Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 22 Tháng Bảy, 2019, 08:08:24 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Không Được Đụng Tới Việt Nam  (Đọc 7111 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vietkieu_cuuquocquan
Thành viên
*
Bài viết: 325



« vào lúc: 29 Tháng Hai, 2016, 12:34:58 PM »

Lời nói đầu

Tác giả : Nhiều tác giả

Tác phẩm : Không được đụng tới Việt Nam

NHà xuất bản : Quân đội nhân nhân - 1979

Thể loại : Tiểu sử - Hồi kí


« Sửa lần cuối: 29 Tháng Hai, 2016, 12:50:14 PM gửi bởi vietkieu_cuuquocquan » Logged

ngày căm thù 21 tháng 3 năm 1946
vietkieu_cuuquocquan
Thành viên
*
Bài viết: 325



« Trả lời #1 vào lúc: 29 Tháng Hai, 2016, 12:45:40 PM »

Chương 1: Chiến công này không phải của riêng tôi

Không được đụng tới Việt Nam - Kỳ 01: Chiến công này không phải của riêng tôi

Trận địa pháo 85 ly chúng tôi chốt giữ trên đồi 33 bên ngã tư Đồng Đăng, một điểm cao án ngữ toàn bộ vùng thị trấn này. Trung đội tôi thực hành bắn theo yêu cầu hiệp đồng của đoàn 12 bộ binh. Ngày từ sớm tinh mơ ngày 17-2 ấy, hàng trăm khẩu pháo từ bên kia biên giới đồng loạt trút đạn vào vùng trận địa, phá hỏng hết các mạng thông tin, cắt đứt hoàn toàn liên lạc giữa chúng tôi với đoàn 12, với cả cơ quan chỉ huy trực tiếp của mình phía sau nữa.

Không có sự chỉ đạo của cấp trên, không hiệp đồng chiến đấu được với đơn vị bạn, pháo địch thì nổ dày đặc xung quanh, bộ binh của chúng lại có nhiều mũi chọc thẳng vào chân chốt mình và bao khó khăn khác, pháo thủ thiếu, súng bộ binh thiếu làm tôi vô cùng lo lắng.
"Dẫu sao cứ phải bám chắc trận địa đã". Tôi nghĩ vậy rồi nhắc anh em ra cả vị trí chiến đấu, bình tĩnh theo dõi địch, sẵn sàng chờ lệnh. Mặt khác tôi cử Bùi Xuân Phục, chiến sĩ thông tin duy nhất của trung đội vượt qua làn đạn và vòng vây địch đi nối lại các đường dây.
Gần 1 giờ qua. Rồi 90 phút qua, máy điện thoại vẫn bị ngắt. Không ai rõ Phục đang ở đâu, gặp nguy hiểm gì ? Sau này chúng tôi mới biết Phục bị địch bủa vây, suốt 3 ngày đêm liền chúng dịnh bắt sống anh, song anh đã anh dũng và mưu trí đánh trả, mở đường về với đơn vị.
Khoảng 7 giờ sáng, anh Điển, người cán bộ đại đội dày dặn kinh nghiệm chiến đấu và Hoàng Tĩnh, thông tin 2W đã được cấp trên cử đến trận địa của trung đội chúng tôi. Chúng tôi ôm nhau, nước mắt trào ra vì xúc động.
- Không bắt được liên lạc với đoàn 12, cứ đánh thôi, Yên ạ. Thấy địch là chủ động đánh, mệnh lệnh của trên đấy !
Anh Điển bảo tôi vây. Thế là rõ. Có phương hướng rồi chúng tôi sẽ phát huy được sức mạnh của mỗi người và sức mạnh của tập thể trên trận địa này. Tôi báo cáo tình hình địch, trình bày phương án chiến đấu và xin ý kiến bổ sung của anh Điển. Chúng tôi nhất trí với nhau : đánh theo phương án 2, một trường hợp hiếm hoi, một phương án mà có 2 kế hoạch : chặn đánh bộ binh địch, bảo vệ chốt, bảo vệ pháo; đồng thời vẫn thao tác pháo, đánh các mục tiêu lớn từ xa, phát huy tính năng vũ khí chính của mình. Hai nhiệm vụ đều cấp thiết, song lực lượng của chúng tôi quá ít, 2 khẩu pháo mà vẻn vẹn chỉ có 10 người, so với tiêu chuẩn biên chế thì thiếu 6 người rồi, nay lại chia đôi có đảm đương nổi không.
- Chẳng còn cách nào khác đâu. Cứ phân công đi anh Điển. Tôi xung phong đảm nhiệm một mình một khẩu đội đó.
- Ai cũng như yên thì ổn quá rồi.
Anh Điển cười nói thế, rồi bố trí : tôi phụ trách khẩu đội 1 vừa chỉ huy, vừa quan sát vừa kiêm thao tác bắn. Bài sẽ tiếp đạn. Khẩu đội số 2, anh Điển phụ trách kiêm quan sát, số 1 có Lộc, Công ở vị trí số 2. Sắp xếp vậy chúng tôi đã rút được nửa quân số, toả ra xung quanh chốt, phối hợp với các chiến sĩ công an vũ trang và dân quân đánh chặn các mũi tiến quân của bộ binh địch.
8 giờ kém 15, 1 tiểu đoàn địch ùn ùn kéo lên quả đồi phía tây Đồng Đăng. Chúng tôi nhích cự li bắn về 1.400m và 2 khẩu đội cùng giật cò. Từ sớm, pháo địch không ngớt bắn vào đây, giờ thấy trận địa phát hoả, chúng càng bắn mãnh liệt hơn. Khẩu đội 2 mới bắn đến phát thứ 7 thì súng bị mảnh đạn găm vào một số thiết bị, phải dừng bắn để sửa chữa. Nhận thêm phần của bạn, tôi nâng tốc độ bắn phóng liên tiếp những trái đạn 85 ly vào đội hình địch. Bắn tới phát thứ 20 thì tiểu đoàn bộ binh này rối loạn, số sống sót xô nhau chạy té xuống bên kia dốc. Qua kính quan sát, tôi nhìn rõ xác chúng nằm chồng tréo, ngang dọc khắp mặt đồi.
Đợt tiến công thứ nhất thất bại, địch cho 4 xe tăng vừa bắn dữ dội vào trận địa chúng tôi, vừa dẫn đầu một cánh quân khác tiến qua điểm cao 300 đánh vào khu pháo đài. Pháo 85 ly mà vớ được tăng thì còn gì bằng. Tôi ước lượng lại khoảng cách, dịch cự li về 1.250m và bắt được ngắm vào chiếc đi sau chứ không phải chiếc đi đầu. 4 phát đạn nổ, chiếc xe tăng này bốc cháy. 3 chiếc đi trước hoảng hốt muốn rút lui, song đám cháy chặn mất đường rồi, tiến lên lại không dám, nó đành chết đứng tại chỗ, phụt lửa tới tấp vào chúng tôi. Pháo nổ ầm ầm 4 phía, mảnh đạn bay vèo vèo quanh người nhưng ai còn nhớ đến nguy hiểm khi 3 mục tiêu không di động đang đứng chềnh ềnh trước mũi súng của mình. "Hãy bình tĩnh bắn ăn chắc từng chiếc một". Tôi tự nhắc mình thế và nảy cò. Bị trúng đạn, 2 chiếc xe tăng bốc cháy. Chiếc đi đầu không dám bắn nữa, rồ máy, chồm lên đỉnh 300, tụt xuống mé trái điểm cao. Phía ấy có bộ binh ta chốt. Chắc xe tăng này cũng bị anh em ta thịt nốt thôi.
Giữa lúc tôi đang bắn xe tăng thì các chiến sĩ bộ binh, trong đó có cả anh em trung đội tôi vẫn đánh chặn địch dưới chân đồi. Chúng liên tục mở các đợt tiến công hòng chiếm cho được trận địa pháo này, song đều bị quân ta đẩy lui. Anh em vừa đánh vừa reo hò động viên tôi ghê lắm. mỗi lần bắn cháy một xe tăng, tôi lại nghe nhiều tiếng hô vọng tới :
- Hoan hô Hoàng Hữu Yên !
- Hoan hô dũng sĩ diệt xe tăng bành trướng !
- Anh Yên ơi, yên tâm nổ súng nhé. Chúng tôi còn ở đây thì bọn bộ binh địch không bước nổi tới chân chốt này đâu.
Tới lúc tôi bắn cháy chiếc thứ 4 (1 trong 2 xe tăng địch chạy từ Na Sầm về Đòng Đăng) thì anh em không nén nổi niềm vui, nhiều đồng chí hối hả chạy lên ôm chầm lấy tôi mà gì, mà hôn, mà khen hết lời...
- Kìa buông ra nào. Chiến công này có phải của riêng mình đâu. Không có các cậu đánh địch bảo vệ pháo, bảo vệ trận địa thì mình bắn sao được. Thôi buông ra, về cả vị trí đi, địch nó kéo đến kia kìa.
Tôi phải nói thế, anh em mới chịu toả về các tuyến chốt của mình.
Trời chuyển sang chiều lúc nào chẳng ai để ý nữa. Giờ mới được phút giây yên lòng, và giờ cũng mới nhớ tới bữa cơm trưa, mới thấy đói. Nhưng anh nuôi Dư mải đánh địch, quên cả nấu cơm rồi, mà bọn địch bắn phá liên tục, muốn nấu cơm cũng chẳng được. Chúng tôi lấy lương khô ra ăn, ăn dè sẻn, 2 người 1 gói thôi.
Ngồi ăn uống nhàn rỗi mới thương khẩu pháo hỏng. Miếng lương khô chưa nhai hết, tôi đã bỏ đấy, đi chữa pháo. Anh Điển thay tôi, sang chỉ huy khẩu đội 1. Cùng với anh có khẩu đội trưởng Phạm Văn Thanh, Hợi số 1 và Khang ở vị trí số 3. "Êkíp" mới đổi nhau xuống chân dốc chặn địch mà ! Cho đến lúc địch tiếp tục phản pháo, bộ binh chúng xuất hiện ở dãy đồi trước mặt thì tôi cũng sửa chữa xong khẩu pháo thứ 2. Đợt tiến công đầu tiên của địch vào buổi chiều bị thất bại, song khẩu pháo thứ 2 lại hỏng. Thấy pháo ta bắn thưa thớt, địch cho 2 xe vận tải chở đầy lính từ Hữu Nghị quan tới đổ quân tiếp viện. Xe chúng vừa dừng bánh, anh Điển cùng Thanh, Hợi và Khang đã bắn liền 6 quả đạn rất chính xác. 2 xe cùng tan tành. Có lẽ khó còn lấy 1 tên khỏi thương vong. Song ngay khi ấy, địch huy động mọi cỡ pháo bắn vào trận địa rất ác liệt. Thanh và Hợi bị thương. Khẩu đọi 1 cũng hỏng nhiều bộ phận : khoá nòng bị đất đá phủ đầy, tay đóng mở chờn, trự quay máy hướng bị cong, giá ngắm lệch và kính ngắm thì mất tác dụng. Thế là 2 khẩu pháo đều tê liệt hoàn toàn. Từ đấy đến tối địch không mở tiếp đợt tiến công nào nữa.
Đêm tới chậm chạp. Hình như trong đời, chưa bao giờ tôi mong đêm xuống nhanh như thế. Bóng đen vừa phủ đầy các vực sâu, tôi đã lôi hòm đồ nghề ra, vừa lục lọi các phụ tùng, linh kiện, vừa đọc cho Hoàng Tĩnh bức điện báo cáo về trung đoàn. Tôi kể vắn tắt 1 ngày chiến đấu, giới thiệu một số gương đánh giặc dũng cảm rồi báo cáo tình trạng hỏng hóc của 2 khẩu pháo. Cuối cùng tôi hứa với trên, sẽ chữa pháo ngay trong đêm để kịp hôm sau giội lửa vào đầu giặc.
Công việc này không cần nhiều người. Chỉ có tôi và Bài ở lại, còn tất cả triển khai xuống các tuyến hào dưới chân chốt, sẵn sàng đánh địch tập kích. Hai anh em mò mẫm sửa chữa suốt đêm ấy, lại kéo sang cả sáng hôm sau mới xong mấy việc : thay bệ khoá nòng từ khẩu 2 sang khẩu 1, dùng dầu madút rửa các thiết bị quá bẩn, uốn thẳng tay quay máy hướng, gọt giũa lại các đường ren bị chờn, toét... Riêng giá ngắm thì không sao khắc phục được.
Nhớ lại 1 lần được đại đội phân công lên lớp bài "quy chỉnh, hiệu chỉnh" tôi có đặt ra 1 câu hỏi cho anh em thảo luận : "Không có kính ngắm, pháo 85 ly có bắn được xe tăng không ?" Ai nấy bàn cãi sôi nổi lắm. Người bảo bắn được người bảo không. Phần tôi tôi nghĩ kính ngắm phải theo đường ngắm qua lỗ kim hoả qua dan chỉ miệng nòng tới điểm xạ. Khi biết cự li, biết tốc độ xe tăng, quy định vật chuẩn sẵn, tăng chạy đến là bóp cò, có thể trúng thôi. Và lúc giải đáp, tôi kết luận : "Nhất đinh bắn được". Học lí thuyết tôi nói thế, bây giờ tình huống đã xảy ra, tôi phải có hành động để chứng minh.
Câu chuyện ngày huấn luyện giúp tôi có thêm quyết tâm hơn, tôi quyết định, tiếp tục nổ súng đánh địch không chờ sửa chữa giá ngắm nữa. Anh Điển ủng hộ ngay ý kiến này. Các chiến sĩ trong khẩu đội thì vừa tin, lại vừa muốn thể hiện một tình huống đã học nên chuẩn bị súng đạn hăng hái lắm. Và chiều hôm ấy, khẩu súng thiếu giá ngắm của chúng tôi đã đánh 2 trận khá tốt. Trận thứ nhất hồi 13 giờ, với 4 phát đạn, bắn cháy 1 xe tăng trên đường 1A, cự li 2.800m. Trận thứ 2 hồi 15 giờ, với 13 phát đạn, phá huỷ hoàn toàn 4 khẩu lựu pháo 122 ly đặt trước Hữu Nghị quan, cự li 4.500m. Tất cả các lần bắn tôi đều ngắm qua nòng, đạn đi chính xác.
Cũng buổi chiều này, pháo địch từ khắp nơi bắn vào trận địa chúng tôi nhiều hơn, điên cuồng hơn. Bộ binh địch cũng tiến công vào xung quanh chốt đông hơn, ồ ạt hơn, cán bộ chiến sĩ dưới chân chốt chiến đấu rất kiên cường dũng cảm. Nhiều đồng chí bị thương vẫn không rời tay súng. Xác giặc nằm la liệt trước chiến hào. Anh em đánh giỏi, chặn địch, đẩy lùi địch, bảo vệ pháo. Vừa đánh, các đồng chí ấy vừa reo hò, cổ vũ tôi không ngớt :
- Anh Yên ơi, xe tăng xuất hiện kia kìa. Cho con "bọ hung" bành trướng về chầu ông Bành Tổ thôi !
- Hoan hô ! Pháo 85 ly dập nát 4  khẩu lựu pháo 122 ly của địch rồi !
(Nguyễn Phúc Ấm, ghi theo lời kể của Hoàng Hữu Yên, trung đội trưởng, đại đội 5, tiểu đoàn 12*, đoàn Sao Vàng. )
Logged

ngày căm thù 21 tháng 3 năm 1946
vietkieu_cuuquocquan
Thành viên
*
Bài viết: 325



« Trả lời #2 vào lúc: 29 Tháng Hai, 2016, 12:51:45 PM »

Chương 2: Luồn sâu đánh hiểm

Không được đụng tới Việt Nam - Kỳ 02: Luồn sâu đánh hiểm

Tối hôm đó, đơn vị chúng tôi rời bản Bốc Thượng. Trước lúc xuất kích, có chiến sĩ còn nói đùa : "Hôm nay là ngày Quốc tế Phụ nữ, các bạn biết rồi chứ. Chúng mình phải đánh một trận thật tuyệt để báo công gửi về cho mẹ, cho vợ và người yêu".

Chúng tôi mang theo bên người lương khô đủ ăn 3 ngày, còn tất cả là súng đạn và thủ pháo. Lực lượng luồn sâu của tiểu đoàn có 3 mũi : mũi 1 có 20 đồng chỉ, anh Đào Văn Quân, chính trị viên đại đội 1 làm chỉ huy trưởng. Anh Quân là cán bộ trẻ trong đơn vị, mới 25 tuổi, quê ở Tứ Kì, Hải Hưng. Đại đội phó Tường Duy Chính là chỉ huy phó. Mũi 2 là mũi phụ, có 19 chiến sĩ. Còn lại là bộ phận cối 82 ly do anh Dương chỉ huy, có nhiệm vụ bắn kiềm chế địch, đề phòng chúng phản ứng vào đội hình của đơn vị. 3 cán bộ chỉ huy của 3 mũi đều là những chiến sĩ đã dày dặn chiến đấu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.
2 đêm hành quân, đến bản Na Toòng thì được lệnh dừng lại để trinh sát. Ở đây chúng tôi đã gặp 3 dân quân dẫn đường. Đó là 2 cô gái Phan Thị Hoa, Lã Thị Sự và anh Vương Văn Ngô. Anh chị em này đều là những chiến sĩ thuộc đơn vị dân quân khu Thanh Sơn, đã từng đánh địch từ những ngày đầu khi bọn Trung Quốc xâm lược mới đặt chân vào thị xã Cao Bằng. Theo các chiến sĩ dân quân, chúng tôi đưọc lệnh đi sâu vào khu chiến, nơi địch đóng dày đặc trên các đồi Thiên Văn, Pháo Đài... Riêng ở đồi Thiên Văn có tới 1 trung đoàn, hàng ngày chúng canh gác trên đoạn đường ra vào cửa ngõ thị xã. Nhiệm vụ của tiểu đoàn đặc công chúng tôi là phải đánh nhanh rồi tản nhanh, nếu không sẽ bị hãm trong vòng vây của địch.
Bộ đội ta đào xong công sự thì trời vừa sáng. Bỗng từ đài quan sát báo tới : địch bắt đầu xuất hiện. Nhưng chỉ là 1 chiếc xe tải từ tài Hồ Xìn chạy tới. Đến chân đồi Nả Cay, nó dừng lại. Những tên lính Trung Quốc nhảy xuống xe và đi vào khu giao thông để bôc hàng rồi vào bản cướp bóc. Chốc chốc, chúng lại khiêng ra xe nào gà, nào vịt, nào lợn. Các chiến sĩ căm giận lắm nhưng vẫn phải nén lòng chờ đợi, không đánh vào bọn này mà chờ những đơn vị lớn hơn.
Đến 8 giờ 30, 8 chiếc xe tải khác lại vẫn từ Tài Hồ Xìn chạy về thị xã. Trên xe chúng chất đầy những bao hàng và những chiếc xe đạp hỏng. Đó là những thứ chúng cướp được ở dọc đường. Chiếc xe đầu đã chạy lọt vào đúng trận địa phục kích mà chúng tôi vẫn chưa được lệnh đánh. Hàng chục con mắt và đôi tai chiến sĩ cứ căng ra và đỏ dồn về phía anh Quân và tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh Thời để chờ đợi, chỉ sợ mình không nghe kịp lệnh để rút nụ xoè tung lựu đạn xuống đầu địch. Và cứ mỗi chiếc xe giặc chạy qua tầm súng, chúng tôi lại một lần hồi hộp, chờ lệnh nổ súng.
Bỗng có lệnh :
- Hãy bình tĩnh, đã có công luồn sâu 3 ngày vào lòng địch thì phải biết nén căm giận để đánh 1 trận thật giòn giã.
Nửa giờ sau, lại có tiếng động cơ râm ran từ thị xã Cao Bằng vọng đến. Đài quan sát báo có 17 chiếc xe chở đầy lính và đạn tên lửa H12 sắp chạy qua trận địa.
Bây giờ thì được đánh thật rồi. Từ hầm súng, chúng tôi như muốn bật cả dậy. Phan Thị Hoa, Lã thị Sự-các cô gái du kích Thanh Sơn tay thoăn thoắt buộc từng băng AK vào nhau, và mở sẵn nắp thủ pháo trao cho từng chiến sĩ.
Chúng tôi nằm trên dốc ta-luy trong xuống mặt đường nhìn rõ từng hòn đá nhỏ. Chiếc xe thứ nhất đã lao qua. Rồi chiếc thứ 2, thứ 3. Ba chiếc đầu chở đạn. Những chiếc sau đều chở lính, chúng đội mũ sắt, xếp hàng bảy đầy ắp.
Khi chiếc xe cuối cùng vào đúng vị trí khoá đuôi thì Nguyễn Văn Sinh được lệnh nổ súng. Trên vai anh, quả đạn B41 vọt ra khỏi nòng, cắm vào thùng xe nổ tung. Trong đám lửa màu da cam hiện rõ từng tên lính bị hất tung lên rồi ném xuống mặt đường. Phát đạn B41 của Sinh cũng là khẩu lệnh của trận đánh. Tiếp đó là tiếng thủ pháo, lựu đạn nổ xen lẫn từng tràng liên thanh của AK dồn dập đánh địch.
Ở vị trí phía trước chặn đầu, Hà Văn Nhạc bắn 3 viên AK báng gấp, đúng vào mặt tên lái. Hắn cúi gập người, buông tay vôlăng, chiếc xe lảo đảo thúc đầu vào vách ta-luy dựng đứng, bật trở lại, xoay nửa vòng chắn ngang đường. Chiếc thứ 2 lách sang trái tìm đường thoát. Đại đội phó Tường Duy Chính đứng vụt dậy, tựa vào thành hào ngắm bắn 1 quả B41. Đạn tên lửa H12 trên xe bị đốt cháy nổ tung liên tiếp. Thế là cả đội hình 14 chiếc còn lại với hơn 500 tên lính nằm gọn trong tầm súng và biển lửa*. Chỉ huy trưởng Đào Văn Quân chỉ huy các chiến sĩ Lợi, Công, Đề và anh dân quân Vương Văn Ngô đánh tạt sườn. Anh Quân bắn luôn 6 phát B41 vào 6 chiếc xe đang nối nhau, bóp còi inh ỏi để tìm đường tẩu thoát. Nhưng chúng còn chạy vào đâu. Bọn lính từ tren xe nhảy xuống chỉ kịp giúi đầu xuống sàn xe hoặc nằm rạp xuống 2 bên rãnh thoát nước. Từ trên cao, chiến sĩ ta chỉ việc bỏ lựu đạn, thủ pháo, bắn AK xuống. Xác địch chết chồng tréo lên nhau trông thật thảm hại.
Bỗng 1 tên xách được khẩu trung liên từ thùng xe lao ra đường chạy đến bụi tre và nằm xuống định bắn trả. Hắn chưa kịp bắn, Hà Văn Triệu đã nhanh hơn, đưa điểm ngắm vào cái đầu trọc của hắn kéo một loạt ngắn AK. Đó là tên lính duy nhất định chống cự trong đám 1 tiểu đoàn giặc đi trên đoàn xe đã bị tiêu diệt gọn.
Chúng tôi đang đánh thì 1 tình huống xảy ra nằm ngoài dự kiến của thủ trưởng Thời. Đó là hàng trăm tên địch chốt trên các đồi Thiên Văn và Yên Ngựa khi nghe tiếng súng nổ và ngọn lửa bốc cao dưới mặt quốc lộ 3 đã bỏ luôn súng, rủ nhau chạy lên đồi cao nhìn xuống nơi đồng bọn bị tiêu diệt. Nắm đúng thời cơ, trung đội trưởng cối 82 ly ra lệnh đánh. Hàng chục quả đạn đã được tính toán kĩ lưỡng phần tử bắn nối đuôi nhau giội lửa xuống đầu địch, tiêu diệt hơn 100 tên nữa. Tất cả trận đánh chỉ diễn ra trên 20 phút. Khi bọn địch phản ửng thì đơn vị chúng tôi đã nhanh chóng theo 3 chiến sĩ dân quân thọc qua bản Nà Cay, trở về vị trí tập kết.
Về đến nơi, lúc chia tay đơn vị, cô gái dân quân người Tày Phan Thị Hoa nắm tay anh Đào văn Quân, nói giọng tha thiết :
- Nếu em được vào bộ đội, em sẽ tình nguyện vào đơn vị đặc công của các anh...
Còn chúng tôi nghĩ, nếu lần sau có những trận đánh được phối hợp với anh chị em dân quân như thế này thì đơn vị lập công càng lớn hơn...
(Minh Tiến, ghi theo lời kể của Nguyễn Văn Thành, đại đội 1, tiểu đoàn 45.)
------------------------------

* : thực tế sau này ta xác minh đoàn xe địch có hơn 200 tên. Ngoài ra một bộ phận địch cũng kịp chống trả trước khi bị diệt hoàn toàn. Có thể do đội hình phải trải dài ra để đánh toàn bộ đoàn xe 17 chiếc nên đ/c Nguyễn Văn Thành không nắm được những điều này. Tuy nhiên, đây vẫn là một trận thắng xuất sắc.
Logged

ngày căm thù 21 tháng 3 năm 1946
vietkieu_cuuquocquan
Thành viên
*
Bài viết: 325



« Trả lời #3 vào lúc: 29 Tháng Hai, 2016, 12:53:43 PM »

Chương 3: Tìm địch mà đánh



Công việc chuẩn bị lên đường đánh địch đã xong. Mặc dù trên vai đeo lủng lẳng balô, súng đạn, cuốc xẻng, nhưng tôi vẫn cảm thấy chưa yên tâm, tôi liền chạy vội vào nhà lấy thêm 4 quả B40 đeo sau lưng. Những lúc bình thường, vai đeo chiếc balô với khẩu AK đã cảm thấy nặng. Vậy mà giờ đây không hiểu sao tôi vẫn chạy đi băng băng.

Lúc ấy là 3 giờ sáng. Đơn vị đã tập hợp đông đủ. Tiếng chính trị viên Nguyễn Viết Hảo vang trong đêm :
- Hiện giờ địch có khoảng 1 trung đoàn, chúng đang di chuyển từ An Lạc đến xã Đức Quang. Nhiệm vụ của chúng ta là cùng với bộ đội địa phương và dân quân chặn đánh chúng ở bản Nà Hát, không cho chúng tràn vào huyện Quảng Hoà.
Chúng tôi khẩn trương lên đường.Từ nơi đơn vị đóng quân đến toạ độ X trên 30km. Đường rừng nhiều đoạn khúc khuỷu, khó đi. Trên vai mang nặng súng đạn, mồ hôi ai nấy đều vã ra.
Sau 1 đêm hành quân, chúng tôi đã đến địa điểm tập kết an toàn. Vừa đến nơi chưa kịp đặt balô, pháo địch đã bắn vào bản Nà Hát, cách đơn vị đóng quân chưa đầy 100m. Tiếng pháo nổ mỗi lúc càng dữ dội. Toàn đơn vị khẩn trương đào hầm hào, công sự chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. Còn tôi được phân công cùng 3 chiến sĩ đi quan sát trận địa. Càng đi sâu vào rừng, không khí càng vắng lặng. Vừa ra khỏi bìa rừng, tôi thấy 2 người đàn ông ăn mặc quần áo người Nùng, vai đeo súng đạn đi về phía mình. Người đi đầu cao to, đội mũ lưỡi trai trông rất giống bọn phản động Trung Quốc.
- Cẩn thận, bọn thám báo.
Tôi ra hiệu cho các chiến sĩ chuẩn bị nạp đạn. Bỗng tôi nảy ra ý định cần bắt sống 2 tên này đem về khai thác. 2 người lạ mặt đi khỏi con suối, họ rẽ ngang rồi lẩn vào rừng. Tôi cùng các chiến sĩ đuổi theo. Khi gần đến nơi, tôi thấy người đi đầu trông quen quen. Đúng là bác Thài rồi ! Nhưng sao bác ấy lại ở đây ? Tôi khẽ gọi :
- Có phải bác Thài không ?
- Ai đấy ?
- Tôi đây, Khoáy đây !
- Anh đi đâu bây giờ ?
- Đi đánh địch bác ạ !
- Chúng nó chuồn về bản Nhảng cả rồi !
- Bác có thể dẫn đường cho chúng tôi được không ?
- Đơn vị của anh có bao nhiêu người ?
- Đông lắm không thể đếm được.
- Vậy thì tốt quá. Chúng tôi đang đi tìm đồng chí xã đội trưởng để lấy thêm súng đạn. Bây giờ gặp các anh ở đây thì còn gì bằng.
Được người dẫn đường tin cậy, chúng tôi thấy yên tâm. Mỗi người ăn vội miếng lương khô rồi tiếp tục hành quân đến bản Nhảng.Cuộc hành quân kéo dài 4 tiếng đồng hồ. Khoảng 8 giờ tối, chúng tôi mới tới bản Nhảng. Đơn vị dừng chân tạm nghỉ ở khu vực rừng rậm. Tôi cùng 2 chiến sĩ xuống bản tìm cán bộ địa phương. Nhưng lạ thay không thấy 1 bóng người. Chỉ thấy những ngôi nhà đổ nát, hoang vắng cùng những đống tro tàn và những cột nhà cháy dở bốc lên mùi khét lẹt. Bên cạnh những ngôi nhà cháy dở là những công sự hàm ếch dày chi chít, vết tích của bọn Trung Quốc xâm lược để lại. Chúng tôi quan sát xung quanh, thấy 1 xác người bị địch đốt cháy. Còn cảnh đau thương nào hơn thế nữa. Bỗng tôi nhớ lại câu chuyện hôm trước bà con ở Hoà An kể lại : bọn địch hung ác hơn cả thú dữ. Chúng tràn vào huyện Quảng Hoà chém giết, đốt phá không chán tay, rồi bắt đi 16 cô gái thay nhau hãm hiếp. Về sau chúng tẩm xăng đốt cả 16 cô. Càng nghĩ tôi càng căm thù lũ giết người man rợ.
Đêm ấy chúng tôi dừng chân ở bản Nhảng. Trong lúc anh em nghỉ, tôi cùng 2 đồng chí dân quân đi gài mìn đề phòng địch tấn công bất ngờ. Gần về sáng, trời đổ mưa, lại thêm muỗi vắt nhiều như trấu, không ai ngủ được. Xa xa, vẳng lại tiếng pháo cầm canh của địch bắn vu vơ. Tôi thức dậy, cùng đại đội trưởng Yên và trung đội trưởng Khánh giở tập bản đồ ra xem.
Đại đội trưởng Yên hỏi chúng tôi :
- Nên cho anh em ở lại đây mai phục hay hành quân đến địa điểm khác ?
- Cứ theo tiếng súng của địch thì chúng còn cách ta không xa. Nếu chúng ta mai phục ở đây chờ địch vào mới đánh, tôi e không có lợi. Vì địa hình ta thấp, vả lại nếu trường hợp bất trắc sẽ không có đường cơ động. Vì vậy ngay bây giờ chúng ta phải cho anh em hành quân đến bản Lẻn, bí mật đánh làm chúng không kịp trở tay.
Ý kiến của tôi được ban chỉ huy nhất trí ngay.
5 giờ sáng, sương mù còn bao phủ khắp núi rừng. cuộc hành quân lại tiếp tục. Khoảng 3 giờ chiều, trinh sát báo về, địch đang tràn vào bản Lẻn. Chúng chia làm 2 tốp. Tốp đi đầu có khoảng 200 tên, mang theo súng đạn, vừa đi chúng vừa xì xồ với nhau toàn tiếng Bắc Kinh, tôi gnhe rõ nhưng không hiểu. Tốp thứ 2 có khoảng 400 tên, đang kéo nhau trên một đường vòng tiến vào bản Lẻn.
Thời cơ diệt địch đã đến. ban chỉ huy đại đội hội ý chớp nhoáng. Toàn đơn vị chia 3 hướng bao vây chia cắt tiêu diệt địch. Tôi được phân công chỉ huy một mũi gồm 8 bộ đội và 5 dân quân đánh chính diện. Còn 2 tổ khác do đại đội trưởng Yên chỉ huy đánh bọc phía sau.
Thằng đich rất chủ quan. Trên đường hành quân mệt mỏi, chúng dừng lại ngồi nghỉ, một số đi tìm nước uống tập trung ở giếng Cô So.
"Kì này, chúng mày sẽ chết với ông". Tôi nghĩ vậy rồi cùng binh nhì Nông Văn Quyết vận động đế 1 mô đá to, cách địch chưa dầy 100m. Từ địa hình rất thuận lợi đó, tôi chỉnh lại khẩu AK rồi nín thở bóp cò. Tiếng súng phá tan bầu không khí yên lặng. Cùng lúc đó, các cỡ súng của ta từ 3 phía đồng loạt nổ. Bị đánh bất ngờ, bọn địch không kịp trở tay, đội hình rối loạn. Chúng chạy tứ tung. Một toán chạy lên đồi ẩn nấp. Thừa cơ, khẩu trung liên của Tô Minh Đại và Nông Trọng Tuyền liên tục nhả đạn, bọn chúng không còn đường chạy thoát. Chúng chết nằm ngổn ngang khắp quả đồi.
Nghe thấy tiếng súng nổ, bọn địch đi trước quay lại dùng súng lớn bắn vào đội hình ta rồi cho quân dàn hàng ngang kéo đến bao vây. Vừa đi chúng vừa thổi kèn "toe toe". Thằng chỉ huy đầu đội mũ, một tay cầm batoong, một tay cầm súng ngắn, miệng hò hét ra oai :
- Tả khoai ! Tả khoai ! (đánh nhanh ! đánh nhanh !- chú thích của sách)
Đợi cho chúng đến đúng tầm bắn, từ trên đồi cao, tôi cùng Phương, Khoả... nổ súng. Lũ giặc lộn nhào từ trên cao lăn xuống chân đồi. Bọn còn lại xông lên như những con thiêu thân. Vừa lúc đó, khẩu trung liên của đồng chí Đại liên tục nhả đạn. Cuộc chiến đáu kéo dài 1 tiếng đồng hồ. Địch mở 2 đợt đánh tới nhưng đều bị chúng tôi đánh lại, buộc chúng phải lùi ra xa.
Trưa ngày 14-3, tôi được phân công cùng 2 đồng chí dân quân đi gài mìn ở những nơi xung yếu quanh bản Pò Púng. Lúc quay về tôi đã thấy địch đang tiến vào nơi đơn vị đóng quân. Tôi luồn rừng chạy lên núi đá. Địch phát hiện ra tôi. Chúng bắn đuổi theo. Tôi cố sức leo lên 1 quả đồi tranh, bỗng nghe có tiếng "rẹt rẹt" trên đầu. Biết là súng của địch, tôi nằm rạp xuống đất, lăn mấy vòng. Tôi bị địch bao vây. Một tên nói bằng tiếng Việt, giọng lơ lớ :
- Thằng chỉ huy của mày chết rồi, đầu hàng mau !
- Này thì đầu hàng !
Tôi nghiến răng ném 1 quả lựu đạn vào đội hình địch. Bọn chúng nằm rạp xuống đất. Nhân lúc địch đang hoang mang, tôi bồi tiếp 1 băng đạn, mấy tên giặc chết gục. Tôi chạy tắt theo 1 thung lũng, về đơn vị.

-----------------------

Phương Quang ghi theo lời kể của Hoàng Văn Khoáy, đại đội phó đại đội 3 công an vũ trang Cao Bằng.
« Sửa lần cuối: 29 Tháng Hai, 2016, 01:43:06 PM gửi bởi vietkieu_cuuquocquan » Logged

ngày căm thù 21 tháng 3 năm 1946
vietkieu_cuuquocquan
Thành viên
*
Bài viết: 325



« Trả lời #4 vào lúc: 29 Tháng Hai, 2016, 12:56:01 PM »

Chương 4: Chốt bên cầu số 4


Sau loạt đạn pháo của địch nổ dữ dội, chúng cho 2 đại đội đánh vào chốt của tiểu đội Đỗ Văn Hoà. 1 đại đội từ đồi sân bay đánh xuống, 1 đại đội từ ngã ba Kim Tân theo quốc lộ đánh ra. Anh đặt ngón tay trên vòng cò khẩu đại liên, quay sang nói với 1 chiến sĩ rất trẻ : - Địch ỷ thế đông quân nên chủ quan. Đợi chúng đến thật gần ta mới bắn. Loạt đạn đầu tiên phải thật chính xác, phải làm cho chúng kinh hoàng.

Đúng như Hoà nhận định, chưa gặp sự giáng trả của ta, bọn địch cứ dàn hàng ngang mà tiến. Vừa đi chúng vừa bắn như vãi đạn. Địch cách trăm mét, 50 mét... Hoà bắn, khẩu đại liên trong tay Hoà rung lên. Các cỡ súng đồng loạt trút lửa vào đội hình địch. Hàng chục tên xâm lược chết ngổn ngang trên đường, bên bờ suối cạn. Bọn sống sót vội vàng tháo chạy, lẩn vào rừng. Thấy giặc hoảng sợ, Hoà liền bật khỏi công sự và hô lớn :
- Xung phong !
Ước, Hào, Thiệp xách súng vọt theo Hoà. Hoà và anh em cắp tiểu liên rượt theo những tên sóng sót. Chỉ những tên xâm lược co cẳng chạy trước tiên là thoát chết. Lúc ấy, đại liên địch từ đồi Tháp Nước bắn xuống, nhưng đã muộn. Hoà cho anh em vận động lên chốt phòng ngự. Anh quay nòng đại liên của mình về phía đại liên của địch. Khi đã nhìn rõ hoả điểm này, Hoà chỉnh lại đường ngắm. Anh bắn liên tiếp 3 loạt dài. Khẩu đại liên địch câm họng. Mất hoả lực, bọn địch tụt xuống bên kia đồi. Số quân của chúng ở đó gần 1 tiểu đoàn mà phải chùn lại.
Một lát sau, Hào, chiến sĩ dân quân phát hiện 1 toán địch có 3 tên, tên đi sau mang theo bộ đàm. Đây là tổ thám báo. Hoà nhận định như vậy khi nhận được báo cáo của Hào. ANh tỏ chức ngay 1 tổ đi diệt. Hoà giao đại liên cho Ước và dặn :
- Cảnh giới phía trước. Sẵn sàng chi viện cho chúng tôi nhé !
Hoà vẫy tay bảo Hào theo anh vận động tắt rừng phía sau toán địch. Nguyễn Thiệp dẫn 1 tổ thọc vào sườn chúng. Hoà nấp vào một gốc cây khi nhìn thấy 3 tên lính áo đen đang dò dẫm từng bước. Vừa đi chúng vừa quan sát xung quanh. Tên khoác máy bộ đàm chốc chốc dừng lại nghe ngóng. Hoà nói nhỏ với Hào :
- Cố gắng bắt sống. Cùng lắm mới nổ súng tiêu diệt.
Nói xong Hoà khoát tay ra hiệu cho Hào cùng tiếp cận. Rừng im ắn. 2 người nghe rõ cả tiếng lá cây va vào nhau xào xạc. Xa xa, tiếng súng vọng lại. Bỗng "rắc". Một cành cây khô phía trái anh bị gãy. 3 tên địch hoảng sợ, mạnh thằng nào thằng nấy chạy. Một loạt tiểu liên phía ấy nổ vang. Thế là hỏng rồi. Hoà bật lên như lò xo. Bám sát 1 tên, anh siết cò, tiếp theo là 1 loạt AK rất chính xác. Cả 3 tên thám báo ngã gục. Thiệp chạy lại, nhận lỗi :
- Mải bám sát nó, tôi không để ý tới cành cây khô tai hại ấy.
- Chà tiếc thật ! Thôi khẩn trương thu súng, máy bộ đàm và chú ý khám xét kĩ giấy tờ mà chúng mang theo.
Về chốt đưọc một lúc, Thiệp lại phát hiện 2 tên thám báo nữa. Chúng đã lẻn vào ngay sát chốt của ta. Thiệp vẫy tay ra hiệu cho anh em toàn chốt biết. Trước khi bí mật tiếp cận, Hoà dặn mọi người :
- Lần này cố gắng bắt sống kì được.
Nhưng vì khoảng cách giữa ta và địch quá gần nên anh em vừa triển khai đội hình thì 2 tên địch đã đánh hơi thấy. Chúng cắm đầu chạy thục mạng. Song, cũng như số phận những tên trước, 2 tên đều bị trúng đạn.
Mất hẳn 2 toán thám báo, bộ binh địch chỉ lấp ló trên đồi Tháp Nước, không dám xuống chiếm cầu.
Đến 3 giờ chiều, đang ăn cơm, nghe ầm ì tiếng xe địch, mọi người đều buông đũa. Tiếng xe tải dội alị mỗi lúc một gần. Chiếc xe mỗi lúc to dần. Trên xe, giặc lố nhố. Đây là dịp tốt nhất để thiêu cháy hàng chục tên xâm lược một lúc.
- Bắn thôi anh Hoà ! - Ước, chiến sĩ dân quân nôn nóng.
Khi nhìn rõ khuôn mặt những tên lính ngồi trên xe như nêm lại, Hoà mới ra lệnh :
- Bắn !
Một lưới lửa bung ra chụp lấy xe địch. Chiếc xe khựng lại, bùng cháy. Hoà nhìn rõ hàng chục tên cứ ngồi vậy mà gục xuống. Những tên khác hoảng hốt nhảy xuống xe, nhưng chỉ chạy được vài bước là bị diệt ngay trên mặt đường, lửa trên xe ngùn ngụt bốc lên.
Cay cú trước thất bại này, bọn địch từ trên đồi Tháp Nước dùng trung liên, đại liên bắn tới tấp vào chốt của ta. Địch gọi pháo 130 ly, cối 120 ly giội vào trận địa của các chiến sĩ ta hơn 1 tiếng đồng hồ. Sau đợt pháo, anh em đã có mặt trên công sự, sẵn sàng đánh bộ binh. Nhưng bọn địch vẫn không dám tràn xuống. Đến mờ tối, chúng lại cho 3 tên thám báo mò vào thăm dò lực lượng ta. Nhưng số phận những tên này cũng đã được định sẵn. Ngay loạt đạn đầu, anh em đã diệt 2 tên. 1 tên chạy cuống cuồng, gặp cái hố phòng không của đồng bào ta, nó rúc ngay vào. Huê vọt lên phía hầm. Anh vung tay ném vào hầm 1 quả lựu đạn. Nhưng Huê vừa bỏ tay xuống, 1 loạt AK từ trong cái miệng hố đen sì vút đến. Huê hi sinh. Hoà vội chạy lại, anh rút chốt quả lựu đạn quăng vào cái miệng hố đen ngòm ấy. Nhưng sau tiếng nổ, 1 loạt AK lại bay vèo qua mang tai Hoà. Thằng này ngoan cố thật. Không nén nổi căm giận, Hoà giương súng B40 lên, mắm môi lại, bóp cò. Cái hầm vỡ ra, tràn ngập khói màu da cam. Tên giặc bị đền tội và khẩu súng của nó đen thui.
Ngày hôm ấy, 5 tay súng của các chiến sĩ công an vũ trang Hoàng Liên Sơn và 3 chiến sĩ dân quân xã Kim Tân (TX Lào Cai) đã làm nên sự tích anh hùng bên cầu số 4 : bắn cháy 2 xe vận tải quân sự, diệt 3 toán thám báo, bẻ gẫy nhiều đợt xung phong của 1 tiểu đoàn địch, diệt trên 100 tên, thu nhiều súng. Cầu số 4 mãi mãi là niềm tự hào của quân và dân thị xã Lào Cai.

                                                       ===


Logged

ngày căm thù 21 tháng 3 năm 1946
vietkieu_cuuquocquan
Thành viên
*
Bài viết: 325



« Trả lời #5 vào lúc: 29 Tháng Hai, 2016, 01:00:00 PM »

Chương 5: Trên trận địa Bến Đền


Suốt 1 ngày hành quân, các chiến sĩ tiểu đoàn công binh 15, đoàn H45 bộ đội Hoàng Liên Sơn mới đến khu vực Bến Đền. Tiểu đoàn trưởng Lê Khắc Lai giữ nguyên bức điện trên tay, hối hả tìm chính trị viên Vũ Tiến Thành. Gặp Thành, tiểu đoàn trưởng Lai mừng rỡ, anh nói giọng điềm tĩnh : - Cấp trên giao nhiệm vụ cho ta phải chốt chặt, chặn địch ở khu vực Bến Đền. Có khả năng ngày mai chúng sẽ đánh sớm. Theo phương án 1, các đại đội phải chuẩn bị chiến đấu ngay.

Chính trị viên Thành nhất trí. Anh đề nghị tiểu đoàn trưởng cùng đi kiểm tra việc xây dựng trận địa của đại đội 3. Nhờ ánh chớp của đạn pháo địch bắn chung quanh, 2 người lần theo lối mòn nhỏ lên điểm chốt chặn quân xâm lược thọc sườn từ bản Mường Trang sang. Vừa đi họ vừa trao đổi ý kiến. Cả 2 tin tưởng vào chiến sĩ ta dũng cảm, thông thạo địa hình, tổ chức chiến đấu tốt nhất định sẽ đánh thắng trận đầu.
Ở đại đội 3 cũng như đại đội 2, các chiến sĩ khẩn trương đào công sự. 6 đêm thức trăng, căng thẳng nhưng không ai tỏ ra mệt mỏi. Thành nhắc đại đội trưởng Nguyễn Công Thiệu chú ý phổ biến kinh nghiệm chiến đấu cho từng tổ.
Sang hôm sau, khi các chiến sĩ nuôi quân vừa đưa cơm lên chốt về thì hàng loạt đạn pháo địch dập xuống liên tục gần 1 giờ. Sau đó, 1 trung đoàn quân Trung Quốc xâm lược tiến công theo 2 mũi đúng như phương án chiến đấu của tiểu đoàn dự kiến. Cánh quân chủ yếu của chúng vượt qua chợ Bến Đền. Đại đội địch đi đầu theo cầu treo và vượt ngầm suối Bo, gặp ngay chốt của trung đội 4 do Nguyễn văn Phúc chỉ huy. Các chiến sĩ chờ chúng đến gần khoảng 100m mới nổ súng.
Bị đánh liên tục trên đường tiến quân, đến đây chúng lại bị đánh bất ngờ phải quằn lại. Phía sau, bọn địch vội vã giạt sang bên phải, lợi dụng thành đường để ẩn nấp. Phối hợp ăn ý, từ quả đồi bên cạnh, phân đội hoả lực của đại đội 3 rót đạn cối chính xác, băm nát đội hình địch, buộc chúng phải tháo lui.
Quân giặc tức tốc gọi pháo bắn như vãi đạn vào trận địa đại đội 2. 4 khẩu đại liên của quân xâm lược đặt trên điểm cao 168 bắn rát mặt đồi, cày tung đất đá, bụi mù. Đại đội phó Đỗ văn Ân nép bên thành hào nhìn bao quát trận địa. Ân nắm được thủ đoạn của quân xâm lược, nhắc các tổ chú ý bám địch. Mấy lần lợi dụng hoả lực mạnh, chúng cố bám mép đường tiến lên nhưng đều bị các chiến sĩ ta phát hiện và đánh bật sang bên kia suối. Nước suối trào lên xác giặc.
Phía chốt của đại đội 3, các chiến sĩ đang nóng lòng chờ đánh quân xâm lược. Pháo địch chưa ngừng bắn nhưng Phan Ngọc thắng ở tung đội xe máy phát hiện 1 tốp địch đang men theo bờ suối, đi vào trận địa. Thắng vội điều chính tầm khẩu cối 60 ly, nổ súng. Quả đạn của anh nổ chính xác đến mức cả mấy tên lính đều bị hất tung lên. 1 thằng áp vào ngách đá liền bị chính trị viên Nguyễn Văn Ky bắn 1 viên AK, hắn đổ gục xuống. Các chiến sĩ bắn đuổi theo địch, Ky vội vàng ngăn lại, nhắc nhở phải tiếp kiệm đạn.
Từ đó đến chiều, họ còn đánh thêm 2 trận nữa, diệt hơn 30 tên. Nguyễn Văn Phúc bị thương, quấn 1 vòng băng trắng tùm đầu, đôi mắt sáng rực lửa căm thù quân cướp nước, đôi tay anh nắm chắc khẩu B41, không chịu lui về tuyến sau. Bấy giờ, bọn giặc xâm lược đang vơ vét thóc gạo của đồng bào ta ở Mường Trang. Chúng đuổi bắt cả trâu, lợn, gà. Tiếng la hét của quân giặc và của súc vật chen lẫn tiếng súng hỗn loạn. Mấy chiến sĩ trinh sát được phái đi nắm địch ngay trong đêm.
Ban chỉ huy tiểu đoàn họp khẩn trương dưới hầm dã chiến. Mùi khói đạn pháo địch bắn hồi chiều còn khét nồng. Tiểu đoàn trưởng Lê Khắc Lai bị thương nặng được mang về trạm phẫu thuật, chính trị viên Vũ Tiến Thành chủ trì cuộc họp. Sau khi nghe các đồng chí chỉ huy các đơn vị báo cáo tình hình, Vũ Tiến Thành kết luận :
- Trận đầu ta đã thắng, địch thua đau nhưng chúng còn nhiều mưu mô xảo quyệt. Nhiệm vụ của chúng ta là phải giữ vững thế trận Bến Đền, không để địch lấn thêm một tấc đất.
Sau khi họp bàn và được giao nhiệm vụ cụ thể trong các phương án đánh địch, mọi người trở về đơn vị. Nhưng Nguyễn Văn Ky vẫn nán lại, anh xin được tiến công chốt địch ở điểm cao 168. Khuôn mặt Ky gầy rộc hẳn đi, quầng mắt sâu trũng, hàng ria mép mọc không đều, lởm chởm. Anh nói với chính trị viên Thành, giọng kiên quyết :
- Đề nghị đồng chí giao nhiệm vụ này cho đại đội 3. Phải chủ động tiến công địch, làm cho quân xâm lược mất ăn, mất ngủ, lúc nào cũng phải nơm nớp lo sợ.
Vũ Tiến Thành xúc động, anh nhắc lại lời của đồng chí chính trị viên đại đội rồi nói tiếp :
- Ban chỉ huy tiểu đoàn đã nghiên cứu và nắm chắc tình hình địch ở điểm cao này. Nhất trí giao nhiệm vụ cho đại đội 3.
Kế hoạch tiêu diệt quân xâm lược ở điểm cao 168 được ban chỉ huy đại đội nghiên cứu kĩ một lần nữa. Đại đội quyết định đánh ngay trong đêm. 24 chiến sĩ do chính trị viên Nguyễn Văn Ky và đại đội trưởng Trần Công Thiệu dẫn đầu, vượt suối, bám theo đường dây nói, áp sát vị trí chỉ huy của địch. Bọn lính Trung Quốc ngủ vật vờ trong các bụi cây, góc lều. Sau nhiều ngày đi cướp phá, bị quân và dân ta đánh cho no đòn, chúng không còn hung hăng như trước.
Trung đội trưởng Trần Văn Bình cắt xong đường dây liên lạc của địch, vừa đúng giờ nổ súng. Tất cả các tay súng đồng loạt nhả đạn. Bị đánh bất ngờ, quân xâm lược hoảng loạn. Pháo sáng của chúng bắn tứ tung. Mũi phía đông và phía nam, các chiến sĩ ta ném lựu đạn, đánh tạt sườn địch. Mũi chính diện, Nguyễn Văn Ky và 7 chiến sĩ dũng mãnh đánh vỗ mặt. Địch có số quân đông gấp hàng chục lần, bắn như vãi đạn. Bị nhiều vết thương nhưng Ky vẫn nghiễn răng chịu đựng, cố sức ném liền 6 quả lựu đạn vào sở chỉ huy địch, diệt hàng chục tên.
Sau 30 phút đánh giáp mặt, các chiến sĩ ta diệt gọn sở chỉ huy địch. Cả tiểu đoàn quân xâm lược phải gọi pháo bắn vào trận địa để tháo chạy, bỏ mặc đồng bọn bị thương và nhiều vũ khí đạn dược.
Làm chủ điểm cao 168, thế trận Bến Đền thêm vững chắc.
Mấy ngày tiếp theo nữa, bọn giặc xâm lược vẫn không sao nhích lên được. Trận địa Bến Đền chi chít pháo và các loại hoả lực của địch. Trước chốt đại đội 2, hơn 120 xác giặc nằm ngổn ngang.

                                                                  ===
Logged

ngày căm thù 21 tháng 3 năm 1946
vietkieu_cuuquocquan
Thành viên
*
Bài viết: 325



« Trả lời #6 vào lúc: 29 Tháng Hai, 2016, 01:04:11 PM »

Chương 6: Trận đầu tiêu diệt xe tăng giặc

Lệnh lên đường truyền đi toàn đại đội 10. Lê Văn Thời bật người dậy, đeo balô trên người và ôm khẩu B41 lao đi. Toàn đại đội có mặt đông đủ. Mọi người khẩn trương lên xe. Chiếc ôtô rú ga chuyển bánh, vượt qua cầu sông Bằng, đi vào thị xã Cao Bằng rồi chạy thẳng lên hướng Hoà An. Sương đêm dăng màn trên đỉnh núi, thấm vào vai áo từng người ướt đẫm. Cái lạnh của vùng cao không thể làm dịu bớt sự nóng lòng của mỗi chiến sĩ chờ phút giáp mặt quân thù.

Cả đại đội triển khai theo các tuyến công sự có sẵn. Tiểu đội B41 của Thời dàn đội hình trên đoạn hào đầu tiên. Đi về phía sau là những lối mòn dẫn qua sườn đồi, có thể cơ động rất thuận lợi. Nhận xong vị trí, Thời lắp đạn vào súng, tính cự ly bắn ở nhiều tình huống khác nhau để khi xe tăng địch tới là có thể nổ súng được ngay. Dọc tuyến chiến đấu, đại đội cũng đã làm xong công tác chuẩn bị và sẵn sàng nổ súng khi có lệnh tiến công.
Từ hướng Hoà An có tiếng xe tăng vọng tới mỗi lúc một gần. 2 chiếc xe tăng đi đầu đã vào trận địa. Trên tháp pháo, chúng sơn hình cờ đỏ sao vàng để đánh lừa sự chú ý của ta. 2 khẩu pháo trên nóc 2 chiếc xe tăng hướng về phía trước. Nhìn chúng đi nghênh ngang trên đường nhựa, Thời căm giận sôi lên. Anh đã thò ngón tay trỏ vào cò súng định diệt luôn. Nhưng rồi Thời kịp nhớ ra : phải đợi toàn bộ đội hình của chúng lọt vào trận địa mới được nổ súng.
Khi 2 chiếc xe đến gần cuối đội hình của đại đội, vẫn chưa thấy toán sau đi tới. Nếu không diệt ngay, chúng sẽ tiến sâu vào Cao Bằng. Đại đội trưởng Hồng kịp thời lệnh cho 2 tay súng B41 bắn. Tiếng súng nổ. 1 chiếc xe tăng đã bốc cháy ngay tại chỗ. Chiếc thứ 2 hốt hoảng xoay ngang định vòng trở lại. Nhưng muộn rồi, Nguyễn Quang Anh, người bạn đồng hương của Thời đã vọt khỏi công sự, nã quả B41 vào ngang thân nó. Chiếc xe tăng địch bị trúng đạn khựng lại. Ngay lúc đó, 1 bác nông dân người Nùng từ trong nhà chạy ra. Bác đến cạnh Thời, nói nhỏ :
- Bộ đội ơi ! Xe tăng hỏng mà thằng địch còn sống đó. Nó đang mở nắp xe ra kìa.
Thời vội đeo khẩu AK và vác súng B41 lên vai chạy theo bác nông dân dẫn đường. Khi đến nơi, anh thấy thằng giặc đã nhảy khỏi xe. Nó đang tìm đường chạy trốn. Nhanh như cắt, Thời điểm xạ luôn 1 viên AK thật chính xác. Tên giặc trúng đạn, rống lên rồi ngã vật bên xác chiếc xe tăng. Thời nhảy lên nóc xe chiếu đèn pin vào kiểm tra. Tất cả chúng nó đã bị tiêu diệt. Thời nhanh chóng trở về vị trí của mình.
Ngay sau đó, 1 đoàn xe tăng địch ầm ầm lao tới. Thời đếm rõ từng chiếc một. Chúng cứ tưởng 2 chiếc đi đầu đã làm được nhiệm vụ mở đường nên cứ ngạo mạn tiến. Chiếc đi đầu đã lọt đúng vào tầm bắn.
Một tiếng nổ dữ dội. Quả đạn B41 từ công sự của Thời đã lao đi. Chiếc xe tăng đi đầu trúng đạn, bốc khói đen xịt. Cả tốp xe tăng địch ùn lại xoay ngang, hạ nòng súng bắn quét 2 bên đường. Nhưng không có tác dụng. Tầm đạn của chúng quá cao trên tầm công sự bám sát mép đường của bộ đội ta.
- Đồng chí Thời, luồn về phía sau, diệt bằng được chiếc xe tăng cuối cùng.
Đại đội trưởng Hồng ra lệnh. Thời xách khẩu B41 vòng vệ con đường mòn sau bản để tiếp cận gần xe tăng địch. 5 phút sau anh đã bám sát chiếc xe sau cùng. Địa hình ở đó hơi trống trải. Chỉ có vài cây cối lưa thưa. Địch rất dễ phát hiện. Đứng ở trong sân nhà, lợi dụng bức tường bắn ra chăng ? Không được, cự li quá xa, rất dễ trật mục tiêu. Bắn không trúng chiếc xe này thì quân địch dễ tháo chạy trở lại thị trấn Hoà An, thời cơ diệt gọn cả đoàn xe địch sẽ không còn. Suy nghĩ giây lát, Thời quyết định một cách đánh táo bạo hơn. Anh đã vọt ra khỏi bức tường và bám sau xe tăng để bắn.
Mải bắn phía trước, bọn địch không biết rằng chúng đang hở 1 khoảng trống ở phía sau nên Thời đã tiếp cận xe tăng địch được thuận lợi. Khi cách xe tăng khoảng 10m, Thời đưa súng lên vai ngắm mục tiêu rất nhanh, bóp cò. Quả đạn từ phía Thời bắn đi đã lao chúng vào phần cuối xe tăng địch. Một luồng lửa màu da cam loé lên, rồi một luồng khói xám xịt toả ra trùm lấy thân hình bất động của nó. Biết chắc hiệu quả của viên đạn bắn đi, Thời lui về phía sau bức tường quan sát. Không thấy tên địch nào sống sót nhảy ra, anh mới yên tâm chạy về vị trí cũ để tiếp tục diệt những chiếc xe còn lại. Trên đường về, Thời gặp Màu, 1 chiến sĩ giữ AK. Màu bảo Thời :
- Phía trước, xe tăng địch bị diệt gần hết rồi. Đại đội trưởng bảo anh đón sẵn ở đó, đề phòng còn có xe địch tới.
Nghe Màu truyền lệnh của đại đội, Thời xách súng quay lại ngay. 2 người đi được một đoạn, thấy tiếng súng bắn xối xả về phía trung đội 2.
- Tiếng súng ở đâu đó ?
- Có lẽ trên xe tăng địch.
- Không phải, tầm đạn rất gần mặt đất Màu à. Có thể bọn địch trong xe còn sống đã xách súng xuống nấp ở nơi nào đó bắn chăng.
- Cũng có thể thế lắm.
2 người im lặng quan sát một lúc thì phát hiện ra mấy tên địch đang giấu mình trong bụi tre, bắn đại liên về phía trước. Thời lấy khẩu Ak của Màu nhưng Màu đã ngăn lại và nói :
- Bụi tre vướng lắm, 3 thằng địch lại nấp kín ở gốc cây, bắn AK khó trúng. Có thể nó sẽ lủi mất. ANh dùng B41 bắn để diệt luôn cả khẩu đại liên. Tụi này nguy hiểm lắm.
- Ờ, thế cũng hay đó !
Thời quyết định bắn B41."Một quả B41 đổi 3 tên địch và 1 khẩu đại liên là được rồi". Nghĩ vậy, Thời vội đi vòng ra phía sau lưng địch, đứng nép vào gốc cây, đưa khẩu B41 lên vai, lấy đường ngắm. Một tiếng nổ lớn, khẩu đại liên văng ra cùng với xác 3 tên giặc.
Vừa về đến chỗ Màu, Thời thấy 1 chiếc xe tăng địch đang ẩn mình dưới một thửa ruộng trũng ven đường, quay nòng pháo bắn vào trong bản. Thời bò lết theo bờ mương, vận động theo hướng xe tăng để diệt. Đang bò, bỗng Thời nghe thấy 1 tiếng nổ lớn. 1 chiến sĩ khác trong đại đội đã kịp thời nổ súng, tiêu diệt chiếc xe tăng cuối cùng của địch trong trận đánh.
Trận địa đã thưa dần tiếng súng. Đoàn xe tăng của địch có 13 chiếc, đã bị đại đội 10, tiểu đoàn 9, đoàn B46 tiêu diệt toàn bộ, nằm phơi xác trên đoạn đường thuộc xã Nam Tuấn, huyện Hoà An (Cao Bằng).
Logged

ngày căm thù 21 tháng 3 năm 1946
vietkieu_cuuquocquan
Thành viên
*
Bài viết: 325



« Trả lời #7 vào lúc: 29 Tháng Hai, 2016, 01:10:56 PM »

Chương 7: Tiếng súng người Dao


Buổi sáng hôm ấy, như thường lệ, ông già Phùn Cắm Ngăn vác dao lên thăm nương. Nhìn những vạt ngô mới nhú uống no sương đêm, đang vươn những búp lá mập mạp, xanh mởn, ông vui lắm.Mấy hôm trước, ông già Cắm Ngăn lo quá, không khéo đợt ngô trỉa sau tết của hợp tác xã Tình Pha bị héo vì sương muối mất. May quá, 2 hôm nay lại mưa phùn, ngô lên hết, đều tăm tắp. Đến cuối nương, ông bỗng sững lại : ngô ở đây bị xéo nát bởi những vết giày dép còn hằn trên nền đất ướt.

Thôi đúng rồi, bọn xấu bên Trung Quốc, bên kia con suối lại mò sang phá rồi, chắc là nó vừa qua đây, vết giày còn mới. Sao lại nhiều vết giày thế này. Lúc rẽ qua vạt lau, lối đi xuống suối, ông già giật thót người : bọn Trung Quốc tụ tập rất đông ở phía con suối sau bản Tình Pha. Chúng đang loay hoay tìm chỗ đặt những khẩu súng gì đó trông như cây chuối, nòng súng chĩa về phía bản ông. Nó tập à ? Không phải, dải đất ven suối ấy là đất của ta. Ô, thế là nó chiếm đất ta rồi, nó sắp đánh bản Tình Pha rồi. Từ tết đến giờ, dân quân bản Tình Pha tập hăng lắm vì được biết thế nào bọn xấu Trung Quốc cũng đánh sang.
Lẹ làng như một con mèo, ông chạy thật nhanh về bản, tìm đến nhà xã đội trưởng. Nó đi chợ Bình Liêu mất rồi ! Lúc này bản Tình Pha vắng lắm, bà con và dân quân trong bản đi chợ Bình Liêu gần hết. Ông già Cắm Ngăn như có lửa đốt trong bụng. Chỉ tẹo nữa thôi, bọn quỷ ấy sẽ tràn xuống. Bọn nó ông không lạ. Hồi gần tết năm ngoái, nó lẻn sang giết mất 3 người ở bản ông đang làm nương. Thỉnh thoảng nửa đêm nó còn sang bản ông bắt lợn, gà và gài mìn ở sân nhà cán bộ nhưng đều bị dân quân tóm được.
Phải chặn ngay chúng lại. Chạy về Mỏ Toòng báo cho bộ đội biên phòng và dân quân biết ? Không kịp nữa rồi ! Ông già Cắm Ngăn liền chạy ngay về nhà đánh thức con trai là Phùn Tắc Sình. Phùn Tắc Sình chạy sang nhà bên gọi thêm 2 đứa con ông chú cũng là dân quân. Ông già Phùn Cắm Ngăn đứng giữa 3 người nói :
- Ta chỉ có 3 khẩu K44 và 1 súng kíp, người lại ít, nó thì đông lại có súng lớn. Nhưng mình không sợ, phải chặn nó lại. Bộ đội và dân quân bên Mỏ Tòong nghe tiếng súng sẽ đến ngay thôi.
4 người dưới sự chỉ huy của ông Phùn Cắm Ngăn bí mật luồn theo con đường hẻm lần ra suối. Trước mặt họ, khoảng hơn 1 đại đội giặc Trung Quốc đang tản ra, mò tìm mìn và chông của dân quân để gỡ. Bọn còn lại, sau khi đặt pháo xong đang ăn cơm trong các lùm cây rậm rạp, nhưng chúng ăn rất khẽ như chuột ăn trộm ngô. Mọi người nhận định : chúng chưa bắn pháo, đợi bọn trinh sát gỡ hết mìn, nhổ hết chông, chúng mới bắn dọn đường cho bọn đi sau ào lên. Theo lệnh ông Phùn cắm Ngăn, 4 người chiếm 4 vị trí có lợi, khống chế được cả khoảng trống trước mặt, đợi bọn gỡ mìn nhổ chông mò tới gần mới bắn.
Bọn giặc rón rén nhích dần, nhích dần từng tí một. Mặc cho tên chỉ huy thúc lên nhưng bọn lính sợ giẫm phải mìn, đạp phải chông vẫn cứ loay hoay nhấp nhổm như kiến lửa cắn dưới bụng, không dám bò nhanh. Chúng gỡ cũng tài : số mìn và chông chúng nhổ được khá nhiều mà chưa có đứa nào vướng phải. Chỉ có 1 thằng lớ ngớ bị chông xóc vào hông, kêu ớ lên một tiếng, liền bị thằng nằm bên đấm cho một quả vào mồm, liền im thít. Thấy vậy, ông già Phùn Cắm Ngăn liền nghĩ ra 1 cách. Ông nhẹ nhàng bò tới chỗ con trai và 2 đứa cháu, nói nhỏ :
- Đừng bắn nó chết, cứ nhằm bắn vào tay vào chân nó. Bị thương nó sẽ lăn lộn như con gấu trúng đạn, mìn gài bên sẽ nổ, chúng nó sẽ chết nhiều.
30 bước chân, rồi 15 bước... Thấy chúng nó vào gần tới trước mặt, chắc ăn như bắn con nai, con hoẵng, ông già hô to :
- Bắn !
4 tiếng súng nổ vang, phá tan cảnh tĩnh mịch của núi rừng. 4 tên giặc đang nhổ chông, mìn bị những viên đạn găm vào tay, vào chân, cuống cuồng lăn sang một bên. Thế là những quả mìn gài bên cạnh chúng cũng nổ dậy đất, mấy thằng đang bò phía sau cũng tan xác. Bọn còn lại bật dậy, hoảng loạn đạp lên nhau tháo chạy. Bọn lính pháo đang ăn cơm trong các lùm cây không hiểu ra sao, nhốn nháo cả lên.
Thấy không còn giữ đưọc bí mật nữa, bọn giặc sau một lúc hoảng hồn bèn nổ súng. Đủ các loại súng bắn tới tấp về phía bản. Trong lúc đạn giặc nổ rầm trời, 4 người thoăn thoắt đổi vị trí, nhanh nhẹn áp sát địch, bình tĩnh nổ súng. Bọn địch vừa không biết lực lượng ta có bao nhiêu mà chỉ thấy súng nổ khắp nơi, vừa rất sợ đạp phải chông mìn nên không dám tiến. Chúng nằm một chỗ mà bắn như vãi đạn. Một lúc sau, đạn pháo địch bắt đầu bắn vào bản. 1 đại đội địch được pháo yểm trợ, liều lĩnh vọt qua bãi chông tiến về phía bản. Thấy không đủ sức chặn chúng lại, ô­ng già Phùn Cắm Ngăn dẫn con và 2 đứa cháu luồn qua khe, vừa để đánh vào phía sườn địch, vừa nhử chúng vào bãi mìn và chông đã được ta bố trí từ trước.
Trên đường vận động, lúc lao qua một vạt nương, không may Phùn Tẩu bị tụi giặc phát hiện thấy. 1 tràng AK vang lên ghim vào người Phùn Tẩu. ANh ngã xuống. Phùn Tắc Sình lao tới ôm lấy Phùn tẩu lăn xuống khe. Bọn giặc không tiến nữa, chúng hò hét nhau vòng lại định bắt sống Phùn Tắc Sình. Phùn cắm Ngăn nấp sau một tảng đá lớn, nhoài người lên bắn trả. Lúc đó, bộ đội và dân quân Mỏ Toòng đã kịp thời chi viện. Tiếng súng của ta nổ giòn giã, bọn giặc sống sót liền cuống cuồng tháo chạy, bỏ mặc những đứa chết và bị thương nằm kêu la thảm thiết. Đợt tiến công của chúng bị đánh tan. Nhưng bỗng có 1 toán giặc xô tới chỗ Phùn Tắc Sình, tuy không bắt được anh, nhưng chúng đã cướp được xác Phùn Tẩu chạy mất.
Hơn 1 giờ sau, bọn địch xốc lại lực lượng, tổ chức đợt tiến công khác lên chốt. Đợi cho bọn giặc tới gần, 1 tiểu đội dân quân và bộ đội được ông già Cắm Ngăn dẫn đường đã dũng mãnh đánh tạt sườn địch, lùa chúng vào bãi mìn bên suối. Tiếng mìn nổ dậy đất, hàng chục tên giặc tan xác. Bọn còn lại giạt vào bãi chông, lúng túng không ra được, la hét om sòm...
Vô cùng căm thù bọn giặc tàn bạo đã giết hại Phùn tẩu, chớp thời cơ cánh quân địch tiến vào bản đang bị quân ta ghìm đầu đánh cho tơi tả, Phùn Tắc SÌnh nhanh nhẹn vòng lại phía sau lưng chúng. Đoán chắc lũ giặc thế nào cũng hành hạ thi thể Phùn tẩu, thương bạn quá, Phùn tắc Sình cố tìm nơi bọn giặc giấu xác Phùn Tẩu. Nhưng đi một đoạn dài, anh chỉ thấy xác giặc Trung Quốc nằm ngổn ngang, đạn và súng của chúng ném lại vung vãi. ANh liền đeo thêm 2 khẩu AK còn đầy đạn của giặc. Thấy một đám giặc khoảng 10 tên đang xúm lại một chỗ, Phùn Tắc Sình rẽ qua những tán cây lúp xúp, nhích lại gần. Anh nhằm vào giữa đám giặc lia 1 loạt đạn. Chúng liền tản ra, nhằm về phía anh bắn loạn xạ rồi tháo chạy, hút vào khu đồi cây rậm rạp. Một lát sau, Phùn Tắc SÌnh thận trọng tiến lên phía trước, thấy 3 tên chết gục bên cạnh đống khoai sống chúng vừa moi được của dân bản.
Trời đã về chiều, trận địa im tiếng súng. 8 đợt tấn công lên bản Tình Pha của địch đều bị đánh lui. Vì hoảng sợ nên chúng không dám ùn lên nữa. Nhưng Phùn Tắc SÌnh sau khi đào xong công sự cùng bộ đội và dân quân vẫn không chịu nghỉ. Ông Phùn cắm Ngăn cũng xin ở lại chiến đấu, không chịu về bản. Nghĩ tới Phùn Tẩu, Phùn Tắc Sình lại xách súng, vượt qua một thung lũng hẹp, đi tìm. Lúc này đã gần tối, sương chiều phủ trắng đồi nương. Qua bãi mìn địch vướng phải lúc sáng, anh thấy xác 5 tên địch còn nằm đó.
Lần qua khe cạn, tới gần con suối làm đường biên giới, Phùn Tắc Sình dừng lại. Trên lưng dốc có tiếng lạo xạo. Anh bò lên, thấy khoảng 20 tên địch đang bu quanh xác Phùn tẩu. Từ đây, chạy tắt đường xuống chốt của bộ đội và dân quân không xa, rất có thể bọn này sẽ thọc xuống sau lưng ta. Anh bí mật tiến dần lên dốc. Bọn giặc vẫn không hay biết gì. Chúng moi được tờ giấy trong túi Phùn Tẩu (Phùn Tắc Sình chắc là tờ giấy Phùn Tẩu thường chép bài hát mới, hay bỏ vào túi để lúc nào cũng có thể học hát được) và đang tranh cãi... Một thằng cao lớn, dáng chừng chỉ huy, đứng dậy xua tay và rút con dao găm sáng loáng ra... Nhanh như chớp, Phùn Tắc SÌnh chuyển 4 vị trí và nổ 4 loạt đạn vào lũ giặc. Liền đó, anh vớ 1 hòn đá quăng mạnh vào bên cạnh. Tưởng lựu đạn, bọn còn lại hoảng hốt vứt cả súng, thu mình lăn lông lốc xuống suối. Đồi khá dốc nên chúng lăn rất nhanh. Phùn Tắc SÌnh liền lao tới xốc Phùn Tẩu lên vai, nhanh chóng ngược lên đỉnh dốc, ào qua mấy vạt nương. Trước mắt anh đã là chốt của bộ đội và dân quân Tình Pha, Mỏ Toòng...
Hôm sau, ngày 18-2, ông Phùn Cắm Ngăn vẫn ở lại trên chốt cùng với con trai. Mọi người khuyên ông về di sơ tán cùng dân bản nhưng ông không nghe. Ông tìm tới đồng chí chỉ huy, đề nghị :
- Bắn cái thằng giặc Trung Quốc này dễ hơn bắn con nai con chồn. Mày cho tao khẩu súng khác bắn đưọc nhiều đạn hơn khẩu súng kíp này, như thế nó sẽ chết nhiều nữa.
Liền sau đó, ông già Phùn Cắm Ngăn vui sướng đón nhận khẩu AK còn bóng loáng nước thép, khẩu này ta thu được của giặc hôm 17-2 ngay trên chốt bản Tình Pha, xã Đồng Tâm, huyện Bình Liêu quê nhà.
Logged

ngày căm thù 21 tháng 3 năm 1946
vietkieu_cuuquocquan
Thành viên
*
Bài viết: 325



« Trả lời #8 vào lúc: 29 Tháng Hai, 2016, 01:16:45 PM »

Chương 8: Chiến công của đồng chí nuôi quân


Chiều ngày 17-2, tổ nuôi quân của tôi phải rời vị trí lên một bản người Pa Dí ở Sa Pa theo ban chỉ huy tiểu đoàn. Bếp của chúng tôi đặt ở một nhà dân gần suối nước, cách hang đá của thủ trưởng tiểu đoàn ở một quãng xa xa, khoảng 1km.Tổ anh nuôi của chúng tôi lúc ấy còn tập trung chứ chưa phân tán như bây giờ, gồm có anh nuôi trưởng tên là Quý, chiến sĩ tiếp phẩm tên là Thêm và tôi.

Buổi sáng ngày 18, chúng tôi dậy rất sớm nấu cơm, nắm thêm cho mỗi người một nắm để ăn trưa. Tôi đi đưa cơm về thì trời đã gần trưa. Mặt trời sắp lên tới đỉnh đầu. Lúc ấy nghe tiếng súng nổ ran cả 4 phía. Ngày hôm trước súng cũng nổ nhiều nhưng không nhiều bằng hôm nay. Tôi nói với Quý :
- Phải nấu cơm sớm Quý ạ ! Sợ chiều đánh giặc không nấu được đâu.
- Phải đấy !
Quý đồng ý. Tất cả 3 chúng tôi bắt tay vào chuẩn bị bữa cơm chiều. Tiếng súng rộ lên rất gần. Tiếng AK, tiếng lựu đạn, tiếng ĐKZ rối vào nhau. Bỗng có mấy dân quân ở một chốt gần đấy chạy qua, gọi với vào :
- Địch tràn lên đông lắm !
Chúng tôi không kịp hỏi gì thì họ đã biến mất sau những khóm cây. Quý bảo :
- Chạy lên trận địa của tiểu đoàn !
Quý nói xong, cùng Thêm khoác súng chạy đi luôn. lúc ấy nồi nước đang sôi. Tôi nghĩ cho gạo vào còn kịp chán. Nếu địch không lên được, anh em còn có cơm để ăn. Cho gạo xong, vừa bước ra khỏi nhà, tôi đã thấy giặc lố nhố trên đầu dốc. Đông lắm, không thể đếm được bao nhiêu. Nếu tôi chạy theo đường cái lên hang, sẽ chạy qua mặt chúng. Thế nào chúng cũng bắn chết. nghĩ vậy, tôi chạy tạt ra sau nhà, nơi có mấy công sự bắn của dân quân đã làm từ trước, bên cạnh một hang đá nhỏ.
Vũ khí của tôi có 1 khẩu AK với 4 băng đạn và 3 quả lựu đạn lúc nào cũng đeo ở bên người. Địa thế chỗ tôi ẩn nấp rất tốt. Tôi nhìn được chúng còn chúng không nhìn được tôi. Tôi chọn một chỗ nằm vừa có vật che đỡ vừa quan sát được địch. Chúng bám vào nhau mò lên. Có mấy thằng xông vào nhà bếp. Tôi bắn 1 loạt. Chúng rú lên, lùi lại, sau đó tràn lên đông hơn. Tôi bắn nữa, nhìn rõ mấy thằng ngã gục không dậy được.
Thủ trưởng hỏi tôi bắn chết bao nhiêu tên ? Tôi không đếm. Lúc đánh nhau tôi không nghĩ đến đếm xem bao nhiêu thằng chết. Nhưng tôi tin rằng chúng chết không ít.
Để tiết kiệm đạn, tôi cứ bắn từng loạt ngắn 2, 3 viên một. Nói thế, thủ trưởng đừng nghĩ rằng bọn Trung Quốc không bắn lại ác liệt. Nơi ẩn nấp của tôi chỉ giữ được bí mật lúc đầu. Rồi chúng cũng phát hiện ra, dùng cối nã vào. Tôi rút vào trong hang đá nhỏ. Ở đây tôi nhìn thấy 1 thằng thổi kèn nhô lên trên một gò đất cao. Cứ mỗi lần nó rúc kèn bọn giặc lại tràn lên. À ra thế ! Tại thằng này nên chúng nó lên đông. Tôi đưa đường ngắm vào ngực nó, điểm xạ. Thằng giặc đổ sập xuống. Bọn giặc chững lại một lúc. Tôi cũng chưa dám rút khỏi hang đá nhỏ. Tôi đã bắn hết 3 băng đạn. Nòng súng nóng đỏ cả lên. Chờ cho nòng súng nguội thì biết đến bao giờ ? Bọn giặc nó xông lên tiếp thì làm sao ? Tôi liều đem nòng súng nhúng vào vũng nước rỉ ra từ khe đá còn đọng lại. Khi xong trận tôi kể lại, các thủ trưởng bảo như thế cũng được.
Quả nhiên sau khi củng cố, bọn giặc lại hò hét xông lên. Chúng hô "Tả ! Tả !" và những gì nữa tôi nghe không hiểu. Tôi nghĩ, đạn chỉ còn 1 băng, phải tìm cách trở về với tiểu đoàn. Đành phải bỏ nồi cơm lại thôi. Bữa chiều nay anh em sẽ bị đói. Nghĩ vậy tôi thấy tức bọn giặc quá chừng. Sao không có ai xuống đây tiếp sức với tôi để lấy cơm đi ? Lúc ấy tôi nghĩ thế vì tôi chưa biết địch tràn lên đông đến mức nào, đâu đâu cũng phải chặn địch cả.
Bắn thêm mấy loạt đạn vào 1 tốp giặc gần nhất, tôi men theo bờ đá, lợi dụng cây cối che khuất, bám vào từng rễ cây, gờ đá tìm đường về phía hang đá lớn của tiểu đoàn.
Không thấy tiếng súng nổ từ phía sau nhà bếp của ta, bọn giặc tràn vào phá phách. Tôi vòng trở lại, nấp sau một hẻm đá để quan sát địch. Không nhìn thấy rõ, nhưng nghe tiếng động, tôi có thể biết chúng cướp cái gì và phá cái gì. Từ trên cao nhìn xuống, tôi thấy 4, 5 thằng ngồi túm tụm trên bãi cỏ, mở thịt hộp ăn. Tôi tức đến lộn ruột. Chúng cướp thịt hộp của ta chứ chúng làm gì có mà ăn. Tôi tháo 1 quả lựu đạn, rút chốt rồi lẳng vào giữa đám. Không biết chúng có chết cả không. Bọn chúng sợ hãi bắn loạn cả lên, nhưng bắn vào rừng mênh mông thì trúng tôi thế nào được.
Về tới chốt của tiểu đoàn thì trời chạng vạng tối. Đánh xong trận đó rồi, tôi nghĩ thằng giặc nó giết được mình khó hơn là mình diệt nó.

                              --------------------------

Hà Phạm Phú, ghi theo lời kể của Phạm Hồng Trường, dân tộc Thái, chiến sĩ tiểu đoàn 3 Mường Khương
Logged

ngày căm thù 21 tháng 3 năm 1946
vietkieu_cuuquocquan
Thành viên
*
Bài viết: 325



« Trả lời #9 vào lúc: 29 Tháng Hai, 2016, 01:23:02 PM »

Chương 9: Người con anh hùng của đất biển


Từ chiều hôm trước đã có nhiều dấu hiệu báo trước sắp xảy ra một trận đánh lớn. Đồng chí Vượng, cửa hàng trưởng cửa hàng Pò Hèn nói với Hoàng Thị Hồng Chiêm : - Giặc sắp đánh đấy. Cháu tính kĩ đi, cái gì cần thiết thì để lại, cái gì chuyển được xuống Tràng Vinh thì cho bốc ngay chiều nay. - Vâng ạ !

Chiêm trả lời đồng chí Vượng và trong giây lát cô đã tính toán xong những việc cần kíp phải làm trước.
Chiêm nhanh chóng sơ tán được một số mặt hàng tránh xa chỗ cũ, nơi mà cấo trên cho biết là địch có thể đánh sang. Trời tối, Chiếm và các đồng chí Vượng, Thắng, chủ tịch xã, Định y sĩ ở lại trong cửa hàng để ngày mai chuyển tiếp hàng hoá. Đêm ấy, khi đi ngủ Chiêm không quên đặt khẩu súng đã lắp sẵn đạn bên cạnh mình. Đó cũng là tác phong sẵn sàng chiến đấu đã trở thành thói quen của Chiêm. Từ khi được cấp trên thông báo bọn phản động trong giới cầm quyền Bắc Kinh đang ráo riết chuẩn bị xâm lược nước ta, tinh thần sẵn sàng chiến đấu của dân quân tự vệ Móng Cái rất cao. Cũng như chị em khác, đi đâu, Chiêm đều giắt bao đạn, lựu đạn, mang theo súng.
Sáng sớm ngày 17-2, hàng loạt đạn pháo của giặc Trung Quốc từ bên kia biên giới bắn dồn dập sang Pò Hèn, Thán Phún. Chúng bắn vào các điểm cao, vào những nơi chúng nghi là có nhân dân và bộ đội. Những mảnh đạn bay xoèn xoẹt, đập vào vách núi, cắm vào hàng cây ven đường. Nhiều quả đạn pháo nổ ngay trước sân nhà ở. Nhìn xuống chân đồi, Chiêm đã thấy lố nhố lũ giặc Trung Quốc được bọn phản động người Hoa dẫn đường. Trong đêm, bọn này đã lén lút theo các khe hẻm mò vào đây, Chiêm quay vội vào nhà.
Trong cuộc hội ý chớp nhoáng dưới 1 chiếc hầm chữ V, có nắp dày, làm ở góc nhà, Hoàng Thị Hồng Chiêm, một tay cầm 2 quả lựu đạn, một tay cầm khẩu CKC, nói :
- Bọn lính Trung Quốc tràn sang rồi. Giặc đang định bao vây cửa hàng. Bác Vượng và các anh vượt ra trước, em ở lại yểm hộ.
Thấy mọi người phân vân, Chiêm càng quả quyết hơn :
- Chúng ta có ít súng, nhiều người ở lại là không có lợi đâu. Em đánh được mà !
Chiêm là một chiến sĩ của trung đoàn 8 làm đường Ba Chẽ, chuyển về cửa hàng Pò Hèn tháng 5-1975. Vì vậy đồng chí Vượng rất tin Chiêm. Anh đồng ý để Chiêm ở lại yểm hộ cho 3 người ra trước.
Chiêm nói :
- Bây giờ thế này, em sẽ ném 1 quả lựu đạn vào đám đông quân giặc. Lợi dụng lúc chúng nằm xuống tránh đạn, 3 anh vọt ra ngoài.
Không chờ mọi người bàn bạc thêm, Chiêm đã mở lựu đạn, rút dây. Lựu đạn xì khói. Chiêm nói như ra lệnh :
- Các đồng chí ra theo hướng lựu đạn !
Chiêm ném lựu đạn. một tiếng nổ rất đanh, rất vang. Nhiều tên lính sơn cước bị mảnh lựu đạn cắm vào mặt, vào bụng. Địch hoảng sợ liền tản ra, nằm sát xuống đất. 3 người vọt ra khỏi nhà, chạy ra phía sau.
Nghe tiếng chân người, địch biết là bị lừa, chúng lồm cồm bò dậy, bắn theo.
Địch hò nhau tiến về phía căn nhà. Chúng đông quá mà Chiêm chỉ còn 1 quả lựu đạn với khẩu súng có vẻn vẹn 10 viên đạn lắp sẵn.
Bọn giặc đã đến gần lắm rồi. Chiêm vung mạnh tay ném quả lựu đạn còn lại vào tốp giặc. Lựu đạn nổ, bọn giặc lại nằm xuống. Chiêm xách súng chạy qua hướng lựu đạn vừa nổ, vọt lên đồi, nơi có trận địa chốt của đồn công an nhân dân vũ trang số 209, cách cửa hàng của Chiêm khoảng 100m. Đạn của giặc bắn theo chiu chíu.
Sắp tới trận địa của công an vũ trang, Chiêm thấy 2 người trên đồn chạy xuống, hét to :
- Chị Chiêm, địch tiến công mạnh. Chị đừng lên !
- Nó tiến công mạnh, tôi phải cùng các đồng chí chiến đấu !
Khi Chiêm lên đến nơi thì gặp bác Vượng, Thắng và Định cũng đang chiến đấu ở đó. gặp đại đội phó Hoạ, Chiêm nói vội :
- Anh Hoạt ơi, anh phân việc cho em đi !
- Cô Chiêm ! Cô lên thật đúng lúc, Lượng đang nhắc cô bên kia !
Đại đội phó Hoạ đang chỉ huy anh em chiến đấu, nhưng khi nghe tiếng Chiêm báo cáo, vẫn dành cho cô gái một câu nói vui như thế.
Chiêm và Lượng đã quen nhau qua những buổi tập bóng chuyền, tập biểu diễn văn nghệ. Hạ sĩ Bùi Anh Lượng có tiếng là cây đập tốt trong đội bóng chuyền của đồn công an. Trong đêm liên hoan văn nghệ, Lượng và Chiêm cùng hát bài "Trước ngày hội bắn".
Tình yêu đã đến với họ và anh em trên đồn công an vũ trang đã coi Chiêm như người nhà.
Đại đội phó Hoạ giao nhiệm vụ cho Chiêm tiếp đạn tới các hướng chiến đấu và băng bó cho anh em bị thương để đưa về tuyến sau. Quần sắn cao, tóc búi gọn, Hoàng Thị Hồng chiêm xông xáo và vác đạn đến các hưóng chiến đấu. Khi vác đạn tới công sự hướng nam, Chiêm đến bên cạnh Khổng Tiến Dũng nói :
- Dũng bắn, để chị ném lựu đạn !
Dũng và Chiêm đã anh dũng chiến đấu chặn địch ở một hướng đẩy lùi 3 đợt tiến công của địch.
Chiêm cơ động đến một đoạn hào phía trước, gặp 2 chiến sĩ bị thương nặng, Chiêm dìu 2 người vào hầm kèo. Vừa quay ra, Chiêm gặp 1 toán giặc nhảy xuống hào. Chúng định bắt sống Chiêm, Chiêm nép mình vào một góc hào, bình tĩnh giương súng, bóp cò. 4 tên đi đầu bị trúng đạn, chết gục. Những tên đi sau không dám hung hăng nhảy xuống hào nữa. Nhưng từ một hướng khác, bọn giặc lại bất ngờ lao lên. Thấy ở đây chỉ có 1 tay súng đánh trả, và lại là tay súng con gái, bọn giặc liền lên tiếng gọi hàng. Chiêm thét to :
- Hàng này !
Quả lựu đạn vút đi từ tay Chiêm. 2 tên giặc chết gục. Chiêm bị thương vào tay trái, máu nhuộm đỏ cánh áo. Mừng từ phía trái đường hào chạy tới. Mặc dù bị thương, cả 2 người vẫn nổ súng đánh chặn giặc.
Không thấy Chiêm tiếp đạn cho mình, Khổng tiến dũng nóng ruột chạy đi tìm. Gặp Chiêm bị thương, Dũng xé áo mình băng cho chị. Chiêm nói :
- Dũng đến băng cho anh Mừng trước. Anh ấy bị thương nặng hơn chị. Ta chiến đấu đến cùng, Dũng ạ !
Qua nhiều đợt tiến công liên tục không chiếm được đỉnh Pò hèn, giặc liền nã tới tấp đạn pháo 130 ly và cối 82 ly vào trận địa của ta. Nhiều đoạn hào giao thông bị sụt lở, những mảnh đạn pháo cày tung đất đá. Quân giặc xốc lại lực lượng, mở đợt tấn công mới. Những tên chỉ huy cầm súng ngắn, phất cờ thúc lính liều lĩnh xông lên.
Cuộc chiến đáu tiếp theo vô cùng gay go và ác liệt. Một số chiến sĩ bị thương. Địch đến gần, các chiến sĩ dùng võ thuật và lưỡi lê đánh địch.
Đang chiến đấu, Chiêm nghe Hoàng Tiến Cờ gọi :
- Chị Chiêm, anh Hoạ hi sinh rồi !
Chiêm chạy đến hầm, nơi anh Hoạ được đồng đội mang vào. Chiêm nâng 2 cánh tay anh, đặt lên ngực rồi phủ tấm chăn lên người anh.
Nghe tiếng giặc la hét, Chiêm lao ra khỏi hầm, ráng sức ném liền 2 quả lựu đạn vào toán giặc. Chiêm bị thương lần thứ 2. Đạn găm trúng chân, Chiêm lảo đảo ngã xuống thành hào. Một lần nữa, Khổng Tiến Dũng lại lao đến băng cho Chiêm và đưa Chiêm vào hầm. Nghe Dũng báo cáo súng CKC của chiêm đã hết đạn, đồng chí Chuyên, người được cử thay thế Hoạ chỉ huy liền chạy vào hầm gặp Chiêm nhưng chiêm đã ra ngoài công sự để quan sát tình hình địch. Chuyên trao khẩu súng ngắn của Hoạ cho Chiêm :
- Súng của Hoạ đây, chị chiến đấu để trả thù cho Hoạt !
Chiêm cầm khẩu K54 trở lại vị trí chiến đấu. Lợi dụng thành hào, chiêm bình tĩnh ngắm bắn từng tên giặc. Phía trái, Chuyên đang chiến đấu rất anh dũng, vừa tiêu diệt địch ở hướng anh, vừa bắn hỗ trợ cho Chiêm.
Bọn giặc vẫn liều lĩnh xông tới, chúng bắn trung liên quét mặt đồi. Chiêm lại bị thương rất nặng ở cột sống. Chị ngã xuống và không bao giờ tỉnh dậy nữa. Chiếc áo màu vàng nhạt, điểm hoa tím mà chị vẫn thích mặc đã nhuốm đỏ.
Hoàng Thị Hồng Chiêm, cô gái đẹp nết đẹp người ấy đã anh dũng hi sinh trên mảnh đất biên giới thiêng liêng của Tổ quốc khi bước vào tuổi 25. Bà con huyện Hải Ninh gọi Hoàng Thị Hồng Chiêm là Người con gái anh hùng của đất biển, còn các chiến sĩ công an nhân dân vũ trang đồn biên phòng Pò Hèn thì gọi Hoàng Thị Hồng Chiêm là đồng đội anh hùng của chúng tôi.

                                                ===
Logged

ngày căm thù 21 tháng 3 năm 1946
Trang: 1 2 3 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM