Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 23 Tháng Bảy, 2019, 01:07:01 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)  (Đọc 13568 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 19996


« vào lúc: 29 Tháng Tám, 2016, 01:53:47 AM »


        - Tên sách: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
        - Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
        - Năm xuất bản: 1997
        - Số hoá: ptlinh, chuongxedap
        - Tóm lược về nội dung: Xây dựng hậu phương, các số liệu về hậu cần trong các cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ

        TẬP THỂ TÁC GIẢ:

        Trung tướng - GS-PTS HOÀNG PHƯƠNG (chủ biên)
        Thượng tá - PGS-PTS TRỊNH VƯƠNG HỒNG
        Thượng tá - VŨ TANG BỒNG
        Trung tá - PTS HỒ KHANG

        Với sự cộng tác của:
        Thiếu tá TRẦN VĂN THỨC

LỜI NÓI ĐẦU

        Trong những năm từ 1992 đến 1995, Viện Lịch sử quan sự Việt Nam đã triển khai đề tài cấp Nhà nước: Nghiên cứu một số vấn đề chiến lược trong lịch sử 30 năm chiến tranh giải phóng (1945 - 1975), mã số KX.ĐL.92-12.

        Đề tài do Trung tướng - GS.PTS Hoàng Phương làm chủ nhiệm và Trung tướng - PGS Nguyễn Đình Ước đại diện cơ quan chủ trì.

        Với hai cuộc kháng chiến ở nửa sau thế kỷ XX này, dân tộc Việt Nan được cả thế giới ca ngợi về sức chiến đấu ngoan cường, lòng dũng cảm và tài thao lược. Dư luận chung đều cho rằng đây là lần đầu tiên trong lịch sử phong trào giải phóng dân tộc, một nước thuộc địa đã lập nên chiến công vĩ đại, “không có một tấm gương nào có thể vĩ đại hơn thế (M. Mắc-lia, Việt Nam cuộc chiến tranh mười nghìn ngày).

        Tuy các công trình nghiên cứu về hai cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ được công bố không ít, song, một vấn đề quan trọng là tại sao Việt Nam lại thắng được hai đế quốc to, đối với nhiều người còn là điều khó hiểu.

        Xuất phát từ thực tế trên, đồng thời căn cứ vào khả năng của mình, trong đề tài kể trên, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam chọn 4 vấn đề chiến lược sau đây triển khai nghiên cứu: Chỉ đạo chiến lược chiến tranh nhân dân; Chỉ đạo nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân; Chỉ đạo giải quyết vấn đề trang bị vũ khí, kỹ thuật quân sự và Chỉ đạo xây đựng hậu phương chiến tranh nhân dân.

        Sau khi đề tài KX.ĐL.92-12 được Hội đồng khoa học công nghệ Nhà nước nghiệm thu và xếp loại xuất sắc, Viện đã tổ chức bổ sung, sửa chữa và chuyển văn bản sản phẩm đề tài thành sách phố biến. Đây là tập đầu tiên ra mắt bạn đọc.

        Nhân dịp này, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam xin chân thành cảnh ơn Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường, Bộ Tài chính, Cục Khoa học - Công nghệ và Môi trường (Bộ Quốc phòng), các vị lão thành cách mạng, các tướng lĩnh và các nhà khoa học trong và ngoài quân đội đã tạo điều kiện, cộng tác, giúp đỡ và cổ vũ trong quá trình thực hiện đề tài.

        Dù đã có nhiều cố gắng, tập sách này cũng không thể phản ánh đầy đủ nội dung rộng lớn của hậu phương chiến tranh nhân dân trong 30 năm (1945 - 1975). Chúng tôi rất mong các vị thức giả và bạn đọc đóng góp ý kiến.


Đại diện cơ quan chủ trì đề tài                
VIỆN TRƯỞNG                          
VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM            

Trung tướng - PGS NGUYỄN ĐÌNH ƯỚC        
« Sửa lần cuối: 30 Tháng Tám, 2016, 04:32:07 AM gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 19996


« Trả lời #1 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2016, 01:58:13 AM »

        
PHẦN THỨ NHẤT

XÂY DỰNG, BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY SỨC MẠNH HẬU PHƯƠNG
TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
(1945 - 1954)

        Đã thành quy luật, hậu phương luôn là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của chiến tranh. Bởi vì hậu phương là nơi xây dựng và dự trữ tiềm lực của chiến tranh cả về chính trị, kinh tế, quân sự và văn hóa, khoa học kỹ thuật; là nơi chi viện chủ yếu sức người, sức của cho tiền tuyến, là chỗ dựa tinh thần của tiền tuyến.

        Tiếp thu lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về chiến tranh cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, kế thừa những kinh nghiệm quý báu của dân tộc, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức coi trọng nhiệm vụ xây dựng hậu phương; coi đó là một trong những nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của chiến tranh giải phóng dân tộc. Đảng đã sớm nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng hậu phương, căn cứ địa kháng chiến, coi đó là một bộ phận chiến lược của đường lối chiến tranh nhân dân mà nội dung là giải quyết vấn đề cốt tử của bất kỳ cuộc chiến tranh nào: Dựa vào đâu lấy sức đâu mà đánh giặc? Nói cách khác là giải quyết vấn đề đất đứng chân và tiềm lực để kháng chiến lâu dài. Trong suốt chín năm kháng chiến, Đảng đã chỉ đạo toàn quân, toàn dân ta ra sức xây dựng, củng cố phát triển hậu phương, căn cứ địa, tạo được chỗ dựa vững chắc và sức mạnh to lớn để chiến thắng kẻ thù.

        Hậu phương của ta trong kháng chiến chống Pháp bao gồm những vùng tự do, các khu du kích, căn cứ du kích sau lưng địch và lòng dân yêu nước trong vùng tạm bị chiếm. Mặt khác, sự ủng hộ vật chất và tinh thần của nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới cũng được coi là hậu phương của cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Về cả lý luận và thực tiễn, hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam có những điểm sáng tạo và độc đáo. Trong đó, từ hậu phương trong cuộc chiến chống chủ nghĩa thực dân cũ, đến hậu phương trong cuộc đối đầu với chủ nghĩa thực dân mới, đã có sự phát triển trên nhiều phương diện.

        
A. CÔNG CUỘC CHUẨN BỊ HẬU PHƯƠNG TRƯỚC KHÁNG CHIẾN TOÀN QUỐC
 
(9-1945 - 12-1946)

        Trước khi bước vào cuộc kháng chiến, đất nước ta đang đứng trước muôn vàn khó khăn và bị chủ nghĩa đế quốc bao vây bốn phía. Trong Nam, quân Pháp được quân Anh trợ giúp, ngày 23 tháng 9 năm 1945 khởi hấn ở Sài Gòn, kế đó đánh chiếm Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Ngoài Bắc, 20 vạn quân Tưởng được Mỹ tiếp tay kéo vào với danh nghĩa giải giáp quân Nhật nhưng kỳ thực là nhằm bóp chết cách mạng, dựng nên chính quyền tay sai của chúng. Trong khi đó nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vừa mới ra đời chưa được nước nào trên thế giới công nhận. Chính quyền nhân dân mới thành lập, chưa được kiện toàn, kinh nghiệm quản lý nhà nước chưa có. Thậm chí ở một số nơi chính quyền chưa phải hoàn toàn nằm trong tay những người cách mạng. Lực lượng vũ trang non trẻ, vũ khí thô sơ, kinh nghiệm chỉ huy và chiến đấu đều ít ỏi. Ách áp bức phong kiến cùng chính sách vơ vét tàn bạo của thực dân Pháp và phát xít Nhật khiến nền kinh tế quốc dân lâm vào tình trạng suy sụp thảm hại. Nhân dân vừa trải qua nạn đói khủng khiếp, chỉ trong vòng ba tháng giữa năm 1945, hơn hai triệu đồng bào (tức là gần 1/10 dân số nước ta) đã chết vì đói và dịch bệnh. Ngay trước khi giành được chính quyền, nạn lụt lại xảy ra làm vỡ đê nhiều tỉnh thuộc Bắc Bộ, 35 vạn héc-ta ruộng bị ngập lụt. Chín tỉnh Sơn Tây, Hà Đông, Hà Nam, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Bắc Ninh, Phú Thọ, Hải Dương, Thái Bình bị mất mùa nặng. Ba tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh mất mùa tới 50%. Sau nạn lụt lại đến hạn, 50% ruộng đất ở Bắc Bộ bị bỏ hoang. Diện tích cấy trồng và sản lượng đều giảm sút. Ở 15 tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, diện tích trồng cấy vụ mùa năm 1945 chỉ đạt 540.000 ha (Vụ mùa năm 1944 là 967.000 ha). Số ruộng bị bỏ hoang không cày cấy được vì ngập lụt, thiếu nhân công, thiếu giống khoảng 265.000 ha. Vụ mùa năm 1944, miền Bắc thu được 832.000 tấn thóc, cả năm 1945 chỉ thu được 500.000 tấn1. Công thương nghiệp hoàn toàn đình đốn, ngoại thương bị đình trệ, thủ công nghiệp phá sản. Hàng hóa khan hiếm nghiêm trọng, giá cả tăng vọt. Hàng vạn công nhân không có việc làm. Về tài chính, kho bạc của chính quyền cách mạng chỉ có 1,3 triệu đồng thì một nửa là tiền hào giấy nát đang chờ hủy. Trong khi đó, Ngân hàng Đông Dương ta không chiếm được. Đồng tiền quan kim do quân Tưởng tung ra buộc ta phải lưu hành - một thứ giấy lộn mất giá trị, khiến cho thị trường càng rối loạn thêm.

--------------
1. Báo Sự thật ngày 12-12-1945
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 19996


« Trả lời #2 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2016, 02:11:38 AM »


        Trên lĩnh vực văn hóa, hậu quả của chính sách ngu dân của thực dân Pháp làm cho 95% dân số Việt Nam mù chữ. Số người được đi học các bậc học tiểu học, trung học và cao đẳng rất ít ỏi. Theo Đông Dương thống kê niên giám, thì năm 1936 - 1937 cả ba kỳ bình quân 3 làng có một lớp sơ học và chỉ có 2% dân số đến trường sơ học. Đó là bậc học phát triển nhất dưới chế độ thực dân Pháp. Bậc tiểu học, toàn quốc có 638 trường (kể cả trường tư) bình quân 34 làng và 29.239 người có 1 trường và chỉ có 0,4% dân cư theo học ở bậc tiểu học. Bậc cao đẳng tiểu học, bình quân cứ 1.170.000 người dân mới có một trường và chỉ có 0,05 dân số đến học ở các trường này. Còn ở bậc trung học số người Việt Nam theo học chỉ chiếm tỷ lệ 0,009% so với dân số1.

        Những khó khăn trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa đặt ra những nhiệm vụ trước mắt mà chính quyền cách mạng phải giải quyết. Nhiệm vụ cơ bản nhất đặt ra cho Đảng và chính quyền nhân dân là giữ vững chính quyền, bảo vệ và xây dựng chế độ mới.

        Từ thân phận nô lệ trở thành công dân và người làm chủ của một nước độc lập, tự do, đồng bào ta khắp từ Nam chí Bắc dâng trào niềm tự hào, phấn khởi. Các giai cấp, các tầng lớp yêu nước, nhân dân các dân tộc một lòng tin tưởng vào Chính phủ cách mạng, vào Chủ tịch Hồ Chí Minh, kiên quyết bảo vệ thành quả của Cách mạng tháng Tám. Trước những hành động xâm lược và phá hoại của đế quốc và tay sai, nhân dân ta từ Nam chí Bắc, từ miền ngược đến miền xuôi càng thêm đoàn kết chặt chẽ xung quanh Chính phủ Cụ Hồ, hăng hái tham gia Mặt trận Việt Minh - mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi do Đảng lãnh đạo. Các hội cứu quốc trong mặt trận như công nhân cứu quốc, nông dân cứu quốc, thanh niên cứu quốc, phụ nữ cứu quốc, nhi đồng cứu vong, v.v... phát triển mạnh mẽ. Khối liên minh công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo, nền tảng của mặt trận được phát triển và củng cố vững chắc. Đây thực sự là khối quần chúng cách mạng, khối đoàn kết toàn dân được tổ chức chặt chẽ, là lực lượng chính trị hùng hậu phát triển rộng khắp trong và sau ngày Tổng khởi nghĩa.

        Lực lượng chính trị hùng hậu ấy đã giữ vai trò hết sức quan trọng trong công cuộc bảo vệ chính quyền nhân dân, bảo vệ chủ quyền quốc gia, chủ quyền dân tộc. Đây là cơ sở vững chắc để xây dựng, phát triển lực lượng mọi mặt của cách mạng, là nền tảng để thực hiện vũ trang toàn dân, hình thành và phát triển lực lượng vũ trang nhân dân. Đây cũng chính là cơ sở vững chắc nhất để xây dựng hậu phương kháng chiến.
       
        Để chống thù trong, giặc ngoài, cùng với việc giáo dục chính trị cho quần chúng, xây dựng khối đoàn kết toàn dân, tổ chức và phát triển các đoàn thể cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang, Đảng và Chính phủ đã đề ra nhiều chủ trương lớn xây dựng hậu phương trước khi xảy ra chiến tranh trên phạm vi cả nước. Trong tay Chính phủ tiền, gạo, vải muối... hầu như là con số không. Mọi chi tiêu cửa Chính phủ, quân đội lúc này chỉ có một nguồn cung cấp là nhân dân. Trong khi đó nhân dân vừa trải qua nạn đói khủng khiếp, lại đang bị nạn đói mới đe dọa.

        Sản xuất lương thực để cứu đói và nuôi dưỡng quân đội là công việc bức thiết mà chính quyền cách mạng phải quan tâm lãnh đạo nhân dân thực hiện. Ngày 3 tháng 9 năm 1945 trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trình bày chủ trương “Phát động một phong trào tăng gia sản xuất để chống nạn đói”. Người xác định: “Hiện nay chúng ta có hai việc quan trọng nhất: cứu đói ở Bắc và kháng chiến ở Nam, “thực túc” thì “binh cường” cấy nhiều thì khỏi đói. Chúng ta thực hiện “tấc đất tấc vàng” thì chúng ta quyết thắng lợi trong hai việc đó”2. Người kêu gọi đồng bào cả nước nhường cơm sẻ áo cho nhau. Mười ngày một lần tất cả đồng bào nhịn ăn một bữa, gạo tiết kiệm được sẽ góp lại phát cho người nghèo. Và chính Người nêu gương thực hiện đầu tiên.

        Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh được nhân dân cả nước nhiệt liệt hưởng ứng. Nhân dân cả nước nô nức tăng gia sản xuất như chiến đấu, chống đói như chống giặc ngoại xâm. Tính đến cuối năm 1945, nhân dân ta đã bỏ ra 4 triệu ngày công, đào đắp 2,72 triệu mét khối đất bổ trợ cho hàng trăm ki-lô-mét đê điều đẩy lùi nạn lụt Diện tích trồng lúa mở rộng gấp rưỡi, diện tích trồng khoai lang tăng gấp ba, số khoai thu hoạch tăng gấp bốn, diện tích trồng ngô tăng gấp năm, số ngô thu hoạch tăng gấp bốn lần so với năm 1943. Từ năm 1938 đến năm 1943 trung bình mỗi năm miền Bắc sản xuất được 65.400 tấn khoai lang, 56.000 tấn ngô, 26.000 tấn đỗ tương, nhưng từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến đầu năm 1946, miền Bắc đã thu hoạch được 231.000 tấn khoai lang, 224.000 tấn ngô, 60.000 tấn đỗ tương3.

        Nhờ sự nỗ lực vượt bậc của toàn dân, giá gạo tại Bắc Bộ từ 700 đồng được hạ dần xuống 200 đồng một tạ4. Cách mạng đã chiến thắng nạn đói ngay từ những ngày đầu chế độ mới. Kết quả đó không chỉ bồi dưỡng sức dân mà còn góp phần quyết định vào việc xây dựng và bảo vệ vững chắc chính quyền cách mạng. Thắng lợi trên mặt trận chống giặc đói vì vậy có ý nghĩa chính trị to lớn, làm nổi bật tính ưu việt của chính quyền cách mạng. Nhân dân càng thêm tin tưởng và gắn bó với chế độ mới.

--------------
1. Hội truyền bá quốc ngữ (1938 - 1945), Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1984, tr. 11, 12.

2. Những lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch, Tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1956, tr.26.

3. 4. Tổng cục Hậu cần, Lịch sử hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam 1944 -1954, Tập 1, Hà Nội, 1985, tr.68, tr. 66.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 19996


« Trả lời #3 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2016, 02:17:02 AM »


        Trước tình hình nguy ngập về tài chính1, Chính phủ đã kiên quyết cắt giảm các khoản chi tiêu chưa thật cần thiết và kêu gọi sự đóng góp của toàn dân. Việc tổ chức lạc quyên trong nhân dân được tích cực thực hiện. Ngày 4 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 34/SL xây dựng “Quỹ Độc lập” và ngày 17 tháng 9 tổ chức “Tuần lễ vàng”, động viên mọi người dân yêu nước tự nguyện đóng góp ủng hộ việc xây dựng và bảo vệ nền độc lập của đất nước, để “dùng vào việc cần cấp và quan trọng nhất của chúng ta lúc này là việc quốc phòng”2. “Quỹ Độc lập” và “Tuần lễ vàng” được nhân dân cả nước nhiệt liệt hưởng ứng. Nhiều gia đình đem hết vàng bạc ra góp; nhiều mẹ, nhiều chị đem cả tư trang quý và vật kỷ niệm thân thiết cúng vào các quỹ trên. Chỉ trong một thời gian rất ngắn các tầng lớp nhân dân đã đóng góp được hơn 20 triệu đồng và 370 kg vàng3. Số vàng và tiền đóng góp trên tuy không lớn so với nhu cầu chi tiêu của một nhà nước, nhưng đã giải quyết được những khó khăn gay gắt trước mắt, nhất là việc xây dựng nuôi dưỡng và trang bị cho các đơn vị Vệ quốc quân đang được xây dựng và phát triển.

        Các đoàn thể cứu quốc thường xuyên tổ chức các cuộc lạc quyên ủng hộ bộ đội. Chỉ trong “Ngày len vải sợi” do phụ nữ cứu quốc Hà Nội tổ chức đã quyên được 5.842m vải, 149kg len, hàng nghìn quần, áo, chăn, màn, giày, dép4...

        Trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, chính nhờ biết dựa vào dân, Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng bước đưa đất nước vượt qua khó khăn trước mắt, lãnh đạo nhân dân cả nước vừa kháng chiến ở miền Nam vừa ra sức chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến toàn quốc.

        Song song với việc huy động sự đóng góp của nhân dân, Đảng và Nhà nước ta cũng đề ra nhiều chủ trương và biện pháp lớn nhằm bồi dưỡng sức dân, như giảm tô 25%, bãi bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế đò, sửa lại nhiều thứ thuế cho nhẹ và công bằng, ban hành sắc lệnh “Đảm phụ quốc phòng”, phát hành giấy bạc Việt Nam... Các chủ trương và biện pháp đó góp phần quan trọng vào việc xây dựng hậu phương.

        Song song với thắng lợi to lớn bước đầu trên mặt trận kinh tế tài chính, chính quyền cách mạng cũng sớm đề ra nhiều chủ trương, biện pháp lớn và đã giành được nhiều thành tích trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục. Ngay sau Cách mạng tháng Tám, một trong những việc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm đặc biệt là phát động một cao trào toàn dân chống nạn mù chữ để mở mang kiến thức cho nhân dân lao động, từng bước khắc phục hậu quả của chính sách ngu dân suốt hơn 80 năm của thực dân Pháp.

        Ngày 3 tháng 9 năm 1945, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Nạn dốt là một phương pháp độc ác của bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta. Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy tôi đề nghị mở một chiến dịch chống giặc dốt”. Tiếp đó ngày 8 tháng 9 năm 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành sắc lệnh 17/SL quyết định thành lập Nha Bình dân học vụ, sắc lệnh 19/SL quy định các địa phương phải mở lớp bình dân học vụ chậm nhất là trong thời gian 6 tháng và sắc lệnh 29/SL thi hành cưỡng bức việc học chữ quốc ngữ. Toàn dân đã sôi nổi hưởng ứng lời kêu gọi và các sắc lệnh đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khắp nơi từ thành phố đến nông thôn, trong các nhà máy đến đồng ruộng, nhiều lớp bình dân học vụ đã được mở, lôi cuốn từ em nhỏ đến các cụ già. Khẩu hiệu “Đi học là kháng chiến”, “Mỗi lớp học là một tổ tuyên truyền kháng chiến” xuất hiện khắp các đường phố, xóm làng.

        Sau hơn một năm thực hiện chiến dịch chống giặc dốt, cả nước đã có 2.500.000 người thoát nạn mù chữ. Hệ thống giáo dục phổ thông và đại học cũng được xây dựng và từng bước phát triển theo ba nguyên tắc: dân tộc, dân chủ và khoa học. Tiếng Việt được dùng trong các văn bản chính thức của Nhà nước và trong việc học tập giảng dạy ở các trường lớp, kể cả Trường đại học y, dược khoa5.

-------------
1. Sau Cách mạng tháng Tám ngân sách Đông Dương hụt tới 185 triệu đồng và nợ tới 564 triệu đồng, trong khi đó ngân khố Trung ương chỉ còn 664.000 đồng có thể tiêu được.

2. Hồ Chí Minh Tuyển tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1960, tr.211.

3. Tổng số vàng và tiền nói trên tương đương với tổng số thuế thân và thuế thu trong cả nước một năm dưới chế độ cũ (Theo 45 năm kinh tế Việt Nam, tr 249.

4. Tổng cục Hậu cần, Những sự kiện lịch sử về hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, 1979, tr.68.

5. Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Tập 1 (1930 - 1954), Nxb Sự thật, Hà Nội, 1981, tr.455.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 19996


« Trả lời #4 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2016, 02:18:24 AM »


        Thắng lợi của cuộc đấu tranh chống giặc dốt ngoài ý nghĩa lớn về văn hóa còn là một thắng lợi lớn về chính trị. Nó tạo điều kiện để nhân dân tham gia quản lý nhà nước và phát huy quyền làm chủ của mình trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

        Cuộc vận động đời sống mới nhằm giáo dục tinh thần yêu nước, lòng căm thù bọn cướp nước, yêu lao động, yêu chính quyền cách mạng, căm ghét bóc lột và xây dựng đạo đức “cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư” được tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân. Những thói hư tật xấu, những phong tục tập quán lạc hậu trong ma chay, cưới xin, nạn cờ bạc được xóa bỏ.

        Cuộc đấu tranh chống ảnh hưởng của văn hóa văn nghệ nô dịch và chống các khuynh hướng của quan điểm tư sản trong nghệ thuật cũng bắt đầu cùng với việt phát động và hướng dẫn phát triển một phong trào văn nghệ cách mạng có tính quần chúng rộng rãi.

        Công tác y tế vệ sinh phòng bệnh được quan tâm. Chính quyền cách mạng có chính sách đúng đắn sử dụng đội ngũ cán bộ y tế của chế độ cũ, đồng thời nhanh chóng đào tạo đội ngũ cán bộ y tế của chế độ mới, xây dựng bộ máy y tế chăm lo sức khỏe của nhân dân.

        Nhân dân chỉ có thể phát huy sức mạnh to lớn của mình khi được tổ chức và có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng. Nhiều cán bộ của Đảng, của Mặt trận Việt Minh, của các đoàn thể cứu quốc được cử đến những vùng rừng núi xa xôi hẻo lánh ở Tây Bắc,Tây Nguyên để làm công tác tuyên truyền vận động và tổ chức nhân dân. Các đoàn thể cứu quốc được xây dựng rộng khắp: hội công nhân cứu quốc ở các nhà máy, công xưởng; các hội nông dân, thanh niên, phụ nữ, phụ lão, nhi đồng cứu quốc ở khu phố thôn xã; hội học sinh, sinh viên cứu quốc ở trường học; hội viên chức cứu quốc ở các công sở. Trong các tôn giáo có Hội phật giáo cứu quốc, Hội công giáo cứu quốc. Để mở rộng hơn nữa mặt trận dân tộc thống nhất do giai cấp công nhân lãnh đạo, Đảng chú ý tranh thủ những nhân sĩ yêu nước thuộc tầng lớp trên. Đảng còn cố gắng lôi kéo tranh thủ cả những người cầm đầu tầng lớp thống trị cũ (trong đó có Bảo Đại), những người có ảnh hưởng lớn trong các dân tộc, các tôn giáo (như vua H’mông Vương Chí Sình, linh mục Lê Hữu Từ... ). Mặc dù một số những người này đi với cách mạng chỉ là một cử chỉ có tính chất cơ hội nhằm tránh đòn trừng phạt của nhân dân, nhưng điều đó càng nói lên chủ trương đoàn kết rộng rãi của Đảng vì quyền lợi chung của Tổ quốc, đồng thời có tác dụng cô lập triệt để bọn đế quốc xâm lược, ngăn chặn hạn chế các hoạt động chia rẽ, phá hoại của bọn phản cách mạng, xây dựng khối đoàn kết toàn dân, tạo sự ổn định vững chắc về chính trị, chuẩn bị hậu phương cho sự nghiệp kháng chiến.

        Với tư cách người đứng đầu nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Đảng và Nhà nước còn yêu cầu chính quyền các cấp và nhân dân toàn quốc phát hiện, tiến cử những người tài đức, không phân biệt tuổi tác và thành phần giai cấp ra giúp dân giúp nước, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

        Trước sự xâm lược và phá hoại của bọn đế quốc và bè lũ tay sai của chúng, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng và củng cố quốc phòng. Tháng 1 năm 1946 Trung ương Quân ủy được thành lập. Những đơn vị tự vệ cứu quốc và tự vệ chiến đấu được tổ chức ở tất cả các khu phố, thôn xã. Trên cơ sở đó các đơn vị bộ đội tập trung được xây dựng và phát triển nhanh chóng, bảo vệ vững chắc chính quyền cách mạng từ trung ương đến cơ sở. Đến cuối năm 1946, riêng Vệ quốc đoàn (bộ đội chủ lực) đã có 82.000 cán bộ chiến sĩ.

        Để trấn áp bọn phản cách mạng, ngày 5 tháng 9 năm 1945 Chính phủ ban hành sắc lệnh giải tán “Đại Việt quân dân xã hội đảng” và “Đại Việt Quốc dân đảng” là những đảng phái phản động tay sai của phát xít Nhật. Chính phủ còn ra sắc lệnh lập tòa án quân sự trừng trị bọn phản cách mạng.

        Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh còn hết sức quan tâm tăng cường tính chất nhân dân của chính quyền cách mạng. Tháng 10 năm 1945 trong thư gửi các ủy ban hành chính các xứ, tỉnh, huyện và xã, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở các ủy ban phải luôn luôn nhận rõ và làm đúng. Qua đó nhân dân nhận rõ nhà nước do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo là nhà nước của mình, sẵn sàng hy sinh tất cả để bảo vệ nhà nước.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 19996


« Trả lời #5 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2016, 02:20:11 AM »


        Để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân và đập tan những luận điệu xuyên tạc của kẻ thù, mặc dầu chính quyền non trẻ đang đứng trước muôn vàn khó khăn, nhưng với lòng tin vững chắc vào sự ủng hộ của toàn dân, Đảng và Chính phủ vẫn quyết tổ chức tổng tuyển cử tự do dân chủ trong cả nước vào ngày 6 tháng 1 năm 1946 để bầu quốc hội, lập chính phủ chính thức, xây dựng hiến pháp của nước Việt Nam độc lập. Thắng lợi của cuộc tổng tuyển cử lịch sử này là một đòn chí mạng đánh vào âm mưu chia rẽ, lật đổ, xâm lược của bọn đế quốc và tay sai, nâng cao uy tín của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trên trường quốc tế. Đây cũng là dịp giáo dục lòng yêu nước, ý thức làm chủ và nghĩa vụ của người công dân một nước độc lập. Đây là một cuộc tổng động viên chính trị rộng lớn và sâu sắc trên phạm vi cả nước nhằm biểu dương sức mạnh và ý chí của khối đoàn kết toàn dân, quyết hy sinh để giữ quyền độc lập tự do, sẵn sàng đánh bại kẻ thù xâm lược. Thắng lợi của cuộc tổng tuyển cử tạo cơ sở pháp lý cho cuộc đấu tranh chính trị, quân sự, ngoại giao với kẻ thù và tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới đối với sự nghiệp kháng chiến của nhân dân ta.

        Cùng với việc ra sức ổn định tình hình, xây dựng củng cố chính quyền cách mạng, đặt cơ sở đầu tiên của chế độ mới, Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo cả nước đấu tranh chống lại hành động xâm lược của thực dân Pháp ở miền Nam và âm mưu lật đổ của quân Tưởng và tay sai của chúng ở miền Bắc. Thực hiện chủ trương tránh chiến đấu với nhiều kẻ thù trong cùng một lúc, lợi dụng mâu thuẫn giữa hai tập đoàn đế quốc Anh - Pháp và Mỹ - Tưởng trong vấn đề Đông Dương, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã khôn khéo thực hiện sách lược hòa với Tưởng để chống Pháp, sau đó lại hòa với Pháp, phá tan được âm mưu của Tưởng và tay sai định đẩy ta vào thế bị cô lập, tống khứ được 20 vạn quân Tưởng cùng bè lũ tay sai phản động ra khỏi đất nước, giành được thời gian chiến lược quý báu chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới: kháng chiến toàn quốc đánh tay đôi với Pháp giành độc lập hoàn toàn.

        Nhiệm vụ chính trị của giai đoạn mới chống âm mưu mở rộng chiến tranh xâm lược ra cả nước ta của thực dân Pháp và xây dựng đất nước, chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến sắp tới đòi hỏi phải tăng cường hơn nữa khối đoàn kết toàn dân, làm hậu thuẫn vững chắc cho chính quyền nhân dân, mặt khác thành lập thêm nhiều tổ chức quần chúng mới, mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất.

        Tháng 5 năm 1946, theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Liên Việt) được thành lập bao gồm các tổ chức, đảng phái và cá nhân yêu nước chưa tham gia Mặt trận Việt Minh. Ngày 27 tháng 5 năm 1946 Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam được thành lập, đoàn kết và thống nhất các tổ chức của giai cấp công nhân trong cả nước. Tháng 7 năm 1946, Đảng vận động giới trí thức Việt Nam thành lập Đảng Xã hội Việt Nam nhằm đoàn kết rộng rãi những người trí thức yêu nước, đập tan âm mưu của thực dân Pháp cùng bè lũ tay sai định lập lại chi nhánh đảng xã hội Pháp ở Việt Nam hòng lôi kéo trí thức và công chức chống lại Việt Minh. Ngày 20 tháng 10 năm 1946 Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam ra đời đoàn kết các tầng lớp phụ nữ yêu nước, ủng hộ chính quân nhân dân, chống thực dân Pháp xâm lược.

        Đặc biệt, ngày 19 tháng 4 năm 1946 Hội nghị các dân tộc thiểu số miền Nam Việt Nam được triệu tập ở Plây Cu và ngày 3 tháng 12 năm 1946 Hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam được tổ chức ở Hà Nội nhằm đoàn kết các dân tộc trong nước, chống âm mưu chia rẽ dân tộc của thực dân Pháp.

        Trước các âm mưu và hành động phá hoại nền độc lập thống nhất của ta, đặc biệt là sau khi cuộc đàm phán ở Phông-ten-nơ-bơ-lô tan vỡ, ngày 19 tháng 10 năm 1946 Đảng triệu tập Hội nghị quân sự toàn quốc. Hội nghị khẳng định: “Không sớm thì muộn Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp”1. Cả nước được chia làm 12 chiến khu. Các phương án tác chiến được đề ra. Kế hoạch phá hoại đường sá, cầu cống, làm “vườn không nhà trống” được chuẩn bị để ngăn địch. Vùng núi rừng Việt Bắc được củng cố làm căn cứ địa vững chắc của Trung ương, sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến lâu dài. Máy móc, nguyên vật liệu của nhiều nhà máy, xí nghiệp được bí mật tháo gỡ chuyển từ các thành phố về các chiến khu xây dựng các nhà máy, công xưởng phục vụ các yêu cầu chiến đấu và đảm bảo đời sống. Hơn hai vạn tấn muối, hàng chục vạn mét vải, hàng chục tấn thuốc chữa bệnh và nhiều mặt hàng thiết yếu khác được chuyển lên các vùng căn cứ.

-----------------
1. Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương, Văn kiện Đảng 1945 – 1954, Tập 1, 1978, tr.94.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 19996


« Trả lời #6 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2016, 02:22:34 AM »


        Sau Cách mạng tháng Tám, khi Trung ương về Hà Nội, đồng chí Phạm Văn Đồng được Chủ tịch Hồ Chí Minh phân công ở lại Việt Bắc chuẩn bị xây dựng căn cứ địa, phòng khi chiến tranh xâm lược tái diễn. Trung ương thành lập Ban xây dựng căn cứ địa do hai đồng chí ủy viên Trung ương Đảng Nguyễn Lương Bằng và Trần Đăng Ninh phụ trách. Các khu, tỉnh và huyện trong cả nước cũng khẩn trương chuẩn bị căn cứ, nơi đứng chân của địa phương mình. Quân và dân thủ đô Hà Nội được giao nhiệm vụ chuẩn bị sẵn sàng, khi chiến tranh nổ ra phải chiến đấu giam chân địch một thời gian, tạo điều kiện cho hậu phương và cả nước chuyển vào thời chiến.

        Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã chủ động chuẩn bị sẵn sàng vào cuộc chiến đấu. Đầu tháng 11 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết văn kiện “Công việc khẩn cấp bây giờ” nêu những phương hướng và nhiệm vụ chủ yếu của kháng chiến và vạch rõ “ta sẽ kháng chiến lâu dài, vừa kháng chiến vừa kiến quốc, tổ chức du kích khắp nơi, tăng gia sản xuất khắp nơi”. Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng họp trong hai ngày 18 và 19 tháng 12 năm 1946 khẳng định cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ nhưng nhất định thắnglợi. Hội nghị vạch ra đường lối cơ bản của cuộc kháng chiến mà nội dung chủ yếu chứa đựng trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-12-1946) và Chỉ thị toàn dân kháng chiến (22-12-1946) của Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Tống bí thư Trường Chinh viết một loạt bài đăng trên báo Sự thật từ tháng 3 đến tháng 8 năm 1947, giải thích, cụ thể hóa đường lối kháng chiến của Đảng. Các văn kiện trên vạch rõ mục đích, tính chất của cuộc kháng chiến là toàn dân, toàn diện trường kỳ và tự lực cánh sinh.

        Về chính trị: đoàn kết toàn dân, thực hiện quân, chính, dân nhất trí, động viên nhân lực, tài lực, đoàn kết với hai dân tộc Lào và Cam-pu-chia, với nhân dân Pháp, với các nước châu Á và các dân tộc bị áp bức, các dân tộc yêu chuộng hòa bình dân chủ trên thế giới, củng cố chế độ cộng hòa dân chủ, đánh đổ chính quyền bù nhìn; lập ra ủy ban kháng chiến các cấp để chỉ đạo kháng chiến.

        Về quân sự: triệt để dùng “du kích vận động chiến” thực hành phá hoại “làm cho địch đói, khát, mù, điếc, câm, tiêu hao, mệt mỏi, chán nản”, tản cư nhân dân ra khỏi vùng có chiến sự, vừa đánh vừa xây dựng lực lượng; cuộc kháng chiến phải trải qua ba giai đoạn: phòng ngự, cầm cự và tổng phản công.

        Về kinh tế: tăng gia sản xuất tự cấp tự túc, tự sản xuất vũ khí và lấy súng giặc đánh giặc, tiếp tế cho bộ đội vừa kháng chiến vừa kiến quốc.

        Về văn hóa: chống nạn mù chữ, thực hiện cần, kiệm, liêm chính; văn nghệ sĩ ủng hộ kháng chiến1.

        Đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện của Đảng được thể hiện bằng khẩu hiệu “Mỗi phố là một mặt trận, mỗi làng là một pháo đài”2.

        Đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, đúng đắn và sáng tạo của Đảng đã dẫn dắt tổ chức nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ và anh dũng. Đó là sự chuẩn bị quan trọng nhất cho cuộc kháng chiến toàn quốc đi tới thắng lợi.

-----------------       
1. Văn kiện Đảng 1945 – 1954, Tập 2, Quyển 1, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương, Hà Nội, 1979. Trang 15.

2. “Chỉ thị toàn dân kháng chiến”, Văn kiện Đảng 1945 – 1954, Tập 2, Quyển 1, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương, 1979, tr. 15.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 19996


« Trả lời #7 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2016, 02:27:03 AM »


B. XÂY DỰNG HẬU PHƯƠNG TRONG KHÁNG CHIẾN.

        Hơn một năm kháng chiến ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ cùng những tháng ngày khẩn trương chuẩn bị cho cuộc kháng chiến toàn quốc đã chỉ ra cho Đảng ta bao điều mới mẻ về nghệ thuật điều hành chiến tranh đồng thời đặt ra trước nhân dân ta nhiều việc phải làm để nhanh chóng chuyển đất nước vào cuộc chiến tranh cứu nước.

        Ngay từ trước khi quyết định chủ động khởi đầu cuộc chiến tranh cứu nước, Đảng và Chính phủ đã triển khai kế hoạch tổng di chuyển các cơ quan lãnh đạo, kho tàng, máy móc, vật tư, các cơ sở y tế, giáo dục về các khu an toàn. Đây là một trong những việc quan trọng cấp bách nhằm thực hiện chủ trương “bảo đảm thực lực kháng chiến lâu dài”1. Công tác di chuyển đã được tiến hành ngay từ cuối năm 1945 ở miền Nam và nửa cuối năm 1946 ở miền Bắc. Đợt tổng di chuyển diễn ra từ cuối tháng 11 năm 1946 đến tháng 2 năm 1947 và kết thúc vào tháng 7 năm 1947. Trong đợt tổng di chuyển này riêng ngành quân giới đã chuyển được hơn 42.000 tấn máy móc thiết bị, nguyên vật liệu qua những chặng đường dài từ vài chục đến vài trăm ki-lô-mét vào các căn cứ; trong đó có hàng trăm máy tiện, hàng chục máy phay, máy bào, máy khoan, động cơ điện, hàng nghìn tấn sắt, thép, gang, đồng, chì, kẽm, thiếc; hàng trăm tấn hóa chất và cả những bán thành phẩm rất quý dùng cho việc sản xuất đạn súng trường mìn, lựu đạn. Riêng ở Bắc Bộ, gần hai phần ba số máy móc thiết bị của các nhà máy đã được chuyển lên các căn cứ. Nhờ đó ta đã xây dựng được hàng trăm cơ sở công nghiệp sản xuất vũ khí phục vụ chiến đấu và xây dựng nền kinh tế kháng chiến. Khối lượng máy móc, nguyên liệu nói trên tuy còn rất ít ỏi đối với một quốc gia nhưng nó lại là một khối lượng khổng lồ đối với đôi vai khiêng vác và các phương tiện vận chuyển thô sơ của quân và dân ta lúc này. Nó là vốn liếng ban đầu vô cùng quý giá để tạo cơ sở, từng bước tạo tiềm lực cho cuộc kháng chiến lâu dài giữa vòng vây của chủ nghĩa đế quốc.

        Theo chủ trương của Đảng, nhân dân cả nước đã triệt để thực hiện “vườn không nhà trống”, tản cư phá hoại cầu đường, xây dựng làng kháng chiến. Việc phá hoại và tổ chức nhân dân tản cư ra khỏi vùng địch chiếm đóng là những công tác lớn. Hàng triệu đồng bào trong đó có nhiều nhân sĩ, trí thức nổi tiếng, theo tiếng gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng và Chính phủ đã bỏ lại nhà cửa, tài sản, không chịu hợp tác với giặc, tản cư ra vùng tự do. Nhân dân hăng hái tham gia công tác phá hoại nhà cửa, cầu cống, đường sá, đắp ụ ngăn bước tiến của giặc với lòng tin sắt đá rằng: “Đến ngày kháng chiến thắng lợi sẽ cùng nhau kiến thiết và sửa sang lại”2.

        Vừa phá hoại giao thông và những nơi địch có thể đóng quân, nhân dân ta còn dùng mọi biện pháp làm tê liệt những cơ sở kinh tế mà địch có thể sử dụng để “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”. Chỉ tính riêng ở Bắc Bộ, sau 5 ngày đầu kháng chiến, ta đã phá sập phần lớn hầm mỏ và ba phần năm số máy móc không thể di chuyển ra vùng tự do. Nhiều nhà máy trong vùng địch tạm chiếm phải đóng cửa, một số nhà máy đến cuối năm 1947 địch mới khôi phục được nhưng mức sản xuất kém xa so với trước. Nhà máy xi măng Hải Phòng trước đây sản xuất 266.000 tấn mỗi năm, năm 1947 chỉ sản xuất được 40.000 tấn. Mỏ than Hồng Gai năm 1947 chỉ khai thác được 26.000 tấn/tháng; trong khi đó, ngay trước kháng chiến, trung bình đạt 145.300 tấn/tháng. Ở Nam Bộ trước đây địch thường xuyên khai thác được trên chục vạn héc-ta cao su, do ta tích cực phá hoại đến cuối năm 1947 chúng mới khai thác trở lại được gần 4000 ha3.

        Theo thống kê chưa đầy đủ, chỉ trong năm đầu kháng chiến (từ cuối năm 1946 đến cuối 1947) nhân dân ta đã phá hoại 1.060 km đường sắt, 5.640 km đường ô tô, 30.500 cầu cống, 59.100 nhà cửa, 84 đầu máy xe lửa và 868 toa xe4.

        Phá hoại, tiêu thổ kháng chiến là biểu hiện của quyết tâm sắt đá “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Nhân dân cả nước ta đã không tiếc công sức, xương máu, miễn là tiến hành kháng chiến thắng lợi. Phá hoại, tiêu thổ kháng chiến đã gây nhiều khó khăn cho địch, trực tiếp đánh vào hậu phương chiến tranh, ngăn cản làm chậm bước tiến hoặc phá vỡ kế hoạch tiến công của chúng. Phá hoại, tiêu thổ kết hợp chặt chẽ với tác chiến đã nhân hiệu quả đánh địch lên gấp nhiều lần. Tuy nhiên công tác tản cư, phá hoại, tiêu thổ trong những ngày đầu kháng chiến do thiếu kinh nghiệm nên cả về mặt chỉ đạo và tổ chức thực hiện ở cơ sở đều còn những hạn chế, chưa đạt hiệu quả cao nhất.

---------------
1. Văn kiện Đảng 1945 – 1954, sđd.

2. Hồ Chí Minh Tuyển tập, Tập 1, “Lời kêu gọi đồng bào phá hoại để kháng chiến”, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980, tr.413.

3, 4. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945 – 1954, Tập 2, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1986, tr.77.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 19996


« Trả lời #8 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2016, 02:28:08 AM »


*

*       *

        Khi kháng chiến nổ ra ở miền Nam và ngay sau khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ta chưa thể lường hết được sức địch, sức ta, chưa thể ấn định chính xác đâu là vùng tự do, là hậu phương của cuộc kháng chiến.

        Trong vận động cách mạng nói chung và trong đấu tranh vũ trang nói riêng phải dựa vào lực lượng to lớn nhất là nông dân, phải có cơ sở vững chắc trong nhân dân để huy động được sức người, sức của phục vụ kháng chiến, do đó tất yếu phải đặt ra vấn đề xây dựng hậu phương. Căn cứ địa cách mạng để chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 là hình ảnh đầu tiên về hậu phương của chiến tranh nhân dân ở nước ta. Trong quá trình kháng chiến, nhờ có đường lối đúng đắn sáng tạo nên hậu phương của cuộc chiến tranh nhân dân sớm hình thành bao gồm ba vùng tự do lớn (Việt Bắc, Thanh - Nghệ - Tĩnh và Khu 5), các vùng tự do, khu căn cứ rộng lớn ở Đồng Tháp Mười, U Minh Thượng, U Minh Hạ và Đông Nam Bộ. Mỗi liên khu mỗi tỉnh cũng có các khu căn cứ, nơi đứng chân của mình. Theo quan điểm của Đảng ta, nội dung của hậu phương kháng chiến còn hàm chứa trong liên minh chiến đấu Việt - Lào - Miên, trong sự ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa nhất là Trung Quốc và Liên Xô, sự ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân Pháp và nhân dân tiến bộ trên thế giới. Hậu phương của ta còn là lòng dân và sự đóng góp của nhân dân ngay trong vùng tạm bị chiếm.

        Ngay từ đầu kháng chiến, Đảng đã xác định căn cứ địa của cuộc kháng chiến không những ở rừng núi mà ở cả đồng bằng. Mùa xuân năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng, Chính phủ lên Việt Bắc xây dựng trung tâm chỉ đạo cả nước kháng chiến.

        Xây dựng Việt Bắc trở thành căn cứ địa của cơ quan đầu não, hậu phương lớn của cuộc kháng chiến toàn quốc, cũng như việc xây dựng các vùng tự do khác và các căn cứ trong vùng địch hậu là một quá trình đấu tranh quyết liệt. Đó là quá trình giành đất, giành dân, giành sức của giữa ta và địch. Qua thực tế diễn biến chiến tranh trong phạm vi cả nước, đã dần dần hình thành hai vùng rõ rệt: vùng tạm bị địch chiếm và vùng tự do. Có vùng tự do ổn định từ đầu đến cuối cuộc kháng chiến, có vùng tự do thường xuyên diễn ra cuộc đấu tranh giành giật giữa ta và địch, có vùng tạm bị địch chiếm, nhưng nhân dân vẫn tìm cách tích cực tham gia đóng góp sức người, sức của cho kháng chiến.

        Hậu phương của cuộc kháng chiến toàn quốc hình thành và được xây dựng trong bối cảnh lịch sử đó. Nó gắn liền với quá trình phát triển của cuộc kháng chiến. Hậu phương chiến tranh nhân dân được xây dựng toàn diện bao gồm nhiều lĩnh vực: chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, vừa xây dựng vừa bảo vệ hậu phương.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 19996


« Trả lời #9 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2016, 02:32:00 AM »


        I. XÂY DỰNG HẬU PHƯƠNG VỀ CHÍNH TRỊ

        Xây dựng hậu phương về chính trị là một trong những nhiệm vụ của công cuộc xây dựng và bảo vệ hậu phương trong kháng chiến. Những ngày đầu, trước âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của địch, nhiều tổ chức Đảng, đoàn thể quần chúng ở cơ sở không giữ vững được, đội ngũ cán bộ bị phân tán. Vì vậy, việc củng cố và phát triển Đảng, hệ thống chính quyền các cấp và các tổ chức quần chúng trở thành nhiệm vụ trước mắt hết sức khẩn trương.

        Theo chủ trương của Trung ương, trong thời gian này các đảng bộ phát triển nhanh về số lượng đảng viên và tổ chức của đảng nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về cán bộ và về sự lãnh đạo. Các đảng bộ cũng đề ra nhiều biện pháp nhằm tăng cường chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên và tổ chức cơ sở đảng.

        Tại Liên khu 4, Liên khu ủy đề ra ba danh hiệu để phấn đấu là: tự động, tiến bộ và gương mẫu. Các đảng bộ trong liên khu lấy mục tiêu đoàn kết nội bộ, đoàn kết toàn dân, sinh hoạt đều, nâng cao năng lực lãnh đạo để phấn đấu. Đến đầu năm 1949 Thanh - Nghệ - Tĩnh có 196 chi bộ được liên khu công nhận là chi bộ “Tự động công tác”. Đại hội đại biểu Đảng bộ Thanh Hóa lần thứ nhất tháng 2 năm 1948 đã kiểm điểm việc thực hiện chỉ thị kháng chiến của Trung ương và lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, “xây dựng Thanh Hóa thành một tỉnh kiểu mẫu”. Đại hội xác định phải đẩy mạnh mọi mặt công tác ở vùng thượng du, “thượng du thắng là Thanh Hóa thắng”1 và đề ra nhiệm vụ “xây dựng Thanh Hóa thành hậu phương vững mạnh để kịp thời cung cấp đầy đủ sức người, sức của cho chiến trường, đồng thời tổ chức chiến đấu tốt để bảo vệ hậu phương trong mọi tình huống2.

        Đến đầu năm 1949 nhiệm vụ xây dựng hậu phương chi viện tiền tuyến được các tỉnh đảng bộ trong Liên khu 4 xác định hoàn chỉnh và cụ thể hơn. Nghị quyết của các kỳ đại hội nêu rõ: “Về chính trị: thống nhất Mặt trận Việt Minh và Liên Việt, đẩy mạnh công tác giáo vận, tích cực tuyên truyền vận động cách mạng trong đồng bào các dân tộc thiểu số, xây dựng khối đoàn kết toàn dân, củng cố chính quyền...”3.

        Tại Việt Bắc, sau hơn một năm kháng chiến, Liên khu ủy nhận xét rằng do được chuẩn bị kỹ về tư tưởng và tổ chức, nên quân dân các dân tộc đã giành được nhiều thắng lợi, góp phần cùng quân dân cả nước đánh bại chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của thực dân Pháp. Nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao làm tròn nhiệm vụ căn cứ đầu não của cuộc kháng chiến, công tác xây dựng và phát triển đảng được Trung ương và các tỉnh đặc biệt chú trọng. Đảng viên phát triển nhanh vào những vùng địch tạm thời kiểm soát, các xã vùng biên giới, dọc đường giao thông quan trọng, vùng các dân tộc ít người. So với năm 1947 thì năm 1948 số đảng viên của Cao Bằng tăng 845 đồng chí. Nhiều huyện, cơ sở đảng có ở hầu hết các xã. Huyện Quảng Uyên có 15 xã thì 14 xã có chi bộ. Một vấn đề tồn tại của Cao Bằng cũng như các tỉnh thuộc ba vùng tự do lớn là còn hẹp hòi trong công tác phát triển đảng, trình độ văn hóa trong đảng viên còn thấp nên ảnh hưởng đến việc tiếp thu những chủ trương chính sách của Đảng và nhận định đánh giá tình hình. Sau chiến thắng Biên Giới năm 1950, toàn tỉnh Cao Bằng được giải phóng, trong cán bộ đảng viên nảy sinh tư tưởng chủ quan, khinh địch, coi nhiệm vụ quân sự đã hoàn thành, không chú ý đến việc củng cố phát triển dân quân du kích, bộ đội địa phương. Các cấp bộ đảng, chính quyền chưa nhận thức hết vai trò, vị trí của một địa phương đã được giải phóng trong khi cuộc kháng chiến cả nước đang phát triển mạnh mẽ.

----------------
1, 2, 3. Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa, Tập 1, Ban Tuyên giáo tỉnh ủy Thanh Hóa xuất bản năm 1991.)
Logged

Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM