Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 25 Tháng Bảy, 2014, 03:01:11 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô  (Đọc 25821 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 779



« Trả lời #10 vào lúc: 23 Tháng Tám, 2008, 07:19:13 PM »


Đại tướng D.G. Pavlov (04/11/1897-06/1941)

Pavlov Dmitri Grigorevich sinh ngày 4-11-1897 tại làng Vonhiukh, nay là làng Pavlov, huyện Kologriv, tỉnh Kostrom, trong một gia đình nông dân nghèo.Trong chiến tranh thế giới thứ nhất, ông tình nguyện gia nhập quân ngũ, chiến đấu, bị thương trong trận đánh trên sông Smokhot và bị bắt làm tù binh năm 1916.

Năm 1919 ông được cứu khỏi nhà tù, gia nhập Hồng quân và được kết nạp Đảng Cộng sản. Trong thời gian nội chiến, ông chiến đấu ở các mặt trận phía Nam, Tây Nam, khu vực Turkestan. Năm 1922, ông tốt nghiệp Trường Kỵ binh cao cấp Omsk, và năm 1931 tốt nghiệp Học viện Kỹ thuật Quân sự.

1936 – 1937 D.G. Pavlov tham gia đội quân quốc tế chiến đấu tại Tây Ban Nha, chỉ huy binh đội xe tăng, lập nhiều chiến tích.  Do những chiến công xuất sắc ở mặt trận Tây Ban Nha, ông được phong danh hiệu Anh hùng Liên Xô cùng với Huân chương Lênin ngày 21-6-1937. Năm 1939, D. G. Pavlov được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Đại biểu Xô viết tối cao Liên Xô. 1939 – 1940 ông tham gia chiến tranh Liên Xô – Phần Lan. Từ tháng 6 – 1940 là tư lệnh Đặc khu quân sự Belorussia.

Những ngày đầu cuộc chiến tranh vệ quốc, ông được cử làm Tư lệnh Phương diện quân Tây, Khu vực đảm trách của Phương diện quân trải suốt chiều dài biên giới từ phía Nam tới Litva 470 km. Khi chiến tranh nổ ra, nơi đây  đã phải hứng chịu cuộc tấn công dữ dội nhất của đội quân Đức đông gấp nhiều lần và nắm được thế chủ động, bất ngờ. Lực lượng không quân và xe tăng của Phương diên quân bị thiệt hại nặng nề, có thể nói gần như tê liệt. Pavlov đã không thể giữ nổi phòng tuyến, và sau 8 ngày chống cự tuyệt vọng, tàn quân của quân đội Xôviết đã bị đánh bật khỏi phòng tuyến 350 – 400 km. Phương diện quân hoàn toàn bị tan rã. D.G. Pavlov bị triệu hồi về Moskva và lập tực bị bắt. Ông bị cách tuột mọi chức vụ, tước các huân, huy chương và bị kết tội hèn nhát, bội phản, đầu hàng, không chiến đấu…

D. G. Pavlov cùng các tướng lĩnh của Phương diện quân Tây là Tham mưu trưởng - Thiếu tướng V. E. Klimovski, Chủ nhiệm Thông tin liên lạc - Thiếu tướng A. T. Krigorev và Tư lệnh Tập đoàn quân số 4 – Korobok A. A bị xử bắn tháng 6 – 1941. Năm 1956, ông được minh oan và phục hồi danh dự. Tại làng Pavlov, quê hương ông, nhân dân đã dựng tượng người anh hùng.
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Tám, 2008, 07:45:19 PM gửi bởi DepTraiDeu » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 779



« Trả lời #11 vào lúc: 23 Tháng Tám, 2008, 07:23:39 PM »


Trung tướng M.G. Efremov (11/03/1897-19/04/1942)

Trung tướng Efremov Mikhail Grigorevich, sinh ngày 11 tháng 3 năm 1897 tại thành phố Tarusa, bây giờ là tỉnh Kaluga trong một gia đình công nhân người Nga.

Năm 1915, ông bị gọi vào quân đội Nga hoàng. Năm 1916, ông tốt nghiệp trường quân sự rồi tham gia vào chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Trong cách mạng tháng 10 Xã hội chủ nghĩa vĩ đại, ông gia nhập lực lượng cận vệ đỏ và ở trong đơn vị cận vệ đỏ của Zamoskvorech tham gia vào cuộc khởi nghĩa tháng 10.

Ông gia nhập Hồng quân vào năm 1918 và tham gia cuộc chiến nhằm bảo vệ nhà nước Xôviết non trẻ. Năm 1919, ông được kết nạp vào Đảng Bolsevich. Ông lần lượt chỉ huy Đại đội trưởng, Tiểu đoàn, Trung đoàn đường sắt bảo vệ Astrakhan, lữ đoàn súng trường và sư đoàn tại phương diện quân Nam Caucasian. Ông đã biểu lộ những phẩm chất đặc biệt của người chỉ huy khi đang là: chỉ huy trưởng khu vực chính của tập đoàn quân số 11, trong suốt thời gian giải phóng Baku vào năm 1920.

Sau năm 1923, ông là chỉ huy sư đoàn súng trường. Năm 1927, ông là cố vấn quân sự tại Trung quốc. Năm 1928, ông hoàn thành khóa học nâng cao về chỉ huy tối cao. Năm 1930, tốnt nghiệm Học viện chính trị quân sự. Năm 1933, tốt nghiệp Học viện quân sự mang tên Frunze.

Ngày 20 tháng 11 năm 1935, ông được phong Chỉ huy sư đoàn theo sắc lệnh của Ủy ban nhân dân về quốc phòng. Rồi được đề cử vào đại biểu của Xôviết tối cao Liên Xô trong hội nghị lần thứ nhất.

Từ tháng 5 năm 1937, M.G. Efremov là Tư lệnh các lực lượng vũ trang ở Volga, từ tháng 11 năm 1937 ở Transbaikal, từ tháng 7 năm 1938 ở Orel, từ tháng 6 năm 1940 ở Bắc Caucasian, từ tháng 8 năm 1940 ở Phân khu quân sự Transcaucasian. Ngày 4 tháng 6 năm 1940, ông được phong quân hàm Trung tướng.Tháng 1 năm 1941, ông được bô nhiệm Phó tổng thanh tra thứ nhất của lực lượng bộ binh Hồng quân Công Nông.

Bước vào cuộc chiến với phát xít Đức, ông chỉ huy Tập đoàn quân số 21 (tháng 7 đến tháng 8 năm 1941), rồi Tập đoàn quân số 10, là Phó Tư lệnh các lực lựơng vũ trang Phương diện quân Bryansk (tháng 8 đến tháng 10 năm 1941). Từ tháng 10 năm 1941, Tư lệnh tập đoàn quân số 33 của Phương diện quân miền Tây.

Ông được đánh giá là có những công lao to lớn trong bảo vệ Matxcova trong hai năm 1941 và 1941 rồi chiến dịch Vyazemskoy vào năm 1942.

Sau khi thực hiện phân tán tập đoàn quân số 33 trong lòng kẻ thù, ông đã lãnh đạo tại tình các chiến dịch quân sự ở tuyến sau của phát xít rồi và phá vây.

Ngày 19 tháng 4 năm 1942, trong một trận đánh gần làng Vyazemskogo vùng Smolenskaya Oblast, ông đã bị thương nặng và hy sinh. Ông đã được chôn cất bởi quân phát xít một cách kính trọng, bởi nghi lễ quân sự. Sau khi giải phóng khu vực này, các chiến sĩ hồng quân đã chông cất ông trong thành phố Vyazma trong nghĩa trang Yekaterina.

Ngày 31 tháng 12 năm 1996, theo quyết định của tổng thống Nga cho sự can đảm chủ nghĩa anh hùng thể hiện trong những trận đánh với phát xít Đức xâm lược trong chiến tranh thế giới lần thứ 2 1941-1945, ông đã được truy phong danh hiệu anh hùng liên bang Nga.

Ông đã được tặng thưởng 2 Huân chương Lenine, 2 Huân chương Azerbaijan và Huy chương 20 năm tuổi quân của Hồng quân Công Nông. Tại thành phố Vyaz’ma, phần mộ ông được đặt dưới một đài kỉ niệm uy nghiêm do E.V. Vucheticha thực hiện. Bảo tàng Posvyashchennyy để tưởngnhớ đến Trung tướng M.G. Efremov và các chiến sĩ Hồng quân thuộc tập đoàn quân số 33. Tên của ông đã được đặt cho một trong những đường phố ở trung tâm thành phố Naro-Fominsk, cùng với một tấm bảng tưởng niệm.


 
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Tám, 2008, 07:25:41 PM gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 779



« Trả lời #12 vào lúc: 23 Tháng Tám, 2008, 07:44:52 PM »


M. Frunze(02/02/1885-31/10/1925)

Frunze Mikhail sinh ngày 2 tháng 2 năm 1885 tại thành phố Pitsêkê thuộc miền núi nước Cộng hòa Kiếcghidi. Sau khi tốt nghiệp loại ưu trường trung học tại thành phố quê hương, năm 1904 Frunze lên Saint Peterbourg, học khoa kinh tế của trường đại học bách khoa. Tại đây, Frunze tiếp xúc với chủ nghĩa Mác và lao vào hoạt động trong phong trào cách mạng với tất cả nhiệt tình của tuổi trẻ. Chỉ ít tháng sau, Frunze bị đuổi khỏi trường và bị trục xuất khỏi Sain Peterbourg. Nhờ thử thách bước đầu này, Frunze được kết nạp vào Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga, gia nhập hàng ngũ những người Bonsevich và trở thành một chiến sĩ cộng sản.

Năm 1906, lần đầu tiên Frunze gặp Lenine tại Xtốckhôm (Thủ đô Thụy Điển), trở thành người đồng chí trung kiên của Lenine. Suốt từ cách mạng 1905 đến CM tháng 10 năm 1917, Frunze liên tục hoạt động trong vòng bí mật và nhiều lần bị bắt giam. Năm 1907, Frunze bị kết án treo cổ, nhứng au đó thay bằng án đày đi Xibia. Trong những tháng lưu đày tại Xibia, Frunze nghiên cứu sâu sắc các tác phẩm về chiến tranh và trao dồi kiến thức về quân sự.

Khi Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) bùng nổ, Frunze phụ trách 1 tổ nghiên cứu quân sự ở Iếccút, trung tâm Xibia. Tháng 5-1915, trên đường bị giải đi Sita, Frunze trốn thoát rồi vượt hàng ngàn kilômét trở về Saint Peterbourg, bắt liên lạc với Đảng Bonsevich Nga. Nhận chỉ thị của Đảng, Frunze lên đường ra mặt trận, làm công tác vận động binh lính phản đối chiến tranh đế quốc, chuyến sang chiến tranh Cách mạng. Tháng 2-1917, Frunze được giao nhiệm vụ thành lập các đội cận vệ đỏ ở Belaroussia, phụ trách tổ chức quân sự miền Tây.

Khi Cách mạng tháng 10 Nga bùng nổ, Frunze được cử làm Chủ tịch Xô Viết thành phố Minsk, kiêm ủy viên Hội đồng quân sự mặt trận miền Tây. Tháng 3-1918, ông được giao nhiệm vụ làm Chính ủy quân khu Iarôxláp, rồi làm Tư lệnh tập đoàn quân thứ 4 thuộc mặt trận miền Đông. Từ đây, tài năng quân sự của Frunze bắt đầu nổi bật.

Năm 1919, tình hình mặt trận miền Đông rất nguy kịch. Đô đốc bạch vệ Côntrắc tập hợp được 25 vạn quân, chiếm cứ 1 địa bàn rộng lớn suốt từ miền Đông Uran qua Xibia đến tận cùng vùng ven biển Viễn Đông. Phía sau Côntrắc còn có thêm 20 vạn quân thuộc lực lượng can thiệp của Mĩ, Anh, Pháp, Nhật hỗ trợ. Lúc này, Trotsky đang phụ trách Bộ quốc phòng và Vexetisơ là Tổng tư lệnh Hồng quân Công nông. Trước lực lượng hùng mạnh của địch, Trotsky không tin Hồng quân có thể đương đầu được với quân Côntrắc, vì vậy đã chủ trương rút quân sang bờ Tây sông Vonga để bảo toàn chủ lực. Nhưng Frunze chủ trương tiến công bọn Côntrắc ngay từ bờ Đông sông Vonga là nơi tập trung nhiều kho hâu cần lớn, chứ không rút sang bên kia sông. Chủ trương này được Camênhép là Tư lệnh mặt trận miền Đông tán thành.

Ngày 27-4-1919, lực lượng do Frunze chỉ huy bắt đầu mở chiến dịch đánh vào trận tuyến của Côntrắc. Nhưng hơn một tuần sau, ngày 5-5-1919, Trotsky đã ra lệnh buộc Camênhép phải rút khỏi chức Tư lệnh mặt trận, đi nghỉ kiểm điểm vì đã làm trái chủ trương của cấp trên. Trước tình hình đó, Hội đồng quân sự cách mạng mặt trân miền Đông phải cấu cứu cấp trên bằng cách khiếu nại lên Trung Ương Đảng. Trong khi đó, Frunze vẫ tiếp tục đẩy nhanh nhịp độ tấn công bọn Côntrắc. Ngay sau đó, Trung Ương đã nhanh chóng xác nhận tính đúng đắn của Camênhép và đánh giá cao chiến dịch do Frunze chỉ huy. Trung Ương đã chỉ thị cho Trosky phải điều động Camênhép trở lại vị trí cũ. Chiến dịch tiến công bọn Côntrắc toàn thắng. Camênhép và Fruze được ca ngợi là có bản lĩnh và có tài chỉ huy chiến dịch lớn. Sau này, trong hội nghị các Tư lệnh và Chính ủy của các lực lượng vũ trang Ucraina, khi nhắc lại chuyện cũ, Frunze đã nhấn mạnh : “Đặc điểm của Hồng quân chúng ta là tiến công… Mác đã từng nói : Tiến công là một hình thức phòng ngự tốt nhất”.

Mùa thù năm 1920, Frunze lại chỉ huy các chiến dịch ở mặt trận miền Nam, đập tan bọn Bạch vệ Vrangen. Chiến thắng giải phóng Crưm do Frunze chỉ huy đã chấm dứt cuộc nội chiến. Ngày 14-2-1924, Frunze được cử làm Bộ trưởng dân ủy phụ trách hải quân và là Phó chủ tịch Hội đồng quân sự cách mạng (năm 1925 là chủ tịch), kiêm Tổng tham mưu trưởng Hồng quân công nông, kiêm giám đốc Học viện quân sự cấp cao Hồng quân công nông.

Có lẽ những năm tháng tù đày và tham gia chiến tranh, cộng với những nhiệm vụ nặng nề phải gánh vác trong những năm đầu cách mạng đầy gian nan đã làm Frunze hao mòn sức khỏe nhanh chóng. Ngày 31-10-1925, Frunze khi mới 40 tuổi đã từ trần ở Matxcova.


Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 779



« Trả lời #13 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2008, 03:17:56 AM »


Thiếu tướng I.P. Sivakov (02/06/1901-27/07/1944)

Thiếu tướng Sivakov Ivan Prokofevich sinh ngày 2 tháng 6 năm 1901 tại Ivanovka, tỉnh Orenburg (bây giờ là làng Cận vệ Đỏ, vùng Orenburg), Nga. Sau khi tốt nghiệp lớp 4, ông tham gia vào một nhóm thợ thủ công tại địa phương.

Tháng 9 năm 1919, được gọi nhập ngũ trong lực lượng Hồng quân Công Nông, phục vụ trong trung đoàn bộ binh dự bị số 5. Trung đoàn đảm đương trách nhiệm tham gia tiễu trừ các băng cướp, thổ phỉ trong tỉnh Orenburg.

Năm 1921, ông hoàn thành các khóa huấn luyện bộ binh tại Orenburg và được bổ nhiệm giữ chức vụ chỉ huy trung đội trực thuộc trung đoàn súng trường số 155. Năm 1924, ông tốt nghiệp trường bộ binh chỉ huy Hồng quân số 8 ở Leningrad, và được cử giữ chức vụ chỉ huy trung đội trong trung đoàn bộ binh số 83 tại vùng bắc Caucasian. Năm 1925, trung đoàn ông tham gia vào các chiến dịch quân sự nhằm tiễu trừ các nhóm cướp, phỉ tại Chechnya, Ingushetia, Daghestan và Kabardino-Balkarii. Từ tháng 10 năm 1926, ông chỉ huy trung đội và đại đội trong trường bộ binh Vladikavkazskaya. 

Từ năm 1933, ông là chỉ huy tiểu đoàn trực thuộc trung đoàn bộ binh súng trường số 37 tại vùng Rostov, sông Don. Năm 1937, ông hoàn thành các khóa đào tạo chiến thuật ngắn hạn và trở về công tác trong trung đoàn số 37 với chức vụ tham mưu trưởng. Năm 1938, được bổ nhiệm giữ chức vụ phó tư lệnh của sư đoàn số 6. Từ tháng 2 năm 1940, ông là chủ nhiệm các khóa học nâng cao về tham mưu của sĩ quan chỉ huy tại Kharkov. Sau đó, ông kiên quyết xin với cấp trên cho chuyển sang công tác chỉ huy, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ chỉ huy trung đoàn tại sư đoàn súng trường số 214 đóng tại vùng Viễn Đông.

Chiến tranh thế giới lần thứ 2 nổ ra, toàn bộ sư đoàn của ông được biên chế trong tập đoàn quân số 16 trực thuộc phương diện quân miền Tây. Với quân hàm đại tá, ông chỉ huy trung đoàn súng trường số 776. Tháng 10 năm 1941, các chiến sĩ của sư đoàn bị bao vây bởi quân phát xít, đây là tình trạng chung của các đơn vị trực thuộc phương diện quân miền Tây. Ngày 7 tháng 10, quân địch khóa chặt vòng vây xung quanh toàn bộ phương diện quân. Hơn một nửa lực lượng của trung đoàn bộ binh số 776 đã chọc thủng phòng tuyến phía sau của địch  vào ngày 23 tháng 10 thoát khỏi vòng vây. Trong một trận đánh trong vòng vây, ông đã bị thương nặng và được các chiến sĩ Hồng quân dùng cáng khiêng, tuy nhiên ông vẫn tiếp tục chỉ huy chiến đấu phá vây ở trên cáng.

Sau khi ra viện, tháng 12 năm 1941, ông được cử giữ chức vụ chỉ huy trung đoàn trong biên chế của lữ đoàn súng trường đặc biệt thuộc phương diện quân Tây Bắc.

Tháng 5 năm 1942, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ chỉ huy trung đoàn sung trường số 117 trực thuộc sư đoàn sung trường số 23. Tháng 11 cùng năm, ông trở thành sư đoàn phó của sư đoàn này. Các chiến sĩ thuộc sư đoàn số 23 đã chiến đấu nhiều trận thắng lợi trong đội hình tập đoàn quân số 65 của phương diện quân Donskoy tại chiến dịch Stalingrad. Trong chiến dịch này, ông được tẳng thưởng Huân chương Kutuzov hạng Nhì. Tuy nhiên, Tháng 8 năm 1942, do những lỗi phạm phải trong quá trình chỉ huy đơn vị tiếp quản 2 vùng dân cư được giải phóng, ông vị toà án quân sự của phương diện quân tuyên án 10 năm bị tước tự do với thời điểm thi hành án là sau khi kết thúc chiến tranh. Đồng thời với quyết định trên của tòa án, ông bị tước mất tấm huân chương trong trận chiến bảo vệ Stalingrad.

Tháng 4 năm 1943, ông được cử giữ chức vụ sư đoàn trưởng sư đoàn sung trường cận vệ số 71 thuộc quân đoàn sung trường số 23, tập đoàn cận vệ số 6 dưới sự chỉ huy của trung tướng I.M. Chistyakov, Anh hùng Liên Xô người bạn chí than của ông thời kì còn ở Rostov, song Don. Trong đội hình của tập đoàn quân, sư đoàn do ông chỉ huy đã tham gia các trận đánh ở vòng cung Kursk, tại vị trí mà thời kì đầu chịu những đoàn tấn công mãnh liệt của các đơn vị xe tăng Đức. Trong những trận chiến đấu ở đây, các chiến sĩ của sư đoàn ông đã thể hiện chủ nghĩa anh hùng tập thể. Vì những thành tích trong các chiến dịch tấn công, sư đoàn của ông đã được tặng thưởng huân chương và, ngày 15 tháng 9 năm 1943, ông được phong quân hàm thiếu tướng.

Tháng 10 năm 1943, sư đoàn trong đội hình tập đoàn đã chuyển về đứng chân trong đội hình tập đoàn quân Baltic số 1, tham gia chiến dịch phòng thủ Nevelsko-Gorodokskoy và trận phòng thủ Vitebsk. Đầu năm 1944, ông bị thương nặng lần thứ 2, trong suốt thời gian chiến tranh thế giới lần thứ 2 ông đã bị thương 3 lần.

Trong thời gian diễn ra chiến dịch tấn công Belorussian, sư đoàn sung trường cận vệ số 71 dưới sự chỉ huy của ông đã tham gia tiến công Vitebsk-Orsha. Trong ngày đầu tiên của cuộc tiến công, các chiến sĩ của sư đoàn đã chọc thủng tuyến phòng ngự của quân phát xít, giải phóng làng Shumilino và cắt đứt tuyến đường sắt và cao tốc nối liền Polotsk và Vitebsk. Ngày tiếp theo, các đơn vị của sư đoàn rời tới song Tây Dvina, bằng các phương tiện tự chế tại chỗ các chiến sĩ của sư đoàn đã vượt song dưới hỏa lực của kẻ thù. Ngày 25 tháng 6, sư đoàn đã giải phóng khu dân cư ngoại vi của Beshenkovichi, và 4 ngày tiếp theo đó, sư đoàn đã tiến them hơn 50 km tới vùng nam Polotsk. Sự hoạt động có hiệu quả của sư đoàn dưới sự chỉ huy của ông đã đảm báo sự thành công của toàn tập đoàn quân trong toàn bộ chiến dịch.

Vì sự dũng cảm và chủ nghĩa anh hùng, cùng với sự chỉ huy thắng lợi sư đoàn trong các trận đánh trong quá trình tấn công Vitebsk-Orsha, ngày 22 tháng 7 năm 1944, ông đã được Xôviết tối cao kí quyết định phong tặng danh hiệu anh hùng Liên Xô.

Trong quá trình của chiến dịch tiến công Polotsk sau đó, từ ngày 29 tháng 6 tới 4 tháng 7 năm 1944. Trong vòng 6 ngày của chiến dịch này, sư đoàn do ông chỉ huy đã chọc thủng tuyến phòng thu của kẻ thù tại nam của Polotsk và đã vận động chiến khoảng 40 km, sau khi giải phóng một số khu vực dân cư và khép chặt vòng vây Polotsk từ phía Tây. Sư đoàn cùng với các đơn vị khác của quân đoàn sung trường cận vệ số 23 đã đột chiếm Polotsk. Tháng 7 năm 1944, sư đoàn trong đội hình của tập đoàn cận vệ số 6 đã khởi đầu thành công trên hướng Riga.

Ngày 27 tháng 7 năm 1944, bốn ngày sau khi được phong danh hiệu anh hùng Xôviết, ông đã anh dũng ngã xuống trong trận đánh trên lãnh thổ Lithuanian. Phần mộ ông được đặt tại Vitebsk và tên của ông đã được đặt cho một đường phố tại thành phố này. Ông được tặng thưởng Huân chương Lenine, 2 Huân chương Kutuzov, Huy chương Sao đỏ.




Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 779



« Trả lời #14 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2008, 02:53:50 AM »


Thượng tướng N.E. Berzarin (01/04/1904-16/06/1945)

Thượng tướng Berzarin Nikolai Erastovich sinh ngày 1 tháng 4 năm 1904 tại thành phố Saint Petersburg trong một gia đình công nhân người Nga. Năm 1914, ông tốt nghiệp tiểu học và vào làm thuê tại một bến cảng của thành phố.

Ông tham gia Hồng quân từ năm 1918, phục vụ trong tập đoàn quân số 17 của quân khu Petrograd. Trong những năm chiến tranh bảo vệ chính quyền cách mạng Xôviết non trẻ (1917-1923), ông chiến đấu ở mặt trận phía bắc chống lại sự can thiệp của liên quân Anh Mỹ (1920), tham gia đập tan cuộc nổi loạn  Kronstadt (1921), tiễu trừ các băng nhóm phỉ ở vùng Amur – khi đó ông là khẩu đội phó sung máy. Năm 1923, ông hoàn thành khóa học chỉ huy ở Leningrad, năm 1925, hoàn thành khóa học về sung máy và, năm 1927, hoàn thành khóa học về sĩ quan chỉ huy của phân khu quân sự Siberian. Ông là đảng viên của Đảng Bolsevich từ năm 1926.

Ông lần lượt trưởng thành từ chỉ huy trung đội, chỉ huy đại đội rồi sư đoàn phó phụ trách quân huấn của bộ tham mưu tập đoàn quân Viễn Đông, chỉ huy và ủy viên hội đồng chỉ huy trung đoàn của sư đoàn sung trường số 26 (1935-1937).

Năm 1938, khi đang là sư đoàn trưởng sư đoàn sung trường số 32, ông tham gia các trận đánh ở vùng hồ Khasan. Tháng 12 năm 1938, ông được cử giữ chức vụ tư lệnh quân đoàn sung trường số 59, và tháng 7 năm 1940, là phó tư lệnh của tập đoàn quân cờ đỏ số 1 trực thuộc phương diện quân Viễn Đông.

Khi chiến tranh thế giới lần thứ 2 nổ ra, ông chỉ huy tập đoàn quân số 27 của đặc khu quân sự Baltic, tập đoàn quân số 34 của phương diện quân Tây Bắc, sau đó lần lượt là phó tư lệnh tập đoàn quân số 61, 20, tư lệnh tập đoàn quân số 39 ở các phương diện quân phía Tây, Kalinin và Baltic số 1.

Từ ngày 27 tháng 5 năm 1944, ông là trung tướng tư lệnh tập đoàn quân xung kích số 5 Hồng quân trong trong biên chế phương diện quân Belorussian số 1 tham gia các chiến dịch tấn công: Yassy-Kishinev, Vistula-Oder, Berlin.

Với nghệ thuật tổ chức và lên kế hoạch tác chiến hiệp đồng và độc lập, ông đã chỉ huy tập đoàn quân thọc sâu vào tuyến phòng thủ mạnh của quân phát xít trong vùng Naselennogo, Grabuv-Tsetsylyuvka, 15km tây nam của thành phố Magnushev của Ba Lan. Tập đoàn quân chuyển lên phía trước 12km rồi vượt sông Pilitsa, sau khi hỗ trợ cho tập đoàn quân xe tặng cận vệ số 2 chọc thủng tuyến phòng ngự của quân địch. Cho tới cuối chiến dịch Vistula-Oder, tập đòan quân lại tiến về phía sông Oder, bắc thành phố Kuestrin của Ba Lan, vượt sông và tiến và làm chủ đầu cầu phía quân phát xít chiếm đóng. Trong suốt quá trình vừa hành quân vừa chiến đấu, sư đoàn đã vận động chiến 500km, giải phóng 35 thành phố, sau khi gây cho quân thù những thiệt hại lớn voề người và phương tiện chiến tranh.

Ngày 6 tháng 4 năm 1945, theo quyết định của Xôviết tối cao Liên Xô do sự lãnh đạo tài tình của ông trong các trận đánh và chiến dịch mà tập toàn quân tham gia, sự hoàn thành nhiệm vụ chiến đâu cũng như những phẩm chất can đảm và chủ nghĩa anh hùng khi đối mặt với quân xâm lược phát xít, ông được phong tặng danh hiệu anh hùng Liên Xô, Huân chương Lenine cùng Huy chương Sao vàng.

Trong chiến dịch tổng tiến công vào thủ đô Berlin của Đức quốc xã, tập đoàn quân xung kích số 5 dưới sự chỉ huy của thượng tướng N.E. Berzarin tiến công đội hình đi đầu của phương diện quân Belorussian số 1, nhận nhiệm vụ đặc biệt quan trọng là đánh chiếm nơi làm việc của chính phủ phát xít ở trung tâm thành phố, văn phòng đế chính và tổng hành dinh của Adolf Hitler. Khi nói đến các chiến thắng của tập đoàn quân xung kích số 5 trong chiến dịch tiến đánh Berlin không thể không nói đến vị tư lệnh với những phẩm chất chỉ huy tuyệt vời của tập đoàn quân. Ngày 24 tháng 4 năm 1945, ông được bổ nhiệm làm chủ tịch hội đồng quân quản thành phố Berlin đồng thời là tư lệnh Hồng quân ở đây.

Ngày 28 tháng 4 năm 1945, ông ra bản quân lệnh số một tuyên bố mọi quyền quản lí ở Berlin chuyển vào tay Hồng quân Xôviết do tình hình hết sức phức tạp của thành phố sau chiến tranh và nhằm nhanh chóng đưa cuộc sống của người dân thành phố trở lại bình thường. Ngày 16 tháng 6 năm 1945, trong khi đang thi hành nhiệm vụ Thượng tướng Berazin đã hy sinh và được đưa về Matxcova an nghỉ trong nghĩa trang Novodevichem.

Thượng tướng N.E. Berzarin đã được tặng thưởng 2 Huân chương Lenine, 2 Huân chương Suvorov hạng Nhất, Huy chương Sao đỏ và nhiều huân huy chương khác. Một đường phố ở Matxcova, ngôi trường số 15 tại thủ đô của Moldavia (thành phố Kishinev) và một cây cầu ở Đông Đức cũ đã được đặt theo tên của ông.



Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 779



« Trả lời #15 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2008, 10:53:18 PM »


Thiếu tướng V.G. Zholudev (22/03/1905-21/07/1944)

Thiếu tướng Zholudev Victor Grigorevich sinh ngày 22 tháng 3 năm 1905 tại thành phố Uglich của vùng Roslavskaya Oblast trong một gia đình công nhân người Nga. Bỏ học giữa chừng, năm 14 tuổi ông bắt đầu làm vệc tại Volga. Năm 1922, ông chuyển tới Matxcova và làm việc trong một cảng ở thủ đô.

Ông gia nhập Hồng quân Xôviết năm 1922, gia nhập Đảng Cộng sản Liên Xô năm 1942. Năm 1925, ông hoàn thành khóa học chỉ huy của Hồng quân rồi tham gia chỉ huy trung đội, đại đội. Năm 1930, ông hoàn thành khóa học nâng cao về công tác chỉ huy và tham mưu và được cử làm chỉ huy tiểu đoàn.

Năm 1935, khi Hồng quân bắt đầu tổ chức và thành lập các đơn vị đổ bộ đường không, ông trở thành một trong những chỉ huy đầu tiên của binh chủng mới này và tham gia các hoạt động quân sự ở khu vực sông Khalkhin-Gol vào năm 1939. Trong năm 1940, ông hoàn thành hai khóa học tại Học viện quân sự mang tên M.V. Frunze và được bổ nhiệm giữ chức vụ lữ đoàn trưởng lữ đoàn đổ bộ đường không số 6, trước khi quân phát xít tiến đánh Liên Xô, tháng 5 năm 1941, toàn bộ lữ đoàn chuyển đến Ukraine và được sát nhập vào quân đoàn đổ bộ đường không số 3.

Khi chiến tranh thế giới thứ 2 nổ ra, tập đoàn quân nam của phát xít đến cuối tháng 7 năm 1941, đã chọc thủng cửa ngõ tiến vào Kiev, vùng Ukreplennomu, và nhanh chóng làm chủ sân bay và chiếm đóng Zhulyany ở ngoại vi  Kiev. Tư lệnh của tập đoàn quân Tây Nam là tướng M.P. Kirponos đã chỉ thị cho quân đoàn đổ bộ đường không số 3 tham chiến tại đây.
Đây là trận đánh đầu tiên của lữ đoàn đổ bộ đường không số 6. Là chỉ huy lữ đoàn, ông đã đưa ra một quyết định táo bạo là: 2 tiểu đoàn của lữ đoàn sẽ tấn công quân phát xít từ mặt trước, và 2 tiểu đoàn còn lại sẽ tấn công vào sườn của đội hình định, bao vây và tiêu diệt quân địch ngay trong sân bay Zhulyany.

Sáng ngày 6 tháng 8 năm 1941, ông ra lệnh cho toàn bộ chiến sĩ của lữ đoàn ‘’Tiến lên!’’. Cuộc tiến công diễn ra đặc biệt nhanh chóng, các chiến sĩ Hồng quân của lữ đoàn đã anh dũng đánh giáp lá cà với quân phát xít và giải phóng được sân bay và những nơi bị quân phát xít chiếm đóng. Bị thất bại, quân của Hítle liên tiếp phản công vào vị trí đứng chân của lữ đoàn. Và một trong những lần phản công đó, một trung đội tiểu liên phát xít đã bất ngờ đánh thẳng vào bộ chỉ huy lữ đoàn. Ông đã tập hợp và chỉ huy các sĩ quan của ban tham mưu cùng với trung đội bảo vệ anh dũng đánh trả, khiến quân phát xít phải đền tội. Trong trận chiến đấu này, bản thân ông đã tiêu diện 10 tên phát xít. Để củng cố vị trí đứng chân của lữ đoàn, trong buổi sáng ngày hôm sau, lữ đoàn của ông được lữ đoàn đổ bộ đường không số 212 của Đại tá I.I. Zatevakhin, và tối là lữ đoàn số 5 của Đại tá A.I. Rodimtsev, hỗ trợ sườn phía cánh trái. 

Ngày 8 tháng 8 năm 1941, quân phát xít tiếp tục tiến công. Các chiến sĩ lữ đoàn dưới sự chỉ huy của ông đã đẩy lui ít nhất 10 đợt tấn công của quân thù, và phải liên tiếp giáp lá cà với quân phát xít, cuối cùng cuộc tấn công tổng lực của quân phát xít vào Kiev đã bị đánh bại, nhiều sĩ quan và lính phát xít đã phải bỏ mạng.

Ngày 9 tháng 8, trận chiến tiếp tục diễn ra ác liệt hơn. Pháo binh của phát xít sáng sớm đã liên tục bắn vào vị trí của các chiến sĩ Hồng quân, tiếp theo đó là máy bay của phát xít liên tục oanh tạc bom mở đường cho bộ binh phát xít xông lên tấn công. Các chiến sĩ Hồng quân đã sử dụng mọi vũ khí có trong tay anh dũng chống trả, 8 xe tăng của kẻ thù đã bị bắn cháy. Để bổ sung lực lượng tiếp tục chống trả các đợt tấn công của quân phát xít, lữ đoàn đã tiếp nhận lực lượng tự vệ công nhân của nhà máy Lenin phiên chế vào tiểu đoàn số 1 và số 4.

Đây thật sự là các trận đánh kéo dài và đẫm máu. Quân phát xít với lực lượng đông hơn đã phải trả một cái giá nặng nề, trong 4 ngày mới có thể chiếm lại được sân bay Zhulyany. Nhưng đến rạng sáng ngày 13 tháng 8, quân đoàn đổ bộ đường không số 3 lại tiếp tục tấn công. Tất cả 3 lữ đoàn đồng loạt tấn công đẩy lui quân phát xít khỏi Kiev hơn 15km.

Cuối tháng 8, đơn vị ông được đưa đến khu vực sông Seym thuộc phía Bắc của Konotopa để đẩy lui các đợt tấn công của tập đoàn quân xe tăng của tướng Guderian. Đầu tháng 9, ông được cử giữ chức vụ lữ đoàn trưởng lữ đoàn 212.

Sáng sớm ngày 7 tháng 9 năm 1941, trận đánh bắt đầu diễn ra khi quân phát xít tìm mọi cách vận động vượt sông, nhưng tất cả các nỗ lực vượt sông đều bị đẩy lùi. 5 giờ sáng ngày 9 tháng 9, pháo binh và không quân phát xít bắn phá bờ sông phía các đơn vị Hồng quân đứng chân. Trận địa phòng thủ đã bị cày xới bởi hỏa tiễn, mìn và bom của phát xít điên cuồng bắn phá. Tiếp đó là xe tăng quân địch tiến lên và trận chiến không cân sức đã kéo dài đến tôi. Chỉ trong vòng vài giờ đầu của trận chiến, các chiến sĩ Hồng quân đã bắn cháy và phá hủy khoảng 50 xe tăng và bọc thép của quân thù.

Tuy nhiên với lực lượng trội hơn rất nhiều, quân phát xít cuối cùng cũng chọc thủng được tuyến phòng thủ với một sự tổn thất rất lớn. Các chiến sĩ Hồng quân phải rút vào cách rừng Lizogubovskiy và tổ chức đánh vào những ngôi làng ở phía sau quân phát xít. Ngày 17 tháng 9 năm 1941, ông nhận được lệnh đưa toàn bộ đơn vị thoát khỏi vòng vây. Sau khi vượt qua quãng đường xấp xỉ 200km, ngày 29 tháng 9 năm 1941, đơn vị của ông nhận lệnh phòng thủ ở cánh phải của tập đoàn quân số 40.

Cũng trong ngày hôm đó, ông được gọi về Matxcova. Ngày 1 tháng 10 năm 1941, ông được cử làm quân đoàn trưởng quân đoàn đổ bộ đường không số 1. Tuy nhiên, lực lượng của quân đoàn này gần như không có gì vì nó đã chịu những thiệt hại nặng nề ở Ukraine. Trên cương vị quân đoàn trưởng, ông bắt tay vào xây dựng quân đoàn. Cũng trong những ngày này, ông được phong quân hàm Thiếu tướng.

Mùa xuân năm 1942, tất cả ba lữ đoàn vừa được thành lập của quân đoàn bắt đầu tham chiến. Lữ đoàn 204 được đổ xuống phía sau của tập đoàn quân Demyansk, lữ đoàn số 1 được tăng viện cho tập đoàn quân xung kích số 2 ở mặt trận Stalingrad. Lữ đoàn 211 được đổ xuống phía sau của quân phát xít đang đánh với cụm kị binh cận vệ số 1.  Chỉ có lữ đoàn số 1 là trở lại với đội hình quân đoàn, ông lại tiếp tục thành lập 2 lữ đoàn mới.

Mùa hè năm 1942, quân đoàn đổ bộ đường không số 1 được chuyển thành sư đoàn súng trường cận vệ số 37 dưới sự chỉ huy của ông và được lệnh thẳng tiến tới mặt trận Stalingrad. Trên đường hành quân, sư đoàn đã đánh trả quân phát xít khi chúng định vượt qua đội hình sư đoàn về phía một làng cossack.

Ngày 30 tháng 9 năm 1942, sư đoàn của ông được chuyển giao cho tập đoàn quân số 63 của mặt trận Stalingrad do Trung tướng V.I. Chuykov chỉ huy và trong đêm ngày 3 tháng 10 vượt vào Stalingrad. Các chiến sĩ Hồng quân trên đường hành quân tới sông Mechetka đã đẩy lùi kẻ địch ra khỏi vài con phố trong khu vực của nhà máy Tractor. Các trận đánh đã diễn ra ngày lẫn đêm. Các tiểu đoàn bảo vệ ngã sáu đã chịu đựng những tổn thất nặng nề. Nơi này đã 12 lần bị quân phát xít đánh chiếm rồi được các chiến sĩ Hồng quân giành lại. Thiếu tướng Zholudev đã luôn luôn ở các sở chỉ hy của các trung đoàn và tiểu đoàn trong sư đoàn của ông để trực tiếp chỉ đạo.

Ngày 14 tháng 10 năm 1942, là một ngày hết sức nguy ngập đối với vị trí phòng thủ của sư đoàn ông. Quân phát xít đã vượt qua tuyến phòng thủ trên toàn mặt trận từ biển Barent tới Terek. Hàng nghì tấn bom đã được ném xuống đây. Chỉ trong đợt tấn công đâu tiền, kẻ thù đã mất 30 xe tăng và pháo. Tuy nhiên, quân phát xít đã đưa vào đây toàn bộ lực lượng dự bị điên cuồng tổ chức tấn công đẩy bật sư đoàn ra khỏi vị trí này. Tình hình sư đoàn hết sức nguy ngập: đại đội 9 bị bao vây, đại đội 6 su khi đã tiêu diệt một tiểu đoàn bộ binh phát xít cũng hy sinh hết, khẩu đội pháo chống tăng sau khi đã tiêu diệt 12 xe bọc thép chỉ còn lại một khẩu, bộ chỉ huy của trung đoàn số 109 không liên lạc được.
Giữa ngày hôm đó, 30 máy bay ném bom bắt đầu oanh tạc hẻm núi phía sau nhà mày Tractor, nơi đặt sở chỉ huy của sư đoàn. Nơi trú ẩn của ban tham mưu sư đoàn bị chôn vùi. Cả một tuần đó, sư đoàn liên tiếp trải qua những trận đánh ác liệt trong các phân xưởng của nhà máy Tractor, sau đó là trong các nhà máy khác. Trong những trận chiến này,sư đoàn cận vệ số 37 anh hùng của tướng Zholudev gần như hy sinh hết, nhưng họ đã anh dũng chiến đấu, không chiến sĩ nào rời khỏi vị trí. Họ mãi đi vào tâm trí người dân nơi này.

Sau khi trận phản công ở Stalingrad, bộ phận còn lại của sư đoàn được tổ chức lại và bổ sung thêm quân số. Mùa đông năm 1943, sư đoàn tiếp tục tham gia vào chiến dịch ở vòng cung Kursk. Tháng 5 năm này, ông được bổ nhiệm làm tư lệnh quân đoàn súng trường số 35 tham gia các trận đánh ở vòng cung Kursk, và sau đó trong chiến dịch Bagration.

Trong chiến dịch Bobruysk, quân đoàn súng trường số 35 của tập đoàn quân số 3 đứng trong đội hình của bộ phận tiên phong phía Bắc của phương diện quân Belorussian số 2. Trong những ngày đầu tiên, sư đoàn đã chọc thủng tuyến phòng ngự và sau đó vượt sông Drut, Olsa, Berezina, làm chủ các thành phố Klichie, Berezino, Svisloch vượt 100km trong vòng 5 ngày.

Từ Minsk, quân đoàn phối hợp với các đơn vị khác nhanh chóng tiêu diệt quân địch trên hướng các thành phố Volkovysk, Belostok. Ngày 21 tháng 7 năm 1944, ông hy sinh trong khi chỉ huy quân đoàn chiến đấu.

Theo quyết định của Xôviết tối cao ngày 11 tháng 11 năm 1944, ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô. Phần mộ của ông được đặt trong thành phố Volkovysk vùng Grodnensk. Trong ngôi trường số 1 mang tên Volkovyskskaya có đặt tượng của người anh hùng, trên những đường phố mang tên ông ở Volkovyshe và Volgorad đều có những tấm biển kỉ niệm.

Ông đã được tặng thưởng Huân chương Lenine, 2 Huân chương Kutuzo hạng Nhất, 2 Huân chương Suvorov hạng Nhì và nhiều Huy chương.




Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 779



« Trả lời #16 vào lúc: 30 Tháng Tám, 2008, 09:36:39 PM »


Nguyên soái N.T. Mikhail (1893-12/06/1937)

Nguyên soái Mikhail Nikolayevich Tukhachevsky sinh năm 1893 tại Alexandrovskoye (nay thuộc tỉnh Smolensk) trong một gia đình quý tộc gốc Ba Lan. Năm 1914, sau khi tốt nghiệp Trường quân sự Aleksandrovskoye, Tukhachevsky gia nhập Trung đoàn cận vệ Semyenovsky của Nga hoàng.

Trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất, ông chiến đấu với quân hàm thiếu úy và được khen thưởng vì thành tích dũng cảm trong trận đánh. Tháng 2 năm 1915, Tukhachevsky bị quân Đức bắt làm tù binh, trong trại giam ông đã tìm cách vượt ngục tới 4 lần và đều bị bắt lại. Cuối cùng ông bị liệt vào hạng tù binh ngoan cố và bị giam vào pháo đài Ingolstadt, tại đây ông đã gặp một tù binh ngoan cố người Pháp, đó là Charles de Gaulle.
Tukhachevsky vẫn tiếp tục tìm cách vượt ngục lần thứ năm, lần này ông thành công và trở về Nga tháng 10 năm 1917. Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Mười, ông gia nhập Đảng Bolshevik và trở thành sĩ quan Hồng quân. Với tài năng và kiến thức học tập bài bản của mình, Tukhachevsky nhanh chóng được thăng chức và giữ các vị trí chỉ huy quan trọng. Trong cuộc chiến bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ (1918) Tukhachevsky nhận nhiệm vụ bảo vệ Moskva. Dân ủy phụ trách Quốc phòng Leon Trotsky đã cử Tukhachevsky làm Tư lệnh Tập đoàn quân số 5 Hồng quân năm 1919 có nhiệm vụ chiếm lại vùng Siberi từ tay quân Bạch vệ của tướng Aleksandr Kolchak. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ này, Tukhachevsky còn tiếp tục tham gia đánh bại đội quân của tướng Anton Denikin ở Crimea năm 1920.

Tukhachevsky là người lãnh đạo Hồng quân trong Chiến tranh với Ba Lan. Tukhachevsky bị chỉ trích đã không hoàn thành việc chỉ huy các lực lượng của mình. Các mệnh lệnh do ông đưa ra thường không được sĩ quan cấp dưới, thậm chí là một số sĩ quan cao cấp, tuân theo, dẫn đến nhiều thất bại của lực lượng vũ trang Xô viết. Tukhachevsky phản bác lại rằng vì những lí do chính trị ông không thể chọn các chỉ huy sư đoàn phù hợp hoặc rời Bộ chỉ huy ra khỏi Moskva.

Từ năm 1925 đến năm 1928 Tukhachevsky là Tổng tham mưu trưởng Hồng quân và Phó ủy viên nhân dân phụ trách Quốc phòng. Ông đã cố gắng cải tổ lực lượng Hồng quân vốn xuất thân là lực lượng vũ trang không chính quy trở thành một đội quân chuyên nghiệp và kỉ luật. Đặc biệt, Tukhachevsky rất ủng hộ việc hiện đại hóa Hồng quân, thay thế chủ lực từ lực lượng kỵ binh truyền thống sang lực lượng tăng - thiết giáp. Vào giai đoạn đầu, quan điểm này của ông bị rất nhiều người phản đối, Tukhachevsky bị buộc thôi chức Tổng tham mưu trưởng và bị khiển trách. Nhưng tiếp đó, sau khi cho ra đời một số tác phẩm về chiến tranh hiện đại, Stalin đã đồng ý với sự cần thiết phải hiện đại hóa Hồng quân và Tukhachevsky được giao vai trò quan trọng hàng đầu trong việc thực hiện mục tiêu này.

Nguyên soái Tukhachevsky cũng có nhiều ý tưởng tiên tiến về chiến thuật quân sự, đặc biệt là về sự phối hợp máy bay và xe tăng trong các chiến dịch. Ông đưa ra học thuyết "Chiến dịch thọc sâu" trong đó sử dụng các lực lượng phối hợp tấn công sâu vào phòng tuyến của đối phương để tiêu diệt hậu phương và hậu cần.Học thuyết của nguyên soái Tukhachevsky bị một số tướng lĩnh phản đối nhưng bắt đầu được sử dụng rộng rãi trong Hồng quân từ giữa thập niên 1930. Một ví dụ điển hình cho sự áp dụng học thuyết này là chiến thắng của Hồng quân do tướng Georgi Zhukov chỉ huy trước quân đội Nhật hoàng trong Trận Khalkhin Gol tháng 9 năm 1939. Trong Chiến tranh giữ nước vĩ đại, học thuyết của Tukhachevsky đã phát huy hiệu quả to lớn và dẫn đến nhiều chiến thắng của Hồng quân, trong đó phải kể đến thắng lợi của Trận Stalingrad và Chiến dịch Bagration.

Ngày 20 tháng 11 năm 1935, Tukhachevsky trở thành người trẻ nhất (42 tuổi) trong số 5 vị tướng đầu tiên của Hồng quân được phong hàm Nguyên soái Liên bang Xô viết. Tháng 1 năm 1936 Tukhachevsky đi thăm Vương quốc Anh, Pháp và Đức.

Tukhachevsky bị bắt ngày 22 tháng 5 năm 1937, ông bị buộc tội làm gián điệp cho Đức Quốc xã và tham gia vào âm mưu phản cách mạng trong quân đội. Sau một phiên toàn được xử kín nguyên soái Tukhachevsky và tám chỉ huy Hồng quân cao cấp khác bị tuyên có tội và bị xử tử hình ngày 12 tháng 6 năm 1937.

Ngày 31 tháng 1 năm 1957, nguyên soái Tukhachevsky được kết luận vô tội và được phục hồi danh dự cũng như các chức vụ cũ. Trong cuốn sách The Great Terror (1968), nhà Sử học Robert Conquest cho rằng các điệp viên Đức, dưới sự chỉ đạo của Heinrich Himmler đã làm giả các tài liệu về sự liên quan của nguyên soái Tukhachevsky với Bộ Tổng tham mưu Đức Quốc xã, nhằm làm cho ông bị nghi ngờ và làm yếu đi khả năng phòng thủ của Liên Xô. Theo Conquest, các tài liệu này được chuyển cho tổng thống Tiệp Khắc Edvard Beneš, ông này tin tưởng vào giá trị của các tài liệu giả và đã trao nó cho phía Liên Xô, dẫn đến vụ án oan của Tukhachevsky.



Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 779



« Trả lời #17 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2008, 04:59:29 AM »


Đại tướng P.I. Batov (01/06/1897-19/04/1985)


Đại tướng P.I. Batov sinh ngày 1 tháng 6 năm 1897 tại làng Filisovo, bây giờ thuộc vùng Rybinsk của Roslavskaya Oblast của Nga. Trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1917), ông tham gia quân đội Nga hoàng từ năm 1916, do những thành tích nổi bật trong chiến đấu ông đã được tặng thưởng 2 Huân chương chữ thập Georgievskiys và 2 Huy chương.

Sau khi cách mạng tháng 10 Nga thành công và nhà nước công nông đầu tiên của thế giới ra đời, ông gia nhập vào lực lượng quân đội công nông (Hồng quân) năm 1918. Năm 1927, ông hoàn thành khóa học ngắn và năm 1950 Học viện quân sự Bộ tổng tham mưu. Là Đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô từ năm 1929.

Trong thời kì bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ sau cách mạng tháng 10 (1917-1923), ông tha gia chiến đấu chống lại các lực lượng phản cách mạng được 14 nước đế quốc giúp đỡ taij Rybinsk, Yaroslav, Poshekhone. Từ năm 1926 đến 1936, ông lần lượt giữ chức vụ chỉ huy đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn súng trường. Từ năm 1936 đến 1937, ông tham gia làm nghĩa vụ quốc tế giúp cuộc cách mạng dân tộc của nhân dân Tây Ban Nha. Từ năm 1937, ông là tư lệnh quân đoàn súng trường. Từ năm 1939 đến 1940, ông tham gia cuộc chiến Liên Xô – Phần Lan. Từ năm 1940, ông là Phó Tư lệnh của các lực lượng vũ trang tại Phân khu quân sự Transcaucasian.

Bắt đầu cuộc chiến tranh vệ quốc của nhân dân các dân tộc Liên Xô trong chiến tranh thế giới lần thứ 2 (1939-1945), ông là chỉ huy của quân đoàn súng trường số 9. Từ tháng 8 năm 1941 ông là phó chỉ huy của Tập đoàn quân số 51 trực thuộc phương diện quân Nam. Tháng 1 và tháng 2 năm 1942, ông chỉ huy Tập đoàn quâ số 3, từ tháng 2 tới tháng 10 năm 1942, ông là Phó tư lệnh các lực lượng vũ trang Phương diện quân Bryansk. Từ đó đến kết thúc chiến tranh, ông chỉ huy Tập đoàn quân số 5 tham gia các chiến dịch Donskoy, Stalingrad, Tsẻntalny, Belorussia, các phương diện quân Belorussian số 1 và 2.

Hồng quân dưới sự chỉ huy của ông chiến đấu nổi bật trong các trận chiến ở Stalingrad, vòng cung Kursk, vượt sông Dnepr, trong các trận đánh đánh giải phóng Belorrussia, trong các chiến dịch Vistula-Oder và Berlin, tham gia giải phóng các thành phố Gkukhov, Rechisa, Mozir, Bobruysk, Minsk, Stettin.

Ông đã khéo léo vận dụng chiến thuật: sử dụng hàng rào xe tăng ở hai mặt hỗ trợ cho các đợt tấn công của bộ binh tại chiến dịch Bobruysk năm 1944, kiên quyết thực hiện chuyển hướng tiến công của quân đoàn sang hướng khác trong chiến dịch Belorusskoy (1944) và trong chiến dịch tây Pomeranskoy (1945). Những thắng lợi của quân đoàn số 65 dưới sự chỉ huy của ông đã 23 lần được ghi trong sổ khen thưởng của Bộ tổng Tư lệnh tối cao Hồng quân Liên Xô.

Cho những thành tích tổ chức của hiệp đồng tác chiến chính xác và nghiêm ngặt trong quá trình vượt sông Dnepr, và giữ vững phần bên sông phía địch mạn tây của sông làm bàn đạp cho các đơn vị khác của Hồng quân vượt sông và tiến công quân phát xít, cùng chủ nghĩa anh hùng và sự dũng cảm cá nhân, ngày 30 tháng 10 năm 1943, theo quyết định của Xôviết tối cao Liên Xô ông được phong anh hùng Liên Xô cùng với Huân chương Lenine và Huy chương Sao vàng.

Ngày 2 tháng 6 năm 1945, theo quyết định của Xôviết tối cao Liên Xô cho những sáng tạo và sự can đảm khi chỉ huy tập đoàn quân vượt sông Oder và đánh chiếm thành phố Stettin ông được trao tặng Huy chương Sao vàng lần thứ 2 và đây cũng là danh hiệu anh hùng Liên Xô lần thứ 2 của Thượng tướng P.I. Batov.

Sau chiến tranh, ông là Phó Tư lệnh bộ phận Hồng quân Liên Xô tại Đức. Năm 1955, ông được phong quân hàm Đại tướng. Từ đó cho đến năm 1958, ông là Tư lệnh các lực lượng vũ trang Phân khu quân sự Carpathian. Từ năm 1958 đến 1959, Tư lệnh Phân khu quân sự Baltic. Năm 1962, ông chỉ huy nhóm phía Nam của các lực lượng vũ trang. Từ năm 1962 đến 1965, ông là Tổng tham mưu trưởng của các lực lượng vũ trang hiệp ước Warsaw. Từ năm 1965 đến 1985, ông công tác trong Tổng thanh tra Bộ quốc phòng Liên Xô. Từ năm 1970 đến 1981,  ông là Chủ tịch Hội cựu chiến binh Liên Xô. Ông là Đại biểu của Xôviết tối cao Liên Xô các khóa 1,2 và 4,6.

Đại tướng P.I. Batov qua đời ngày 19 tháng 4 năm 1985 tại Matxcova. Mộ của ông được đặt trong nghĩa trang Novodevichem. Ông đã được tặng thưởng 8 Huân chương Linine, 4 Huân chương Cách mạng tháng 10; 3 Huân chương Suvorov hạng Nhất, 1 Huân chương Kutuzov hạng Nhất, 1 Huân chương Bogdan hạng Nhất, Huân chương Chiến tranh vệ quốc hạng Nhất…cùng nhiều Huân huy chương của các nước khác. Tượng bán thân bằng bạc của ông được đặt tại thành phố Rybinsk, Roslavskaya Oblast. Một tượng bán thân khác của ông cũng được đặt tại trung tâm thành phố Gomel thuộc Belorussia. Bảo tàng về ông cũng được xây dựng ngay trên quê hương nơi sinh ra người anh hùng.



Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 779



« Trả lời #18 vào lúc: 01 Tháng Chín, 2008, 02:14:32 AM »


Đại tướng A.P. Beloborodov (31/01/1903-01/09/1990)

Đại tướng Beloborodov Afanasy Pavlantevich sinh ngày 31 tháng 1 năm 1903 tại làng Akinino, bây giờ thuộc vùng Irkutsk trong một gia đình nông dân Nga. Thành viên của Đảng Bolsevich từ năm 1926. Về trình độ học vấn, ông chỉ tốt nghiệp lớp 3 trường làng.

Gia nhập Hồng quân từ năm 1919-1920. Trong những năm tháng bảo vệ chính quyền cách mạng sau cách mạng tháng 10, ông chiến đấu tại vùng Viễn Đông trong trung đoàn Irkutsk số 8 trực thuộc sư đoàn súng trường Chita số 1.

Năm 1926, ông tốt nghiệp trường bộ binh Nizhniy-Bovgorod và giữ chức vụ trung đội trưởng. Sau khi hoàn thành khóa học về chính trị quân sự năm 1929, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ chính trị viên của đại đội súng trường. Sau khi đại đội trưởng bị hy sinh trong khi chiến đấu tại Vooruzhennogo năm 1929, ông kiêm luôn chức vụ đại đội trưởng và đã chỉ huy rất thành công đơn vị của mình trong các trận chiến tiếp theo ở đây.

Năm 1936, ông tốt nghiệp Học viện quân sự mang tên M.V. Frunze và giữ chức vụ phó rồi trưởng phòng hành quân bộ tư lệnh sư đoàn súng trường ở vùng Viễn Đông. Từ tháng  năm 1939, ông là trưởng phòng hành quân bộ tham mưu quân đoàn súng trường bộ binh số 31, và từ tháng 6 năm đó là tham mưu trưởng quân đoàn súng trường bộ binh số 43. Từ tháng 1 đến tháng 6 năm 1941, ông chỉ huy sư đoàn tham gia diễn tập chiến đậu tại mặt trận Viễn Đông.

Tháng 7 năm 1941, Đại tá A.P. Beloborodov là sư đoàn trưởng sư đoàn súng trường số 78, tháng 10 năm đó ông cùng sư đoàn được điều đến mặt trận phía Tây. Vì chủ nghĩa anh hùng tập thể, chiến đấu và lập công xuất sắc của toàn thể chiến sĩ trong sư đoàn tại vùng xung quanh Matxcova, tháng 11 năm 1941, sư đoàn được vinh dự mang tên sư đoàn cận vệ số 9 và ông được phong quân hàm thiếu tướng.

Mùa xuân và mùa hè năm 1942, sư đoàn súng trường vận vệ số 9 dưới sự chỉ huy của ông đã chiến đấu có kết quả trong đội hình của phương diện quân Tây Nam tại vùng Severskiy Donets. Từ tháng 10 năm 1942, ông chỉ huy quân đoàn súng trường cận vệ số 5, tham gia chọc thủng tuyến phòng thủ của quân phát xít trong chiến dịch Velikie Luki trong đội hình phương diện quân Kalinin. Từ tháng 8 năm 1943, ông là tư lệnh quân đoàn súng trường cận vệ số 2, các chiến sĩ của quân đoàn đã chiến đấu xuất sắc trong các chiến dịch tại quân Smolenskaya Oblast của thành phố Dukhovshchina ngày 19 tháng 9 năm 1943 và phía bắc của thành phố Vitebsk, Belorussia đầu năm 1944.

Từ ngày 22 tháng 5 năm 1944, trung tướng A.P. Beloborodov là tư lệnh tập đoàn quân số 43. Các chiến sĩ Hồng quân thuộc tập đoàn trong đội hình của phương diện quân Baltic số 1 trong chiến dịch Vitebsk-Orsha đã thọc sâu vào tuyến phòng thủ Eshelonirovannuyu của kẻ thù, vượt sông Tây Dvina và cùng với tập đoàn quân số 39 bên cạnh của phương diện quân Belorussian bao vây tiêu diệt nhóm quân Vitebsk của phát xít .

Theo quyết định của Xôviết tối cao Liên Xô kí ngày 22 tháng 7 năm 1944 cho những chiến công và sự chỉ huy bộ đội mưu trí trong chiến dịch Vitebsk, ông được vinh dự phong danh hiệu Anh hùng Liên Xô cùng với Huân chương Lenine và Huy chương Sao vàng.

Năm 1944, ông đã chỉ huy thành công tập đoàn quân số 43 tại Polotsk, Shaulyayskoy, Riga và Memel, và năm 1945, khi tập đoàn quân về đứng chân trong đội hình của phương diện quân Belorussia số 2, trong quá trình diễn ra các chiến dịch Insterberg-Koenigsberg, Koenigsberg và Zemlandskoy.

Ngày 19 tháng 4 năm 1945, vì lí do chủ nghĩa anh hùng cá nhân và sự can đảm trong quá trình tấn cong Koenigsberg, ông được phong danh hiệu anh hùng Liên Xô, Huy chương Sao vàng lần thứ 2.

Tháng 8 và tháng 9 năm 1945, thượng tướng A.P. Beloborodov chỉ huy tập đoàn quân cờ Đỏ số 1 của phương diện quân Viễn Tây số 1, tham gia đập tan đạo quân Quan Đông của Nhật.

Sau chiến tranh, từ năm 1946 đến 1953, ông là Tư lệnh tập đoàn quân sau đó phụ trách huấn luyện chiến đấu của binh chủng súng trường, phó tư lệnh bộ phận các lực lượng vũ trang miền trung. Từ năm 1955, ông là tư lệnh các lực lượng vũ trang phân khu quân sự Voronezh, từ năm 1957 phụ trách quản lí và chỉ huy tại Bộ quốc phòng Liên Xô. Năm 1963, ông được phong quân hàm Đại tướng. Cùng năm này, ông được đề bạt chức vụ tư lệnh phân khu quân sự Moskovskogo. Từ năm 1968, ông là thanh tranh của Bộ quốc phòng Liên Xô.

Ông là thành viên của Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô từ năm 1966 đến năm 1971. Đại biểu của Xôviết tối cao khóa 3 và 7. Ông mất ngày 1 tháng 9 năm 1990 và được chôn tại nghĩa trang Liệt sĩ tại Matxcova.

Ông được tặng thưởng 5 Huân chương Lenine, 5 Huân chương Cách mạng tháng 10, Huân chương Suvorov hạng Nhất và Nhì, Huân chương Kutuzov hạng Nhì, Huân chương vệ quốc hạng Nhất…và nhiều loại huân huy chương của các nước. Tại thành phố Irkutsk có đặt bức tượng bán thân của ông.




Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 779



« Trả lời #19 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2008, 02:55:32 AM »


Trung tướng Artem Mikoyan (1905-1970)

Ông sinh ra trong một gia đình thợ mộc. Năm 1918, bố ông đột ngột qua đời khi ông mới 13 tuổi. Mikoyan đã phải lang thang tới Tbilisi để kiếm sống và hy vọng có cơ hội học tập. Năm 1918, ông tới thành phố Rostov, xin vào học tại trường dạy nghề của nhà máy ‘’Aksai Đỏ’’. Tháng 11 năm 1925, ông tới Matxcova làm thợ tiện tại nhà máy Dinamo và bắt đầu đảm trách các công tác Đảng. Cuối năm 1928, ông gia nhập Hồng quân.

Đầu những năm 30 của thế kỷ trước, Liên Xô đẩy mạnh chính sách hiện đại hóa ngành sản xuất máy bay. Đó là lý do khiến ngành này rất cần những chuyên gia có kiến thức. Chính vào thời điểm này, số phận của Mikoyan lại chuyển sang một bước ngoặt quan trọng, khi ông có mặt trong số những Đảng viên trẻ ưu tú được cử vào học tại Học viện Không quân mang tên Zukovski, trước khi tốt nghiệp vào tháng 10 năm1937 với bằng Kỹ sư Cơ khí của Không quân, ông đã làm quen với công việc thiết kế ngay từ hồi còn ở Học viện – ông đã cùng một nhóm bạn cùng lớp đã thiết kế thành công một kiểu mẫu máy bay đầu tiên của riêng mình.

Theo giới thiệu của hội đồng thi quốc gia, Mikoyan được cử tới công tác và học tập thêm tại Nhà máy Chế tạo máy bay số 1. Chính tại môi trường thuận lợi này, Mikoyan đã biết cách thể hiện và phát triển những khả năng đặc biệt của mình. Chỉ sau nửa năm, ông đã trở thành người đứng đầu Ban thiết kế đặc biệt, khi đó chuyên tập trung chế tạo và sản xuất loại máy bay tiêm kích tốc độ cao I-200 (còn có tên là MiG-1). Với tài năng và sự lao động quên mình, nhóm thiết kế do Mikoyan đứng đầu đã hoàn thành việc chế tạo chiếc MiG-1 trong thời gian kỷ lục là 4 tháng. Sau khi loại máy bay này được sản xuất hàng loạt và trang bị cho không quân vào cuối tháng 10 năm 1940, Mikoyan được phong làm kỹ sư trưởng tại Nhà máy Chế tạo máy bay số 1. Đó có thể coi là một sự thăng tiến hết sức nhanh chóng và tuyệt vời.

Ngay trước chiến tranh, loại MiG-1 đã được sửa đổi và cải tiến thêm để trở thành máy bay MiG-3. Trong thời gian chiến tranh giữ nước vĩ đại của nhân dân các dân tộc Liên Xô, loại máy bay này được sản xuất hàng loạt và tham gia chiến đấu ngay từ những ngày đầu tiên. Tính ra, đã có tất cả 100 chiếc MiG-1 và 3.172 chiếc MiG-3 được chế tạo để phục vụ chiến đấu.

Ngay trong giai đoạn 1941-1945, nhóm kỹ sư thiết kế dưới sự lãnh đạo của Mikoyan và Gurevich đã thiết kế tổng cộng 15 loại máy bay khác nhau như MiG-1, MiG-3, MiG-7, DIS-200, MiG-9M-82, I-211, MiG-3U, I-231, I-220, I-221, I-222, I-224, I-225, I-250 và MiG-8. Tháng 3 năm 1942, Mikoyan được bổ nhiệm làm Giám đốc và kỹ sư trưởng của Nhà máy Thử nghiệm không quân số 155. Nhiệm vụ quan trọng đầu tiên của ông trên cương vị này là thiết kế loại máy bay tiêm kích phản lực MiG-9 (còn gọi là I-300). Những chuyến bay thử nghiệm đầu tiên cho thấy, loại máy bay này có các tham số bay vượt trội đáng kể so với những loại tiêm kích thông dụng hồi đó. Tốc độ bay tối đa của nó có thể lên tới 911 km/giờ.

Nhưng phải đến loại tiêm kích MiG-15 dạng cánh cụp mới bắt đầu mang lại cho Mikoyan sự nổi tiếng trên toàn thế giới. MiG-15 đã được mệnh danh là ‘’máy bay-chiến sĩ’’ nhờ tính đơn giản về cấu trúc, công nghệ, khả năng chiến đấu, sự tin cậy khi vận hành cùng với một loạt các tham số bay kỹ thuật và chiến đấu khác. Theo nhiều chỉ số, MiG-15 và MiG-15bis đã vượt trên tất cả những máy bay tiêm kích thời đó và mở ra một thời đại mới của những chiếc máy bay đạt tới ngưỡng vận tốc âm thanh. MiG-15 và các phiên bản cải tiến của nó đã được sản xuất hàng loạt tại 9 nhà máy không quân trong giai đoạn từ năm 1949 đến 1959 với tổng cộng hơn 13.000 chiếc. Ngoài ra, loại máy bay này còn được triển khai sản xuất hàng loạt tại Ba Lan và Tiệp Khắc. MiG-15 đã chứng minh được ưu thế vượt trội của mình trước các máy bay của Mỹ trong cuộc chiến tranh Triều Tiên và được coi là loại máy bay tiêm kích tốt nhất hồi đầu những năm 50.

Loại máy bay MiG-17 (loại tiêm kích đầu tiên được trang bị cho Không quân Việt Nam) được sản xuất từ năm 1949 được coi là bước phát triển tiếp theo từ loại MiG-15bis. Trong giai đoạn 1952-1955, đã có hơn 8.000 máy bay MiG-17 các phiên bản được Liên Xô sản xuất tại 8 nhà máy khác nhau, trong đó có cả ở Ba Lan, Tiệp Khắc và Trung Quốc. Kỷ nguyên chế tạo máy bay siêu âm của Liên Xô được Mikoyan bắt đầu với loại tiêm kích MiG-19. Đây cũng là loại máy bay tiêm kích siêu âm đầu tiên được sản xuất hàng loạt với tổng cộng 1.890 chiếc trong giai đoạn 1955-1959. Tên tuổi nhà kiến trúc sư hàng không tài ba của Xôviết đã trở nên nổi tiếng trên khắp thế giới. Như tạp chí phương Tây ‘’Flight Review’’ số 5 năm 1964 đánh giá: ‘’MiG-19 đã khẳng định uy tín của Mikoyan như là một kiến trúc sư hàng không, đã chế tạo được loại máy bay tiêm kích đơn giản với những tính năng bay chất lượng cao chỉ trong một thời gian kỷ lục chưa từng có tại phương Tây’’.

Nhưng chính loại siêu tiêm kích MiG-21 mới đánh dấu một bước tiến dài của Mikoyan. Mức độ kỹ thuật và công nghệ cao của MiG-21 đã đưa loại máy bay này vào hàng ngũ những loại tiêm kích hàng đầu trên thế giới. MiG-21 đã xác lập được tổng cộng 17 kỷ lục về tính năng bay trên thế giới. 16 phiên bản của loại máy bay này đã được sản xuất hàng loạt trong suốt 30 năm và có mặt trong thành phần trang bị của lực lượng không quân tại hơn 49 nước trên khắp thế giới. MiG-21 cho tới giờ vẫn tỏ ra hoàn thiện hơn các loại máy bay tương tự của Mỹ như F-15 C/D Eagle và F-16 C/D Fighting Falcon.

Đến cuối năm 1956, Artem Mikoyan được bổ nhiệm vào cương vị tổng công trình sư. Tháng 4 năm 1959, ông được phong hàm tiến sĩ khoa học và đến tháng 11 năm 1968 trở thành viện sĩ khoa học. Ông còn được bầu làm thành viên Xôviết tối cao trong giai đoạn 1950-1970. Những loại máy bay cuối cùng được chế tạo dưới sự lãnh đạo của Mikoyan là MiG-23 và MiG-25. Trong đó MiG-23 là loại máy bay tiêm kích phản lực thế hệ 3 đầu tiên được sản xuất hàng loạt. Còn loại MiG-25 là một trong những dự án thiết kế ấn tượng nhất cho tới thời điểm hiện nay. Nó có thể bay với vận tốc gấp 3 lần âm thanh, vượt trên tất cả những máy bay tiêm kích khác trên thế giới về tốc độ tối đa và tầm cao.

Artem Mikoyan qua đời vào ngày 9/12/1970 sau một đợt ốm kéo dài. Độ tuổi 65 khi ông ra đi vẫn được coi là thời kỳ bùng nổ khả năng sáng tạo của tổng công trình sư này. Đáng ra, ông còn có thể đóng góp nhiều hơn nữa cho Hàng không Xôviết nếu như sống thêm được 5 hay 10 năm nữa. Dù sao, trong suốt thời gian cống hiến không mệt mỏi của mình, Mikoyan đã để lại cả một di sản khổng lồ. Ông đã tham gia trực tiếp trong việc chế tạo hơn 50 mẫu máy bay tiêm kích, tên lửa có cánh và máy bay thử nghiệm khác nhau. Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, Mikoyan đã có những đóng góp lớn trong việc phát triển và chinh phục những vận tốc và độ cao lớn của máy bay, đồng thời với việc đảm bảo tốt khả năng điều khiển và tự động hóa.

Artem Kikoyan còn xây dựng được cả một trường đào tạo về thiết kế máy bay của riêng mình, góp phần xây dựng cả một đội ngũ kiến trúc sư hàng không có trình độ cao của Liên Xô. Sau khi Mikoyan mất, một tổng công trình sư khác là R.Beliakov đã kế tục rất thành công sự nghiệp của ông. Ngoài những phiên bản cải tiến của MiG-23 và MiG-25, tập thể các chuyên gia Hàng không Xôviết còn chế tạo ra máy bay tiêm kích - ném bom MiG-27, tiêm kích hạng nhẹ MiG-29, tiêm kích đánh chặn MiG-31. Hiện các học trò của Mikoyan đang tiếp tục nghiên cứu chế tạo loại máy huấn luyện hiện đại MiG-AT, máy bay tiêm kích đa chức năng MFI thế hệ thứ 5 và máy bay vận tải đa chức năng MiG-110.





« Sửa lần cuối: 07 Tháng Chín, 2008, 04:37:46 AM gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM