Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 21 Tháng Mười, 2014, 11:44:56 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Theo Vết xích xe tăng - Tập 1  (Đọc 31287 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
rongxanh
Thành viên
*
Bài viết: 2085

Mơ về nơi xa lắm.


« Trả lời #10 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2008, 08:15:56 AM »

NHỚ LẠI TRẬN ĐẦU RA QUÂN ĐÁNH THẮNG

Đại tá Lê Xuân Tấu, Anh hùng Quân đội
PTL Tham mưu trưởng
Binh chủng Tăng - Thiết giáp.
Cách đây 30 năm, ngày 7-2-1968, Tiểu đoàn tăng 198 đã cùng với lực lượng binh chủng hợp thành tiến công tiêu diệt gọn cứ điểm địch phòng ngự trong công sự vững chắc trên các điểm cao 320 và 230 ở Làng Vây. Đây là trận đánh then chốt trong đợt một chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh và cũng là một trong hai trận đánh hiệp đồng binh chủng đầu tiên có xe tăng tham gia giành thắng lợi giòn giã.

Trận thắng không chỉ có tác dụng đột phá, mở cửa chiến dịch mà còn có ý nghĩa rất to lớn đối với Binh chủng Tăng - Thiết giáp. Với thắng lợi của trận đánh, lần đầu tiên đã khẳng định sức mạnh đột kích và khả năng tác chiến hiệp đồng binh chủng của xe tăng, thiết giáp ta trên chiến trường miền Nam mở đầu truyền thống "Đã ra quân là đánh thắng" của Binh chủng, tạo ra bước ngoặt lịch sử mới, đưa Binh chủng Tăng - Thiết giáp tiến về phía trước với qui mô xây dựng, chiến đấu ngày càng mở rộng, trưởng thành nhanh chóng, lập nhiều chiến công xuất sắc.

Tôi vinh dự được trực tiếp tham gia trận đánh này với cương vị trung đội phó chỉ huy trên chiếc xe tăng 555, cùng đội hình chiến đấu của Đại đội tăng 3 vận động theo trục Đường 9, tiến công vào cứ điểm Làng Vây từ hướng tây.

Thăm lại chiến trường xưa, nơi chúng tôi đã dùng sức mạnh của tinh thần của hoả lực pháo súng và xích sắt xe tăng cùng bộ binh đánh chiếm từng vị trí, từng lô cốt hoả điểm địch, và cũng chính nơi đây những người đồng chí, đồng đội của chúng tôi đã ngã xuống vì thắng lợi của trận đánh, vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, được gặp lại những người anh em thân thiết cùng đại đội, tiểu đoàn, những vị cán bộ chỉ huy lãnh đạo Binh chủng tiền nhiệm đã từng theo đơn vị hành quân vào chiến trường, hướng dẫn chỉ đạo, động viên giúp đỡ đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu, tôi vô cùng tự hào và cảm động được Đảng bồi dưỡng, được đồng chí đồng đội dìu dắt, từng bước lớn lên và trưởng thành cùng Binh chủng.

Về nguyên nhân thắng lợi của trận đánh. Theo tôi, trong trận Làng Vây, xe tăng ta đã vận dụng rất đúng, rất sáng tạo chiến thuật tiến công địch phòng ngự trong công sự vững chắc ngay từ khi còn ở khu vực tập kết chiến đấu.
Chiến thuật này, chúng tôi, những thành viên của phân đội trực tiếp tham gia trận đánh đã được học tập, huấn luyện khá bài bản khi còn ở hậu phương lớn miền Bắc. Hồi tưởng lại quá khứ lúc bấy giờ, tôi thấy: trước lúc đi chiến đấu, chúng tôi đã được huấn luyện về chiến thuật, kỹ thuật lái, bắn, chính trị, hậu cần... , chúng tôi đã được luyện tập chiến thuật từ 1 xe đến trung đội đại đội tăng tiến công, phòng ngự, trong đó có khoa mụ( chiến thuật tiến công địch phòng ngự trong công sự vững chắc Tất nhiên, những nội dung huấn luyện trên còn chịu ảnh hưởng rất lớn bởi lý luận chiến thuật của Trung Quốc, Liên Xô trước đây, song bước đầu đã giúp chúng tôi làm quen với địa hình, thời tiết và thực tiễn chiến trường Việt Nam.

Bên cạnh những nội dung huấn luyện kỹ. thuật, chiến thuật binh chủng, chúng tôi còn được tham gia hợp luyện với bộ binh, thông qua các cuộc diễn tập thử nghiệm trên các loại địa hình, thời tiết khác nhau với mục đích, yêu cầu nội dung, hình thức khác nhau. Trong đó đã có lần tăng thiết giáp được tham gia diễn tập chiến đấu hiệp đồng binh chủng đánh địch phòng ngự trong công sự vững chắc trên các điểm cao ở dãy núi Thanh Tước, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc hay ở khu vực Xuân Mai, Hoà Lạc, tỉnh Hà Tây... Đáng ghi nhớ nhất là cuộc diễn tập thực binh với Sư đoàn bộ binh 304 ở khu Ba Thá - Miếu Môn có Đại đội tăng 3 và Đại đội tăng 9 tham gia. Trong cuộc diễn tập này, xe tăng bơi PT-76 đã vận động theo cách tự bơi và người kéo dọc sông Ba Thá.

Đối chiếu với trận Làng Vây, Đại đội tăng 9 của đồng chí Ngô Xuân Nghiêm đã vận dụng đúng theo cách cơ động này. Song cũng khẳng định rằng việc vận dụng những điều đã học được vào thực tiễn chiến đấu ở Làng Vây là rất sáng tạo, biểu hiện ở chỗ chọn hướng tiến công chủ yếu, đưa xe tăng bơi dọc sông Sê Pôn cơ động lên tham gia tiến công từ hướng nam cứ điểm là rất chính xác, vừa bảo đảm yếu tố bí mật, tạo thế bất ngờ, vừa là con đường ngắn nhất tiến công vào sở chỉ huy địch trên cao điểm 320, nhanh chóng làm suy giảm sức đề kháng của chúng, tạo điều kiện cho các mũi hướng đánh nhanh, tiêu diệt gọn, hoàn thành thắng lợi trận đánh. Sự sáng tạo trong vận dụng chiến thuật còn được biểu hiện ở chỗ đưa xe tăng vào chiếm lĩnh khu vực tập kết chiến đấu rất gần địch (khoảng 6km theo đường chim bay trên hướng Đại đội tăng 3). So với lý luận chúng tôi được học thì khoảng cách tập kết cho phép cách địch 30km. Có nghĩa là Đại đội tăng 3 và Đại đội tăng 9, khoảng từ 8 đến 10 km (trên hướng Đại đội tăng 3). Có nghĩa là Đại đội tăng 3 và Đại đội tăng 9 đã ở vào vị trí tập kết chiến đấu trong tầm đạn pháo địch, trong điều kiện địch chiếm ưu thế về hoả lực pháo binh, không quân cùng với các phương tiện trinh sát hiện đại trong lúc yếu tố bất ngờ về sử dụng xe tăng của ta đã giảm sau lần xuất trận ở Tà Mây. Có thể nói đây là sự vận dụng sáng tạo mang tính táo bạo. Nếu ta không làm tốt công tác nguỵ trang giữ bí mật, để địch phát hiện thì ta khó bảo toàn được lực lượng trước khi bước vào chiến đấu. Song tiếp cận gần địch, ta có lợi thế là rút ngắn được thời gian và khoảng cách cơ động lên chiếm tuyến triển khai xung phong, hạn chế được thương vong tổn thất do hoả lực không quân, pháo binh địch đánh phá, ngăn chặn.

Việc tổ chức đội hình tiến công trong trận đánh cũng rất hợp lý, bài bản. Binh chủng hợp thành tiến công trên 3 hướng, trong đó xe tăng tham gia tiến công trên 2 hướng. Trên mỗi hướng phải cách nhiều mục tiêu, nhưng tất cả đều tập trung vào mục tiêu chủ yếu là sở chỉ huy địch. Điều này rất đúng với lý luận chiến thuật đánh địch phòng ngự trong công sự vững chắc trên các điểm cao.
Tổ chức đội hình chiến đấu cụ thể của Đại đội tăng 3 trên hướng tiến công thứ yếu cũng rất phtl hợp. Đội hình chiến đấu được xếp thành nhiều thê đội Trung đội do tôi chỉ huy có nhiệm vụ đánh bóc vỏ vị trí tiền tiêu của địch trên điểm cao 230, được hoả lực của trung đội tiến sau yểm hộ. Khi đại đội thực hành đột phá mở cửa, thì trung đội tôi từ vị trí vừa chiếm, được lệnh chi viện hoả lực cho đại đội dẫn dắt bộ binh xung phong đột phá, thọc sâu đánh chiếm các mục tiêu bên trong cứ điểm và tập trung phối hợp với hướng Đại đội tăng 9, nhanh chóng đánh chiếm sở chỉ huy địch.

Như vậy, đội hình tiến công của Đại đội tăng 3 và cả Đại đội tăng 9 được tổ chức sắp xếp theo thứ tự: trung đội (hoặc xe) đánh phía trước, trung đội (hoặc xe) tiến sau chi viện hoả lực. Cách xếp đội hình chiến đấu như trên, theo tôi rất cơ bản, rất hiệu quả. Đó là kinh nghiệm thành công để bộ đội thiết giáp nghiên cứu, vận dụng trong nhiều trận tiếp sau.

Dẫn đến thắng lợi trong trận Làng Vây là đã làm rất tốt công tác chính trị trong chiến đấu. Nhớ lại tôi thấy trước khi bước vào chiến đấu, chúng tôi đều được sinh hoạt Đảng, sinh hoạt đại đội song song với công tác chuẩn bị kỹ thuật, hậu cần và các mặt công tác khác. Nội dung chủ yếu của các cuộc sinh hoạt tập trung vào việc xây dựng ý chí, quyết tâm chiến đấu cao cho từng cán bộ, chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên thanh niên. Nhờ thế mà khí thế toàn đơn vị lên rất cao, mọi người đều hăng hái thi đua lập công.

Đồng chí Lê Ngọc Quang, Chính uỷ Binh chủng xuống tận khu tập kết chiến đấu kiểm tra tác chuẩn bị, giao cờ, giao trách nhiệm cho đơn vị trước giờ xuất kích chiến đấu là một việc làm có hiệu quả lớn, góp phần động viên tinh thần, khí thế của toàn đơn vị.

Đôi dòng suy nghĩ nhớ lại của tôi, những điều đúc rút từ kinh nghiệm, nhận thức của bản thân trong quá trình học tập, rèn luyện cũng như trong thực tiễn chiến đấu Làng Vây, nhằm góp phần làm sáng tỏ thêm nguyên nhân thành công và một số vấn đề vận dụng sáng tạo chiến thuật sử dụng tăng vào thực tiễn chiến đấu.
Logged
rongxanh
Thành viên
*
Bài viết: 2085

Mơ về nơi xa lắm.


« Trả lời #11 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2008, 08:16:52 AM »

TÔI TRỞ THÀNH CHIẾN SĨ XE TĂNG NHƯ THẾ ĐẤY!

Đại tá Phùng Văn Minh
nguyên Phó Tham mưu trưởng
Bộ Tư lệnh Tăng – Thiết giáp

Sau cuộc kháng chiến chống Pháp, một số cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 141, Sư đoàn 312 được cử đi bồi dưỡng văn hoá và học tiếng nước ngoài tại trường Văn hoá Quân đội, đến tháng 8 năm 1956, 36 anh. em chúng tôi do đồng chí Đào Huy Vũ làm trưởng đoàn được cử đi học ở trường Sĩ quan Chỉ huy xe tăng (trường xe tăng số 1) ở ngoại ô Thủ đô Bắc Kinh, Trung Quốc. Vào thời gian ấy chỉ có học sinh Việt Nam là người nước ngoài. Là những người nước ngoài đầu tiên, lại là cán bộ chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam mới bước ra từ cuộc chiến tranh chống Pháp nên chúng tôi được bạn ưu ái về nhiều mặt, 36 anh em được tổ chức thành 1 lớp gọi là lớp học số 25, nằm trong biên chế của Đại đội 1 học viên của trường.

Chương trình học tập chủ yếu là chiến thuật phân đội, công tác chỉ huy - tham mưu, học khai thác sử dụng xe tăng - thiết giáp, học lái xe ô tô, xe tăng, học khai thác sử dụng vũ khí, khí tài quang học, phòng hoá. Về phương pháp bạn rất coi trọng rèn luyện kỹ năng, vì vậy chúng tôi được học và thực hành rất kỹ, phải kiểm tra, thi cử đi lại nhiều lần 1 nên có những môn học chúng tôi hầu như thuộc lòng, sử dụng phương tiện thuần thục, nhiều bài thi chúng tôi còn đạt kết quả cao hơn cả học viên bạn. Thi tốt nghiệp 100% đạt yêu cầu, trong đó có 70% đạt khá giỏi. Tuy chưa có thực tiễn sử dụng xe tăng trên chiến trường Việt Nam, nhưng chúng tôi có lòng tự tin cao về khả năng làm chủ phương tiện và bản lĩnh chỉ huy của mình.

Ngay sau khi tốt nghiệp chúng tôi được phong quân hàm sĩ quan (tuy nhiên trước khi đi học đa số chúng tôi đã là cán bộ chỉ huy rồi). Tôi được phong trung uý và nhận chức đại đội trưởng Đại đội xe tăng số 1 của Trung đoàn xe tăng Việt Nam, sắp được thành lập.

Khoảng cuối tháng 7 năm 1959, chúng tôi rời khỏi trường về tập trung tại một doanh trại của một trung đoàn xe tăng của Giải phóng quân Trung Quốc ở thành phố Quế Lâm tỉnh Quảng Tây, tiếp sau đó các đồng chí học ở trường sĩ quan kỹ thuật xe tăng (trường xe tăng số 2), trường xe tăng số 4, số 5 cùng lần lượt về tập trung tại đây. Trong thời gian này 23 đồng chí cán bộ chính trị từ cấp chính uỷ trung đoàn đến chính trị viên đại đội và thành phần chủ chốt cơ quan chính trị trung đoàn cũng từ bên nước sang, thế là không chỉ là cái khung cán bộ mà có cả những thành viên chính của xe tăng - pháo tự hành đã tập trung đầy đủ. Ngoài ra còn một số đồng chí cán bộ giáo viên đã trực tiếp quản lý giảng dạy chúng tôi ở trường xe tăng số 1 đi cùng để giúp đỡ, bạn còn cử đến những anh chị em cấp dưỡng, y tế và phục vụ khác.

Khoảng đầu tháng 8 năm 1959 từng đoàn tàu hoả chở gần 100 xe tăng, pháo tự hành đến ga Quế Lâm. Chúng tôi trực tiếp nhận, thay phiên nhau lúc chỉ huy, lúc lái chạy trên đường bộ chừng 10 km từ ga xe lửa về doanh trại, tuy mệt nhưng anh em rất vui.

Để chuẩn bị cho ngày thành lập Trung đoàn, hàng chục ngày liên tục chúng tôi kiểm tra bảo dưỡng xe máy, vũ khí, khí tài. Ngày nào cũng vậy, theo kế hoạch công tác kỹ thuật toàn trung đoàn, ai vào việc nấy một cách rất trật tự. Để cho xe sạch đẹp chúng tôi phải tháo gỡ từng tấm xích, dục cậy hết đất đá bám chặt vào các răng xích, thay hết các tấm và chốt xích đã quá tiêu chuẩn cho phép. Việc làm thật nặng nhọc nhưng ai cũng vui và luôn ngầm khích lệ nhau phải làm thật tốt cho không thua kém. đại đội khác. Sau cùng trên tháp pháo từng xe được in hình quân hiệu của Quân đội Nhân dân Việt Nam. (vòng tròn nền đỏ sao vàng) và đánh số, xe tăng đầu tiên của Trung đoàn là 100 tiếp theo là 101, 102... Thế là từ đây quân đội ta đã có trong tay một loại trang bị hiện đại, trong khi nền công nghiệp của đất nước ta còn nhỏ bé, nền công nghiệp quốc phòng cũng còn rất hạn chế, còn chúng tôi gần hầu hết là con cháu những nông dân đã được Đảng, nhân dân giao cho quản lý, sử dụng một loại trang bị hiện đại, chúng tôi vừa sung sướng, vừa tự hào về trách nhiệm của mình, những chiến sĩ xe tăng đầu tiên của quân đội ta.

Khoảng cuối tháng 8 năm 1959 tất cả chúng tôi đã rời khỏi bộ quân phục Quân giải phóng Trung Quốc (mặc khi học tập ở trường) để mặc bộ đồ dân sự chúng tôi được phát khi lên đường sang Trung Quốc từ năm 1956. Tuy không quân phục, không quân hàm, quân hiệu và Trung đoàn cũng chưa có quân kỳ nhưng chúng tôi vẫn đội ngũ chỉnh tề, trang nghiêm dưới lá cờ Tổ quốc nghe đồng chí Trung đoàn trưởng Đào Huy Vũ đọc quyết định biên chế và giao trang bị cho từng người, từng phân đội.

Đầu tiên là đồng chí Thiếu tá Đào Huy Vũ - Trung đoàn trưởng - trưởng xe tăng số 100; tiếp đến là đồng chí Đại uý Nguyễn Văn Phước - Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1 - trưởng xe tăng số 101 ; đồng chí Trung uý Phùng Văn Minh - đại đội trưởng Đại đội 1 trưởng xe tăng số 102 ... Cứ như vậy gần 2 giờ đồng hồ tên mỗi đồng chí chúng tôi được đặt vào vị trí chiến đấu trên từng chiếc xe tăng, pháo tự hành và nhiều vị trí công tác khác. Đọc đến tên ai, người ấy đáp "có” dõng dạc, hiên ngang bước lên phía trước, xếp thành 1 hàng ngang trên đầu xe của mình như xếp đội hình "chuẩn bị chiến đấu” vậy. Thật xúc động biết bao, từ giờ phút này không phải ai khác mà chính tôi là trưởng xe tăng số 102, là Đại đội trưởng Đại đội 1 với 7 xe tăng T-34 tất nhiên cùng chỉ huy đại đội bấy giờ còn có đồng chí Thượng uý - chính trị viên - Nguyễn Tằng, đồng chí Đại đội phó kỹ thuật Hoàng Công Thiện.

Ngày 2 tháng 9 năm 1959 chúng tôi được đón tiếp đồng chí Trần Văn Quang, Phó Tổng tham mưu trưởng từ bên nước sang thăm và thay mặt Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng công bố quyết định thành lập trung đoàn xe tăng đầu tiên của quân đội ta và mang phiện hiệu 202. Tôi rất vinh dự được thay mặt cán bộ chiến sĩ Trung đoàn phát biểu cảm tưởng chào mừng đồng chí Phó Tổng tham mưu trưởng, bày tỏ lòng biết ơn Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng đã giáo dục rèn luyện, nay lại giao cho quản lý sử dụng một loại trang bị hiện đại này; cảm ơn Đảng, Nhân dân, Quân đội Trung Quốc đã tận tình giúp đỡ, đào tạo chúng tôi từ những người chiến sĩ bộ binh thành những người chiến sĩ tăng thiết giáp có khả năng chiến đấu tất và hứa sẽ tích cực học tập xây dựng Trung đoàn vững mạnh, sẵn sàng về nước cùng toàn quân, toàn dân chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Sau này chúng tôi được biết lấy ngày 5 tháng 10 năm 1959, ngày Bộ Quốc phòng ký quyết định làm ngày thành lập Trung đoàn. Nhưng ngày 2 tháng 9 năm 1959 đối với tôi vẫn ghi đậm kỷ niệm ra đời Trung đoàn 202, trung đoàn xe tăng đầu tiên của quân đội ta.

Trong khi chờ đợi ngày về nước, toàn trung đoàn bước vào một đợt luyện tập, Đại đội 1 chúng tôi tiến hành diễn tập chiến thuật thực binh với một tiểu đoàn bộ binh Quân giải phóng Trung Quốc. Do đã được đào tạo cơ bản, luyện tập nhiều lần trước đó lại thông thạo tiếng Trung Quốc nên cuộc diễn tập đạt kết quả tốt. Cũng thời gian này Đại đội xe tăng 2 do đồng chí Nguyễn Hữu Trí làm đại đội trưởng tiến hành luyện tập dùng pháo xe tăng thực hành bắn gián tiếp vào cụm mục tiêu cách xa hàng chục cây số cũng đạt kết quả tốt.

Các đồng chí cán bộ, giáo viên bạn đi cùng đều tận tình giúp đỡ chúng tôi nhiều mặt; các đồng chí phục vụ cũng là người của quân đội bạn đã chăm lo việc ăn uống, đảm bảo y tế, canh gác bảo vệ chúng tôi chu đáo như những người anh em đồng chí; trường sĩ quan lục quân bạn ở Quế Lâm đã rất nhiệt tình đón tiếp, mời chúng tôi tới thăm trường và nhiều lần chiêu đãi thân mật, trọng thể. Vào khoảng cuối tháng 7 năm 1959, chúng tôi lần lượt lên đường về nước tiếp tục xây dựng, phát triển lực lượng và tham gia chiến đấu giải phóng miền Nam.

Đã trên 40 năm trôi qua, những người đã tham gia từ ngày đầu thành lập Trung đoàn nay hầu hết đã nghỉ hưu hoặc chuyển công tác khác, không ít đồng chí đã hi sinh hoặc vì tuổi cao sức yếu đã vĩnh viễn ra đi, song những người còn sống chúng tôi không thể nào quên những kỷ niệm sâu sắc, những hình ảnh tốt đẹp, sự gắn bó, lòng quyết tâm cùng nhau khắc phục bao nhiêu khó khăn học tập tốt, là một trong những lực lượng nòng cốt xây dựng bộ đội Tăng - Thiết giáp Việt Nam anh hùng ngày nay, đồng thời chúng tôi cũng không quên được những tình cảm đẹp đẽ mà Đảng, Chính phủ, nhân dân và Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã dành cho chúng tôi.
Logged
rongxanh
Thành viên
*
Bài viết: 2085

Mơ về nơi xa lắm.


« Trả lời #12 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2008, 08:18:05 AM »

CÂU THƠ LÀM RUNG ĐỘNG TÂM HỒN CHIẾN SĨ XE TĂNG

Âu Gia Huyền
nguyên cán bộ Tuyên huấn Cục Chính trị,
Bộ Tư lệnh Tăng - Thiết giáp


Tết Đinh Mùi (1967) Đại đội xe tăng 9, Trung đoàn 202 sơ tán ở thôn Thanh Lanh, dưới chân dãy núi Tam Đảo. Thời gian đó chưa có điều kiện sử dụng xe tăng ở chiến trường, nên nhiều đơn vị xe tăng chỉ để lại số ít cán bộ, chiến sĩ kỹ thuật ở lại bảo dưỡng xe, còn đều được tổ chức thành các đại đội cao xạ, đi tham gia bắn máy bay Mỹ.

Hôm ấy như thường lệ, chiến sĩ lái xe Hoà vác búa đi kiểm tra xe. Anh gõ gõ lên xích xe tăng rồi buột miệng nói:

- Tiếng súng Đông Xuân đã nổ rồi, mà lính xe tăng thì ngồi chơi.

Đồng chí lái xe khác, tên là Can đi qua, nghe thấy nói xen vào:

- Cậu làm thơ đấy à ?

Hoà trả lời: Thơ, phú gì !

- Thế cậu chẳng vừa đọc là gì, mình đọc lại cho cậu nghe nhé: Tiếng súng Đông Xuân đã nổ rồi, mà lính xe tăng vẫn ngồi chơi.

- Hoà lại nói: Lính xe tăng mang tiếng là được chọn lọc rất kỹ, mà ngày ngày cứ phải vác búa đi gõ mối thế này thì buồn lắm..

- Ôi ? Cậu lại được một câu thơ nữa rồi - Can nói rồi đọc lại, này nhé :

Tiếng súng Đông Xuân đã nổ rồi,
Mà lính xe tăng vẫn ngồi chơi
Ngày ngày vác búa đi gõ mối.

 Ba câu thơ ngon lành. Thật là xuất khẩu thành thơ. Lái xe tăng Can vốn là học sinh lớp 10 (hệ 10 năm) nhập ngũ 1965. Học lái xe, anh rất thích thơ. Thỉnh thoảng bốc đồng làm một vài câu cho vui. Câu chuyện cũng chỉ dừng lại ở đây.
Mấy hôm sau, để đón xuân mới, Đại đội họp đề ra mỗi người làm một bài báo tường. Nói là đại đội nhưng thực ra quân số chỉ có hơn chục người, nên yêu cầu: bài báo dù dài hay ngắn, thể loại nào cũng được, miễn sao từ cán bộ đại đội trở xuống mỗi người phải có một bài.

Phải mất mấy buổi trưa, Can viết đi viết lại vẫn chưa được bài báo. Nghĩ lại mấy câu thơ hôm trước, Can tặc lưỡi chỉ cần một câu nữa là được bài tứ tuyệt. Từ lúc ấy trở đi Can xoay đi xoay lại câu kết làm thế nào cho ổn. Đến ngày cuối cùng, Can đành ghi vào: "Thế thì buồn lắm thủ trưởng ơi" rồi dán lên báo tường, coi như đã hoàn thành nhiệm vụ.

Tuy là báo tường nhưng vẫn phải có ban biên tập để sửa giúp anh em cho hoàn chỉnh, gọi là có chất lượng một chút. Ngần là giáo viên văn hoá bán chuyên nghiệp của đại đội và một chiến sĩ nữa được cử vào ban biên tập. Thấy bài thơ có ý tứ mộc mạc nhưng nghe được. Muốn sửa lại câu cuối, suy nghĩ mãi vẫn chưa sửa được, trao đổi với một số anh em thì có người sửa thành "Nhiệm vụ bao giờ mới đến nơi". Câu này cũng chẳng hơn gì câu cuối cùng của Can. Suy nghĩ mãi, cuối cùng Ngần cũng tìm được và sửa thành "Tủi lính xe tăng thủ trưởng ơi".

Bài thơ vẫn chưa ổn, phải thay 3 từ "lính xe tăng” ở câu 2 bằng từ khác mới nghe được. Suy nghĩ mãi, Ngần thay 3 từ lính xe tăng thành 3 từ "quân ông Vũ”. Khi trao đổi với Can, Can nói:

- Đưa tên Thủ trưởng vào thơ, mình ngại lắng, 1 trông thấy thủ trưởng đã sợ rồi, Thủ tưởng quát thì... Còn tuỳ Ngần, nhưng đừng đưa mình vào cuộc đấy nhé.

Hôm mồng một Tết, tổ chức vui Xuân, tiêu thụ báo tường gọi là cây nhà lá vườn. Ngần đọc mấy câu thơ anh em vỗ tay tán thưởng khen hay. Đại đội phó kỹ thuật Dương Xuân Tụ dự với anh em sau khi nghe, anh ghi lại 4 câu thơ. Mấy hôm sau lên phản ảnh tình hình đơn vị hàng tuần với Tiểu đoàn. Chính trị viên Tiểu đoàn Nguyễn Văn Phú nghe được câu thơ, nhắc đại đội phó về động viên anh em nguyện vọng đi chiến đấu là tốt, nhưng khi chưa đi phải yên tâm bảo quản xe pháo khí tài cho tốt.

Mấy câu thơ không cánh mà bay lên đến các cơ quan Bộ Tư lệnh Binh chủng, nhà thơ Hữu Thỉnh lúc đó là giáo viên văn hóa nói: .... có giá đấy, có khi còn làm động lòng thủ tưởng. Anh Đào Huy Vũ lúc đó là Phó Tư lệnh (chưa có Tư lệnh). Thời Pháp thuộc đã từng làm hương sư, dạy học trường làng, vừa biết quốc ngữ vừa biết chữ Hán, rất thích thơ. Anh suy ngẫm về mấy câu thơ rồi nói với anh em: Tôi là phó Tư lệnh cũng còn tủi nữa là anh em, có điều là ta phải chuẩn bị chiến, kỹ thuật cho tốt để khi trên dùng đến, chúng ta hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Tháng 7 năm 1967, Tổng tham mưu phó Lê Trọng Tấn, sau khi ở chiến trường B2 ra điện cho Bộ Tư' lệnh Thiết giáp lên báo cáo tình hình biên chế, trang bị, tính năng, kỹ thuật, chiến thuật từng loại xe. Sau khi báo cáo tình hình, Phó Tư lệnh Binh chủng Đào Huy Vũ nói lên nguyện vọng của cán bộ chiến sĩ Binh chủng được đưa xe tăng đi đánh Mỹ. Anh Vũ đã đọc mấy câu thơ.

Tiếng súng Đông Xuân đã nổ rồi
 Mà quân ông Vũ vẫn ngồi chơi
Ngày ngày vác búa đi gõ mối.
Tủi lính xe tăng thủ trưởng ơi !

Nghe lại mấy câu thơ anh Tấn xiết chặt tay anh Vũ nói:

- Có những cán bộ chiến sĩ như thế, ta cùng nhau nghiên cứu báo cáo Quân uỷ Trung ương sử dụng xe tăng trong Đông Xuân tới.

Và ngày đó đã tới, ngày 5 tháng 8 năm 1967, Bộ Tư lệnh Thiết giáp được Cục Tác chiến thông báo: Bộ Tổng tham mưu sẽ sử dụng hai đại đội xe tăng hạng nhẹ PT76 vào miền Nam đánh Mỹ.

Sau này, một số nhà văn nhà thơ quân đội khi nghe 4 câu thơ, thắc mắc tại sao lính xe tăng lúc đó lại ngày ngày vác búa đi gõ mối. Hay là không có việc nên ngày ngày đi bắt mối về nuôi gà?

Hoá ra, khi sơ tán, xe tăng phải để trong hầm nửa chìm, nửa nổi. Trên làm lán lợp lá cọ. Xích xe được kê trên hai hàng đá không cho tiếp xúc với đất. Đây là vùng đất mối. Lúc đầu anh em chủ quan cho là mối làm sao đục được xe tăng, kiểm tra qua loa. Một lần phát hiện ra bọn mối đã "bí mật" đắp thành những đường qua xích lên bánh đỡ nặng chui vào xe tăng làm hỏng khí tài trong xe.
Từ đấy lái xe phải ngày ngày dùng búa gõ gõ, kiểm tra từng mắt xích gặp mồi là diệt.

Sau khi nghe thủng câu chuyện, các nhà văn, nhà thơ lại thích câu “Ngày ngày vác búa đi gõ mối", 1 làm cho bài thơ vừa thực, vừa sâu.
Logged
rongxanh
Thành viên
*
Bài viết: 2085

Mơ về nơi xa lắm.


« Trả lời #13 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2008, 08:15:58 PM »

LẦN ĐẦU TIÊN XE TĂNG XUNG TRẬN

Đại tá Dương Đằng Giang,
Nguyên Tham mưu trưởng Binh chủng
Ngày 5 tháng 8 năm 1967, một tin vui - xe tăng được lệnh vào Nam chiến đấu như một luồng gió mới, xua đi câu:

“Chẳng khác con kiến cành đa,
Xe tăng Hữu Thủ, leo ra, bò vào".

Lệnh xuất quân vào thời cơ chiến lược có tính quyết định của Cách mạng miền Nam, một cuộc tiến công chiến lược mới, táo bạo, bất ngờ trong mùa khô 1967-1968.

Tiểu đoàn tăng 198 Trung đoàn 203 lãnh trách nhiệm đi đầu vào Nam đánh Mỹ nguỵ - Được thành lập đúng vào ngày kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám, gồm 2 đại đội tăng 3 và 9 có 22 xe PT-76 và một số phân đội bảo đảm (công binh, thông tin, sửa chữa) do đồng chí Hà Tiến Tuân, anh em thân mật gọi là "Tuân râu” một cán bộ chỉ huy xe tăng năng nổ, xốc vác làm Tiểu đoàn trưởng và đồng chí Võ Đình Tấn làm chính trị viên.

Bộ đội xe tăng ra trận, ngoài vũ khí trang bị chiến đấu, lòng căm thù giặc và ý chí quyết thắng, trong hành trang của mình, còn có một vốn quí nữa đó là "bản lĩnh".
Qua những năm tháng miệt mài trên bãi tập, qua các cuộc diễn tập thực binh hiệp đồng tác chiến với đơn vị bạn (bộ binh, pháo binh, công binh...). Các cuộc thí nghiệm bằng xe thực trên các loại địa hình (xe tăng PT- 76 tự bơi trên sông, kéo bằng dây...). Các hình thức chiến thuật đánh địch coi trọng đánh đêm, đánh địch phòng ngự trên điểm cao có công sự vững chắc ... ; qua các cuộc hội thảo về cách sử dụng xe tăng, cách đánh của xe tăng ở các cấp …

Thời gian dài (gần 10 năm) đã "thấm" vào cán bộ, chiến sĩ xe tăng như máu thịt của mình. "Nó” hình thành tự nhiên, có bài bản trong trận chiến đầu tiên.

Lần đầu tiên, xe tăng xuất hiện, cần có sự tăng cường về lãnh đạo và chỉ huy. Ngoài cán bộ của Trung đoàn xe tăng 203, anh Nguyễn Văn Lãng - Trung đoàn phó và anh Lê Quang Phước, Phó chính uỷ đi cùng với Tiểu đoàn 198. Đảng uỷ Bộ Tư lệnh Binh chủng (có phân công anh Lê Ngọc Quang - Chính uỷ và tôi - Tham mưu trưởng và một số cán bộ tham mưu - có anh Nguyễn Văn Phước - Trưởng ban tác chiến), chính trị, hậu cần, kỹ thuật đi cùng, Trung đoàn 202 cũng cử cán bộ đi rút kinh nghiệm (anh Hồ Hùng Thái). Các anh đều là cán bộ đã trưởng thành và có nhiều kinh nghiệm trên các mặt công tác trong Binh chủng nên đã giúp thiết thực cho tiểu đoàn trong hành quân và chiến đấu.

Trên thực tế, đoàn cán bộ tăng cường đã thành Bộ Tư lệnh Thiết giáp nhẹ trong quan hệ với Bộ Tư lệnh Mặt trận, các Binh chủng bạn và Đoàn 559. Đoàn còn có trách nhiệm với Bộ Tổng tham mưu theo qui định.

Ngày 14-10-1967, Tiểu đoàn tăng 198 xuất phát từ Châu Lương Sơn (Hoà Bình). Sau 50 ngày đêm hành quân, đơn vị đã đến vị trí tập kết, đủ 100% trang bị vượt chặng đường dài 1000 km, địch đánh phá ác liệt ngày và đêm. Đại đội 3 xe tăng đi 813 km tập kết ở Nậm Khang, Đại đội xe tăng 9 đi 1438 km tập kết ở ngã ba Mường Noọng, nam đường số 9.

Do đường xấu, lòng máng, nhiều đèo, cua gấp, đi ban đêm (hôm có sương mù trưởng xe khoác dù trắng đi trước dẫn xe) nếu xe bị dệ, anh em ta phải kéo, cứu và được sự giúp đỡ tận tình của các đơn vị bạn bảo vệ đường tuyến và thanh niên xung phong nên đã đưa được xe về đội hình hành quân.

Tiểu đoàn cũng được nhân dân, kể cả nhân dân Lào giúp đỡ khi đoàn tăng đi qua. Tất cả những cái đó cũng là một nhân tố quan trọng cho thắng lợi của cuộc hành quân.

Tuy vất vả, nguy hiểm, song với niềm tin, với khí thế ra trận diệt Mỹ cứu nước. Thêm nữa, được sự động viên cổ vũ của đồng đội trên đường tiến quân, cán bộ chiến sĩ xe tăng rất phấn khởi, có chặng nghỉ dài, không gian yên tĩnh, tương đối thôi - trăng thanh, gió mát, đây đó nổi lên tiếng hát, tiếng sáo… như khi xe vượt dốc Ba Thang:

Xe dừng dưới gốc Ba Tha ng
VẲng nghe tiếng sáo lẫn gió ngàn vi vu
Mai đây, xốc tới diệt thù,
Vương trên tháp pháo vi vu sáo ngàn..

Một vấn đề lớn nảy sinh tác động không nhỏ tới nhiệm vụ, chiến đấu vì khí tài tiêu hao khá nhiều. Sau khi tới đích, Đại đội 3 phải thay 84% bánh chịu nặng, 44% mảng xích, Đại đội 9 đã thay 95% bánh chịu nặng và 80% mảng xích. Tôi phải điện khẩn về Bộ Tổng tham mưu và đồng điện Bộ Tư lệnh 559 đề nghị lệnh chuyển khí tài. Sau đó binh trạm 559 chuyển vào được một xe, tạm ổn để chuẩn bị bước vào chiến dịch.
Đầu tháng 12-1967, ba cán bộ chúng tôi: Giang, Phước, Tuân xuống phía Nam đường 9 trinh sát thực địa, trọng tâm là tìm hiểu sông Sê Pôn và khả năng có thể tận dụng dòng sông. Lúc này, anh Lãng còn ốm, anh than: "ôi ? Đường giao liên sốt liên miên".

Việc anh Nguyễn Hoà - Tham mưu phó Sư đoàn 304 kiêm trung đoàn trưởng Trung đoàn bộ binh khi trao đổi cho biết: Có bến làng Troài, xe ô tô địch xuống lấy sỏi, cát... Thật là tin rất quí giúp cho đoàn cán bộ xe tăng củng cố quyết tâm sử dụng Đại đội xe tăng 9 đánh đòn hiểm bất ngờ từ phía Nam - Vì trước đó, do địa hình phía Nam phức tạp, có lúc đồng chí đại diện mặt trận nêu phương án điều Đại đội tăng 9 lên phía Bắc, cùng Đại đội tăng 3 đánh từ phía Tây trên đường 9. Công tác chuẩn bị thật khẩn trương, tất bật và... bí mật tuyệt đối.

Địch đã biết phía Tây ta đánh bằng xe tăng để tiêu diệt Huội San, nên chúng đề phòng kỹ, pháo Tà Cơn và máy bay địch khống chế, đánh ác liệt, Đại đội tăng 3 gặp nhiều khó khăn khi trinh sát địa hình.

Thời gian trôi nhanh, dấu hiệu báo xuân về không chỉ trên triền núi xa xa mà ngay cả trong "nhà' các chiến sĩ xe - đào hầm đắp ụ đất che hết bánh chịu nặng, dưới bụng tăng là hầm cho người. Khi đồng chí Chính uỷ và tôi thăm anh em từng "nhà" thấy:

Mai trắng nở nụ cười trên tháp pháo.

Trận chiến gần kề vẫn náo nức đón xuân.

Tính lạc quan cách mạng của chiến sĩ ta thật quí Chiến dịch tiến công đường 9 - Khe Sanh (Xuân Hè 1968) có xe tăng tham gia là chiến dịch tác chiến hiệp đồng binh chủng qui mô lớn đầu tiên của bộ đội chủ lực trên chiến trường miền Nam do Bộ Tổng tham mưu trực tiếp tổ chức và chỉ huy.

Theo mệnh lệnh tác chiến của Bộ, chiến dịch đường 9 - Khe Sanh nổ súng trước (đêm 20- 1 - 1968) thực hiện đoàn nghi binh đường 9, tạo thuận lợi cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy toàn miền (đêm 30-1- 1968 - Tết Mậu Thân).

Trong đợt một chiến dịch (/20-1-1968 đến 7-2- 1968) xe tăng tham gia đánh 2 trận.
Trận thứ nhất: đêm 23 - 1 - 1968, Đại đội xe tăng 3 hiệp đồng cùng bộ binh đánh thẳng vào Tà Mây - cứ điểm trung tâm của cụm cứ điểm Huội San (gồm 12 cứ điểm nhỏ) do một tiểu đoàn nguỵ Lào chốt giữ án ngữ ở biên giới Việt - Lào (trên đường 9), chỉ trong thời gian ngắn cụm cứ điểm Huội San đã bị ta chiếm giữ. Do ta bao vây chưa kín nên một số tên chạy thoát về Làng Vây cũ.

Trận mở đầu xe tăng xung trận đã giành tháng lợi. Tuy nhiên để đi đến thắng lợi đâu có suôn sẻ. Sáng 23- 1- 1968, Đại đội tăng 3 cùng Đại đội bộ binh 7 đơn vị tiến công trên hướng chủ yếu hiệp đồng tác chiến trên bàn cát, có đồng chí Phó phòng tác chiến của Mặt trận và đại diện Bộ Tư lệnh Thiết giáp tham dự (đồng chí Chính uỷ và các anh Tuân, Phước ...). Cuộc hiệp đồng vừa kết thúc thì triệu chứng máy bay địch sẽ bắn phá xuất hiện, tôi nói với anh Phước: "Nó sắp đánh, tôi và anh Quang đi đây, các anh cũng tản ra ngay”, chúng tôi vừa rời khỏi, thì máy bay địch bắn và thả bom. Một số đồng chí bị hy sinh trong đó có đồng chí Phó phòng tác chiến Mặt trận, bên tăng có mấy đồng chí bị sức ép của bom. Khi tôi về đến Mặt trận có tin báo lên là: "Đồng chí Tham mưu trưởng xe tăng đã hy sinh!"

Khi xe tăng xuất kích, xe lần lượt bị sa lầy (ta và anh em công binh chưa có kinh nghiệm). Cứu kéo mất nhiều thời gian, trời đã sáng tình huống thật gay cấn, anh Tuân dùng điện thoại báo về đài của đồng chí phái viên đốc chiến. Chúng tôi trao đổi nhanh, nhất trí sáng cũng đánh, xe nào vượt được trước thì xông lên ngay, kéo anh em công binh cùng lên đánh, xe 555 (anh Lê Xuân Tấu, trung đội phó) và xe 558 (anh Nguyễn Văn Lạc, trung đội phó) vượt lên được đại đội trưởng Phan Văn Hai nhảy lên 555 để chỉ huy, gần một trung đội công binh lên xe tăng. Hai xe chi viện cho nhau đánh thẳng vào cứ điểm. Máy bay địch bắn phá ác liệt, đồng chí Bùi Ngọc Dương Trung đội phó công binh dùng súng 12,7 mm trên xe tăng bắn trả và đã anh dũng hy sinh, nêu một tấm gương sáng về đoàn kết hiệp đồng chiến đấu.

Trận thứ hai: Đêm 6-2-1968, Tiểu đoàn tăng 198 gồm Đại đội tăng 3 và Đại đội tăng 9 được sử dụng tập trung (có 16 xe PT-76) cùng bộ binh được chi viện trực tiếp của pháo 122 mm nòng dài đã tiêu diệt gọn cứ điểm Làng Vây. Xe tăng tiến công trên hai hướng Tây và Nam và như nhiều người đã biết: hướng Nam - hướng tiến công chủ yếu, xe tăng đã thực hiện đòn đánh hiểm, bí mật và hoàn toàn bất ngờ với địch, tạo thế đánh nhanh cùng hướng Tây diệt gọn quân địch.

Trận Làng Vây - trận thành công duy nhất trong chiến dịch đường 9 - Khe Sanh tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn địch phòng ngự có công sự vững chắc trên điểm cao được máy bay và pháo binh Mỹ từ Tà Cơn trực tiếp chi viện.

Hai trận Tà Mây và Làng Vây nổi lên là trận Làng Vây - trận đầu đánh thắng của bộ đội xe tăng trong tác chiến hiệp đồng binh chủng, đánh vào tuyến phòng thủ rắn nhất của Mỹ nguỵ, đã mang lại nhiều ý nghĩa quan trọng, có tính lịch sử.

- Đã giải toả tư tưởng và nỗi băn khoăn về vị trí và sử dụng xe tăng trên chiến trường Việt Nam, mở ra một trang sử mới: "Đã ra quân là đánh thắng" của Binh chủng Tăng - Thiết giáp.

Khẳng định "sức mạnh đột kích" quan trọng của xe tăng sau này, ở thời điểm nhất định của trận đánh, xe tăng đã là sức đột kích chủ yếu, hơn nửa, còn là mũi nhọn thọc sâu chiến dịch trong các chiến dịch quyết chiến chiến lược giành thắng lợi cho chiến tranh (mùa xuân 1975).

- Về tác chiến hợp đồng binh chủng, bước đầu đã thành công tốt đẹp. Đó là phương thức tác chiến chủ yếu của quân đội chính qui và hiện đại. Từ thành công ban đầu, qua các chiến dịch quan trọng, chiến dịch quyết chiến chiến lược quân đội ta đã nâng trình độ hiệp đồng binh chủng qui mô ngày càng lớn cỡ quân đoàn và nhiều quân đoàn. Đặc biệt hiệp đồng giữa bộ binh, xe tăng, pháo binh và công binh. Ngay từ những trận đầu, hiệp đồng xe tăng và công binh gần như khăng khít máu xương đã cùng cán bộ tăng 4 lần trinh sát trên sông Sê Pôn, chuẩn bị đường sông cho xe tăng xuất kích. Khi xe tăng xuất kích, trời rét, các chiến sĩ công binh đã đứng ngâm mình dưới nước, khoác dù trắng trên người đứng 2 bên làm lộ tiêu cho xe tăng bơi tiến. Mặt trận sơ kết đợt 1 chiến dịch, anh Quang và tôi lên dự, thấy tôi, một đồng chí trong Bộ Tư lệnh hỏi vui "Các cậu xe tăng đã mang xôi gà "biếu” cậu Xương - Trung đoàn trưởng trung đoàn công binh chưa ?". Tôi và anh Xương cùng cười, nắm chặt tay nhau. Tôi nhớ có một cán bộ xe tăng có thơ:

Đôi ta như bóng với hình
Ngầm sâu, vách đứng bên mình có ta
Chiến trường lửa đạn xông pha
Bom mìn cản lối, có ta bên mình
Thuỷ chung giữ trọn nghĩa tình
Xe tăng cùng với công binh hiệp đồng
Chiến thắng trên đã đi vào lịch sử một cây mốc vàng.

Tháng 11 năm 1997, để chuẩn bị kỷ niệm 30 năm chiến thắng trận Tà Mây - Làng Vây, Binh chủng Tăng - Thiết giáp đã tổ chức một đoàn cán bộ của Binh chủng thăm lại chiến trường xưa và mùa xuân năm 1999 tổ chức hội thảo rút kinh nghiệm và kỷ niệm truyền thống trận đầu "Đã ra quân là đánh thắng" của Binh chủng.
Logged
rongxanh
Thành viên
*
Bài viết: 2085

Mơ về nơi xa lắm.


« Trả lời #14 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2008, 08:09:24 PM »

ẤN TƯỢNG KHÓ QUÊN

Đại tá Hà Tiến Tuân,
nguyên Chủ nhiệm khoa Tăng - Thiết giáp
Học viện Chính trị - Quân sự

Năm 1967, Bộ Tư lệnh Binh chủng Tăng - Thiết giáp chuẩn bị các mặt để đưa Tiểu đoàn xe tăng 198 đi chiến đấu. Tiểu đoàn có 2 đại đội trang bị xe tăng hạng nhẹ PT-76. Đây là đơn vị xe tăng đầu tiên đi chiến đấu, do đó ngoài cán bộ ở các cơ quan Binh chủng ra, Bộ Tư lệnh còn thành lập một ban chỉ huy đoàn 198, anh Nguyễn Văn Lãng, trung đoàn phó, Trung đoàn xe tăng 203 làm chỉ huy trưởng, anh Nguyễn Phước, trưởng ban tác chiến Binh chủng và tôi làm chỉ huy phó. Anh Tấn, chính trị viên Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 203 làm chính trị viên.

Trong cuộc đời chiến đấu của tôi, có hai lần tham gia hành quân đường dài để tới chiến trường. Lần thứ nhất, đó là thời gian kháng chiến chống Pháp, tôi hành quân từ Thái Nguyên, Việt Bắc đến Cà Mau ở miền Nam mất gần 7 tháng trời, phần lớn là đi bộ. Thời gian chiến đấu chống Mỹ, lại hành quân từ Xuân Mai đến Bò Lạch, gần tỉnh Quảng Nam. Mỗi lần đi đều có những kỷ niệm, những ấn tượng sâu sắc nhất là cuộc hành quân của Tiểu đoàn xe tăng 198 (DTI98) vừa gian khổ, vừa ác liệt...

Hành quân xe tăng đường dài, là một vấn đề lưới, nhất là trong hoàn cảnh máy bay Mỹ đang đánh phá ở miền Bắc rất ác liệt, vì thế Ban chỉ huy chúng tôi phân công anh Nguyễn Phước trực tiếp đi với đại đội xe tăng 3 (CT3) tôi đi với Đại đội xe tăng 9 (CT9).

Vào tới chiến trường, khi có kế hoạch đánh cứ điểm Tà Mây, anh Phước và anh Tấn được phân công trực tiếp chỉ huy CT3. Lúc này CT9 từ vị trí giấu quân ở Bắc Sông Bao, hành quân ra tập kết ở Mường Noọng, chuẩn bị sẵn sàng cùng CT3 đánh cứ điểm Làng Vây. Tôi nhận điện khẩn của CT9 xin khí tài thay thế, vì sau đợt hành quân xa, ở bộ phận hành động của xe tăng hư hỏng nhiều, còn khí tài mang theo đã sử dụng hết. Anh Dương Đằng Giang tham mưu trưởng Binh chủng giao cho tôi nhiệm vụ về Đoàn 559 giải quyết. Trên đường đi tôi rất lo, không biết khí tài đã được vận chuyển vào chưa? Nếu vào rồi thì nằm ở đâu ? Ngày hôm sau, vừa hỏi thăm các kho trạm vừa lùng sục tìm kiếm, tôi mừng quá thấy nhiều xích và bánh đỡ nặng của xe tăng nằm lù lù một đống to tướng trong bãi hàng rộng mênh mông trong rừng. Tôi thầm nghĩ: Binh chủng thật tuyệt vời, chi viện cho phía trước rất kịp thời. Đã hết đâu, có khí tài rồi còn phải vận chuyển nữa chứ, hàng vài chục tấn chứ ít đâu ... mà một chiếc xe tăng PT-76. Mỗi xe có 2 giải xích, một giải xích có 96 miếng xích, như vậy là một xe tăng cần 192 mảnh xích..

Một người vác một mảnh xích đã nặng rồi. Tôi đến gặp đồng chí chỉ huy phó binh trạm để xin xe, cũng tưởng xin một chuyến xe chở khí tài, thì có gì khó khăn đâu, ai ngờ đồng chí chỉ huy phó thẳng thừng từ chối, đồng chí nêu lý do là không có kế hoạch vận chuyển. Tôi cố nằn nì trình bày, không những không được mà còn bị đồng chí ấy phê phán là làm ăn "vô kế hoạch" và "không biết lo liệu”... Tôi nóng ruột quá, vì nếu không có khí tài thay thế thì xe tăng không thể chạy được, chứ không nói gì đến chiến đấu, vì thế quyết định tìm gặp hẳn Bộ Tư lệnh 559 để cầu cứu. May sao binh trạm đã nghĩ lại các đồng chí cho mời tôi vào và tuyên bố: giải quyết cho một xe tải để vận chuyển. Tôi thật lòng cảm ơn các đồng chí đã điều chỉnh kế hoạch của mình giúp lính xe tăng chúng tôi. Thật công bằng mà nói, việc giải quyết cho một xe là nhỏ, nhưng vào hoàn cảnh chúng tôi, lúc đó ý nghĩa lại rất lớn, chính có nó chúng tôi mới khôi phục kịp thời tình trạng kỹ thuật xe pháo để tham gia chiến đấu. Còn đối với người lính xe tăng chúng tôi có một bài học quí: nếu đảm bảo kỹ thuật thiếu sót, có khi dẫn đến không hoàn thành nhiệm vụ ...

Trở lại sở chỉ huy (SCH) mặt trận, tôi chuẩn bị sang trực tiếp đi chuẩn bị chiến đấu với CT9. Chiều hôm đánh cứ điểm Tà Mây, anh Phước và anh Tấn ra đường số 9 bắt liên lạc với SCH Trung đoàn bộ binh 24 (EBB 24) thuộc Sư đoàn 304 (F304) thì bị máy bay địch oanh tạc, các anh bị thương phải khiêng về tuyến sau. Anh Lê Ngọc Quang, Chính uỷ Binh chủng và anh Giang thay mặt Bộ Tư lệnh Binh chủng quyết định tôi thay anh Phước chỉ huy và chỉ định anh Tuấn, cán bộ phòng chính trị binh chửng thay anh Tấn làm chính trị viên, chúng tôi thành đại diện xe tăng bên cạnh SCH Trung đoàn bộ binh 24. Anh Nguyễn Văn Phùng, tiểu đoàn phó DT198 đi cùng CT3. Trận Tà Mây lúc đầu không suôn xẻ, cả đại đội bị xa lầy khi vượt qua ngầm, mất rất nhiều thời gian mới đưa được 2 xe tăng vượt lên, nhưng tiến vào cứ điểm thì một xe đã bị đứt xích, đành dừng lại trước cứ điểm dùng pháo của xe tăng bắn chi viện cho xe tăng số 555 xung phong, dẫn đầu bộ binh đánh vào cứ điểm. Trong quá trình bộ binh, công binh đã vây ép, gây cho địch nhiều thiệt hại và hoang mang, nên khi thấy xe tăng của ta xuất hiện tạo thêm cơn hoảng loạn đột biến, nên chúng bỏ căn cứ tháo chạy vào rừng.

Sau trận đánh, tôi về SCH mặt trận báo cáo với Đại tá Lê Ngọc Hiền, Tham mưu trưởng Mặt trận, anh Hiền nói: Trận đánh đã kết thúc tuy không suôn sẻ lắm, nhưng không đến nỗi để xảy ra một "Đồng Hến" thứ 2, sau này sẽ kiểm điểm kỹ, còn bây giờ hãy tập trung cho trận cứ điểm Làng Vây.

Vào năm 2000, tôi có dịp gặp lại anh Hiền, nay đã là Thượng tướng và cũng đã nghỉ hưu. Gặp tôi anh nói:

- Trông cậu quen không nhớ đã gặp ở đâu.

Tôi nói: Xe tăng Làng Vây đấy anh ạ

- Ối giời ơi, vẫn còn sống cơ à? Mình vẫn chưa quên nỗi ám ảnh về trận Tà Mây hồi đó.

Tôi miên man nghĩ, trận Tà Mây không chỉ dừng lại ở ý nghĩa dọn đường vào đánh cứ điểm Làng Vây nó còn có ý nghĩa khác: giải toả tâm lý về sử dụng xe tăng trong chiến đấu không chỉ ở cấp chỉ huy chiến thuật mà cho cả cấp chỉ huy chiến dịch nữa. Trong quá trình chiến đấu tôi đánh giá cao hành động xông xáo, chủ động của anh Nguyễn Văn Phùng, anh Phan Văn Hai đại đội trưởng CT3. Các anh mỗi người lên 1 xe tăng để trực tiếp cùng anh em chiến đấu. Khi BCH Trung đoàn bộ binh 24 di chuyển lên phía trước, tôi và anh Tuấn chạy theo dọc đường số 9, máy bay địch bắn phá dữ dội, anh Tuấn bị thương ở tay, chiến sĩ liên lạc vác máy bộ đàm tụt lại phía sau, tôi mất liên lạc với đơn vị xe tăng. Tôi phải nhờ điện thoại của bộ binh mới bắt được liên lạc với anh Phùng, còn anh Tuấn tôi đề nghị anh lùi về phía sau vì bị thương, anh không chịu, vẫn sát cánh cùng tôi cho đến khi trận tấn công Làng Vây kết thúc.

Có một vấn đề tôi suy nghĩ rất nhiều: đó là qua hai trận đánh đầu tiên của bộ đội xe tăng, thì phần lớn xe tăng bị sa lầy, không phát huy được hết sức mạnh ta có. Hiện tượng này làm tôi nhớ lại thời gian học tập về kỹ thuật lái xe tăng. Năm 1965 chúng tôi được tiếp tục sang Trung Quốc học tập, trong một buổi tập lái xe tăng hành quân dã ngoại, khi đến một đoạn đường phải vượt dốc, mấy xe đi đầu vượt dốc thuận lợi nhưng đến lượt anh Tứ, xe bị tụt xuống hố, mấy lần không lên được. Các giáo viên Trung Quốc cho ngừng tập rút kinh nghiệm và yêu cầu chúng tôi mở sách ra đọc lời của Mao Chủ tịch, đại ý: khi gặp khó khăn, không sợ khó khăn, trong khó khăn phải thấy thuận lợi để vượt khó khăn... Còn chúng tôi chú ý đi sâu xem về kỹ thuật và đã phát hiện ra nguyên nhân, do hướng của dốc không thẳng với hướng con đường, hơi chếch sang trái. Khi lái xe vượt dốc, tới mức độ nào đó, phải kéo cần lái cho xe chuyển hướng sang phải để xe không va vào vách ta-luy. Anh Tứ sợ xe va vào vách nên chuyển hướng hơi sớm, lực lên dốc bị giảm nên xe bị tụt. Khi đã hiểu nguyên nhân về kỹ thuật lái xe anh Tứ đã lái xe vượt dốc an toàn. Khi tổng kết khoa mục giáo viên biểu dương gương học tập tốt, đã lái xe vượt dốc thành công sau nhiều lần không đạt. Thực ra, ngoài yếu tố tư tưởng chúng tôi đã biết giải quyết khâu mấu chốt đó là yếu lĩnh kỹ thuật.

Với những trục trặc xe tăng bị sa lầy nhiều trong hai trận Tà Mây và Làng Vây, cho tôi những bài học về huấn luyện kỹ thuật cho đội ngũ chiến sĩ lái xe tăng, ngoài ra ở một binh chủng kỹ thuật, dù là cán bộ chính trị hay chỉ huy đều phải học tập, am hiểu về kỹ thuật thì mới có thể làm tốt chức trách được.

Sau khi hoàn thành công tác chuẩn bị, tôi và anh Tuấn đến SCH Trung đoàn bộ binh 24 cùng đồng chí Mộc mang máy bộ đàm. Như tôi đã nói ở trên, khi đồng chí ấy mất liên lạc, chúng tôi rất lo, không biết đồng chí có bị thương không ? Nếu mất phương tiện thông tin, sẽ không biết xoay sở ra sao, vì muốn chỉ huy được xe tăng phải sử dụng vô tuyến điện. Khi gặp lại đồng chí Mộc, thấy đồng chí còn lành lặn, máy bộ đàm còn, chúng tôi yên tâm. Nhìn nét mặt mệt nhọc của đồng chí chiến sĩ thông tin, tôi chỉ nhẹ nhàng nhắc cần rút kinh nghiệm, dù sao đây cũng là lần đầu đồng chí ấy ra trận.

Tối hôm đó (4-2-1968), chúng tôi tiếp xúc với anh Dũng Chi phó Tham mưu trưởng Sư đoàn bộ binh 304 với tư cách là phái viên của sư đoàn, đế li Trung đoàn Bộ binh 24 làm nhiệm vụ đốc chiến. Chiều hôm sau ngày 5-2-1968 khoảng 16 giờ anh Dũng Chi đến gặp tôi nói:

- Ông Tuân này, theo kế hoạch thì 16 giờ pháo ta đã bắn vào cứ điểm, tôi theo dõi chưa thấy động tĩnh gì.

Tôi hỏi: Bắn phá hoại phải không anh ? Còn tôi cũng không nghe thấy gì cả.
 
- Thôi đành đợi thêm ít phút nữa, còn bên các anh cũng phải chú ý lắng nghe nhé.

Đến 17 giờ 30 phút, Anh Dũng Chi lại gặp chúng tôi, vẻ lo lắng, bồn chồn nói: Cũng chưa thấy pháo bắn, có lẽ hoãn đánh chăng ? Mà nếu hoãn thì phải thông báo chứ ? Ý anh Tuân thế nào ?

Tôi thấy đây là một tình huống rất phức tạp. Phán đoán tình hình phải thật chính xác, còn chúng. tôi mới có một dữ kiện là quá giờ qui định mà chưa thấy pháo ta bắn theo kế hoạch, nên tôi trả lời:

- Có lẽ anh nên trao đổi với Thường vụ Đảng uỷ Trung đoàn để cân nhắc cho kỹ xem.

Ngồi suy nghĩ một lát anh Dũng Chi nói:

- Chắc chắn là hoãn rồi, tôi sẽ trao đổi với Thường vụ Đảng uỷ để ra quyết định cuối cùng.

Tôi nói tiếp: Đề nghị các anh quyết định nhanh, kẻo xe tăng xuất kích, tôi không thể ngăn kịp.

Khoảng 15 phút sau, anh Dũng Chi thông báo quyết định hoãn trận đánh của Thường vụ Đảng uỷ Trung đoan. Anh Tuấn rất lo vì lúc đó 18 giờ rồi, sợ không ngăn kịp thời, CT3 có thể xuất kích. Tôi liên lạc với tổ thông tin của bộ binh đang ở sát đường số 9, nhờ anh em quan sát, nếu thấy xe tăng đến phải báo anh em quay về vị trí chờ lệnh. Các đồng chí thông tin hỏi lại: Nếu họ không nghe cứ đi thì sao ? Tôi trả lời, cứ nói đây là lệnh của đồng chí Tuân, nếu còn nghi ngờ thì nhờ máy điện thoại hỏi về Sở chỉ huy. Đồng thời tôi cho chiến sĩ thông tin bộ đàm đi cùng chúng tôi, cầm giấy tôi báo hoãn cho anh Phùng người trực tiếp chỉ huy đại đội 3.

Thật may, lệnh hoãn đến kịp. Đêm đó chúng tôi đều thao thức khó ngủ, nằm suy nghĩ, đặt giả thuyết nếu không phải là hoãn đánh thì tình thế sẽ ra sao. Còn vẫn đánh thì CT9 và bộ binh chiến đấu ở hướng Nam sẽ gặp khó khăn ra sao. Quả thật những giờ phút ấy, tôi càng thấy thêm trách nhiệm của những người chỉ huy và lãnh đạo phải gánh vác trong chiến đấu thật là nặng nề.

Đến nửa đêm vẫn thấy yên tĩnh, chúng tôi mới thật yên tâm. Mãi đến tận trưa ngày hôm sau, anh Dũng Chi vui vẻ nói: Điện của sư đoàn báo hoãn vừa mới tới Trung đoàn. Đến bây giờ, ấn tượng mạnh mẽ về tinh thần dám chịu trách nhiệm, tính quyết đoán là một phẩm chất 'không thể thiếu được của người chỉ huy.

Đêm ngày 6 tháng 2 năm 1968, trận tấn công cứ điểm Làng Vây bắt đầu. Trên hướng CT3, mạng thông tin thông suốt, qua mạng chỉ huy trên xe tăng của Đại đội trưởng Nguyễn Văn Hai, đài của chúng tôi nắm được tình hình từng chiếc xe tăng. Đại đội trưởng Hai được đào tạo kỹ về xe tăng ở Liên Xô, anh chỉ huy đơn vị chắc và bình tĩnh xử trí các tình huống. Trận đánh diễn ra thuận lợi khi hai Đại đội 3 và 9 đã gặp nhau ở trung tâm cứ điểm Làng Vây thì có lệnh cho xe tăng phát triển vào Làng Vây làng, để diệt tàn quân rút về đó. Tôi lệnh cho anh Dậu chính trị viên CT3 dẫn một trung đội tiến vào Làng Vây làng, nhưng sau đó có lệnh của trên hoãn.

Lúc này anh Phùng ngồi trên xe tăng ở Cầu Bi, đã sử dụng vô tuyến gọi tới tôi: "Phùng gọi Tuân, anh cho tôi đưa xe tăng vào một tý". Tôi bàn với anh Tuấn rồi trả lời: "Tuấn gọi Phùng, hãy đợi, ở trong còn sức". Thực ra ngoài hai trung đội xe tăng (có 8 xe tăng) đánh vào cứ điểm, chúng tôi vẫn còn lực lượng dự bị, còn anh Phùng luôn đi trong đội hình CT3, nên chúng tôi dự kiến nếu anh Hai - đại đội trưởng có "làm sao" thì đã có anh Phùng thay thế.

Gần đây nhân dịp anh Phùng về thăm con ở Hà Nội, anh có ghé thăm tôi, nhắc lại chuyện vi phạm bí mật thông tin năm xưa, "Phùng gọi Tuân" và "Tuân gọi Phùng" tôi nói đùa: Đi đánh giặc, xin xung phong vào đồn địch mà ông cứ làm như xin vào buồng vợ một tý.

Anh Phùng hà hà cười.

Sau trận đánh, tôi về SCH báo cáo, Tham mưu trưởng mặt trận Lê Ngọc Hiền ra lệnh cho tôi đưa một trung đội của CT3 bổ xung cho CT9 và đưa CT9 vào Huế. Đường chưa làm xong nên CT9 dừng lại ở A Lưới, từ đó tôi ở lại chiến trường với Đại đội xe tăng 9 cho tới khi anh Đào Văn Xuân Phó chính ủy Bộ Tư lệnh Binh chủng vào, và anh Viễn thay tôi, tôi trở về Binh chủng.

Logged
rongxanh
Thành viên
*
Bài viết: 2085

Mơ về nơi xa lắm.


« Trả lời #15 vào lúc: 18 Tháng Chín, 2008, 08:29:41 PM »

CHIỀU HẢI CẢNG
Nguyễn Thế Tường,
nguyên chiên sĩ lái xe tăng Lữ đoàn 202

Câu chuyện này tôi phải lấy cái tên trùng lặp với tiêu đề một ca khúc nổi tiếng của Xê Đôi vì không thể nghĩ ra cái tên nào khác hợp lý hơn. Những buổi chiều ấy đã xa lắm rồi. Những buổi chiều trên bờ biển bên một hải cảng lớn của miền Trung trong chiến tranh.

Cửa Việt mùa xuân năm 1973.

Hội nghị "Hoà đàm" Pari đã "họp" được ... Năm năm (từ năm 1968) và đã có bốn bên có thể ký kết một hiệp định ngừng bắn ở miền Nam Việt Nam. Ở chiến trường, cuộc chiến không nhờ thế mà nguôi bớt. Những cuộc giao tranh vẫn quyết liệt, đẫm máu. Quân bên nào thắng thì phái đoàn bên đó dễ cao giọng hơn, các điều khoản soạn thảo có lợi hơn. Đơn vị xe tăng của chúng tôi đóng chốt trên vùng đất cát rộng hoang hoá phía Nam cảng Cửa Việt. Chúng tôi gồm một đại đội thiếu, chín chiếc, vừa xe tăng vừa thiết giáp. Trong chiếc xe tăng T54 của tôi có năm người. Tôi là hạ sĩ - lái xe. Anh Khoán - thiếu uý, xe trưởng. Toàn - hạ sĩ, pháo thủ. Khanh - binh nhất, pháo hai (pháo thủ nạp đạn) kiêm điện đài lúc bê tê (bình thường). Còn thành viên thứ năm đảm trách khẩu 12 ly 7 là một thanh niên dân tộc Tày quê ở Cao Bằng tên là Pẩu. Trong xe chỉ mình anh Khoán được đào tạo qua trường sĩ quan. Tôi đã tốt nghiệp cấp ba. Toàn là sinh viên nhập ngũ. Còn hai cậu kia mới học hết lớp 7.

Chúng tôi đóng quân lại khá lâu ở Nam Cửa Việt Chiến dịch Quảng Trị qua mùa hè đã được mấy tháng. Thành Cổ trở thành "cối xay thịt" và đã lại rơi vào tay địch từ tháng 10-1972. "Doanh trại” chúng tôi được bố trí ngay dưới gầm xe. Giữa hai băng xích, chúng tôi đào sâu xuống, đủ độ để có thể ngồi được. Công việc hàng ngày là ... đánh bài "tiến lên", luộc cơm gạo sấy, ăn với ruốc bông, đếm tiếng pháo từ Hạm đội Bảy bắn vào nổ đâu đó quanh các trận địa.
Và, chờ một cái gì đó như một cuộc chạm trán nảy lửa nay mai để giành giật cái cảng biển chiến lược này. Tuổi hai mươi, được ăn no, nằm ườn xác sinh lực dồn ứ trong huyết quản, ngọ nguậy dưới cơ bắp. Những lúc chiều xuống, Pẩu thường hát ư ứ mấy câu hát nặng chất dân ca của dân tộc anh: "Noọng ơi ! Non ngàn nở hoa ... Noọng về cùng ta ... ta tắm chung dòng suối...". Còn Khanh thì im lặng nhìn ra biển. Quê anh ở đồng bằng tỉnh Thanh Hoá, mất mùa luôn, đói. Chúng tôi thường trêu anh : "Thanh Hoá đào rau má, phá đường tàu ?". Anh không cãi lại nhưng đôi mắt rưng rưng. Anh Khoán đã có vợ. Vợ anh mới sinh cháu được ba tháng. Quê anh ở bên bờ sông Thao, tỉnh Phú Thọ, nơi có đền thờ và mộ Tổ Hùng Vương. Khoán rất nóng lòng tham dự trận đánh mà anh linh cảm là trận cuối cùng của cuộc chiến, để sau đó xin về phép thăm con. Toàn thì khỏi nói, vô thiên lủng chuyện từ hồi còn ở trường đại học có thể mang ra kể. Từ chuyện học ngoại ngữ khó khăn thế nào, đến chuyện suất cơm sinh viên khốn nạn và những mối tình lâm ly bản lề trong các ký túc xá đều được Toàn thêm mắm thêm muối cho mỗi ngày một dài ra. Một ngày anh Khoán nói:

- Này, nghe mãi chuyện tầm phào cũng chán, hay cậu Toàn dạy tiếng Nga cho chúng tôi đi. Biết đâu sau chiến tranh có ai đó được đi học ở Liên Xô.

- Ôi - Toàn phản bác - Chiến tranh biết sống chết thế nào mà học cho mệt...

Nói thì nói vậy nhưng rồi có thể vì không kiếm được việc gì hay hơn nên Toàn cũng bỏ công dạy tiếng Nga cho chúng tôi. Ý định ban đầu của anh rất cụ thể: dạy cho chúng tôi biết mặt chữ của tất cả các bộ phận binh khí trong xe. Nào là: Kính Tê sa, nút khởi động, bàn đạp ly hợp, bảng cầu chì.... Nhưng muốn vậy thì phải học từ đầu, bắt đầu bằng bảng chữ cái với cả ngữ pháp sáu cách rất nhiêu khê. Toàn nản mà chúng tôi cũng chán, đành bỏ cuộc. Đằng nào thì cũng ngắm vào kính Tê sa, nạp đạn, giật cò. Đằng nào chả ấn nút khởi động, cài số, nhả ly hợp, tăng ga cho xe chạy. Không có tiếng Nga chúng tôi cũng đã tham gia một chiến dịch lớn với dăm trận đánh, hiệu số bàn thắng bàn thua cũng kha khá. Nhưng người không bỏ cuộc lại chính là Toàn. Sau một tuần ngồi ngáp vặt, anh nảy ra sáng kiến là thôi không học chữ nửa, chỉ học nói thôi. Nghĩa là chỉ thuộc một số tiếng cơ bản để đối thoại đề phòng mai ngày được sang Nga thăm đất nước của Puskin, của Sô-lô-khốp. Rồi để cho chúng tôi dễ nhớ, anh đã soạn ra một bài thơ lục bát, ghép những từ tiếng Nga với tiếng Việt để chúng tôi học thuộc. Anh tuyên bố:

- Bấy nhiêu đây là có thể được cấp bằng "Sơ học yếu lược" Nga văn, đủ sức "tán đổ” một cô gái thành Pê-téc-bua chánh hiệu nai vàng.

Rồi anh giở số tay ngân nga:

I a - Tôi, cũng – Tố re

Út tờ rơm - buổi sớm, mùa hè - Lét tơ

Tình cảm - chút xít tờ vờ

Xờ chi khi - những câu thơ trữ tình

Xờ vôi là cái của mình...

Đại khái như thế. Cộng cả âm tiếng Nga lẫn âm Việt mỗi câu đều đủ sáu hoặc tám âm tiết, lại đúng, vẫn dễ thuộc. Có khi để phù hợp với lượng âm tiết cách viết ngắn câu cũng phải biến tấu. Ví như:

Gu li át - Buổi dạo chơi nhẹ nhàng

Um vưi - Mộng tưởng mơ màng...

Chúng tôi, kể cả anh Khoán trưởng xe, đều đọc say sưa như những cậu học sinh lớp một. Và, các bạn thử hình dung, với những câu thơ lục bát trên đây học thuộc thì rất dễ mà sáng tác thêm thì rất khó. Nên chi, đã xảy ra tình trạng "Thầy Toàn" hết chữ để dạy. Chúng tôi lại lâm vào tình trạng ủ dột, thừa thãi thời gian, quay sang đánh bài quẹt nhọ nồi và tán láo.

Nhưng vận may lại một lần nữa mỉm cười với chúng tôi: Nhân địp gì đó, ban chính trị của tiểu đoàn đã chia phần cho đại đội tôi một cây đàn ghi-ta. Anh Khoán nhận đàn về, nói "Ai chơi được thì phừng phừng cho vui". Nhìn thấy cây ghi-ta, mắt Toàn sáng rực. Không phải là "phừng phừng" cho vui thôi mà cây đàn trong tay anh đã thực sự là một vũ khí một thứ thần dược. Anh đã đệm đàn cho chúng tôi đồng ca đủ các ca khúc, từ "Giải phóng miền Nam" "Năm anh em trên một chiếc xe tăng" cho đến những bài hát thiếu nhi tếu táo được xuyên tạc lời:

Em bé ti ti

Em đi vườn trẻ

Em ị cả quần ...

Cuối cùng Toàn tuyên bố sẽ tập cho cả hội hát kỳ thuộc một ca khúc nổi tiếng của Nga. Bài hát :. "Chiều hải cảng" của nhạc sĩ Xê Đôi, Và, điều này mới thật quan trọng: sẽ hát cả tiếng Việt lẫn tiếng Nga.

Ôi ! Kể từ hôm đó, trên bãi cát Nam Cửa Việt hầu như không còn chiến tranh cùng với cái chết rình rập. Không còn pháo hạm rít qua đầu. Không còn những loạt bom B52 nổ dài đến hụt hơi phía đường số 9. Cứ chiều xuống, chúng tôi lại ra ngồi. trước mũi xe nhìn ra hải cảng Cửa Việt đang tím sẫm ánh tà dương. Nhìn những ngón tay Toàn lại lướt trên phím đàn và chúng tôi cùng trầm giọng:

Chiều xuống, chiều dần buông.

Lặng lẽ trời mờ sương.

Đêm về sóng lênh đênh trôi rì rào...

Đến điệp khúc, tất cả chúng tôi đều cao giọng đồng thanh bằng tiếng Nga:

Trai sai Liu bím mưi gô rớt

U khô dim Da vờ tờ ra Vơ Môre

I Ran nhây pa rôi

Men nhốt Dakamôi

ZỜ na kôm Mưi Pla toôc Ga lu bôi...

Chúng tôi hát như thế mỗi chiều. Hát mãi, hát mãi, Pẩu quên cả Noọng của anh ở Cao Bằng xa xăm. Khanh không còn buồn mỗi lần vọng về quê có thể đang mất mùa đói kém. Anh Khoán như trẻ hẳn lại với niềm tin một ngày anh sẽ cùng thằng "tăng con" song ca bài tình ca tuyệt vời này. Chính anh Khoán đã đề nghị với đại đội tổ chức để Toàn dạy cho cả đơn vị hát một số bài ca Nga mỗi khi có điều kiện.

Nhưng, đã không kịp. Trận đánh diễn ra sớm hơn chúng tôi tưởng... Câu chuyện trên đây chưa phải là truyện ngắn mà chỉ là những dòng hồi ức của bản thân tôi. Tôi đã kể ra cùng với tên họ, chức danh thật của các thành viên trong chiếc xe Bảy linh tư. Nhưng nếu câu chuyện này khi in ra đâu đó có một số người trẻ tuổi nào đó kêu là không có thật - mà hẳn là rất nhiều người không tin. Người đời bây giờ bận rộn với kinh doanh, cái họ cần học là Thanh kiu, ô kê để ký hợp đồng đẻ ra lợi nhuận. Và, nếu có người không tin, phản bác cho câu chuyện trên là hư cấu, thêm thắt thì tôi cũng không cãi được. Vì, ngay cả lúc này, ngồi kể lại câu chuyện trên trong trang giấy tôi cũng lấy làm lạ là: Liệu cuộc đời mình trong thời đoạn tuổi hai mươi có phải đã tham gia trực tiếp vào những sự kiện lạ lùng khó tin như thế !? Vả chăng ngoài tôi ra không ai còn sống để làm chứng. Cả xe trưởng Khoán, pháo hai Khanh, xạ thủ Pẩu với cả "Thầy giáo Nga văn" hạ sĩ pháo thủ Toàn đều nằm lại trên bãi cát Của Việt cùng với chiếc xe tăng 704 trong trận đánh đẫm máu cuối cùng bảo vệ hải cảng Cửa Việt chống địch lấn chiếm ngay trong Hiệp định Paris ... Một mình tôi mang đầu máu và những vết bỏng vào quân y viện rồi từ đó thi vào trường đại học. Những năm tháng ở trường, cứ mỗi lần có liên hoan văn nghệ là tôi lại hát bài "Chiều hải cảng" với cả hai thứ tiếng Việt - Nga và thường được vỗ tay hoan nghênh như một ca sĩ thực sự. Những lúc ấy tôi thường cay đắng nghĩ rằng: Giá như những đồng đội tôi không chết, bây giờ họ cũng già như tôi, ngón tay của Toàn sẽ lướt trên phím đàn ghi-ta và dàn đồng ca sẽ cất lên đủ năm giọng:

 Pro sai liu bim Mưi gô rớt...

Hà Nội - Đồng Hới 5 - 2002
Logged
rongxanh
Thành viên
*
Bài viết: 2085

Mơ về nơi xa lắm.


« Trả lời #16 vào lúc: 18 Tháng Chín, 2008, 08:30:58 PM »

NHỮNG KỶ NIỆM VỀ TRƯỜNG TĂNG TAT-SƠ KEN.

Đại tá Đinh Quang Tuệ, cựu học viên Tăng - Thiết giáp, khoá đầu tiên đào tạo tại Liên Xô (1960-1964).
Năm chuẩn bị ra đời Trung đoàn xe tăng đầu tiên do đoàn cán bộ đợt đầu được Trung Quốc huấn luyện sẽ về làm nòng cốt; cũng là khi đoàn chúng tôi những sĩ quan, hạ sĩ quan bộ binh, pháo binh, phòng không, thông tin ... có thành tích trong chiến đấu, đạo đức tốt thể lực khá được lựa chọn sang Liên Xô học tập. Song, trình độ văn hoá của anh em nói chung còn thấp nên trước khi đi được tập trung bồi dưỡng cấp tốc tại trường Văn hoá Quân đội để có trình độ văn hoá phổ thông và tiếng Nga. Đoàn chúng tôi có 72 người do thiếu tá Đào Văn Xuân, nguyên Chính uỷ Trung đoàn Bộ binh 9, Sư đoàn 304 phụ trách kiêm Bí thư Chi bộ được tới học tập tại Trường Chỉ huy Kỹ thuật Tăng Tát-sơ-ken đã từng mang tên Sit-ta-lin.

Phấn đấu vượt những thử thách của môi trường mới.

Anh em chúng tôi tuổi đều đã quá thanh niên, đa số đã có gia đình riêng, có con cái, sức lực cũng còn sung, trình độ còn nhiều bất cập so với điều kiện đầu vào của nhà trường. Trường nằm ở nước Cộng hoà U-dơ-bek vùng Trung A là một trong những nơi khí hậu tương đối khắc nghiệt của Liên bang xô viết; mùa hè nóng tới 50 độ, đụng vào xe tưởng bỏng da thịt, có đồng chí bắt nắng mặt mày đen xạm, anh em thường gọi đùa là bạn Châu Phi; mùa đông cũng khá lạnh, muốn nổ máy xe phải phát động máy sưởi nhiệt động cơ trước. Anh em chúng tôi phải chịu đựng và rèn luyện nhiều mới thích nghi được với hoàn cảnh mới.

Học viên Việt Nam được biên chế thành một đại đội riêng, tự quản về mặt sinh hoạt, có cán bộ khung của bạn từ trung đội trở lên giúp đỡ. Chúng tôi học tập theo chương trình chung thống nhất của nhà trường đào tạo từ binh nhì thành sĩ quan. Vì vậy chúng tôi phải thi đua với các chàng trai Xô viết mười tám đôi mươi, là những chiến sĩ có thành tích tốt trong quá trình làm nghĩa vụ quân sự và những sinh viên đại học, cao đẳng năm thứ nhất, thứ hai thi trúng tuyển vào trường đào tạo sĩ quan xe tăng. Học viên bạn được hưởng 90 rúp một tháng. Nhà nước ta chỉ cung cấp cho chúng tôi 50 rúp, trong đó phải nộp tiền ăn cho bếp tập trung hết 45 rúp, chỉ còn lại 5 rúp chi tiêu vặt trong tháng thật ít ỏi. Bạn rất quan tâm tới chúng tôi, song không thể giải quyết gì về tài chính. Duy chỉ chiếu cố hai điều đặc biệt là không cạo trọc đầu vì đã là sĩ quan, hai là không phải dọn nhà vệ sinh công cộng, còn mọi qui chế rèn luyện đến lao công tạp dịch đều không được miễn trừ; giấc ngủ trưa là thói quen không được bảo đảm vì lịch học tập rèn luyện kín cả. Ngoài thể dục sáng, thể thao chiều chúng tôi thường phải chạy thêm 6 đến 7 lần khi chuyển vị trí học tập tại các giảng đường và rèn luyện thực hành tại khu xe; kể cả chạy xuống nhà ăn xa nơi ở. Sau 6 tiết học sáng về án trưa chỉ được nghỉ 15 phút là phải ra khu xe bảo dưỡng trang bị khí tài một tiết và trở về lên phòng học tổ tự học có giáo viên (cán bộ khung) theo dõi; buổi tối sinh hoạt tổ, lớp hai lần trong tuần, còn lại được nghỉ song hầu hết anh em đều phải tự học thêm, có khi học thâu đêm để bảo đảm kết quả kỳ thi khó, cán bộ khung và trực ban nhà trường tới kiểm tra thấy anh em say mê học tập không nỡ bắt phải ngủ. Chương trình chính khoá cũng có một số tiết Nga văn không chỉ đối với chúng tôi mà ngay cả học viên Xô viết, vì học viên từ mọi miền của Liên bang tới không phải ai cũng thạo tiếng Nga. Tất nhiên trình độ đầu vào của học viên Liên Xô cũng như học viên quốc tế khác đều khá hơn ta về văn hoá, nhất là toán cao cấp. Giáo viên dạy anh em ta phải vất vả lắm mới bảo đảm được kết quả mong muốn. Điều thuận lợi là anh em ta rất chăm chỉ học tập quý trọng và biết động viên thầy cô giáo. Vì thế giáo viên rất quí mến anh em và giao lưu chân tình. Do vậy, trong lớp đôi khi cũng xảy ra tình huống vui đùa. Có lần cô giáo Nga văn chỉ ra phía cửa sổ bên phải lớp học hỏi anh em chúng tôi: "Đồng chí cho biết: cái gì đặc biệt ở ngã tư đường phố ? Học viên học giỏi (Trần Văn Khuê) trả lời: "e-ta-mai-a đôm" ! Cô giáo: Đồng chí hãy nhắc lại ? Học viên vẫn trả lời như trước. Cô giáo hỏi lại: "Đồng chí thấy thật đúng chưa ?" Học viên "Thưa cô chính xác" ? Cô giáo hơi bực nói với cả lớp: Tôi không hiểu tại sao một học viên giỏi nhất nhì trong đoàn như đồng chí mà vẫn không phân biệt được giống của danh từ ? Học viên: Thưa cô tôi phân biệt được chứ ? Miệng tủm tỉm cười! Trưởng lớp nhanh hiểu ra kiểu đùa tinh quái của học viên, đề nghị cô giáo cho học viên giải thích. Cô giáo đồng ý. Học viên trình bày: "Trước mắt chúng ta, ở ngã tư đường phố có hai hiện tượng đặc biệt là nhà Bưu điện thành phố, phải trả lời là "ê Tơ Đôm" nhưng trên thềm ngôi nhà đó có một cô gái ăn mặc rất lộng lẫy đang đứng đợi ai đó trước cửa ra vào phòng trung tâm ngôi nhà, làm tôi nhớ tới vợ mình ở nhà và bật ra ý định đùa: trả lời nước đôi chỉ cả ngôi nhà và cô gái coi như vợ mình. Người Việt Nam. thường giới thiệu "vợ mình" với bạn bè là "nhà tôi". Do đó tôi đã ghép hai hiện tượng làm một và trả lời chung như thế ? Cả lớp phá lên cười, cô giáo cũng cười mặt đỏ và buông một câu "Tư ô trin khít rưư” (Anh rất láu cá). Giờ học lại tiếp tục nghiêm túc. Lần khác giáo viên kiểm tra trước khi dạy bài mới. Học viên (Hoàng Khoái) được chỉ định trả lời về đạo hàm hơi lúng túng, cô giáo liền hỏi trình độ văn hoá ? Học viên: Tôi tưởng cô giáo đã biết chứ ? Tôi học nửa lớp 10 mà ! (lớp cuối THPT ở ta thời gian ấy). Trưởng lớp báo cáo: Đồng chí đó mới học hết lớp 5, do là người được bổ sung cho đoàn trước khi sang đây chưa được bổ túc văn hoá như anh em, đồng chí rất cố gắng học tập, hiểu nhưng không thể lý giải được cặn kẽ vấn đề! Cô giáo khen học lớp 5 mà theo được chương trình này là đáng biểu dương !

Do anh em hết sức cố gắng phấn đấu nên kết quả học tập thường được xếp vào loại khá; ngay các môn văn hoá cũng không thua kém. Giáo viên thường kể chuyện về chúng tôi với bạn bè không chỉ trong nhà trường. Có hôm chủ nhật đi chơi, chúng tôi được nhiều người (không quen biết) bắt tay chúc mừng ? Hỏi ra mới biết vì kỳ thi kết thúc môn vật lý, chúng tôi đạt kết quả cao hơn các lớp bạn cùng khoá nên giáo viên đã khoe không chỉ trong trường mà cả với bạn bè ngoài phố. Nhưng khi có điều kiện tiếp xúc với nhân dân thành phố cũng như vùng nông thôn nơi tập luyện ở dã ngoại thấy nhân dân Xô viết rất quí mến học viên Việt Nam và thốt lên những lời thân thiết: Các con, các chú, các anh tới học tập ở đất nước của Lênin hãy coi như ở nhà. Lần đi tham quan nhà máy chế tạo xe tăng, chúng tôi vừa xuống xe đi bộ qua cổng một trường trung học cơ sở trong giờ các em ra nghỉ, thấy chúng tôi, các em gọi nhau í ới: Các bạn ơi, trẻ con nước nào đến thăm chúng ta... nhưng sao nhiều Huân chương thế. Thông thường thì anh em ta không đeo Huân chương liên tục như bạn, nhưng hôm nay là đến thăm nhà máy. Mặc dù anh em chúng tôi đều đã ở tuổi cha chú các em, người đi đầu hàng quân râu ria đen sì mặc dù buổi sớm đã cạo; anh em thường gọi đùa là ông Ké. Vậy mà vẫn bị các em liệt vào loại trẻ con ? Cô giáo của các em tới đề nghị chúng tôi tạm dừng cho cô cháu được chiêm ngưỡng anh Bộ đội Cụ Hồ! Cuộc giao lưu ngắn ngủi đã để lại trong lòng mọi người về tình hữu nghị đặc biệt.
Mặc dù anh em chúng tôi rất cố gắng học tập rèn luyện, song một số đồng chí tiếp thu tiếng Nga quá yếu thường buồn, giáo viên hỏi: Có phải nhớ nhà, nhớ vợ con không ? Do không hiểu đầy đủ đã cho là giáo viên miệt thị nên bực tức xin về nước. Tổng cục Chính trị được báo cáo đã có chỉ thị cho đoàn: Học tập cũng coi như chiến đấu, ai thoái thác phải bị kỷ luật hạ từ hai đến ba cấp. Anh em đã xác định lại quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Sau năm học thứ nhất, 10 đồng chí có quân hàm cao hơn được chuyển lên Học viện xe tăng Mat-xcơ-va học tập; một số đồng chí do các yếu tố khác nhau đã về nước nhận nhiệm vụ; còn lại 56 anh em chúng tôi ở lại học tập tiếp tại trường Tăng Tát-sơ-ken do đồng chí Đinh Quang Tuệ làm trưởng đoàn kiêm Bí thư Chi bộ. Đoàn chúng tôi bắt đầu học tập chuyên ngành sâu hơn. Tác phong đòi hỏi phải khẩn trương chính xác. Đảng Cộng sản, Nhà nước, Quân đội Liên Xô rất quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo trường chú ý đến đoàn học viên Việt Nam. Cán bộ, giáo viên nhân viên nhà trường luôn chăm lo mọi mặt cho chúng tôi. Song yêu cầu học tập rèn luyện thì không châm chước điều gì. Tuy có những kiến nghị của chúng tôi hợp lý thấy có thể điều chỉnh được là làm ngay. Ví dụ: quần áo phải bảo đảm luôn phẳng phiu, rõ nếp. Mỗi buổi sáng thời gian rất ngắn phải đánh cúc áo, đánh giầy... nên các đồng chí chậm chạp là bẩn lắm. Chúng tôi mặc quân phục Việt Nam nhưng xí nghiệp của bạn may cúc bằng đồng có hình quốc huy Liên Xô. Sau khi được biết quy chế trang phục của quân đội do Quốc hội qui định. Dịp này nhân có đoàn Đại biểu của Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô xuống thăm trường, tới thăm đoàn học viên Việt Nam hỏi anh em có đề nghị gì ? Đoàn đã kiến nghị một số điểm trong đó có yêu cầu thay cúc áo! Nguyện vọng này được chấp thuận. Thế là ngay tuần sau toàn bộ quân phục của đoàn được thay bằng cúc nhựa như chúng ta. Chúng tôi càng thấy bạn rất tôn trọng nguyên tắc. Đó cũng là điều mà chúng tôi rất thấm thía về thái độ thực sự cầu thị của bạn tôn trọng quyền bình đẳng giữa các dân tộc! Chúng tôi luôn nhắc nhở nhau phải làm sao xứng đáng với sự chăm lo của bạn. Do vậy, ai ai cũng cố gắng hơn trong học tập rèn luyện. Có đồng chí liên tục bị chảy máu mũi vẫn không bỏ buổi tập bơi nào trong mùa đông lạnh buốt. Tập thể thao binh chủng rất nặng, phải vác bình điện xe hơn 60 kg từ xa chạy tới và chạy vòng xung quanh xe rồi chui xuống gầm xe đưa qua cửa an toàn lên xe lắp vào vị trí và phát động máy nổ trong thời gian qui định; phải thực hành được 3 lần mới đạt. Tập nhảy xa, bạn bố trí tập vượt hào chống tăng với chiều dài nếu tập luyện ai cũng có thể qua được. Song, cùng với rèn luyện kỹ năng còn luyện tập tinh thần dũng cảm nên bạn đã cấu tạo hai bên mép hào sắc trông tựa lưỡi dao vì thế người yếu bóng vía chạy đến bệ nhảy trông thấy hốt không vượt qua được; có đồng chí (Lương Tưởng) nhiều lần phải dừng lại trước bệ nhảy, trong khi cả lớp đã vượt qua, cuối cùng đồng chí quyết vượt qua, sợ nếu không vượt bị cho là hèn nhát. Song do tinh thần không ổn định nên khi nhảy một chân đã vướng vào mép hào, chảy máu và rạn xương ống, phải điều trị một thời gian; sau luyện tập lại đồng chí đã vượt được. Nhảy ngựa là một môn tập nhảy cao có vật cản, tập một thời gian ai cũng có thế vượ qua, nhưng vượt đúng động tác không phải dễ, có đồng chí chỉ trong thời gian ngắn tập đã vượt qua được ngựa với động tác còn cao hơn người vượt bình thường là cả hai bàn chân đều đưa thẳng lên trên lưng ngựa nên không đạt yêu cầu. Do đó phải tập luyện mãi mới làm đúng động tác là hai chân qua hai bên hông ngựa. Thời kỳ đầu, có đồng chí vào xe là bị nôn mửa mật xanh, mật vàng nên anh em rất thương đề nghị cho đồng chí ra khỏi xe nghỉ nhưng giáo viên không đồng ý và giải thích: làm như thế thì bao giờ đồng chí có thể trở thành được chiến sĩ xe. tăng. Qua nhiều lần như vậy cuối cùng thì đồng chí đó cũng đã chịu đựng được trên xe. Các đồng chí chân ngắn phải kê xô múc nước sau lưng mới đạp tới chân ga, mới đủ sức kéo cần lái nặng hàng chục cân như cần lái T-34. Bắt đầu học viên thường phải rèn luyện với xe cũ nhất, lạc hậu nhất, khó nhất. Khi đã điều khiển thành thạo được loại xe này thì mới chuyển học các loại xe khác có điều khiển dễ dàng hơn. Từ đó chúng tôi học được phương pháp huấn luyện khắt khe rất khoa học của bạn.
Logged
rongxanh
Thành viên
*
Bài viết: 2085

Mơ về nơi xa lắm.


« Trả lời #17 vào lúc: 18 Tháng Chín, 2008, 08:34:04 PM »

Tập điều khiển "voi chiến" hiện đại.

Lái xe tăng qua vật cản là tập luyện căng thẳng nhất, làm sao vượt qua hào chống tăng, lách qua bãi mìn, vượt vách đứng, vách hụt, hố bom đúng động tác bảo đảm an toàn và thời gian tác chiến. Lái đêm trên địa hình sa mạc mênh mông, hiếm hoi mới có một vật chuẩn và phát hiện không phải dễ, khi lên dốc cao chỉ thấy trời sao, xuống dốc chỉ thấy tuyết nếu không thạo đối chiếu bản đồ với địa bàn là dễ lạc đường ngay, lạc đường khi xuống dốc ở tốc độ cao đến khi biết được quay về đúng hướng đã tốn bao nhiêu thời gian và giờ máy nổ. Tương tự, khi tập vượt vật cản nước cũng không kém phức tạp, vượt cầu hẹp không khéo sẽ va vào lan can hoặc lao xuống sông; vượt cầu quân sự làm gấp khó khăn, cầu vệt có khi chỉ bằng 1/3 diện tích băng xích của xe; vượt ngầm không cẩn thận cũng bị trục trặc có thể tụt xe khi lên dốc trơn; bơi vượt sông cũng phải tập, ngay cả đối với các xe bơi, các xe không tự bơi được phải biết lắp các thiết bị để cho xe bơi hoặc lội ngầm dưới đáy sông. Trước khi tập lái T55 có lắp thiết bị lấy không khí (thò lên trên mặt nước) dài hơn 5m, phải tập đeo mặt nạ lội dưới đáy sông được, mới tập trên xe. Tập mục này đã xảy ra một sự cố có người chết ngất (đồng chí Phạm Văn Quy)! Vì sau khi tập nhiều lần chưa đạt, đồng chí này bực lắm. Lần này đồng chí quyết tâm tập bằng được. Khi vừa chạm đáy sông đồng chí giật dây báo cho giáo viên. Giáo viên giật ba lần không thấy đồng chí trả lời, phải vội vàng kéo đồng chí lên thì không thấy cử động nữa. Quân y tới cấp cứu đồng chí tỉnh lại. Hỏi tại sao thì đồng chí trả lời: tôi cố nín thở và sau không biết gì nữa. Theo nguyên tắc thở qua mặt nạ là phải hít không khí vào đường mũi và thở ra đường mồm. Nhưng đồng chí lại nín thở nên bị chết ngất! Sau thời gian được nghỉ ngơi và tập đeo mặt nạ thở trên cạn đúng động tác mới xuống nước, lần này đồng chí đã thành công.

Tập lái hành quân chiến đấu phải xử trí mọi tình huống mà khi học lái phân đoạn đã học. Mọi người đều đạt yêu cầu, cả thầy trò đều mừng. Tất  nhiên giáo viên chọn địa hình không phức tạp lắng. Khi kết thúc buổi tập giáo viên hỏi: tập như vừa qua đã phù hợp với địa hình Việt Nam chưa ? Có đồng chí nhanh nhảu trả lời: Có lẽ địa hình Việt Nanh phức tạp hơn. Tuần sau chúng tôi được một lần hú vía vì suốt ngày lái trên đường hẹp theo sống núi vùng giáp biên giới Ap-ga-nit-tăng. Lái xe đã sợ nhưng trưởng xe còn sợ hơn vì được mở cửa đứng chi huy xe, nhìn hai bên đường đều là vực thẳm. Nghỉ trưa mọi người có dịp ra ngoài xe quan sát mới kinh, nếu kéo cần lái chệch hướng một chút là xe có thể lao xuống vực! Do đó, nhiều đồng chí đã bỏ thừa khẩu phần ăn mà bình thường không ít người đã xin thêm xuất dự phòng. Có đồng chí cho là do ta phát biểu thiếu thận trọng nên giáo viên cho một bài học nhớ đời. Thực tình không phải thế, thao trường này nằm trong kế hoạch huấn luyện của nhà trường. Song chỉ để luyện tập trước khi kết thúc khoá học. Nhưng theo ý kiến học viên phản ánh, khoa xe máy đã đề nghị, được nhà trường chuẩn y bớt thời gian tập lái trên địa hình trung bình, tăng thời gian lái trên địa hình phức tạp và cho anh em tập sớm hơn.

Điều kể trên cũng nói lên nhà trường rất quan tâm tới kết quả đào tạo phù hợp với điều kiện của ta. Hiểu không đúng là ta đã phụ lòng tốt của bạn. Đất nước Xô viết bằng 1/6 trái đất, có lẽ phản ánh tổng hợp không thiếu địa hình của nước ta và có những địa hình ta không có; chứ đâu phải địa hình Việt Nam phức tạp hơn.
Học phát huy hoả lực mạnh của xe tăng.

Học bắn trên xe cũng không đơn giản, phải sử dụng thành thạo pháo, tên lửa chống tăng, vũ khí phòng không, súng máy bên pháo, súng máy đầu xe, tiểu liên, súng ngắn và lựu đạn. Nghĩa là phải biết phát huy toàn bộ sức mạnh hoả lực của xe. Lắp đạn cũng không dễ, viên đạn pháo nặng trên 30kg rất khó đạt được tốc độ nạp đạn 7 phát/phút. Lắp đạn súng máy không cẩn thận dễ bị tắc. Lắp đạn pháo hay súng máy đều phải biết xử trí tình huống hỏng hóc. Thao tác vũ khí vừa đòi hỏi nhanh và chính xác mới bảo đảm hiệu quả cao và an toàn, nhất là khi dùng điện quay pháo và dùng máy ổn định tầm hướng bắn. Song bắn trong hành tiến không dùng điện quay pháo, không dùng máy ổn định tầm hướng lại mệt nhọc hơn nhiều và khó đạt hiệu suất cao. Tuy nhiên, mệt mỏi và buồn tẻ hơn cả chính là lúc thay nhau đi gác trường bắn, nhất là các vọng gác trên đồi cao tuyết phủ. Chỉ đến khi xảy ra sự cố một học viên bạn bị chết cóng, khi đổi gác mới biết nên không cứu được. Từ đó anh em ta mới không phải gác ở các vị trí quá lạnh nữa.

Học sử dụng các thiết bị trên xe.

Người sĩ quan không chỉ học phương tiện chỉ huy như bản đồ, địa bàn, máy thông tin vô tuyến điện mà phải thành thạo sử dụng các thiết bị trên xe phòng nguyên tử, chống cháy, tự cứu và sửa chữa xe cũng như vũ khí và mọi thiết bị của xe.

Khi chiến đấu tăng thiết giáp dùng phương tiện thông tin liên lạc vô tuyến điện là chủ yếu, mọi thành viên đều phải thành thạo sử dụng máy vô tuyến điện sóng cực ngắn và các loại máy khác có trong biên chế. Trước khi sử dụng máy trên xe phải thành thạo sử dụng máy ngoài xe, tập liên lạc tay đôi và liên lạc mạng phân đội tới cấp tiểu đoàn, tập tại chỗ xong tập đi bộ kết hợp với học xác định phương hướng ngoài thực địa. Khó nhất là ban đêm trên sa mạc mênh mông giá lạnh không thấy một vật chuẩn, phải đi theo các toạ độ trên bản đồ và về đúng vị trí tập trung giáo viên chỉ định. Quá trình cơ động phải giữ mạng thông tin liên lạc theo đúng chức trách đảm nhiệm chỉ huy một xe, trung đội, đại đội tiểu đoàn, chấp hành đúng qui ước bí mật thông tin. Ai thực hành chưa đạt phải làm lại kỳ đạt mới thôi. Đây cũng là những tiết học không kém căng thẳng, không chỉ với học viên mà cả giáo viên, nhất là khi có người phải tập lại, cả thầy trò đều phải tập thêm khi anh em được nghỉ giải lao, dù chỉ là đứng giữa đồng không bao la, nhấm nháp chút bánh bích quy xúc xích mang theo. Những lần đi tập như thế là tiền còn lại để tiêu vặt trong tháng phải chi hết. Nếu trong tháng có vài lần đi tập tương tự là phải dùng đến tiền ít ỏi dành dụm của những tháng trước. Tuy nhiên, khi đi tập dã ngoại có thể hái nấm về cải thiện và biếu cán bộ giáo viên, được khen là học viên Việt Nam tinh tường lại cần mẫn nữa nên thường kết quả được gấp đôi.

Đấu tranh tư tưởng gian khổ

Hè năm 1963, Đoàn được phép đi về Việt Nam sau ba năm xa cách, khi trở lại Liên Xô học tập với lòng phấn khởi bước vào chương trình trọng tâm của khoá học và thi tốt nghiệp quốc gia nhất định đạt kết quả cao, xứng đáng với công sức phấn đấu rèn luyện của anh em, lòng tin của đất nước và sự giúp đớ của Bạn. Nhưng khi sang tới nơi thấy tình hình chính trị phức tạp, có người chức quyền cao trong nhà trường trực tiếp vận động anh em ta theo chủ nghĩa xét lại và hứa: "Nếu cộng tác sẽ được ưu đãi này nọ". Tuy đa số cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường đều giữ thái độ im lặng; cũng có những người mạnh dạn tâm sự là không tán thành chủ nghĩa xét lại. Vì thế công tác đối ngoại của đoàn trở nên phức tạp hơn nhiều; khó khăn nữa là trong số lưu học viên quân sự Việt Nam tại Liên Xô có một số người công khai tuyên truyền vận động tích cực cho chủ nghĩa xét lại. Rất tiếc đó lại là một cán bộ tuổi đời lớn, có thâm niên quân đội lâu, có quân hàm cao hơn anh em chúng tôi nhiều.
Số người này từ Mat-xcơ-va xuống Tát-sơ-ken ve vãn dụ dỗ anh em theo họ. Trước tình hình đó, anh em chúng tôi đã phải tiến hành liền 3 cuộc họp, ra quyết định: tuyệt đối trung thành tin tưởng ở sự lãnh đạo của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, bảo vệ tình hữu nghị Việt - Xô, bảo vệ từng học viên và toàn đoàn, cự tuyệt với bất kỳ người Việt nào theo chủ nghĩa xét lại, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ học tập. Nghị quyết được biến thành hành động thực tế. Tinh thần học tập hăng say hơn, thái độ thông cảm với giáo viên, cán bộ nhà trường miễn cưỡng phải nói theo chủ nghĩa xét lại. Đoàn chúng tôi phải tăng cường tự giải quyết những vấn đề nảy sinh có thể ảnh hưởng tới tình hữu nghị Việt Xô không để các đồng chí cán bộ, giáo viên nhà trường phụ trách đoàn học viên Việt Nam gặp khó khăn, không để bị lôi cuốn vào các cuộc tranh luận không cần thiết, không để bị khiêu khích. Nhiều học viên quốc tế tại trường rất mến phục Đoàn học viên Việt Nam, nhất là các bạn Cuba và Châu Phi, khi gặp tình huống chính trị phức tạp phải đối phó, thường lấy ý kiến của anh em ta. Theo tinh thần Nghị quyết Chi bộ Đảng nêu trên chúng tôi đã trao đổi những định hướng chính, mặc dù bạn thường muốn đi vào những vấn đề cụ thể, song chúng tôi đều khước từ, lúc đầu bạn không vừa lòng, song cuối cùng cũng phải thông cảm với chúng tôi. Cũng vì tình hình đối ngoại phức tạp, nên đoàn phải quản lý sinh hoạt chặt chẽ hơn: giờ, ngày nghỉ ra ngoài trường phải đi 3 người để hỗ trợ nhau đồng thời giám sát lẫn nhau. Bạn mời ai tới nhà chơi phải được phép của đoàn và phải về lại trường trước 22 giờ (ở đây ngày giờ nghỉ đi chơi tới 24 giờ là bình thường). Quan hệ giữa đoàn chúng tôi với nhà trường phần nào đã không bình thường, thái độ dè chừng nhau. Trước tình hình như trên, Chi bộ Đảng bàn ra quyết nghị lãnh đạo cải thiện tình hình, ngoài việc nhấn mạnh cần tiếp tục chấp hành các Nghị quyết Chi bộ đã có, cần chủ động tăng cường quan hệ với bạn hơn trước. Một trong những biện pháp cần thiết là tìm ra các dịp có thể giao lưu rộng rãi đôi bên, một trong những dịp đó được đề cập đầu tiên là tổ chức gặp mặt hữu nghị Việt - Xô nhân 19 năm thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (22 - 12 - 1 944 - 22 - 12 - 1 963) mời lãnh đạo chỉ huy nhà trường và các cán bộ giáo viên trực tiếp quan hệ với anh em ta tới dự bữa liên hoan. Chúng tôi báo cáo, được Sứ quán cho phép nhưng không có tài trợ. Anh em bàn thống nhất góp tiền để có kinh phí tổ chức! Vấn đề phải bàn kỹ là tổ chức tiệc theo ẩm thực Nga hay Việt ? Nếu theo bạn thì tiền rượu và kẹo đã gấp nhiều lần toàn bộ tiền thực phẩm khác. Tiền nhà bếp chi cho một bửa chính của chúng tôi là 0,65 rúp. Ăn tiệc thì một rúp là đủ. Nhưng uống một chai rượu đã mất 12 rúp vì đã là tiệc thì ít nhất phải bày cỗ mỗi người một chai (bạn mời nhau thì ngoài chủ chuẩn bị tối thiểu như trên, khách còn mang đến thêm, có người mang tới hai chai và nói chung là tiêu thụ hết). Kẹo dùng trong bữa tiệc cũng đắt hơn kẹo ăn thường 5 - 7 lần. Như thế là mỗi xuất tốn kém tới hàng chục rúp, anh em ta phải đóng góp thì quá sức Vả lại nếu uống rượu phải được phép của hiệu trưởng nhà trường (điều lệnh quân đội Xô viết không cho phép uống rượu trong doanh trại). Làm bữa liên hoan theo ẩm thực Việt Nam thì băn khoăn không hiểu có hợp khẩu vị bạn không ? Bàn tính kỹ thấy không có cách nào hơn và tin là bạn sẽ thông cảm. Cái khó là bếp trong trường không thể làm được như ta muốn và không có thực phẩm tươi sống, hơn nữa đầu bếp giỏi cũng không biết nấu kiểu Việt Nam. Tuy bạn hứa sẽ cố gắng tìm cách thực hiện. Giải pháp: Ta cử người cùng bạn tới trạm cung cấp nhận thực phẩm tươi sống và làm tại đó đưa về để chế biến theo thực đơn đã định. Mỗi món ăn cử hai đồng chí làm cố vấn và trực tiếp cùng bạn chuẩn bị. Mâm 6 người có 10 món ăn không kể bánh mì và bia mỗi người một chai, kẹo Hải Châu, thuốc lá Điện Biên, chè Hồng Đào sau tiệc đầy đủ; tính ra mỗi người chỉ phải góp 5 rúp cộng với tiền ăn bữa chính nhà bếp trích góp vào là đủ. Kết quả buổi gặp rất tốt đẹp tất cả các cán bộ nhà trường có quan hệ với đoàn ta đều tới, có thêm khách của Quân khu Trung Á về công tác tại trường cũng tới dự. Vào bàn tiệc sau lời khai mạc giới thiệu khách và nêu ý nghĩa buổi liên hoan của trưởng ban tổ chức, hiệu trưởng về chính trị nhà trường nói lời chúc mừng quân đội ta, tình hữu nghị Xô - Việt và quân đội hai nước; chúc tình hữu nghị giữa Đoàn học viên Việt Nam với nhà trường luôn củng cố và phát triển. Trưởng đoàn học viên việt Nam thay mặt đoàn cám ơn Đảng Cộng sản, Nhà nước, Quân đội và nhân dân Liên Xô nói chung, nhà trường nói riêng đã tận tình giúp đỡ anh em học tập và hứa sẽ học tập đạt kết quả tốt hơn. Chủ khách hàn huyên cởi mở thân tình, bộc lộ hết tâm tư tình cảm mà bình thường ít khi nói được, các bạn khen: sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam giỏi quá không chỉ đánh giặc giỏi, học tập tốt mà nội trợ cũng rất cừ. Tiệc rất ngon ! Có tốn kém lắm không ? Thưa: Có lẽ chỉ bằng 1/10 nếu chi phí theo tiệc Nga. Bạn lại khen giỏi, giỏi quá ? Một chủ không phải tiếp hai mà là hai rưỡi khách, nhưng thức ăn vẫn còn nhiều. Gần mãn tiệc, phu nhân trung tướng chủ nhiệm chính trị Quân khu Trung A - người lớn tuổi hơn cả trong số nữ tới dự mạnh dạn rỉ tai đoàn trưởng ta hỏi: Có được lấy phần mang về không ? Xin mời! Thế là các bà, các cô, các chị, kể cả những người đã ra phòng trà quay lại phòng ăn lấy phần: Tất nhiên chỉ có thể lấy thức ăn khô, hai món ai cũng lấy đó là "nem Sài Gòn" và trứng đúc thịt. Sau bữa tiệc, các ngày nghỉ nhiều bạn yêu cầu anh em chúng tôi ra nhà hướng dẫn cách chuẩn bị và nấu nón ăn Việt Nam. Từ sau cuộc gặp mặt trên, sự giao lưu đôi bên được tăng cường, thái độ niềm nở, vui vẻ chan hoà, cởi mở hơn, bớt hẳn sự e dè mặc cảm của bạn từ khi xuất hiện chủ nghĩa xét lại; tạo thuận lợi cho chúng tôi bước vào giai đoạn học tập chương trình trọng điểm.

Logged
rongxanh
Thành viên
*
Bài viết: 2085

Mơ về nơi xa lắm.


« Trả lời #18 vào lúc: 18 Tháng Chín, 2008, 08:34:20 PM »

Rèn luyện toàn diện bản lĩnh người sĩ quan chỉ huy

Chiến thuật - môn học chính tổng hợp cả lái, bắn, thông tin, phải xử trí nhiều tình huống chiến. đấu như chuyển từ chiến đấu trực tiếp sang tiến công trong hành tiến, đánh địch mặt đất, mặt nước và trên không... Học viên không chỉ phải tập thay. nhau đảm nhiệm chức trách thành viên kíp xe,. trưởng xe và cương vị từ trung đội đến tiểu đoàn trưởng. Khó khăn nhất là đảm nhiệm cương vị tiểu đoàn trưởng. Một kỷ niệm sâu sắc mà tới nay đã gần 40 năm vẫn còn in đậm trong ký ức: lần diễn tập tiểu đoàn tăng tiến công trong điều kiện chiến tranh có sử dụng vũ khí huỷ diệt lớn. Lần đầu tiên liên tục 24 giờ với bộ đồ phòng hoá, mặt nạ phòng độc ngồi trong xe, chỉ được phép tháo mặt nạ trong thời gian ngắn ngủi giải lao, ăn uống và ra khỏi xe đi vệ sinh. Diễn tập nhưng căng thẳng tưởng như chiến đấu thực, lúc nào trong đầu cũng như thấy có địch không chỉ đối với trưởng xe mà cả các thành viên kíp xe. Thông thường trưởng xe trong 1 phút đồng hồ nhận được từ ba đến năm tình huống, đối với tiểu đoàn trưởng thì số tình huống tăng lên gấp nhiều lần, tiểu đoàn trưởng phải làm sao chỉ huy được tiểu đoàn với 31 xe tăng, 28 xe phục vụ trong biên chế và một số xe cấp trên tăng cường cho tiểu đoàn hoạt động chiến đấu nhịp nhàng, kịp thời chính xác. Diễn tập phức tạp là thế, song kết quả huấn luyện đạt được khá, không chỉ chúng tôi mừng mà giáo viên cũng rất vui. Học viên mừng nữa là được kết thúc diễn tập trước thời gian 30 phút. Tại đây nếu về trường chỉ mất chừng 10 phút. Nhưng, giáo viên lại ra lệnh đi đường vòng để kết hợp vượt qua một quãng đồng lầy, bổ sung cho điều kiện diễn tập toàn diện hơn. Tới quãng đồng lầy, các đại đội tăng được phân công các đoạn vượt lầy riêng. Đại đội tăng 1 và xe tiểu đoàn trưởng vượt được 8/11 xe, Đại đội tăng 2 được 6/10 xe và Đại đội tăng 3 chỉ vượt 3/10 xe. Như vậy là gần nửa số xe tăng đã bị sa lầy, chiếc xe lầy nặng nhất nước ngập tới vành đai tháp pháo. Tiểu đoàn trưởng được lệnh hạ quyết tâm xử trí tình huống. Tất nhiên đồng chí hạ quyết tâm đúng hơn là kịp thời tổ chức cứu kéo, đây là tình huống kỹ thuật không đơn giản. Giáo viên hỏi thời gian hoàn thành nhiệm vụ? Tiểu đoàn trưởng báo cáo: Xin hoàn thành trong nửa đêm. Giáo viên khen tốt. Mọi người lo lắng vì thấy khó. Giáo viên lệnh dùng cần cẩu của xe sửa chữa đưa tất cả các thành viên các xe bị sa lầy lên bờ, tập hợp toàn tiểu đoàn. Ô tô chở vệ binh và cán bộ tiểu đoàn sửa chữa của nhà trường cũng vừa tới. Giáo viên tới bắt tay cán bộ tiểu đoàn sửa chữa xong bước tới hàng quân tuyên bố ta giao lại trang bị nguyên trạng cho đơn vị tới tiếp quản và lên ôtô về trường. Chúng tôi thở phào nhẹ nhõm được về sớm tắm giặt nghỉ ngơi sau một ngày diễn tập căng thẳng, tối xem phim xe tăng chiến đấu ở vùng rừng núi. Dù mệt nhọc, song anh em chúng tôi đêm đó nhiều người chập chờn không ngủ được, luôn liên tưởng tới các tình huống diễn tập, cảnh phức tạp của bộ đội xe tăng quân đội Xô viết vượt khó khăn giành chiến thắng ở rừng núi và nghĩ tới bài học tập cứu kéo ngày mai! Đúng giờ học cứu kéo xe sa lầy. Sau khi hạ khoa mục huấn luyện, giáo viên cho học viên trình bày các phương án, hầu như các kiến thức đã được học đều đã tái hiện.

Cuối cùng giáo viên kết luận vận dụng phương pháp sát hợp với điều kiện thực tế để thực hiện. Từng phương án cụ thể giáo viên chỉ định các học viên điều hành tổ chức cứu kéo, sau đó mạn đàm rút kinh nghiệm bình kết quả đạt mức nào nên anh em nhớ rất kỹ, coi là bài học rất bổ ích. Tổng hợp chung tổ chức và thực hành cứu kéo, mọi người đều đạt yêu cầu trở lên, trong đó chỉ có một phương án đạt giỏi; thời gian mất tất cả hơn 8 giờ, kể cả 30 phút nghỉ trưa. Đồng chí đóng vai tiểu đoàn trưởng diễn tập thú thực chiều qua hạ quyết tâm cứu kéo xong trong đêm nhưng lòng vẫn run chưa thật tin tưởng. Lo là phải xử trí tình huống phức tạp như thế, nếu kịp tổ chức cứu kéo ngay từ chiều ngày hôm qua đến sáng có thể là xong, thời gian dài vì là ban đêm quan sát bị hạn chế. Học viên chưa có lần nào phải tổ chức cứu kéo lớn, nặng như thế này. Nhờ giáo viên tận tình giúp đỡ khêu gợi trí tuệ chung và chỉ đạo thực hành tốt nên mới được như thế. Từ thực tế đợt dã ngoại lần này chúng tôi rút ra bài học về phương pháp huấn luyện rất hay của giáo viên, trợ giáo cũng như sự quan tâm chỉ đạo giúp đỡ của Đảng uỷ, Ban giám hiệu và toàn thể tướng lĩnh, sĩ quan, chiến sĩ, công nhân viên nhà trường đối với đoàn.

Sang năm học thứ tư, tình hình chính trị càng phức tạp hơn trong nội bộ bạn. Song công tác giảng dạy, phục vụ của nhà trường đối với chúng tôi vẫn được tăng cường, bạn muốn chúng tôi đạt kết quả tốt nhất, có thể cao hơn một số lớp quốc tế cùng khoá. Nhận thức được điều đó càng thúc đẩy chúng tôi cố gắng hơn nhằm kết thúc khoá học thật tốt. Vì vậy, về sau học tập càng khó nhưng kết quả đều khá hơn trước. Thi các môn nói chung đều đạt phân đội khá và giỏi. Riêng môn chính trị không phải là môn quá khó, nhưng khó là không thể nói hoàn toàn như tài liệu và lời giảng của giáo viên vì tài liệu đã được sửa chữa và kết luận của giáo viên phải nói đúng như kết luận của ban lãnh đạo theo chủ nghĩa xét lại. Giáo viên biết học viên Việt Nam không đồng tình nên nói: các đồng chí không nhất thiết phải nói hoàn toàn theo tài liệu và kết luận của giáo viên. Tất nhiên dù giáo viên cho phép hay không chúng tôi cũng chỉ có thể nói và viết theo đúng đường lối của Đảng ta, của chủ nghĩa Mác - Lênin. Vì vậy điểm môn chính trị đối với đồng chí có trình độ giỏi nhất đoàn cũng chỉ đạt điểm 4/5 là cùng. Tháng 8 năm 1964 chúng tôi được lệnh đột xuất về nước học tập Nghị quyết 9 của Trung ương Đảng, chỉ thị nêu rõ: chỉ mang đồ dùng gọn nhẹ về nước học nghị quyết xong sẽ sang học tập tiếp. Tuy vậy, bạn đoán là chúng tôi sẽ về hẳn. Tiễn chúng tôi ra về mọi người rất lưu luyến, không ít người mắt đỏ hoe, không chỉ các bà, các cô, các chị em mà cả các tướng lĩnh sĩ quan lưu luyến nắm chặt tay anh em, ý chừng là tiễn biệt chúng tôi! Cũng phải nói thêm là cũng có người dụ dỗ lôi kéo anh em chúng tôi ở lại. Song nhờ anh em tự giác và đoàn có biện pháp quản lý hữu hiệu nên 100% anh em đã lên đường về nước. Có thể nói là thành công lớn. Trong quá trình học tập Nghị quyết Trung ương 9 chúng tôi vẫn được xác định là sang lại Liên Xô học tập. Khi học xong chuẩn bị trở lại Liên Xô thì được quyết định ở lại nhận công tác. Anh em tìm hiểu được biết: do sự kiện Vịnh Bắc Bộ 5-8-1964 Khơ-rut-xốp có thái độ không tốt nên Quân uỷ Trung ương quyết định không để anh em sang học nữa. Chúng tôi đều đồng tình với quyết định trên. Tuy có tiếc vì đã gần đến ngày được nhận bằng tốt nghiệp nhưng phải bỏ! Tốt nghiệp Trường Tăng Tát-sơ-ken sẽ được nhận hai bằng là bằng đào tạo sĩ quan chỉ huy và bằng trung cấp kỹ thuật xe tăng.

Như thế là từ năm 1964 chúng tôi từ biệt nhà trường, ở lại Việt Nam và về Trung đoàn xe tăng 202 công tác. Lớp học viên xe tăng đầu tiên ở Liên Xô chúng tôi đã đóng góp phần công sức của mình vào sự nghiệp xây dựng chiến đấu của Binh chủng Thiết giáp Quân đội Nhân dân Việt Nam. Hình ảnh rất đẹp là chỉ huy lữ đoàn tăng đánh chiếm Dinh Độc lập thì lữ đoàn trưởng học tại Liên Xô và chính uỷ học tại Trung Quốc, nói chung đều phát huy bản chất truyền thống Bộ đội Cụ Hồ.

Viết những dòng này chúng tôi càng nghĩ đến các tướng lĩnh, sĩ quan, cán bộ, giáo viên, nhân viên trường Tăng Tát-sơ-ken Liên Xô đã góp phần không nhỏ vào thành công của từng học viên chúng tôi cũng như thành công của Bộ đội Tăng - Thiết giáp Việt Nam.
Là một thành viên đoàn học viên sĩ quan tăng - thiết giáp học tại Liên Xô về công tác ở Binh chủng và dù được điều về đơn vị nào, tôi tự thấy mình đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Tôi mãi mãi ghi nhớ công ơn của Đảng Cộng sản, Nhà nước, Quân đội và nhân dân Liên Xô, mà trực tiếp là các tướng lĩnh sĩ quan, chiến sĩ và công nhân viên trường Tăng Tát - sơ-ken đã tạo mọi điều kiện có thể phục vụ cho việc trang bị kiến thức binh chủng cho mình đủ sức hoàn thành nhiệm vụ.

Chúc cho tình hữu nghị vĩ đại Việt - Nga mãi mãi tươi xanh.
Logged
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #19 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2009, 12:41:26 AM »

NIỀM VUI ĐI CHIẾN DỊCH

Đại tá Đào văn Xuân


Trong cuộc đời mình, bất cứ anh bộ đội nào cũng có biết bao mơ ước, mà cái mơ ước lớn nhất đó là: Được đi chiến đấu, và cái thời gian dài dằng dặc của một thời chinh chiến có biết bao kỷ niệm vui, buồn.

Đeo ba lô nặng, lại còn súng, đạn, lương thực, thật là vất vả, gian khổ, lắm lúc tưởng chừng như đứt hơi, chân nặng như có đá đeo vào, không thế nhấc nổi đôi chân nữa . . . Chính những niềm vui, dù nhỏ đến đúng lúc đã nâng bước chân ta, cho ta vượt mọi gian khổ, nguy hiểm, tiến lên phía trước. 

Các bạn thử tưởng tượng xem, trong lúc ta đang đẫm mồ hôi, nặng nề lê đôi chân, bất ngờ ta đã đến một nơi rất đẹp, ta đang muốn nghỉ, đúng lúc đó đồng chí giao liên báo tin: “nghỉ”, rồi nói: “đây là cổng trời đấy” . . .nhìn chung quanh xa xa mây đang vờn lượn ở lưng chừng núi, nơi ta ngồi nghỉ, rừng trùng trùng điệp điệp nối đuôi như những gợn sóng biển, xa xa vọng tiếng vượn hót véo von.  Ta thấy cảm giác lâng lâng mọi mệt nhọc tiêu tan, lòng yêu quê hương đất nước trong lòng dâng trào thật mãnh liệt.

Đây không chỉ là cảm xúc của tôi, và có lẽ cũng là của tất cả các bạn, những con người đã một thời xông pha, chinh chiến. Tôi muốn ghi lại vài mẩu chuyện về Chiến dịch đường số 9 - Nam Lào năm 1971.

Mùa hè năm 1970, tôi và anh Đào Huy Vũ Phó Tư lệnh Binh chủng lên nhà nghỉ trên Tam Đảo thăm sức khoẻ Đại tướng Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng và xin chỉ thị về nhiệm vụ. Tổng Tham mưu trưởng căn dặn: “ Sắp tới sẽ có đánh lớn ở quanh khu vực đường số 9. Cần chuẩn bị, khẩn trương, song chú ý giữ bí mật”.

Trên đường về, tôi thấy phấn chấn lạ thường. Từ sau chiến thắng Làng Vây năm 1968. Binh chủng Tăng - Thiết giáp vẫn “án binh bất động”. Tôi luôn suy nghĩ đến nguyện vọng của cán bộ, chiến sĩ, muốn được đi chiến đấu. Trong anh em lưu truyền câu thơ:

Tiếng súng Đông-xuân đã nổ rồi
Binh đoàn ông Vũ vẫn nằm chơi.


Nghĩ đến nhiệm vụ tới, trong tôi chợt loé lên 4 thơ hoạ lại:

Tiếng súng Đông-xuân sắp nổ rồi,
Binh đoàn Thiết giáp, chẳng nằm chơi,
Sông Hồng, núi Tản, đang vẫy gọi :
- Xốc tới đi thôi, Thiết giáp ơi.


Xuống xe đi bên nhau, anh Vũ nói: Mình nghĩ xe tăng T34 cũ quá rồi, nên đưa đi chiến dịch. Dù hỏng hết, mà T34 được góp vào truyền thống chiến thắng có lẽ tốt hơn, ông nghĩ thế nào?

- Hoàn toàn nhất trí. Cái lớn nhất là đảm bảo cơ động vào chiến trường. ông tính kỹ xem. Được vấn đề đó sẽ bàn với Cục Tác chiến, Bộ Tổng Tham mưu.

Tôi nói tiếp: Có thể sắp tới, trên khu vực đường số 9, sẽ diễn cuộn đọ sức quyết liệt giữa quân chủ lực của miền Bắc xã hội chủ nghĩa với quân chủ lực của Mỹ - nguỵ Sài Gòn, ta nên đưa cả xe tăng T54, chắc chắn sẽ có nhiều kinh nghiệm cho những trận đánh lớn sau này. Anh Vũ, mắt sáng rực lên nhìn tôi: hai chúng tôi nắm chặt tay nhau.  Thế là sư bộ phương án sử dụng xe tăng trong chiến dịch đã hình thành, chỉ còn đưa ra bàn trong Ban Thường vụ Đảng uỷ Binh chủng và báo cáo lên Bộ Tổng Tham mưu.

Tháng 6 năm 1970 anh Đào Huy Vũ sang chiến trường Lào, tham gia chiến dịch Mường Sủi.  Thật không ngờ, sau chiến dịch Nam - Lào, trở về Binh chủng, tôi được tin anh nằm Bệnh viện 108.  Vào thăm anh, tôi sững sờ khi thấy anh đã bị quân thù cướp đi một con mắt.

Tháng 9 năm đó, hai tiểu đoàn xe tăng T54 và T34 có lệnh lên đường. Cơ quan Tham mưu Binh chủng đã lấy ngày có lệnh lên đường của từng tiểu đoàn để đặt phiên hiệu, vừa để kỷ niệm cho các đơn vị vừa để giừ bí mật khi dùng điện đài báo cáo . . .

Tiểu đoàn xe tăng T54 đặt tên là 297 tức là tiểu đoàn có lệnh hành quân ngày mồng 2 tháng 9 năm 1970. Còn tiểu đoàn xe tăng T34 đặt tên là 397.  Trong chiến dịch này ta đã sử dụng 3 tiểu đoàn xe tăng.

Tiểu đoàn 397 xuất phát từ Vĩnh Yên,còn tiểu đoàn 297 xuất phát từ Xuân Mai - Hoà Bình. Tiểu đoàn 198 đã ém sẵn ở chiến trường đường 9 từ sau trận Làng Vây trong chiến dịch Khe Xanh năng 1968.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM