Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 26 Tháng Hai, 2017, 10:25:31 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: The Last Battle - Trận chiến cuối cùng  (Đọc 24285 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 565


« Trả lời #90 vào lúc: 14 Tháng Hai, 2017, 08:29:34 AM »

       Tóm lại, một phần ba số quân của Reymann không có vũ khí. Phần còn lại thì có thể xem là có. Reymann nhớ lại, “vũ khí của bọn họ đến từ các nước từng là đồng minh hoặc kẻ thù của Đức. Ngoài nguồn cung cấp của chính chúng tôi, còn có súng từ các nước Italia, Nga, Pháp, Tiệp Khắc, Bỉ, Hà Lan, Na Uy và Anh.” Có không dưới 15 loại súng trường và 10 loại súng máy khác nhau. Tìm đạn dược cho mớ súng ống hổ lốn này là một chuyện gần như vô vọng. Các tiểu đoàn được trang bị súng Italia là may hơn cả: bọn họ được cấp tối đa 20 viên đạn 1 người. Người ta cũng phát hiện ra là súng của Bỉ dùng được một số loại đạn nhất định của Tiệp, nhưng đạn của Bỉ lại vô dụng đối với súng trường Tiệp. Còn có vài món vũ khí Hy Lạp, nhưng không biết sao lại có hàng đống đạn Hy Lạp. Đạn dược thiếu hụt trầm trọng tới mức người ta đã tìm ra cách cải biên đạn Hy Lạp để đem dùng cho súng Italia. Nhưng có ứng biến linh hoạt thế nào đi chăng nữa cũng chẳng xoa dịu được tình hình chung. Vào ngày quân Nga mở màn cuộc tấn công, trung bình mỗi người lính Phòng vệ Địa phương chỉ được phát 5 viên đạn cho một khẩu súng trường.

       Giờ đây, khi tuần tra các vị trí dọc theo vùng ngoại ô phía đông, Reymann thấy quân Nga chắc chắn sẽ vượt qua nơi này dễ như bỡn. Còn thiếu quá nhiều thứ thiết yếu. Họ gần như không còn mìn, nên cũng không có các bãi mìn, vốn rất quan trọng với một điểm phòng thủ. Một trong những công cụ phòng thủ cổ xưa và hiệu quả nhất là dây thép gai cũng không thể nào tìm được. Pháo binh của Reymann chỉ có vài khẩu pháo phòng không cơ động, mấy chiếc tăng cố thủ ở một lối vào nhất định, và những khẩu pháo khổng lồ của các tòa tháp phòng không. Dù có uy lực khủng khiếp, nhưng mấy khẩu pháo góc cao này lại không hữu ích mấy. Vì được đặt cố định, nên chúng không thể ngắm xuống đất để bắn bộ binh và xe tăng tấn công ở cự ly gần.

       Reymann biết tình hình của mình đang rất vô vọng. Ông cũng bi quan tương tự về tình hình ở các nơi khác. Ông không tin là mặt trận Oder có thể cầm cự được, cũng không mong các đội quân rút lui về thành phố có thể giúp được gì. Đại tá Refior đã bàn bạc với các sĩ quan ở sở chỉ huy của tướng Busse về khả năng được hỗ trợ. Ông nhận được một câu trả lời phũ phàng từ tham mưu trưởng của Busse, Đại tá Artur Hölz. “Đừng mong đợi gì ở chúng tôi. Tập đoàn quân 9 đã, đang và sẽ túc trực ở mặt trận Oder. Chúng tôi có thể gục ngã tại đây, nhưng tuyệt đối không lui binh.”

        Reymann cứ mãi nghĩ đến cuộc trò chuyện với một vị quan chức Volkssturm ở quân khu nọ. Reymann hỏi, “Anh sẽ làm gì nếu phát hiện có xe tăng Nga ở đằng xa? Anh sẽ báo cho bọn tôi biết bằng cách nào? Giả dụ xe tăng tiến về phía này đi. Cho tôi biết khi đó anh sẽ làm gì.”

       Ông tròn mắt nhìn người đó quay ngoắt lại và chạy vào ngôi làng đằng sau. Mấy phút sau ông ta quay lại, thở hổn hển và tỏ vẻ chán nản. Ông ta ngại ngùng giải thích, “Tôi không gọi điện được. Tôi quên mất tiêu là bưu điện đóng cửa từ 1 giờ tới 2 giờ chiều.”

       Khi quay lại thành phố, Reymann nhìn chằm chằm vô định ra ngoài cửa sổ xe. Ông cảm thấy một đám mây đen u ám đang tụ lại, và Berlin có thể sẽ biến mất mãi mãi trong bóng tối đó.

       Phòng tuyến đang rạn vỡ từ từ, nhưng không thể tránh khỏi trước sức ép khủng khiếp của địch. Heinrici đã ở ngoài tiền tuyến cả ngày, đi từ sở chi huy này qua sở chỉ huy khác, đến thị sát các cứ điểm ngoài mặt trận, nói chuyện với các tư lệnh. Ông ngạc nhiên khi thấy lính của Busse đã chống cự rất tốt dù chênh lệch cực lớn về quân số. Ban đầu, Tập đoàn quân 9 đã cầm cự được 3 ngày trước các cuộc tấn công mở đầu dữ dội; giờ bọn họ lại gánh chịu cuộc tấn công chủ lực của quân Nga. Quân của Busse đã phản công ác liệt. Nội trên cao nguyên Seelow không thôi, họ đã hạ hơn 150 xe tăng và bắn rơi 132 máy bay. Nhưng họ đang suy yếu dần.

       Khi ngồi xe quay về sở chỉ huy của mình trong màn đêm dần buông, Heinrici thấy mình đang phải đi chậm lại vì dân sơ tán quá đông. Hôm nay, chỗ nào ông cũng thấy bọn họ – có người mang tay nải, kẻ thì kéo xe tay, trên đó chất những của nả cuối cùng, người khác lại ngồi xe bò hay xe ngựa. Ở nhiều nơi, số dân chạy nạn đông đúc này là một vấn đề đau đầu không kém quân Nga.

       Trong văn phòng của ông, các sĩ quan tham mưu lo lắng tập trung lại để nghe viên tướng phát biểu về ấn tượng sơ bộ của ông về tình hình trước mắt. Heinrici nghiêm trọng tổng kết lại những gì ông quan sát được. Ông nói : “Họ không thể cầm cự được bao lâu nữa. Bọn họ mệt sắp đứt hơi rồi. Dù vậy, ta vẫn đang gắng chống đỡ. Đó là thứ Schörner không làm được. Vị quân nhân vĩ đại đó không thể cầm chân Koniev nổi một ngày.”

        Một lát sau, Đại tướng Hans Krebs, Chỉ huy trưởng OKH gọi tới. Ông ta nói với Heinrici hết sức trơn tru, “Chúng ta có lý do để thấy hài lòng.” Heinrici thừa nhận điều này. Ông ta nói: “Xét tới quy mô của cuộc tấn công, thì chúng ta vẫn chưa đánh mất nhiều đất cho lắm.” Krebs có vẻ mong nhận được phản hồi tích cực, và chính ông ta cũng lạc quan như thế, nhưng Heinrici lại không làm theo. Ông lạnh lùng nói với Krebs: “Tôi được học rằng không bao giờ ca ngợi một ngày nào chừng nào hoàng hôn còn chưa tới.”

       Trong màn đêm, binh nhì Willy Feldheim nắm khẩu Panzerfaust chặt hơn. Cậu không biết mình đang ở đâu, nhưng cậu có nghe nói dãy hố cá nhân này kéo dài qua ba con đường trong vùng Klosterdorf, cách mặt trận chừng 18 dặm.

       Trước đó không lâu, trong lúc chờ xe tăng Nga đến, Willy có cảm giác như đang thực hiện một chuyến phiêu lưu. Cậu nghĩ nếu mình thấy chiếc tăng đầu tiên xuất hiện và khai hỏa khẩu súng chống tăng này lần đầu thì sẽ ra sao. Ba trung đội đóng ở ngã tư được lệnh để xe tăng tiến gần hết mức có thể mới được bắn. Chỉ thị nói khoảng cách chừng 55 mét là vừa tầm.

       Núp trong hố cá nhân ẩm ướt, Willy nhớ lại những ngày mình còn là một cậu lính kèn. Cậu đặc biệt nhớ rõ một ngày nắng đẹp hồi năm 1943, Hitler phát biểu tại sân vận động Olympic và Willy nằm trong đội thổi kèn ầm ĩ khi Quốc trưởng đi vào. Cậu không bao giờ quên lời nhà lãnh tụ nói với các đoàn viên trong Đoàn Thanh niên Hitler đứng đó: “Các bạn là người bảo đảm cho tương lai…” Và đám đông hô vang “Quốc trưởng muôn năm! Quốc trưởng muôn năm!” Đó là ngày đáng nhớ nhất đời Willy. Chiều hôm ấy, cậu không còn nghi ngờ gì là Đế chế  Đức có đội quân thiện chiến nhất, vũ khí mạnh mẽ nhất, tướng lĩnh tài ba nhất, và hơn hết là nhà lãnh tụ vĩ đại nhất thế giới. Giấc mộng của cậu biến mất trong ánh chớp đột ngột rạch lên bầu trời đêm. Willy nhìn chăm chú về phía mặt trận và lại nghe thấy tiếng pháo nổ trầm trầm mà nhất thời cậu vừa quên đi, và cậu thấy lạnh. Bụng cậu bắt đầu đau và cậu thấy muốn khóc. Cậu bé Willy Feldheim 15 tuổi cảm thấy sợ hãi khủng khiếp, và tất cả những mục đích cao quý cùng những từ ngữ làm sục sôi lòng người giờ chẳng giúp gì được cho cậu.

      Tiếng gõ trống văng vẳng gần như không nghe ra. Tiếng kèn tuba nhẹ nhàng đáp lại. Tiếng trống mơ hồ lại vang lên lần nữa. Kèn tuba đáp lại trầm trầm, như báo trước một điềm gở. Rồi tiếng dàn bass vang lên, và tuyệt phẩm Die Götterdämmerung (Hoàng hôn của các vị thần) của Dàn nhạc giao hưởng Berlin mở màn. Bầu không khí của Sảnh đường Beethoven chìm trong bóng tối cũng tràn ngập vẻ bi kịch như chính âm nhạc vậy. Nguồn sáng duy nhất là các ngọn đèn đặt bên chỗ các thành viên trong dàn nhạc. Sảnh đường khá lạnh, ai nấy đều mặc áo khoác. Tiến sĩ Von Westermann ngồi trong lô với vợ và em trai ông. Gần đó là em gái của nhạc trưởng Robert Heger cùng với ba người bạn. Và bộ trưởng Albert Speer vẫn ngồi ở vị trí quen thuộc của ông.

      Ngay sau khi đàn xong bản Violin Concerto của Beethoven, Taschner và gia đình, cùng con gái của Georg Diburtz đã rời khỏi sảnh đường. Họ đang trên đường đến một nơi an toàn – nhưng họ là những người duy nhất. Speer đã giữ lời. Xe của ông ta đang chờ ngoài kia. Ông ta còn để viên sĩ quan quản trị của mình đi cùng cả nhóm an toàn tới nơi. Giờ, nhà kiến trúc của bộ máy công nghiệp chiến tranh khủng khiếp của Hitler đang lắng nghe điệu nhạc dữ dội kể về hành vi tàn ác của các vị thần, về cảnh hỏa thiêu Siegfried trong đám tang của chàng, về nàng Brünnhilde cưỡi ngựa chạy tới giàn thiêu để cùng chết với chàng. Rồi với tiếng Cymbal inh ỏi và tiếng trống rền vang, dàn nhạc chơi đến cao trào: trận hỏa thiêu hàng loạt đã hủy diệt Valhalla. Khi giai điệu u buồn và tráng lệ lan tỏa trong thính phòng, thính giả cảm nhận được một nỗi buồn thuơng sâu sắc đến mức không rơi lệ nổi (*).


       …………………………….
          (*): Có vẻ số phiên bản khác nhau về buổi hòa nhạc cuối cùng cũng nhiều như số thành viên dàn nhạc còn sống sót. Người kể thế này, kẻ lại kể thế khác. Có nhiều ý kiến khác nhau về ngày tháng, chương trình và thậm chí là cả nghệ sĩ biểu diễn. Những người không biết gì về kế hoạch của Speer thì không chịu tin là từng tồn tại một kế hoạch như thế. Phiên bản trong sách này dựa theo lời kể của Tiến sĩ Von Westermann, cùng thông tin bổ sung từ Gerhard Taschner.



       ................................  


Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM