháng 1 năm 1895, tên đại tá Ga-li-ê-ni được cử làm tổng chỉ huy cuộc đại tấn công vào căn cứ Yên Thế. Ga-li-ê-ni trước kia đã thành công trong việc đàn áp phong trào kháng Pháp ở vùng núi Cai Kinh và thượng lưu sông Cầu. Nhưng lần này y đã vấp phải sức kháng cự mãnh liệt và bền bỉ của nghĩa quân Yên Thế, và cuối cùng tuy nghĩa quân bị đánh bật ra khỏi căn cứ nhưng lực lượng vẫn được bảo toàn, vẫn tiếp tục gây cho địch nhiều thiệt hại đáng kể làm bè lũ chúng mất ăn mất ngủ suốt bao năm trường.

Trước tiên, Ga-li-ê-ni đem binh thuyền tuần phòng trên sông Thương giữa Lục Liễn và Bố Hạ để thắt chặt vòng quanh căn cứ nghĩa quân. Rồi ngày 4 tháng 10 năm 1895, toàn quyền Rút-sô ra nghị định sáp nhập sáu tổng của Yên Thế thượng, Vân Nam, Hương Ký, Tôn Liệt, Đạo Quan, Hữu Thượng và Nhã Nam vào Quân khu II, và giao việc bảo vệ đường xe lửa cho nhà binh. Ngày 7 tháng 10, Rút-sô lại gửi tối hậu thư cho Đề Thám, lời lẽ vô cùng xấc xược buộc cụ: "Phải đến trình Thống sứ và Khâm sai ở Bắc Ninh để nhận chỉ thị cần thiết”...1.

Không đợi nghĩa quân trả lời, ngay từ chiều hôm đó Ga-li-ê-ni đã thay thế các đơn vị khố xanh ở Bố Hạ và Nhã Nam bằng các đơn vị lính Pháp và khố đỏ đặt dưới quyền quan ba Gơ-ri-mô chỉ huy tiểu khu chợ Phổng.

Hôm sau (ngày 8-10), Ga-li-ê-ni gửi thư cho nghĩa quân báo việc thay thế trên và tuyên bố sẵn sàng ngăn cản nghĩa quân tràn về các vùng lân cận.

Về phía nghĩa quân, ta đã biết âm mưu địch từ lâu nên một mặt Đề Thám gửi thư ôn hòa phản kháng, một mặt tích cực phòng bị chuẩn bị kháng chiến. Chiến lược của nghĩa quân lúc này là tránh các cuộc chiến đấu trực diện với quân đội chính quy Pháp, đồng thời phái các toán quân lẻn về đồng bằng hoạt động quấy rối hậu phương địch. Ngày 10 tháng 10, nghĩa quân Đốc Thu phục kích đánh toán lính khố xanh và dõng của tòa sứ Bắc Giang ở Yên Tiên gần Bảo Lộc; ngày 13 tháng 10, một toán nghĩa quân khác do Thống Luận và Tổng Trụ chỉ huy xuất phát từ căn cứ Tam Đảo tấn công vào nhiều làng ở phủ Đa Phúc; ngày 17 tháng 10, nghĩa quân Đốc Thu lại tiến về phía đường xe lửa định phục kích chuyến tàu và tìm đường về Yên Thế, nhưng bị một toán lính khố xanh chặn đánh, hai bên giao chiến kịch liệt, địch phải phái lính tây có pháo binh trợ lực đến tiếp viện, nghĩa quân mới chịu rút. Trong lúc đó nhiều đồn canh bảo vệ đường xe lửa đoạn Phủ Lạng Thương - Bắc Lệ cũng bị nghĩa quân dồn dập tấn công.

Những hoạt động ráo riết của nghĩa quân như vậy đã gây cho địch nhiều thiệt hại đáng kể, và nhất là nghĩa quân luôn được nhân dân địa phương nhiệt liệt ủng hộ.
_______________________________
1. Trois colonnes au Tonkin - Galliéni - Chapelot Paris - 1899, tr. 99.
Logged

...Chuyện bình thường, chiến tranh người trai ấy quên mình, anh dâng hiến mùa xuân cho tương lai...

chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 10950



WWW
« Trả lời #44 vào lúc: 21 Tháng Hai, 2017, 04:38:18 PM »


Để đối phó lại, địch tăng viện đội quân bảo vệ đường xe lửa và phái quân truy nã nghĩa quân Đốc Thu không cho đến gần đường; đồng thời kiểm soát chặt chẽ con đường Nhã Nam - Bố Hạ, chiếm đóng chùa Lục Giới, đốt trụi các làng xóm ven đường, tập trung dân cư trong đồn Bố Hạ - Nhã Nam, và vì lúc đó đang giữa mùa gặt nên chúng bắt dân tập trung cả thóc lúa mới gặt về đồn để khỏi tiếp tế nghĩa quân. Mặt phía tây, địch rút 150 lính lê dương và 300 lính khố đỏ của các đồn Lạng Sơn và Thất Khê để đóng giữ đồn Bố Hạ - Mỏ Trạng.

Mặt phía đông, địch điều từ Hà Nội lên một tiểu đội lính khố đỏ, một tiểu đội lính lê dương cùng với 50 lính khố đỏ ở Chợ Mới (Bắc Cạn) về chiếm giữ con đường Mỏ Trạng - Nhã Nam.

Thế là với trên một nghìn quân cả mới lẫn cũ từ Hà Nội, Đáp Cầu lên, từ Lạng Sơn, Thất Khê về, từ Bắc Cạn sang bao gồm đủ cả pháo binh, bộ binh, lê dương, khố đỏ, dõng... quân giặc đã khép chặt vòng vây quanh khu tam giác Nhã Nam - Bố Hạ - Mỏ Trạng.

Vòng vây đã thắt chặt, làng xóm hai bên đường đã đốt trụi, dân cư đã tập trung quanh đồn, Ga-li-ê-ni lại một lần nữa viết thư dụ hàng Đề Thám bắt rút khỏi Yên Thế và nộp vũ khí. Nhưng Đề Thám vẫn lần lữa tìm cách trì hoãn, trong khi đó thì các toán quân của Đốc Thu, Lãnh Túc, Thống Luận, Tổng Trụ vẫn hoạt động mạnh sau lưng địch. Địch càng lo củng cố phòng tuyến hơn nữa, làm thêm con đường Mỏ Trạng - Bố Hạ rộng 3 thước để kéo pháo, lại điều động 2 pháo thuyền Mu-loong (Moulun) Ac-cơ-buy-dơ (Arquebuse) và nhiều ca nô tuần tiễu thường xuyên trên sông Thương để ngăn cản nghĩa quân rút về xuôi.

Ngày 25 tháng 11, sau khi đã chuẩn bị sẵn sàng, Ga-li-ê-ni lại hạ tối hậu thư buộc cụ Thám hàng không điều kiện, cụ thể là bắt nghĩa quân phải rút khỏi Yên Thế nộp toàn bộ vũ khí và bắt Đốc Thu, Lãnh Túc giao cho Pháp. Cũng như mọi lần trước, Đề Thám lại xin hoãn đến ngày khác sẽ trả lời. Kế hoãn binh của nghĩa quân lần này không còn hiệu lực nữa. Ga-li-ê-ni được lệnh trên cho phép đến ngày 29 tháng 11 là hạn cuối cùng, nếu Đề Thám không ra hàng sẽ tổng công kích. Đến 10 giờ sáng ngày 29 tháng 11 năm 1895, cuộc tổng công kích bắt đầu. Toán quân của đại úy Rơ-mông (Remond) thuộc đạo quân thứ ba trên đường Nhã Nam - Mỏ Trạng, tấn công pháo đài Lâm Du làm bị thương 3 lính khố đỏ. Đến trưa, toán quân của đại úy A-đơ-lin (Adeline) thuộc đạo quân thứ hai trên đường Bố Hạ - Nhã Nam, tấn công pháo đài Bãi Mẹt. Kết quả chết 1 lính Pháp, bị thương 3 lính khố đỏ. Nhưng cả hai đạo quân đều không chiếm được pháo đài nghĩa quân. Còn toán quân của đại úy Gơ-răng-mây-sơn (Grand Maison) thuộc đạo quân thứ nhất trên đường Mỏ Trạng - Bố Hạ tiến vào Bãi Mẹt và Hố Chuối (nơi đã xảy ra cuộc lưu huyết ở Hữu Nhuế năm 1891) cách căn cứ chính của nghĩa quân 50 thước. Đêm đến, cả ba đạo quân đều tập trung nghỉ luôn trên trận tuyến chờ sáng hôm sau tiếp tục tấn công.
Logged

...Chuyện bình thường, chiến tranh người trai ấy quên mình, anh dâng hiến mùa xuân cho tương lai...

chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 10950



WWW
« Trả lời #45 vào lúc: 21 Tháng Hai, 2017, 04:38:44 PM »


Sáng hôm sau (ngày 30-11), súng lại nổ. Địch tiến công rất thận trọng sau các đợt đại bác yểm hộ. Nhưng đến trưa khi địch tiến vào pháo đài Lâm Du và Bãi Mẹt thì nghĩa quân đã rút hết từ sáng sớm, chỉ để lại vài mả mới đắp vội vàng và vỏ đạn rơi vãi khắp nơi. Địch ước lượng nghĩa quân chỉ chết độ 15 người và đoán rằng nghĩa quân đã rút lên phía tây chỗ tiếp giáp hai đạo quân thứ nhất và thứ hai gần Bố Hạ. Sau đó địch chia quân lùng quét khắp nơi nhưng không bắt được người nào. Suốt tháng 12 năm đó, địch ra sức khủng bố càn quét. Ga-li-ê-ni ra lệnh đặt thêm đồn bốt khắp vùng Yên Thế, và tới ngày 24 tháng 12 năm 1895, toàn quyền Rút-sô đặt Yên Thế vào khu nhà binh, do tên thiếu tá Rông-đô-ni (Rondony) cai quản.

Sau trận càn quét gay go này, một số tướng lĩnh nghĩa quân như Đốc Túc, Đốc Văn, Đốc Hy, Điều An phải ra hàng, bên cụ Thám chỉ còn Đốc Khế, Đốc Hậu và một số nghĩa quân. Phần lớn nghĩa quân một lần nữa phải phân tán, một bộ phận rút về triền núi Cai Kinh, một bộ phận chia nhiều tốp nhỏ di động linh hoạt trên địa hạt ba tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh và Thái Nguyên. Tuy vậy, nghĩa quân vẫn trà trộn trong dân chúng, và với sự ủng hộ của nhân dân, họ vẫn hoạt động ngay tại Yên Thế và các vùng lân cận, gây cho địch nhiều thiệt hại lớn: như trận đánh úp cánh quân của Rông-đô-ni ngày 6 tháng 1 năm 1896; trận Thụy Cầu ngày 20 tháng 2 năm 1896 khiến giám binh Buyếc-cơ-lê (Burklé) thiệt mạng; trận kịch chiến ngày 21 tháng 2 năm 1896 tại Trại Tre và Giốc Nghè (thuộc Yên Thế). Trận ngày 21 tháng 2, nghĩa quân do Đề Thám, Thống Luận, Đề Công, Tổng Trụ và Cả Dinh trực tiếp chỉ huy.

Từ đó nghĩa quân thường lưu động trong vùng Giốc Nghè và Tam Đảo. Để đối phó lại, quân giặc ra sức khủng bố dân chúng địa phương hòng phá vỡ cơ sở nghĩa quân. Một số đông chức dịch các làng bị đàn áp. Tuy vậy nghĩa quân vẫn tản mác trong các bản làng làm cho giặc Pháp khó lòng theo dõi. Trong thời gian này, hàng ngũ nghĩa quân cũng bị tổn thất nặng nề, một số chỉ huy vì hoàn cảnh bó buộc phải lần lượt ra hàng giặc như Đốc Khế, Đốc Hậu, Thống Luận. Nhưng sau đó, một số nghĩa quân của Đề Công ngày trước đang hoạt động biệt lập tại Quảng Nạp, đồn Đu và Yên Trạch đã gia nhập nghĩa quân. Lực lượng kháng chiến vì vậy lại mạnh hẳn lên và nghĩa quân đã thắng nhiều trận lớn, như các trận Hùng Sơn, Phổ Yên (Thái Nguyên), và hoạt động mạnh mẽ trên một khu vực rộng lớn bao gồm ba tỉnh Bắc Giang. Bắc Ninh, Phúc Yên.

Thấy lực lượng nghĩa quân ngày càng phát triển và quân Pháp thua luôn mấy trận, thống sứ Bắc Kỳ lại ra lệnh dùng đại quân càn quét. Cuộc càn quét tiến hành trong ba tháng 9, 10 và 11 năm 1897 nhưng địch vẫn luôn luôn bị động đối phó với những trận phục kích bất ngờ của nghĩa quân. Đến tháng 11 năm 1897, giặc Pháp lại nghĩ đến cách thương lượng với cụ Thám.
Logged

...Chuyện bình thường, chiến tranh người trai ấy quên mình, anh dâng hiến mùa xuân cho tương lai...

chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 10950



WWW
« Trả lời #46 vào lúc: 21 Tháng Hai, 2017, 04:39:16 PM »


Từ khi bị đánh bật ra khỏi Yên Thế thượng, nghĩa quân thường hoạt động lẻ tẻ rải rác khắp địa hạt mấy tỉnh Thái Nguyên, Phúc Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang. Tuy địch bị tiêu hao, quấy rối, nhưng nghĩa quân tổn thất cũng không ít. Mất căn cứ địa, nghĩa quân phải trà trộn trong dân chúng và lưu động nay chỗ này mai chỗ khác, do đó vũ khí, quân số, lương thực bị hao hụt nhiều mà không bổ sung được. Đề Thám cũng bị thương trong trận Bến Trăm ngày 22 tháng 9 năm 1897, một số tướng lĩnh thiếu kiên trì cũng lần lượt đầu hàng giặc. Bản thân Đề Thám sau hai năm chiến đấu lưu động cũng thấy cần được nghỉ ngơi một thời gian dài đặng bồi dưỡng lực lượng.

Về phía thực dân Pháp, đến giai đoạn này tình hình cũng đã có chiều thay đổi lớn, buộc chúng phải cố gắng điều đình sớm ngày nào hay ngàv ấy.

Công cuộc bình định quân sự của chúng tính đến cuối năm 1897 về căn bản đã hoàn thành. Phong trào vũ trang khởi nghĩa của văn thân từ Nam chí Bắc sau khi Hàm Nghi xuất bôn và phát hịch Cần Vương đến nàm 1896 đã tàn lụi với sự thất bại của cuộc khởi nghĩa Hương Sơn. Một số thổ quan địa phương nổi dậy ngay từ khi thực dân mới đặt chân lên đất nước ta tuy vẫn tiếp tục hoạt động, nhưng chỉ còn đóng khung trong phạm vi nhỏ hẹp từng vùng và leo lét sắp tàn. Riêng còn lại cuộc khởi nghĩa của nông dân Yên Thế do Đế Thám lãnh đạo, liên miên kéo hết năm này sang năm khác, làm cho bè lũ thống trị bao phen thất điên bát đảo. Biện pháp đàn áp trắng trợn bằng quân sự đã tỏ ra bất lực trước tinh thần chiến đấu mãnh liệt của nghĩa quân Yên Thế, biết dựa vào hình thế hiểm yếu của núi rừng để áp dụng cơ động và linh hoạt chiến tranh du kích. Mọi mưu mô, dụ dỗ, mua chuộc của chúng trước sau đều vấp phải tinh thần cảnh giác và chí khí bất khuất của người chỉ huy có tài của nghĩa quân là Hoàng Hoa Thám.

Tình hình chính trị nước Pháp đến giai đoạn này cũng có những biến chuyển mới, buộc bè lũ thực dân tranh thủ đẩy mạnh khai thác thuộc địa. Trong những năm cuối cùng của thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã chuyển qua giai đoạn tột cùng của nó, giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Song song với sự phát triển thịnh vượng của giai cấp tư sản, giai cấp công nhân Pháp ngày càng tập trung và trưởng thành, tập hợp được các phần tử tiên tiến gây thành một mối nguy cơ lớn cho nền thống trị của bọn độc quyền tư bản Pháp. Trước tình hình đó, một mặt các lực lượng bảo thủ phản động trong nước ngày càng liên minh chặt chẽ với nhau để đối phó với phe tả có khuynh hướng xã hội chủ nghĩa. Mặt khác, giai cấp tư sản muốn khuếch trương thế lực bên ngoài làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh bên trong. Cho nên, đường lối chung của chúng trong thời gian này là củng cố hệ thống thuộc địa, tổ chức nền cai trị, bắt đầu chương trình khai thác đại quy mô, nhằm phát huy tác dụng của thuộc địa đối với kinh tế chính quốc. Nhất là qua cơn khủng hoảng 1892-1899, nhiều công ty độc quyền đã lớn mạnh hơn nhờ những công ty nhỏ bị phá sản, đang cần nguyên liệu để tăng thêm thiết bị và đẩy mạnh phát triển sản xuất.
Logged

...Chuyện bình thường, chiến tranh người trai ấy quên mình, anh dâng hiến mùa xuân cho tương lai...

chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 10950



WWW
« Trả lời #47 vào lúc: 21 Tháng Hai, 2017, 04:39:34 PM »


Hơn thế nữa, đứng trước sự bành trướng thế lực của hai đế quốc Anh và Đức, đế quốc Pháp cũng lo củng cố hệ thống thuộc địa của mình để làm lực lượng dự trữ cho cuộc chiến tranh sinh tử giành giật thuộc địa sau này.

Trong hoàn cảnh đó, chính phủ Pháp cử Đu-me sang làm Toàn quyền Đông Dương (12-1896). Đu-me rất am hiểu tình hình Đông Dương vì đã từng giữ chức Thượng thư tài chính và là báo cáo viên những dự án luật thanh toán tài chính Bắc và Trung Kỳ trước nghị viện Pháp. Cho nên cử y sang, chính phủ và bọn đại tư bản Pháp đặt rất nhiều tin tưởng vào sự tháo vát và tài cần mẫn của y để giải quyết vấn đề kinh tế tài chính Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng, và để mở ra một thời kỳ bóc lột mới, hòng biến Đông Dương thành một thuộc địa khai khẩn bậc nhất của đế quốc chủ nghĩa Pháp. Muốn thực hiện được các mục tiêu trên, công việc đầu tiên Đu-me thấy cần làm ngay là dàn xếp sao cho tình hình Việt Nam trở nên ổn định, tạo một không khí thuận lợi cho mọi công việc xây dựng, đầu tư khai thác.

Vì các lý do trên, nên sau cuộc kinh lý Bắc Giang, tháng 11 năm 1897, Đu-me nhờ giáo sư Tây Ban Nha là Vê-lát-cô làm môi giới thương thuyết với Đề Thám.

Sau nhiều lần trao đổi thư từ, gặp gỡ giữa đại biểu hai bên, đến đầu tháng 12 năm 1897 hai bên đình chiến nhưng mãi đến ngày 17 tháng 4 năm 1901, nghĩa quân mới chính thức làm lễ quy thuận tại Nhã Nam. Đến đây có thể xem như kết thúc giai đoạn thứ nhất của cuộc khởi nghĩa Yên Thế.
Logged

...Chuyện bình thường, chiến tranh người trai ấy quên mình, anh dâng hiến mùa xuân cho tương lai...

chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 10950



WWW
« Trả lời #48 vào lúc: 21 Tháng Hai, 2017, 04:40:30 PM »


Câu hỏi 22: Chính sách kinh tế và cai trị của Pháp sau đình chiến thứ hai (12-1897)?
Trả lời:


Sau nhiều cuộc tấn công vô hiệu vào căn cứ nghĩa quân, đến tháng 12 năm 1897, thực dân Pháp lại mở cuộc thương lượng với Đề Thám. Toàn quyền Đu-me chủ trương giảng hòa sớm ngày nào hay ngày ấy để tạo không khí thuận lợi cho việc giải quyết vấn đề kinh tế tài chính ở Việt Nam hiện đang rất trầm trọng vì chiến tranh liên miên và cho thực hiện chương trình đại công tác của y, hòng biến Việt Nam thành một thuộc địa khai khẩn bậc nhất của đế quốc Pháp.

Cho nên, ký kết đình chiến xong (12-1897) là bè lũ thực dân bắt tay ngay vào công việc. Căn cứ trên tình hình cụ thể của thuộc địa, Đu-me đề ra nhiều biện pháp giải quyết về mọi mặt. Về kinh tế tài chính có thể tóm tắt như sau:

1. Thiết lập một chế độ thuế khóa thích hợp với nhu cầu ngày càng lớn.

2. Chính sách kinh tế với một quy mô lớn để đẩy mạnh việc khai thác.

3. Phát triển công nghiệp, thương mại, nông nghiệp trong khuôn khổ một xứ thuộc địa khai khẩn.

Để bảo đảm sự thực hiện chính sách khai thác bóc lột nói trên, cần phải có ngân sách chung, nghĩa là cần thống nhất tài chính. Muốn vậy, trước tiên cần thống nhất lãnh đạo tập trung quyền hành vào một cơ quan tối cao có đủ quyền hạn giải quyết mọi việc và Đu-me lo cải tổ bộ máy cai trị mà chủ yếu phủ toàn quyền lâu nay chỉ có danh mà không có thực.

Công việc đầu tiên của Đu-me là tăng cường sự bóc lột nhân dân ta bằng cách đánh thuế nặng hơn và đặt thêm rất nhiều loại thuế mới, bắt đầu áp dụng từ ngày 1 tháng 7 năm 1897.

Trước tiên là các thuế trực thu. Để tăng thuế đinh, bọn thống trị Pháp, trước dư luận phản đối của nhân dân, đã tìm cách lừa bịp bằng cách bớt hạn đi phu từ 48 ngày trong một năm xuống còn 20 ngày, nhưng lại bắt trả 2 đồng nộp vào thuế thân. Tính trung bình mỗi người dân hàng năm phải nộp 10 quan tiền thuế, tương đương với 100 cân gạo. Dã man nhất là người chết vẫn không được miễn thuế, người sống phải đóng thay, vì thực dân Pháp bổ khoản cho từng làng phải thu đủ mức thuế ấn định. Còn lệ đi phu thì sau đó chúng có tuyên bố bãi bỏ nhưng lại ra một đạo luật "trưng dụng nhân công", đã là người dân Việt Nam phải đi lao dịch vô kỳ hạn.
Logged

...Chuyện bình thường, chiến tranh người trai ấy quên mình, anh dâng hiến mùa xuân cho tương lai...

chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 10950



WWW
« Trả lời #49 vào lúc: 21 Tháng Hai, 2017, 04:41:12 PM »


Một điểm đáng chú ý là: Trong khi nhân dân ta đóng thuế nặng nề và mỗi ngày một tăng như vậy, thì một người Pháp nếu lương đồng niên dưới 1.200 đồng thì lại được miễn thuế; thu hoạch quá con số kể trên cũng chỉ phải đóng có 10 đồng; nếu là bọn tư bản mỗi năm kiếm lời hàng triệu đồng cũng chỉ phải đóng nhiều nhất là 60 đồng ở Nam Kỳ hay 150 đồng ở các xứ khác thôi. Mục đích của chúng là khuyến khích tư bản Pháp đầu tư nhiều vào Việt Nam và khuyến khích cho nhiều người Pháp qua Đông Dương. Kết quả cụ thể của việc tăng thuế trực thu này là ngân sách hàng xứ thu được những món lời ngày một lớn.

Ngoài hai thứ thuế trực thu là đinh và điền, thực dân Pháp còn đặt hay sửa đổi nhiều thuế gián thu đem lại những số tiền rất lớn cho ngân sách. Chưa nói đến những loại thuế gián thu thứ yếu được gửi đổi lại như thuế tem, thuế trước bạ và cầm cố, thuế diêm, thuế quế..., lần lượt các ty rượu được thiết lập và bắt đầu hoạt động vào khoảng đầu tháng 7 năm 1897, ty muối vào khoảng tháng 9 năm 1897 và thuốc phiện khoảng năm 1898, mang lại cho ngân sách những món lợi lớn. Sự thịnh vượng của ngân sách Đông Dương, trong đó phần lớn là của Việt Nam, chủ yếu dựa trên ba món thuế đó. Chính nhờ những món lợi kếch sù này mà về sau, không những chính phủ Pháp đã không phải bù vào lỗ hổng trong ngân sách thuộc địa như mấy năm về trước nữa, trái lại mỗi khi cần tiền lại có thể nhờ vả.

Nói tóm lại, tính chung cả thuế gián thu và trực thu số tiền nhân dân Việt Nam phải nai lưng đóng sau khi Du-me sang lên đến hơn 90 triệu phật-lăng vàng. Nếu đem con số đó so sánh với con số thuế thu trước khi mất nước là 35 triệu, thì thấy rõ ràng mức độ tăng cường bóc lột vơ vét của thực dân Pháp.

Biện pháp đặt thêm nhiều thứ thuế mới nặng nề, Đu-me đã bóc lột tàn tệ các tầng lớp nhân dân trong nước. Sự phong phú của các loại thuế nói trên đã nói lên sự tàn bạo tham lam vô độ của thực dân Pháp, nhưng mặt khác cũng nói lên sự đói khổ cùng cực của nhân dân ta hồi đó.

Thực dân Pháp ngay từ lúc bắt đầu đánh chiếm Việt Nam đã tiến hành ráo riết việc chiếm đoạt ruộng đất của nông dân. Nhưng với Đu-me, việc chiếm đoạt đó càng được đẩy mạnh với tốc độ khủng khiếp hơn.
Logged

...Chuyện bình thường, chiến tranh người trai ấy quên mình, anh dâng hiến mùa xuân cho tương lai...

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM