Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 17 Tháng Chín, 2019, 11:11:31 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Theo Vết xích xe tăng - Tập 1  (Đọc 54025 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
rongxanh
Thành viên
*
Bài viết: 2085

Mơ về nơi xa lắm.


« vào lúc: 08 Tháng Tám, 2008, 08:11:06 AM »

Tên sách: Theo vết xích xe tăng-Tập 1 Nhà xuất bản: Hội nhà văn Năm xuất bản: 2002
Số hoá: ptlinh , rongxanh
===================

LỜI NÓI ĐẦU
[/b]

Binh chủng Tăng - Thiết giáp, Quân đội Nhân dân Việt Nam ra đời từ sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, ngày 5 -10 - 1959.

Kể từ ngày 13 tháng 7 năm 1960 , đúng 17 giờ, những chiếc xe tăng T34, do Liên Xô viện trợ, đã được chuyển bằng xe lửa về tới ga Vĩnh Yên và đúng 18 giờ 33 phút chiếc xe tăng mang số hiệu 114 do trung sĩ lái xe tăng Đào Văn Bàn điều khiển đã in vết xích đầu tiên trên mảnh đất Việt Nam. Từ đó vết xích xe tăng đã cùng năm tháng trải dài theo đất nước, vượt trên 3000 kilômét tiến vào thành phố Sài Gòn trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Trải qua những năm tháng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc và làm nhiệm vụ quốc tế, Bộ đội xe Tăng - Thiết giáp đã tham gia 15 chiến dịch lớn, đánh 211 trận. Xuất quân lần đầu trong trận Làng Vây, chiến dịch Khe Sanh, mùa xuân năm 1968, mới có 16 xe tăng xung trận, nhưng 3 năm sau, trong chiến dịch đường số 9 - Nam Lào, số xe tăng tham gia chiến đấu đã là 88 chiếc, còn trong cuộc tấn công chiến lược mùa xuân năm 1972, quân đội ta đã sử dụng 332 xe tăng, thiết giáp; cuối cùng trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975, Bộ Tổng tư lệnh đã huy động 398 xe tăng thiết giáp tiến vào chiến đấu.

Đánh giá về sự đóng góp của Bộ đội xe Tăng - Thiết giáp, Chủ tịch Tôn Đức Thắng đã thay mặt Đảng và Nhà nước, viết thư khen ngợi "Bộ đội Thiết giáp của ta tuổi trẻ mà nhiều chiến công, đã ra quân  là đánh thắng". "Đã ra quân là đánh thắng", ý chí đó 1 đi cùng cán bộ chiến sĩ xe tăng, suốt quá trình cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ và đã trở thành truyền thống của Bộ đội Xe tăng - Thiết giáp Việt Nam Anh hùng.

Tính đến năm 2001, Bộ đội Xe tăng - Thiết giáp đã được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân cho Binh chủng và 27 đơn vị, 11 cá nhân.

Trong tập "Theo vết xích xe tăng" này, hầu hết các tác giả là lớp thanh niên đã ra đi cầm súng chiến đấu từ những ngày đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và lại đi tiếp cuộc đời "Binh nghiệp" của mình từ những ngày xây dựng đơn vị xe tăng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam - Trung đoàn xe tăng 202. Ngày nay phần lớn các đồng chí đã ở cái tuổi "cổ lai hy”, nhưng với tấm lòng của "Anh Bộ đội Cụ Hồ", nên đã cố gắng nhớ và viết lại với mong muốn gửi tới lớp chiến sĩ trẻ vài cảm xúc của mình về một thời chinh chiến.

Vì tuổi đã cao, và từ cái ngày "xếp bút nghiên lên đường tranh đấu” tới nay mới cầm bút trở lại nên khó tránh khỏi thiếu sót.

Mong bạn đọc thứ lỗi và góp ý kiến để nếu có. điều kiện ra tập sau sẽ tốt hơn.
Cuối cùng chúng tôi xin chân thành cám ơn Bộ Tư lệnh Tăng - Thiết giáp và Hội Nhà văn Việt Nam đã giúp đỡ chúng tôi để có thể cho ra mắt bạn đọc cuốn hồi ức này.

Logged
rongxanh
Thành viên
*
Bài viết: 2085

Mơ về nơi xa lắm.


« Trả lời #1 vào lúc: 08 Tháng Tám, 2008, 08:11:49 AM »

LỜI GIỚI THIỆU
[/b]

Tôi rất cảm động được các anh trong Ban biên soạn cho đọc bản thảo tập sách “Theo vết xích xe 1tăng”. Đấy là văn của các thủ trưởng, những người anh và những đồng đội của tôi trong Binh chủng Tăng - Thiết giáp Anh hùng. Cái quý nhất ở tập sách này là cuộc sống. Cuộc sống chiến đấu của một Binh chủng rất mới, hiện đại, lắm khúc quanh, nhưng thật oai hùng. Có thể nói tới cả các giai đoạn phát triển của Binh chủng với những sự kiện quan trọng nổi bật nhất đều đã được các anh ghi lại một cách chân thực và xúc động. Không phải là người trong cuộc, không thể có những trang văn như thế. Hơn nữa, không phải là người gắn bó máu thịt với Binh chủng, không thể có những trang lay động lòng  người đến thế.

Văn là người. Tôi hiểu rất rõ vì sao sự khiêm nhường vốn có, các tác giả chưa có thể nói hết được về mình, nhất là về những chiến công mà chính các anh là những tác giả. Nhưng, tình bất tận ngôn. Chính cái chỗ các anh còn chưa nói hết ấy, lại là chỗ để người đọc cảm nhận, liên tưởng, nghĩ ngợi, và tin yêu hơn.

Gấp lại tập bản thảo, tôi tự hỏi, mình từng là chiến sĩ được rèn luyện và trưởng thành từ Binh chủng, cho nên mình yêu mến và trang trọng, biết ơn và kính phục là chuyện đương nhiên. Còn với một người đọc ngoài Binh chủng, cảm nhận của họ thế nào? Lâu nay, trên phim ảnh, người ta đã quá quen với hình ảnh những chiếc xe tăng hùng dũng, tung hoành trong lửa đạn. Nhưng gương mặt con người trong những chiếc xe tăng đó thì còn ít người viết. Tập sách “Theo vết xích xe tăng” giúp bạn đọc đi sâu vào thế giới tâm hồn, cuộc sống phong phú đầy gian khổ, hy sinh và cũng đầy lạc quan của cán bộ chiến sĩ xe tăng qua mỗi chặng đường chiến đấu. Điều đó giải thích vì sao Binh chủng xe tăng non trẻ mà "Đã ra quân là đánh thắng", một Binh chủng Anh hùng của Quân đội Nhân dân Việt Nam anh hùng. Giá trị giáo dục, giá trị cảm hoá của tập sách chính là ở đó.

Xin cám ơn các tác giả kính yêu và xin trân trọng giới thiệu tập sách cùng bạn đọc.

Hữu Thỉnh
Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam
Logged
rongxanh
Thành viên
*
Bài viết: 2085

Mơ về nơi xa lắm.


« Trả lời #2 vào lúc: 08 Tháng Tám, 2008, 08:13:31 AM »

TÔI LÀ CHIẾN SĨ XE TĂNG

Thiếu tướng Nguyễn Thế Lâm,
Nguyên Tư lệnh Binh chủng (1971 - 1974)

Trong đời Anh Bộ đội Cụ Hồ, tôi được vinh dự làm Tư lệnh hai Binh chủng Quân đội Nhân dân trong những thời kỳ quyết liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Sau nhiều năm công tác và chiến đấu ở Binh chủng Pháo binh, đầu năm 1971, tôi được điều động về làm Tư lệnh Binh chủng Thiết giáp, hiện nay là Tăng - Thiết giáp: Tư lệnh đầu tiên của một Binh chủng vào loại hiện đại của Lục quân, nỗi lo chủ yếu của tôi là chưa được học chuyển binh chủng theo thông lệ.
Nhưng cấp trên đã biết trước và động viên khi giao nhiệm vụ: Đồng chí tuy chưa được học về xe tăng, nhưng đã có kinh nghiệm tham gia xây dựng và chiến đấu nhiều năm ở Bộ đội Pháo binh (1955 - 1970). Cũng là một binh chủng chiến đấu có trang bị kỹ thuật cao, đồng chí có thể phát huy những kinh nghiệm đã có vào nhiệm vụ mới.

Đúng là tăng và pháo đều là xe pháo. Tôi cũng đã từng ngồi học tập trong xe xích, loại để vận chuyển đồng thời cũng là bệ phóng của tên lửa đất đối đất.
Nhưng tăng vẫn là lực lượng xung kích, còn pháo là hoả lực để chi viện. Cả hai đều là lực lượng cùng hợp đồng chiến đấu với bộ binh (hoặc bộ binh cơ giới), bộ binh cơ động và chiến đấu trên xe và cả hai đều có thể độc lập chiến đấu như ta vẫn sử dụng trong chiến tranh và tôi đã suy nghĩ bí quyết thành công của ta là vừa làm vừa học, thực tế không cho phép ta có đủ cán bộ từ nhà trường binh quân chủng nào sử dụng vào quân binh chủng đó?

Tôi tản mạn nghĩ những ngày sắp đến, khi bộ đội Tăng - Thiết giáp diễn tập để chuẩn bị lên đường vào Nam chiến đấu.

Tôi tin tưởng bộ đội Tăng - Thiết giáp cũng như toàn quân, toàn dân quyết tâm thực hiện Di chúc của Bác "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào".
Phải bắt tay ngay vào nhiệm vụ mới. Khi về đến cơ quan Bộ Tư lệnh ở Vĩnh Yên, các đồng chí Lê Ngọc Quang, chính uỷ, Dương Đằng Giang, tham mưu trưởng đã thông báo vắn tắt tình hình Binh chủng và cho biết ý định của các đồng chí trong Bộ tư lệnh là tôi sẽ vào tham gia chiến dịch Đường 9 - Nam Lào ngay. Đã có bộ phận vào trước, gồm các đồng chí Lê Xuân Kiện, tham mưu phó, Đào Văn Xuân, chủ nhiệm chính trị và một số trợ lý tham mưu, chính trị, hậu cần và kỹ thuật.

Bộ đã quyết định sử dụng ba tiểu đoàn. Tất cả đều đã vào vị trí tập kết trên Đường 9 - Quảng Trị. Đã tham gia đánh thắng một trận hiệp đồng rồi. Tôi rất xúc động về sự tín nhiệm của anh em.

Trên đường vào chiến dịch, tôi suy nghĩ vài mẩu chuyện anh em đã kể về Binh chủng thời gian trước ngày ra quân đánh thắng trận đầu : Tà Mây - Làng Vây trong chiến dịch Khe Sanh - Đường 9 mùa xuân Mậu Thân 1968.

Câu chuyện xe tăng ta chưa xuất trận được thì người ra trận trước. Những đoàn cán bộ bao gồm cả cấp tiểu đoàn, đại đội, trưởng xe, lái xe, pháo thủ… đã lên đường vào Nam từ 1964 và 1965, khi Mỹ bắt đầu đưa quân xâm lược nước ta. Nhiệm vụ của đoàn là tham gia chiến đấu bộ binh với yêu cầu là lấy xe địch đánh địch. Đoàn còn có nhiệm vụ nghiên cứu thực tế chiến trường, chuẩn bị đón xe tăng của ta vào, khi đường Trường Sơn thông xe cơ giới. Và phải đến cuối năm 1971, tiểu đoàn xe tăng đầu tiên mới vượt Trường Sơn vào Tây Nguyên sau đó thời cơ đến, lực lượng xe tăng đi tiếp đến Lộc Ninh miền Đông Nam Bộ.

Rồi chuyện: Xe tăng chưa đi chiến đấu được thì niêm cất xe vào kho, nhận pháo cao xạ 37 li về học chuyển binh chủng cấp tốc, để tham gia bắn máy bay giặc Mỹ cùng quân dân miền Bắc. Hành động này của hàng chục đại đội xe tăng đã lập thành tích bắn rơi máy bay, được khen thưởng. Nhưng khi có lệnh phải trả pháo cao xạ để trở về với xe tăng, chuẩn bị hành quân vào chiến trường.

Suy nghĩ chuyện trên, tôi càng mến càng phục tính kỷ luật và tinh thần chiến đấu của chiến sĩ xe  tăng.

Vào đến Sở chỉ huy chiến dịch của Bộ, tôi tìm vào vị trí của Binh chủng. Tôi đã có kinh nghiệm khi còn ở Pháo binh đi tham gia chiến dịch của Bộ như thế này và cũng quen biết hầu hết cán bộ cao cấp như anh Vũ Lăng, Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu, là Tham mưu trưởng chiến dịch, anh Doãn Tuế, Tư lệnh Pháo binh, anh Hoàng Văn Khánh, Tư lệnh Phòng không... vốn là bạn chiến đấu trong suốt hai cuộc kháng chiến, hôm nay đều là tham mưu binh quân chủng chiến dịch như tôi...

Binh chủng Tăng - Thiết giáp trong chiến dịch này đã trực tiếp tham gia 2 trận đánh hiệp đồng thắng lợi: trận tiêu diệt cao điểm 543 của Đại đội 9 Tiểu đoàn 198 Trung đoàn 203 phối thuộc cho Trung đoàn 64 Sư đoàn 320 (Tấn công tiêu diệt Sở Chỉ huy Lữ đoàn 3 nguỵ bắt sống đại tá lữ trưởng Nguyễn Văn Thọ).
Trận thứ 2 là trận tấn công lữ TQLC 147 (nguỵ) phòng ngự điểm cao 550 thuộc vùng rừng núi gần biên giới Việt - Lào, về phía Tây Nam (Lao Bảo - Quảng Trị).
Tôi đã trực tiếp đôn đốc đại đội tăng vào tăng cường cho Sư đoàn 324 thuộc Quân khu Trị Thiên - Huế do đồng chí Nam Long trực tiếp chỉ huy. Nỗi mừng gặp anh qua điện thoại, trao đổi với anh chuẩn bị đón đại đội tăng bước vào chiến đấu ngay để kịp thời cơ diệt địch. Tôi lại động viên Đại đội 3 Tiểu đoàn 397 Trung đoàn 202 đang cấp tốc hành quân suốt đêm vào kịp hiệp đồng tiêu diệt Lữ đoàn Thuỷ quân lục chiến ngụy, kết thúc thắng lợi chiến dịch Đường 9 - Nam Lào.

Đây là một trận chiến đấu hiệp đồng giữa đơn vị tăng và sư đoàn bộ binh rất quen thuộc với tôi ở chiến trường Trị Thiên - Huế, có lịch sử từ những trung đoàn chủ lực của Liên khu 5, trong thời chống Pháp, mà còn có thời kỳ tôi là Tư lệnh. Nhớ lại những ngày đã cùng sư trưởng Chu Phương Đới và chính uỷ Nguyễn Ân của Sư đoàn 324 hành quân chiến đấu trên giải đất Trị Thiên – Huế. Còn anh Nam Long đã cùng chiến đấu ở Cực Nam Trung Bộ trong những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp và cùng trong Bộ Tư lệnh Quân khu Trị Thiên Huế 3 năm trước đây (1968 - 1970).

Cuộc gặp mặt hiệp đồng, tuy chỉ trên điện thoại với nhau giữa tăng và bộ binh để lại cho tôi một kỷ niệm sâu sắc.

Kết thúc chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, sau ~ 52 ngày chiến đấu (31 - 1 - 1971 đến 23 - 3 - 1971). Một chiến dịch toàn thắng của khối chủ lực của Trung ương, trong đó có đủ các Binh Quân chủng trực tiếp tham gia cùng Binh đoàn B70 và các lực lượng tại chỗ của Quân khu 4, Quân khu Trị Thiên - Huế và 559.
Trở về Vĩnh Yên, doanh trại của Bộ Tư lệnh Tăng - Thiết giáp, tất cả chúng tôi bắt tay vào một loạt công tác chuẩn bị cho năm 1972: Tổng kết hoạt động chiến đấu của Binh chủng trong năm 1971 chuẩn bị lực lượng cho các chiến trường toàn miền Nam, vì dự kiến đường Trường Sơn sẽ thông xe để đưa xe tăng vào Khu 5 và Nam Bộ.

Bộ Tư lệnh Binh chủng đã mở Hội nghị Tổng kết những trận chiến đấu hiệp đồng ở cả chiến dịch Đường 9 - Nam Lào và Cánh đồng Chum. Đại diện của Bộ và đại biểu các cơ quan của Tổng cục, các binh quân chủng bạn đều về dự, tham gia nhiều ý kiến về kinh nghiệm tác chiến hiệp đồng với tăng. Bản tổng kết của Binh chủng đã được báo cáo tại Hội nghị Tập huấn của Bộ, Hội nghị Quân chính chuẩn bị cho cuộc tấn công chiến lược năm 1972 trên các chiến trường miền Nam.

Binh chủng được viện trợ trang bị mới: T54B, và đặc biệt lần đầu tiên có thêm các loại xe thiết giáp bánh xích bánh hơi lội nước, xe chở bộ binh chiến đấu, xe chỉ huy, xe bảo đảm kỹ thuật.

Bộ giao cho Binh chủng nghiên cứu tổ chức đơn vị bộ binh cơ giới cùng xe tăng chiến đấu hiệp đồng, có các binh chủng chi viện và bảo đảm như cao xạ công binh... Sau nhiều cuộc hội thảo về tổ chức trang bị xây dựng đơn vị bộ binh cơ giới đầu tiên cho quân đội ta và được Bộ quyết định.

Tôi muốn nói vài cảm nghĩ trong trận thọc sâu vu hồi của Tiểu đoàn 66 Trung đoàn bộ binh cơ giới 202 (A7) hiệp đồng cùng Trung đoàn bộ binh 27 ngày 28-4-1972 và trận phản kích diệt Lữ ngụy 147 ở Nam Cửa Việt cũng của Tiểu đoàn 66 phối hợp cùng Trung đoàn bộ binh 101 Sư đoàn 325 từ ngày 26 đến 31- 1 - 1973. Tôi nghĩ bộ binh cơ giới sử dụng ở phía đông Quảng Trị, trên địa hình bãi cát trống trải sát biển, đã phát huy tác dụng được như thế thật đáng mừng. Sau ngày ký Hiệp định ngừng bắn, anh Nguyễn Tất Tài lữ trưởng Lữ đoàn xe tăng 203 đã đưa tôi đi xem suốt từ Cửa Việt lên Lao Bảo, vào Triệu Phong dọc những đồi cát Hải Lăng lên Đông Hà. Hai anh em trên cùng một chiếc xe thiết giáp chỉ huy, anh Tài đã kể lại diễn biến một số trận đánh và rất tâm đắc trong tác dụng tăng - thiết giáp mở đầu cho tương lai bộ binh cơ giới làm nhiệm vụ thọc sâu 1 chiến dịch, chiến thuật vào sào huyệt địch.

A7 không đạt được kết quả như mơ ước, nhưng đã mở đường cho việc phát huy sức mạnh của hiệp đồng binh chủng của người chỉ huy từ chiến dịch đến chiến đấu trong trách nhiệm tạo điều kiện cơ động cao cho tăng thiết giáp vu hồi thọc sâu.

Kết thúc thắng lợi cuộc tấn công chiến lược năm 1972 trong 2 năm 1973 - 1974, bao nhiêu công việc đều tập trung theo hướng giải phóng hoàn toàn miền Nam theo những Nghị quyết của Đảng. Một số cán bộ được cấp trên bố trí đi học nước ngoài. Đồng chí Đào Huy Vũ, Phó Tư lệnh, Lê Xuân Kiện, tham mưu phó và một số cán bộ tham mưu và chỉ huy. Một đoàn do đồng chí Đào Văn Xuân, Phó Chính uỷ tham gia đoàn cán bộ của Bộ vào nắm tình hình chiến trường để có kế hoạch bổ sung tăng cường cho lực lượng phía Nam. Bộ Tư lệnh và các cơ quan xuống các đơn vị chiến đấu đã ra phía Bắc để bổ sung quân số trang bị, tổ chức tổng kết chiến đấu. Bộ Tư lệnh cũng tiến hành Tổng kết và tham dự Tổng kết của Bộ.

Tất cả trên dưới, ở Bộ cũng như ở Binh chủng, 1 một không khí nhộn nhịp, khẩn trương, nỗ lực chuẩn bị cho kế hoạch giành thắng lợi quyết định, đúng theo ý nghĩa của Di chúc Bác Hồ! Chúng tôi được phổ biến Nghị quyết của Bộ chính trị trước tình hình mới, tranh thủ giải phóng miền Nam trong thời gian ngắn nhất!

Tôi muốn ghi lại một hình ảnh có ý nghĩa lịch sử sâu sắc với tôi: Hội nghị chuẩn bị kế hoạch xây dựng và phát triển lực lượng Tăng -Thiết giáp để giành toàn thắng! Hội nghị do đồng chí Hoàng Văn Thái, Thủ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì. Đồng chí đã chỉ thị cho Bộ Tư lệnh Thiết giáp phải gấp rút. chuẩn bị một bản dự thảo kế hoạch báo cáo với Đoàn công tác của Bộ.

Đồng chí Hoàng Văn Thái đã nhiều năm ở cương vị Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam, từ sau khi đồng chí Nguyễn Chí Thanh qua đời. Sau Hiệp định Paris, đồng chí trở lại công tác Thủ trưởng Bộ Quốc phòng tại miền Bắc và được Quân uỷ Trung ương giao nhiệm vụ chuẩn bị kế hoạch kiện toàn và phát triển lực lượng Quân giải phóng miền Nam, theo Nghị quyết của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương.

Trọng tâm của kế hoạch là tập trung giải quyết bằng được nhiệm vụ kiện toàn các trung lữ đoàn Tăng - Thiết giáp đang đứng chân từ Quảng Trị trở vào và các lữ đoàn Tăng - Thiết giáp cho các Quân đoàn sẽ phát triển ở Trị Thiên - Huế và Tây Nguyên.

Thường vụ Đảng uỷ Binh chủng đã phân công tôi cùng anh em tham mưu chuẩn bị dự thảo kế hoạch để Thường vụ thông qua trước khi làm việc với Đoàn công tác của Bộ.

Chúng tôi có thuận lợi đã đi xuống các đơn vị chiến đấu đã ra phía Bắc để củng cố, tình hình các đơn vị ở Tây Nguyên, Nam Bộ (đoàn đồng chí Đào Văn Xuân, Phó Chính uỷ Binh chủng tham gia đoàn công tác của Tổng cục Chính trị vào trực tiếp nắm chắc).

Thường vụ Đảng uỷ Binh chủng có mấy đồng chí tham gia họp là: Phạm Sinh, Nguyễn Thế Lâm, Đào Văn Xuân và Trịnh Hoàng Đỉnh. Đoàn của Bộ do đồng chí Hoàng Văn Thái dẫn đầu gồm có đồng chí: Lê Ngọc Hiền, Cục trưởng Cục Tác chiến, Giáp Văn Cương, Cục trưởng Cục Quân lực, Cao Văn Khánh, Cục trưởng Cục Quân huấn.

Đoàn về làm việc ngay tại Bộ Tư lệnh Binh chủng trong một tuần. Bố trí kế hoạch như vậy, đoàn cũng có ý định để thời gian đi xem các trang bị Tăng - Thiết giáp loại mới được viện trợ và cùng trao đổi với các đồng chí trong Bộ Tư lệnh để thông qua một kế hoạch sát thực với tình hình đang rất khẩn trương.
Tôi đã nhiều năm trực tiếp công tác với đồng chí Hoàng Văn Thái: tham gia chiến dịch Hoà Bình trong kháng chiến chống thực dân Pháp năm 1952 bên cạnh đồng chí Võ Nguyên Giáp Tư lệnh chiến dịch, đồng chí là Tham mưu trưởng. Trong kháng chiến chống Mỹ là cấp Tư lệnh Binh chủng, Tư lệnh Chiến trường cũng đã trực tiếp là cấp dưới của đồng chí. Chúng tôi rất mến phục tác phong công tác sâu 1 sát luôn gần gũi, kiên trì nghe ý kiến cấp dưới, tôn trọng kinh nghiệm thực tiễn của cấp dưới để quyết định những vấn đề quan trọng.
Làm việc với Đoàn, tôi trình bày bản dự thảo kế hoạch và các đồng chí trong Thường vụ đã bổ sung thêm những vấn đề cần thiết, nhất là tình hình các đơn vị ở sâu trong miền Nam, Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ trong khu giải phóng của ta có điều kiện bảo đảm kỹ thuật.

Sang những ngày tiếp theo, cuộc trao đổi ý kiến sôi nổi trên từng vấn đề: kiện toàn cho mỗi khu vực một trung đoàn Tăng - Thiết giáp trên cơ sở những tiểu đoàn và trung đoàn đã có. Lấy kinh nghiệm tổ chức lữ đoàn cơ giới Tăng - Thiết giáp đầu tiên cho Quân đoàn I, quân đoàn đầu tiên của quân đội ta, đề nghị với Bộ có phương án phát triển các lữ đoàn cơ giới tiếp theo trên cơ sở những lữ đoàn tăng cho những quân đoàn mà triển vọng sẽ nhanh chóng phát triển tiếp sau Quân đoàn I.

Tinh thần thảo luận của những ngày làm việc đều hướng theo tinh thần Nghị quyết của Bộ Chính trị, tất cả vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước trong 1 - 2 năm tới, lực lượng phải sẵn sàng để khi có thời cơ thì giải phóng ngay trong năm tới!

Thời cơ do ta tạo nên, nhân dân miền Nam và cả nước đã sẵn sàng. Ta phải tạo thế và lực. Thế ở tình hình chung trên thế giới, trong nước, đặc biệt trên chiến trường. Lực phải do chúng ta quyết tâm tạo nên, hành động của Binh chủng là một đóng góp cùng toàn quân toàn dân tạo thế và lực để giành toàn thắng.
Hội nghị đã tiến hành và kết thúc trong không khí lạc quan tin tưởng nhưng không ai nghĩ ngày ấy đã đến nhanh trong chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng vào ngày 30 – 4 - 1975.

Đầu năm 1975 tôi được điều về Hội đồng Khoa học Quân sự của Bộ. Trưa ngày 30 – 4 - 1975 đồng chí Tổng Tư lệnh vui mừng thông báo xe tăng ta đã vào Dinh Tổng thống nguỵ quyền, treo cờ Giải phóng. Thời gian qua đi tôi không bao giờ quên những kỷ niệm sâu nặng về Binh chủng Tăng - Thiết giáp yêu quý của mình, tôi muốn nói lên niềm tự hào của “Một chiến sĩ xe tăng!”
Logged
rongxanh
Thành viên
*
Bài viết: 2085

Mơ về nơi xa lắm.


« Trả lời #3 vào lúc: 08 Tháng Tám, 2008, 08:14:20 AM »

TỪ HƯƠNG SƯ TRỞ THÀNH VỊ TƯỚNG XE TĂNG

Trung tá Nguyễn Đình Phượng
Cán bộ cục Chính trị, Bộ Tư lệnh Tăng - Thiết giáp.

Nhiều người gọi ông với cái tên trìu mến và trân trọng "Tướng xe tăng". Riêng tôi những năm tháng ít ỏi được làm lính dưới quyền ông đã cảm nhận thêm về tài năng, phẩm chất đạo đức của một vị tướng "Bộ đội Cụ Hồ". Ông chính là Thiếu tướng Đào Huy Vũ.

Ông tuổi Giáp tý sinh ngày 13 - 10 - 1924 trong một gia đình nông dân thuộc xã Xuân Canh - Đông Anh - Hà Nội, sớm giác ngộ cách mạng, anh thanh niên Đào Huy Vũ tích cực tham gia các hoạt động trong phong trào thanh niên cứu quốc ở địa phương. Vì nhà nghèo, để có tiền nuôi sống mình và tiếp tục hoạt động cách mạng ông vừa làm thầy giáo trường làng vừa tranh thủ đi bán rượu nhà tự nấu. Trong một lần đi bán rượu kết hợp với vận động quần chúng, ông bị nhà đoan bắt. Cuối năm 1945, ông tạm biệt các học trò lên đường nhập ngũ. Sau đó ít lâu, ông có mặt trong đoàn quân Nam tiến, vào chiến đấu tại mặt trận Buôn Ma Thuột.

Cũng như nhiều tướng lĩnh khác của quân đội ta. Tuổi trẻ của Đào Huy Vũ là những cuộc hành quân chiến đấu trên các chiến trường. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ông có mặt ở hầu  hết các chiến dịch lớn: Hoà Bình, Quang Trung, Tây  Bắc, Điện Biên Phủ, Thượng Lào... Dù ở vị trí người  chiến sĩ hay cán bộ trung đội cho đến trung đoàn 1 trưởng ông đều tận tuỵ hoàn thành xuất sắc nhiệm  vụ. Hoà bình lập lại trên miền Bắc được ít lâu (8 -  1956), ông được giao nhiệm vụ Trưởng đoàn cán bộ  chiến sĩ sang Trung Quốc học tập về xe tăng. Tháng  10 - 1959, về nước ông được giao làm trung đoàn trưởng Trung đoàn 202 xe tăng đầu tiên của quân 1 đội ta.

Đào Huy Vũ là con người của hành động. Từ 1 khi còn là trung đoàn trưởng của Trung đoàn xe  tăng 202 cho đến khi làm Tư lệnh Binh chủng Tăng - Thiết giáp ông luôn toàn tâm toàn ý xây dựng đơn vị cùng với tập thể Đảng uỷ, chỉ huy lực lượng Tăng - Thiết giáp đủ sức đánh thắng kẻ thù. Đầu năm 1967, sau khi được cấp trên thông báo chuẩn bị để đưa xe tăng vào chiến trường, lúc đó với cương vị Phó Tư lệnh Binh chủng ông đã đề xuất nhiều phương án có giá trị về nghệ thuật quân sự. Ông trực tiếp dẫn đầu một nhóm cán bộ bí mật vào chiến trường nghiên cứu tình hình. Sau khi Thường vụ Đảng ủy Binh chủng quyết định phương án hành quân bằng xích ông lại là người trực tiếp điều hành, chỉ huy toàn bộ cuộc hành quân. Sau chiến thắng trận đầu ở Làng Vây, ông vẫn tiếp tục nghiên cứu, đề xuất nhiều phương án về xây dựng lực lượng cũng như tác chiến của bộ đội Tăng - Thiết giáp. Tháng 6- 1970, ông tham gia đoàn cán bộ sang chiến trường. nước bạn Lào, kẻ thù đã cướp đi con mắt trái của ông.

Kinh nghiệm trận mạc cùng với kiến thức học được ở nhà trường đã giúp ông có một nhãn quan luyện quân, dùng quân khá sắc sảo. Ông am hiểu sâu sắc về khoa học quân sự và là người có kinh nghiệm trong sử dụng bộ đội Tăng - Thiết giáp trên chiến trường. Có thể nói từ trận đầu ở Làng Vây cho đến việc sử dụng Tăng - Thiết giáp trong cuộc Tổng tiến công mùa Xuân năm 1975 đều có công lao đóng góp của ông.

Nhớ lại, khi đội hình cánh quân "Duyên Hải" chuẩn bị tiến công Phan Rang, ông đề nghị trực tiếp đi với Lữ đoàn 203. Ông nêu ý kiến: "Đây là lần đầu sử dụng tập trung cả lữ đoàn lại vận dụng tác chiến theo hình thức "đánh trong hành tiến", vì vậy sẽ có nhiều cái mới nảy sinh...". Thường vụ Đảng uỷ Binh chủng thảo luận và nhất trí phương án Tư lệnh Bính chủng Tăng - Thiết giáp đi trong đội hình chiến đấu của lữ đoàn, phương án này đã được Trung tướng Lê Trọng Tấn, chỉ huy cánh quân "Duyên Hải" phê chuẩn.

Đào Huy Vũ là người say mê nghiên cứu khoa họe quân sự. Học tập, nghiên cứu luôn là niềm say mê và hứng thú của ông. Vốn là một nhà giáo nên việc học của ông luôn có bài bản và theo đúng nguyên tắc chặt chẽ do mình tự đặt ra. Nhiều cán bộ sống gần gũi với ông kể lại rằng, lúc nào ông cũng mang theo sách bên mình để học. Ông cũng là người quí trọng sách vở, các anh công tác ở Thư viện Binh chủng hồi đó kể lại rằng, ông nhớ hết vị trí từng cuốn sách nói về khoa học quân sự và Tăng - Thiết giáp đặt trên giá trong Thư viện. Mỗi lần ra nước ngoài công tác học tập ông đều bỏ tiền cá nhân mua sách mang về góp vào thư viện Binh chủng. 30 tập Từ điển Bách khoa quân sự (Liên Xô cũ) hiện có trong Thư viện Binh chủng Tăng - Thiết giáp chính là do công sức của ông. 

Suốt cuộc đời làm "Bộ đội Cụ Hồ", Đào Huy Vũ đã nêu một tấm gương tốt về "Cần kiệm, liêm chính". Không may bị căn bệnh hiểm nghèo, ông đã từ trần ngày 11 - 12 - 1986, để lại niềm tiếc thương cho đồng đội.
Logged
rongxanh
Thành viên
*
Bài viết: 2085

Mơ về nơi xa lắm.


« Trả lời #4 vào lúc: 08 Tháng Tám, 2008, 08:15:05 AM »

NHỚ CÂU THƠ CHÚC TẾT CỦA BÁC HỒ

Đại tá Lê Ngọc Quang, nguyên Chính uỷ Binh chủng Tăng - Thiết giáp (1965-1972).

Tôi là một trong số người có may mắn và vinh dự có mặt từ những ngày đầu thành lập Bộ Tư lệnh Binh chủng Tăng - Thiết giáp. Cái may mắn nhất là tôi được tham gia trận đánh đầu tiên của Bộ đội xe tăng trên chiến trường miền Nam.

Năm 1968, cục diện chiến trường miền Nam đang có những thay đổi lớn, đây là cơ hội để Binh chủng Tăng - Thiết giáp lập công. Nhận lệnh của trên điều một phân đội xe tăng lội nước tham gia vào chiến dịch Khe Sanh. Tiểu đoàn 198 phối hợp với Trung đoàn 24 bộ binh Sư đoàn 304 và một tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 25 tiêu diệt cứ điểm Làng Vây. Xe tăng xuất trận đầu tiên với khát vọng cháy bỏng được đánh của toàn thể cán bộ, chiến sĩ Binh chủng. Với khẩu hiệu "Đã ra quân là đánh thắng", hừng hực khí thế xung trận.

Đòn tập kích chiến lược Tết Mậu Thân năm 1968 làm cho địch bất ngờ, rối loạn bộ chỉ huy chiến lược Lầu Năm Góc, buộc chúng phải xuống thang ngừng ném bom miền Bắc và ngồi vào bàn Hội nghị Pa ri. Địch ngoan cố, buộc ta phải tiếp tục tăng cường sức mạnh quân sự trên chiến trường. Bằng cách mở các chiến dịch tiếp sau chiến thắng cánh đồng Chum 1971, Binh chủng Tăng - Thiết giáp chuẩn bị lực lượng lớn tham gia vào chiến dịch Trị Thiên - Huế 1972. Đây là chiến dịch ác liệt nhất và dài ngày nhất trong chiến tranh đánh Mỹ và bè lũ tay sai (3-1972  đến 1-1973). 

Nhớ lại những ngày quân Mỹ ồ ạt đưa 20 vạn quân vào miền Nam Việt Nam đã xuất hiện không ít tư tưởng hữu khuynh. Tôi còn nhớ câu nói của anh Nguyễn Chí Thanh: "Việt Nam ta dám đánh Mỹ là đã thắng rồi ... Sư trưởng của ta đánh thắng Sư trưởng Mỹ... Sư trưởng ta giỏi hơn Sư trưởng Mỹ... đánh thắng Mỹ là nguyện vọng của tôi", tiếc là Anh không còn sống để được chứng kiến ngày toàn thắng 30-4-1975 giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Năm 1972, anh Đinh Đức Thiện chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần đến kiểm tra và nắm tình hình Tăng - Thiết giáp. Tôi có dịp báo cáo với Anh về sự hợp đồng chiến đấu giữa Tăng - Thiết giáp với các binh chủng bạn, kết hợp với sức mạnh phong trào nổi dậy của quần chúng trong khu vực địch tạm chiếm để Anh nghe ..., rồi Anh đột ngột ngắt lời và hỏi "Nổi dậy ở đâu, thế nào? Tăng của ta đánh, tiêu diệt tăng địch, còn tăng ta thiệt hại như thế nào? Bao nhiêu, đã nắm chắc chưa ?".

Tôi thấy mình báo cáo thiếu sót, chưa nắm thêm cụ thể về thiệt hại của ta cũng như chưa thấy hết sức mạnh tiềm ẩn trong phong trào nổi dậy của quần chúng ở vùng địch tạm chiếm. Đó là một bài học kinh nghiệm cho tôi, trong công tác nắm tình hình và báo cáo với trên sao cho chính xác...

Tôi có mời Anh vào thăm một đại đội xe tăng, đồng chí đại đội trưởng là Nguyễn Trọng Thư. Đồng chí Thư cho anh em dàn đội hình, tiếp đón đúng điều lệnh tác phong chính quy, còn tôi hướng dẫn anh Thiện đi duyệt đội ngũ danh dự toàn đại đội. Cách xa khoảng 10m đại đội trưởng đã hô vang khẩu lệnh nghiêm, báo cáo với thủ trưởng cấp trên...

Tôi đi phía sau anh Thiện và khá bất ngờ khi thấy trước hai hàng quân trang nghiêm, trọng thị nghênh tiếp ... , thì ngược lại anh Thiện vẫn lững thững đi, hai tay chắp phía sau. Tất cả mọi người hôm ấy có mặt đều ngẩn người ra, không hiểu nguyên do gì mà thủ trưởng cấp trên lại có vẻ không vừa ý như vậy. Tôi cùng Anh khi đi qua hàng quân chừng vài bước, Anh quay sang nói với tôi: "Bộ đội phải thế, cứ phải rèn luyện bộ đội cho quen...". Chúng tôi nghe xong câu nói đó, thở phào nhẹ nhõm, biết rằng đã không hề có sơ xuất gì xảy ra cả, mà ngược lại còn hiểu hơn nữa sự lạc quan, gần gũi của thủ trưởng cấp trên đối với anh em chiến sĩ. Sau đó Anh rất thân mật trả lời thắc mắc của chúng tôi đưa ra. Đứng trước những trận đánh lớn, mà được sự quan tâm của cấp trên, chúng tôi càng vững tâm hơn và càng tin tưởng thắng lợi.

Sau khi Hiệp định Pa ri được ký tắt. Rồi cũng chính đế quốc Mỹ lại phá Hiệp định, tiếp tục gây chiến tranh, chúng mở rộng chiến tranh dùng máy bay oanh tạc miền Bắc, điên cuồng ném bom xuống các thành phố lớn của ta. Đúng như lời nhận định của HỒ Chủ tịch: "Hà Nội, Hải Phòng có thể sẽ bị tàn phá ..."...

 Trận Điện Biên Phủ trên không tháng 12 - 1972 đã hạ hàng chục pháo đài bay B52 và hàng trăm máy bay từ "cánh cụp, cánh xoè" lẫn "thần sấm", “con ma”.
 Địch thua đau, phải ký kết hiệp định đình chiến, kết thúc ném bom miền Bắc ...

Ngày nay non sông, gấm vóc của ta đã liền một dải, ước mơ ngàn đời của dân tộc đã được thực hiện trọn vẹn. Tôi bồi hồi xúc động, nhớ tới câu thơ chúc Tết của Bác Hồ, mùa xuân 1969:

"Vì độc lập vì tự do
 Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguy nhào
Tiến lên
Chiến sĩ, đồng bào,
Bắc Nam sum họp, xuân nào vui hơn !”
Logged
rongxanh
Thành viên
*
Bài viết: 2085

Mơ về nơi xa lắm.


« Trả lời #5 vào lúc: 08 Tháng Tám, 2008, 08:17:31 AM »

TRONG LÒNG MIỀN BẮC THÂN THƯƠNG

Thiếu tướng Đặng Quang Long, nguyên Chính ủy Trung đoàn 202 (1959-1963)

Tôi sinh ra và lớn lên ở trong một gia đình nho giáo ở xã Thanh Minh huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hoà. Tuy gia đình có nhiều khó khăn, nhưng vẫn cố gắng nuôi tôi ăn học. Tôi học dở dang bậc thành chung (tương đương Trung học Cơ sở ngày nay) phải bỏ học để kiếm sống. Năm 1945, tôi có việc làm ở hãng Shell ở Bà Rịa, lương hồi đó cũng khá. Thời gian này tôi được nghe nhiều tin về hoạt động của phong trào Việt Minh, sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), một hôm tôi bỏ lại toàn bộ tài sản cá nhân, trốn khỏi sở, đi suốt đêm đến Biên Hoà. Tôi ở nhà một người quen là anh Thiện, và từ đó tôi bắt được liên lạc và tham gia phong trào Việt Minh trên mảnh đất quê hương mình.

Sau ngày Tổng khởi nghĩa Tháng 8 năm 1945 ít lâu đêm ngày 22 rạng ngày 23-9-1945, quân Pháp nổ súng mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, cũng từ đó tôi tham gia cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Tháng 3 năm 1954, tôi đang ở chiến trường Bà Rịa, Chợ Lớn thì Hiệp định Giơ-ne- vơ được ký kết. Tôi được chỉ định làm trưởng phái đoàn Quân đội Nhân dân Việt Nam tỉnh Bà Rịa, trực tiếp đàm phán với Pháp để di chuyển toàn bộ lực lượng vũ trang trong tỉnh tập kết ra miền Bắc.

Suốt đời tôi không bao giờ quên được ngày tôi chia tay đi tập kết. Trên bến sông Thi Vải (Phù Mỹ. Bà Rịa), chúng tôi là đợt cuối cùng tập kết ra Bắc. Trên boong tàu, cán bộ chiến sĩ giơ cả hai tay lên trời gào to: "Chúng con sẽ trở về...", "Anh sẽ trở về”. Trên bờ mọi người giơ hai ngón tay, ý hẹn là sau 2 năm sẽ đoàn tụ ...

Chúng tôi ra tới Sầm Sơn, trời còn tối chưa sáng hẳn, nhưng đã thấy cả rừng người rừng cờ ra đón. Chúng tôi lên bờ, giữa vòng tay thân thương của bà con miền Bắc.

Những ngày sống trên đất miền Bắc tôi cũng như tất cả anh em tập kết ra sức luyện tập các mặt trong phong trào xây dựng quân đội và chờ đợi ngày trở về giải phóng miền Nam.

Giữa năm 1957, tôi được Bộ Quốc phòng đưa đi học tập lớp chính trị cao cấp, học thêm văn hoá, ngoại ngữ ... Tôi đang học tập tiếng Trung Quốc thì nhận được quyết định của Bộ Quốc phòng điều về làm Chính ủy xe tăng 202. Tháng 8 năm 1959, Tổng cục Chính trị giao cho tôi dẫn đoàn cán bộ chính trị gồm các đồng chí chính trị viên cấp tiểu đoàn, đại đội và cán bộ cơ quan chính trị gồm 23 người sang Quế Lâm, Trung Quốc hội nhập để kiện toàn Trung đoàn tăng đầu tiên của quân đội ta.

Hôm ra ga Hà Nội để lên tàu liên vận quốc tế đi Trung Quốc, đồng chí Hoàng Văn Thái, Tổng Tham mưu trưởng, được Bộ Tổng Tư lệnh phân công trực tiếp xây dựng các quân, binh chủng ra tận ga tiễn chúng tôi. Anh cố ý gặp trước, nhưng do vừa đi công tác về nên tranh thủ ra thăm, dặn dò anh em ngay tại phòng khách nhà ga Hà Nội. Trước khi chia tay, anh Thái trao cho chúng tôi một tập tín phiếu - tiền Trung Quốc. Chúng tôi nhận, nhưng không rõ giá trị số tín phiếu này là bao nhiêu. Đi Trung Quốc, nhưng cả đoàn ai cũng mù tịt tiếng Trung Quốc. Chúng tôi phải nhờ thư ký riêng của anh Thái ghi giúp mấy chữ "Quế Lâm" bằng chữ Trung Quốc để đưa cho quản lý tàu biết và đối chiếu khi xuống ga Quế Lâm cho chắc ăn.

Tối hôm đó, tàu chạy đến ga Bằng Tường, biên giới hai nước Việt - Trung thì tạm dừng. Ai cũng đói bụng kéo nhau vào căng tin nhà ga. ở đây bàn thức ăn nhiều lắm. Nhưng kẹt nỗi giá tín phiếu là bao nhiêu ? Cầm cả tập tín phiếu trong tay, không ai biết mua bán ra sao cả. Chúng tôi đặt tín phiếu lên bàn rồi kêu người phục vụ căng tin tới chỉ... chỉ vào tín phiếu... Họ hỏi bằng tiếng Trung Quốc. Không ai hiểu cả. Cả đoàn, người này nhìn người kia không biết xử trí thế nào. Anh Lân, chính trị viên tiểu đoàn liền nói đại : "Hầm bờ bằng ký tổ”, tiếng Tiền Châu có nghĩa là "mua tất cả". (Đó là câu duy nhất anh Lân biết vì trước đây nhà anh ở gần xóm Tiền Châu - khu Hoa kiều sinh sống tại Hải Phòng). Thế là người phục vụ mang rượu, thức ăn ra, cứ thế bày la liệt trên bàn. Trước mặt mỗi người, "khẩu phần" gồm một chai rượu lớn, một con vịt quay, lại thêm một đĩa lớn đựng hàng chục bánh bao và nhiều món ăn khác. Thấy lạ quá, cả đoàn cứ ngồi... Các bạn Trung Quốc tới ra hiệu: Cứ ăn, vì đó là của chúng tôi...

Ăn xong, thức ăn còn nhiều quá, bọc lại cho mỗi người một túi ni lon to để ăn dọc đường, về tớ tị nơi tập kết vẫn chưa hết. Sau này hỏi ra chúng tôi mới rõ tập tín phiếu anh Thái trao có giá trị lớn trên 500 đồng tiền Trung Quốc. Lúc đó nếu chia đều cho mỗi người trong đoàn có thể mua thức ăn đến 151 ngày không hết. Thế mới thấy đi nước ngoài mà không biết ngoại ngữ thì thật dở, nhiều lúc thấy mình như người ngớ ngẩn.

Chiều hôm đó, đoàn đến Quế Lâm. Chúng tôi ngỡ ngàng thấy trên sân ga người ra đón đông quá. Cờ Việt Nam, Trung Quốc phấp phới bay xen các băng rôn khẩu hiệu đỏ rực: "Hoan nghênh đoàn cán bộ Việt Nam sang Trung Quốc". Lại có cả tiếng trống, tiếng chiêng chào đón náo nhiệt. Đoàn cán bộ bạn ra đón chúng tôi có các đồng chí trong Thường Vuh Ban Chấp hàng Đảng bộ Quế Lâm, Thiếu tướng Hiệu trưởng Học viện Quân sự, đại diện Bộ chỉ huy Sư đoàn bộ binh Trung Quốc tại Quế Lâm. Đông đảo nhân dân Trung Quốc và đoàn cán bộ Việt Nam đang học tại đây cũng ra đón đoàn.

Sau này, tìm hiểu thêm, chúng tôi được biết Trung Quốc coi trọng chế độ Đảng lãnh đạo quân đội. Nhận được thông báo của ta có đoàn cán bộ chính trị Tăng - Thiết giáp Việt Nam sang, các đồng chí mới tổ chức tiếp đón trọng thị như vậy. Suốt tuần lễ đó chúng tôi được bạn mời dự tiệc chiêu đãi hết chỗ này đến chỗ khác. Cảm giác đầu tiên của tôi là bạn trọng tình hữu nghị Việt – Trung nhưng tiệc tùng tốn kém quá.

Công việc đầu tiên của Ban chỉ huy Trung đoàn 202 là công tác biên chế tổ chức, triển khai huấn luyện có sự giúp đỡ của các cố vấn Trung Quốc. Trong thời gian ba tháng, đoàn chúng tôi, từ Chính ủy Trung đoàn tới chính trị viên đại đội vừa làm công tác Đảng - công tác chính trị vừa học tập kỹ thuật, chiến thuật tăng - thiết giáp. Chúng tôi quan niệm: cán bộ chính trị muốn làm tốt công tác Đảng - công tác chính trị trong Binh chủng Tăng - Thiết giáp cũng phải biết được kỹ thuật của tăng - thiết giáp.

Trong thời gian này, anh Tam, trưởng ban kỹ thuật Trung đoàn đã mở lớp tập huấn ngắn ngày về kỹ thuật tăng thiết giáp cho chúng tôi. Một chiếc xe tăng được tháo tung từng bộ phận. Cán bộ kỹ thuật chỉ dẫn cho chúng tôi biết tính năng, tác dụng của từng bộ phận, chỗ mạnh, yếu của xe tăng. Qua hiểu biết về kỹ thuật, cán bộ chính trị thâm nhập sâu sát vào "cuộc sống xăng, dầu, mỡ" sẽ thuận lợi cho công tác chỉ huy bảo quản kỹ thuật xe đạt kết quả.

Bài học được rút ra: cán bộ chính trị trong binh chủng kỹ thuật phải hiểu biết về kỹ thuật, không được hô hào suông hoặc quan liêu, chỉ tay, đứng nhìn bộ đội làm. Cán bộ chính trị phải lao vào cùng lao động, cùng bàn bạc với anh em tháo gỡ những khó khăn trở ngại về kỹ thuật nhằm bảo quản, bảo dưỡng xe phù hợp với đặc điểm địa hình, thời tiết nước ta. Nắm được tính năng, tác dụng, kỹ thuật xe rồi, cán bộ chính trị cũng phải qua lớp học lái xe, lái thử, học xạ kích, cùng tham gia bắn đạn thật với bộ đội. Cách học kết hợp giữa lý thuyết và thực hành đối với cán bộ chính trị trong ngành binh chủng kỹ thuật quả là rất bổ ích. Có như vậy, theo tôi vai trò, hoạt động chính trị của cán bộ mới được phát huy, mới có tính thuyết phục, đạt hiệu quả cao.

Trước khi có lệnh về nước, đoàn chúng tôi được bạn mời tham quan 15 ngày ở Thủ đô Bắc Kinh. Ai cũng mừng vì là dịp để biết đây biết đó.. Anh Tạo, phụ trách công tác cán bộ nói: "Qua đây mà không đi Bắc Kinh thì chẳng khác gì ở trong nước, mình mới đi Sơn Tây vậy”. Suốt 15 ngày, bạn tổ chức chương trình tham quan dày đặc. Mỗi buổi tham quan chỉ có ba, bốn giờ, nhưng nội dung lại rất phong phú. Chúng tôi vừa đi xem vừa như phải chạy theo người giới thiệu. Cả đoàn cố gắng đi hết theo chương trình: Tham quan 30 địa điểm trong 15 ngày. Ban ngày đã vậy, còn lại các buổi tối, bạn còn mời xem ca nhạc, kịch nữa... nên ai cũng mệt rã rời. Anh em nói đùa: Tham quan thế này còn hơn cả đi chiến dịch. Nhiều anh em phát ốm. Sau đợt tham quan 15 ngày, chưa kịp "hồi sức", bạn lại đưa ra một chương trình mới mời xem tiếp. Chúng tôi phải khéo léo từ chối, xin nghỉ trọn một ngày. Trước khi về Quế Lâm, chúng tôi tranh thủ tham quan Thập Tam Lăng, một di tích cách Bắc Kinh 30 kilômét. Cả ngày, chúng tôi chỉ xem được một lăng mới khai quật nhưng cũng sơ bộ hiểu được quy mô bề thế của lăng, cung cách ăn ở, sinh hoạt của một vua Trung Quốc....

Tạm biệt Bắc Kinh, chúng tôi lên tàu về Quế Lâm. Tàu chạy suốt hai ngày, hai đêm. Trên tàu, ai cũng ngủ vùi, không thiết gì ăn uống nữa. Thật là một chuyến tham quan để lại nhiều kỷ niệm sâu sắc.

Đợt học tập, huấn luyện, bảo dưỡng xe tăng ba tháng tại Quế Lâm (Trung Quốc) nhanh chóng trôi qua. Cán bộ ta lần lượt trở về Tổ quốc. Riêng xe và khí tài còn để lại trên đất bạn, sẽ có kế hoạch chuyển về sau.

Chúng tôi trở về đơn vị trong lúc Công trường 92 xây dựng khu doanh trại, khu nhà xe, bãi xe đang còn dang dở. Toàn Trung đoàn phải bắt tay vào lao động để thúc đẩy tiến độ thi công.

Từ tháng 5 đến tháng 8 năm 1960, giữa những ngày nắng như đổ lửa, cán bộ, chiến sĩ trung đoàn sống trong không khí lao động khẩn trương. Trung đoàn tổ chức nhiều ca, kíp lao động liên tục ngày đêm để hoàn thành khu nhà xe, bãi xe để nhận xe về. Tổng cục Đường sắt cùng một bộ phận cán bộ trung đoàn đã làm xong thủ tục tiếp nhận xe tại ga Vĩnh Yên.

Đúng 17 giờ 30 phút ngày 13 tháng 7 năm 1960, chuyến tàu hoả chở những chiếc xe tăng đầu tiên của Trung đoàn 202 vào tới ga Vĩnh Yên. 18 giờ 33 phút chiếc xe tăng mang số 114 do Trung sĩ Đào Văn Bàn điều khiển lăn bánh xích rời khỏi sân ga trong niềm hân hoan vui sướng của mọi người. Tiếp đó các xe khác cũng lần lượt rời sân ga về doanh trại của trung đoàn.

Đây là những hình ảnh, giờ phút đáng nhớ. Kể từ đây, được sự viện trợ, giúp đỡ của nước bạn, quân đội ta đã được Đảng và nhân dân giao phó, trang bị sử dụng những chiếc xe tăng hiện đại. Từ những chiếc xe tăng đầu tiên này, bộ đội ta đã quản lý sử dụng trong điều kiện trang thiết bị còn nghèo nàn, thiếu thốn đã dần dần phát triển thành một Binh chủng Tăng - Thiết giáp hùng mạnh của Quân 1 đội Nhân dân Việt Nam.

Xe đã về, chúng tôi phát động ngay một đợt thi đua mới: toàn trung đoàn tổ chức bảo quản, bảo dưỡng xe, khí tài. Không khí thi đua sôi nổi như đi chiến dịch. Ai cũng thấy đối với xe, khí tài, nhất là xe tăng và những trang thiết bị hiện đại trong điều kiện nước ta có độ ẩm cao, nếu bảo quản không kỹ dễ bị han rỉ, dễ xảy ra sự cố khi sử dụng. Có một lần anh em lau chùi xong một chiếc xe tăng chuẩn bị đưa vào kho thì các đồng chí chuyên gia Liên Xô đến kiểm tra. Đồng chí trưởng đoàn chuyên gia cởi chiếc sơ mi trắng đang mặc dùng nó làm giẻ, lau trên các xích sắt và thân xe rồi đưa cho chúng tôi xem. Đồng chí nói: Như thế này còn bẩn lắm, chưa đạt yêu cầu đâu. Thế là phải làm lại, làm đến khi nào một chiếc sơ mi trắng lau vài xe tăng không thấy vết bẩn nữa mới đạt yêu cầu.

Một lần khác, Đảng ủy đang họp, chuyên gia Liên Xô đề nghị cho gặp, mang vào cho chúng tôi xem một gói chừng hai ki-lô-gam đất, cát, các mảnh sắt vụn do đồng chí lấy ra từ trong máy nổ của một chiếc xe tăng. Đồng chí thẳng thắn góp ý: Các đồng chí bảo quản chưa tốt đâu. Cũng như con người, trong máy nổ mà chứa các chất như thế này khác gì bị bệnh tim nặng, làm sao xe có thể chạy được. Một trang bị hiện đại cần phải có các phương tiện hiện đại phục vụ cho công tác bảo quản, bảo dưỡng. Xe tăng cũng yêu cầu như vậy. Nhưng với ta lúc đó, việc bảo quản, bảo dưỡng hầu như đều thao tác bằng tay, dùng sức lao động thủ công là chính để thay thế cho máy móc. Thí dụ: Rửa xích xe lẽ ra phải dùng vòi nước có áp suất cao để phụt, rửa. Nhưng những ngày đầu thành lập Binh chủng, bộ đội phải gánh từng thùng nước rồi dùng chổi tre xối từng gáo nước để rửa xích. Công việc thật nặng nhọc, lại kém hiệu quả. Để động viên anh em, Đảng uỷ Trung đoàn đã phát động: Mỗi tuần, ngày thứ bảy được qui định là ngày lao động bãi xe. Trong ngày đó, tất cả cán bộ từ trung đoàn trở xuống đều ra bãi xe cùng chiến sĩ làm công tác bảo quản, bảo dưỡng xe. Việc làm này trở thành nền nếp không chỉ có tác dụng động viên, còn góp phần giảm bớt sức lao động của anh em. Hàng ngày nhìn từng đoàn xe được chăm sóc sạch sẽ, xếp hàng ngay ngắn trong từng khu, kho, cán bộ, chiến sĩ trung đoàn càng xác định rõ trách nhiệm sử dụng, giữ gìn vì đó là trang bị quý giá thắm đượm tình đoàn kết quốc tế, đánh dấu bước đầu hiện đại hoá của quân đọi ta. Đó cũng chính là kết quả lao động nặng nhọc căng thẳng, vất vả của hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ để các khối sắt thép này luôn sẵn sàng có thể xuất kích khi có lệnh.

Trung đoàn bước vào mùa xuân huấn luyện đầu tiên. Lúc này, Đoàn chuyên gia Liên Xô đã thay Đoàn chuyên gia Trung Quốc. Sự thay đổi này kéo theo sự thay đổi về phương pháp huấn luyện. Do cán bộ ta đi học từ Trung Quốc về, nay có sự thay đổi phương pháp, cường độ học tập, huấn luyện phải tăng cao, anh em cũng có nhiều ý kiến tranh luận. Dần dần qua học tập, rèn luyện, anh em cũng thống nhất và quen phương thức huấn luyện mới này.

Từ cuối năm 1960 đến tháng 12 năm 1961, Trung đoàn 202 đã cùng các Sư đoàn bộ binh 308, 302 và 305 thực hiện bốn cuộc diễn tập nhằm nâng 1 cao trình độ hiệp đồng binh chủng. Đặc biệt trong cuộc diễn tập với các trung đoàn bộ binh thuộc Sư đoàn 308 trên địa hình ruộng nước ở Thanh Oai (Hà Đông). Lần đầu tiên, một trung đoàn bộ binh có xe tăng và pháo tự hành tham gia tiến công “địch" trên địa hình đồng bằng, lầy lội, có làng mạc xen kẽ. Những vấn đề vận dụng nguyên tắc chiến thuật cũng như công tác bảo đảm cho xe tăng đòi hỏi phải có sự nghiên cứu tỉ mỉ, sáng tạo. Các cuộc diễn tập này, bộ binh ta đã có nhiều kinh nghiệm đánh địch ở đồng bằng. Nhưng đối với xe tăng, quả là quá phức tạp gian nan. Trong suốt cuộc diễn tập, từ lúc mở đầu cho đến khi kết thúc, không ngày nào xe tăng lại không gặp sự cố vì sa lầy. Nhiều đêm, trong lúc các đơn vị và phân đội bạn đã an giấc thì các phân đội xe tăng, cơ quan kỹ thuật tăng như các anh Tam, Cừu, Hùng, Nhân... cùng chúng tôi ngồi sáng đêm ngoài ruộng lo trục vớt xe tăng. Toàn trung đoàn, bộ phận nào cũng gánh chịu phần cực nhọc, nhưng tôi thấy anh em trong bộ phận kỹ thuật là vất vả nhất.
Logged
rongxanh
Thành viên
*
Bài viết: 2085

Mơ về nơi xa lắm.


« Trả lời #6 vào lúc: 08 Tháng Tám, 2008, 08:17:38 AM »


Từ thực tế diễn tập, những sự cố xảy ra như 11 vậy trong nội bộ Tăng - Thiết giáp lúc đó đã phát 11 sình nhiều ý kiến, nhiều câu hỏi được đặt ra: Xe tăng T34 năng 32 tấn được chế tạo sử dụng ở địa hình Châu Âu hay bắc Trung Quốc (vùng trung du). Còn ở ta, địa hình đồng bằng, ruộng nước và rừng núi có thể sử dụng loại xe tăng này được không? Khuynh hướng chung của anh em là: Ở Việt Nam chỉ nên sử dụng xe lội nước, pháo tự hành, các loại xe tăng nhẹ như Mỹ đã sử dụng ở miền Nam lúc bấy giờ. Chúng tôi đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo chuyên đề, tranh luận về vấn đề này. Các cuộc hội thảo đều xác nhận: Các xe tăng thiết giáp loại nhẹ như xe lội nước, xe tăng cải tiến từ 12 đến 15 tấn dễ sử dụng ở địa hình nước ta. Còn dùng xe tăng T34 trọng lượng chiến đấu 32 tấn quả là có nhiều khó khăn. Nhưng nếu sử dụng được tăng T34 ta sẽ có nhiều lợi thế, áp đảo được các loại xe thiết giáp của địch đang dùng ở miền Nam vì tốc độ cao, hoả lực mạnh và sự chính xác của nó. Rõ ràng cần phải đầu tư và nghiên cứu, phải khắc phục rất lớn về nhiều mặt cho loại xe này: Khi sử dụng ở địa hình đồng ruộng phải tăng cường thêm bộ phận bám xích xe, tăng cường phương tiện cứu hộ cho xe. Ở địa hình đồi núi, cần phải khắc phục đường, làm gấp cầu cống. Nếu được như vậy ta có thể sử dụng được xe tăng T34 ở chiến trường Việt Nam, chiến trường miền Nam. Một vấn đề rất quan trọng mà chúng tôi đi đến thống nhất là: Các phương tiện chiến tranh dù hiện đại đến đâu cũng phải phụ thuộc vào con người sử dụng nó. Con người mới là yếu tố quyết định sự thành, bại, tốt, xấu, hiệu quả hay không hiệu quả của mỗi loại vũ khí, trang bị. Chúng ta tin tưởng vào đội ngũ cán bộ, chiến sĩ, tin vào sức mạnh của nhân dân. Vì cuộc chiến tranh chính nghĩa bảo vệ Tổ quốc, bộ đội ta có đủ khả năng khắc phục mọi gian khổ, khó khăn để làm vũ khí, trang bị, vừa sáng tạo cách đánh phù hợp để chiến thắng quân thù. Lòng tin này dần dần đã được thực tế chứng minh, nhất là những năm tháng cuối cùng của cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Ta đã dần dần đúc rút kinh nghiệm, sử dụng xe tăng T34 từ miền Bắc vượt dãy Trường Sơn đầy bom đạn vào tham gia chiến trường miền Nam, trên nhiều địa hình phức tạp. Phối hợp các quân, binh chủng, tăng - thiết giáp đã trở thành những "quả đấm thép", là lực lượng đột kích, thọc sâu, bất ngờ trong nhiều chiến dịch, nhiều trận đánh lớn. Tiêu biểu là chiến dịch. Nguyễn Huệ 1972, chiến dịch Tây Nguyên, giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử 1975. Việc tổ chức di chuyển, vận động và cách đánh bí mật, táo bạo, bất ngờ của lực lượng tăng - thiết giáp đã làm kẻ thù hoang mang, khiếp sợ. Ngay chính các nhà sáng chế ra thứ vũ khí hiện đại này lúc đầu cũng khó hình dung, giải thích nổi tại sao chúng ta có thể làm được như vậy... ? Thời gian cứ trôi, con người, sự vật có nhiều thay đổi, nhưng hình ảnh xe tăng ta tiến vào húc đổ cổng sắt dinh Độc Lập, chiến sĩ xe tăng cắm cờ chiến thắng trên nóc dinh Phủ Tổng thống nguỵ quyền Sài Gòn trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, kết thúc chiến tranh 30 năm đầy gian khổ hy sinh sẽ không bao giờ phai mờ trong trang sử đấu tranh của dân tộc, của quân đội ta.

Nhớ về quá khứ, điểm lại những chiến công riêng của lực lượng Tăng - Thiết giáp càng làm cho chúng ta tự hào, góp phần khẳng định sức mạnh vô địch của cuộc chiến tranh nhân dân thần thánh do Đảng ta lãnh đạo. Cũng qua đây mới thấy công tác chính trị - tư tưởng trong lực lượng Tăng- Thiết giáp, các quân, binh chủng được trang bị hiện đại là rất quan trọng. Đối với mỗi cán bộ chính trị, công tác này đòi hỏi tính bền bỉ, kiên trì, phải đi sâu, đi sát bộ đội cùng bộ đội giải quyết những vướng mắc, khó khăn trong quá trình xây dựng chiến đấu và trưởng thành của đơn vị.

Cuối năm 1961, ban chỉ huy Trung đoàn 202 nhận được lệnh của Bộ Tổng tư lệnh: Tổ chức một đơn vị xe tăng, xe lội nước sang giúp Pa-thét Lào và qua đó để rút kinh nghiệm. Trung đoàn 202 đã cử Tiểu đoàn tăng lội nước sang giúp bạn theo yêu cầu của Pa- thét Lào và bộ đội Koong- le.

Tiểu đoàn tăng lội nước được giao cho đại uý Trần Nam, thượng uý Đỗ Văn Xảo phụ trách, chỉ huy. Vì là đơn vị lớn đi giúp bạn, kinh nghiệm còn ít, giúp bạn lâu dài, nên Ban chỉ huy Trung đoàn đặt điều kiện rất chặt chẽ cả về người và xe nhằm đảm bảo thật tốt cho nhiệm vụ quốc tế này. Qua tuyển lựa chiến sĩ, có một anh tên là Sơn, binh nhất không đủ tiêu chuẩn. Sơn về Trung đoàn đã hơn 9 tháng rồi nhưng luôn bộc lộ nhiều khuyết điểm: đêm bỏ gác đi ngủ, bỏ đi chơi ngoài doanh trại không báo cáo, vào hùa trêu chọc các chú tiểu. Đơn vị trực tiếp đã cho kiểm điểm, giáo dục nhưng Sơn chưa tiến bộ nên đề nghị không cho Sơn đi Lào đợt này. Nhưng Sơn lại nằng nặc xin đi và hứa quyết tâm sửa chửa khuyết điểm. Đơn vị giải thích, thuyết phục, Sơn vẫn không chịu và nói: Nếu đơn vị không cho đi, đề nghị cho lên gặp Chính ủy để trình bày nguyện vọng của mình. Nghe báo cáo, tôi xuống ngay đơn vị, trực tiếp gặp và xem thái độ cụ thể của Sơn ra sao.

Tôi tổ chức một cuộc họp cán bộ tại đơn vị, có Sơn tham dự. Nghe cán bộ đại đội, trung đội báo cáo, nêu các khuyết điểm của Sơn, Sơn nhận hết, hứa sửa chữa và khẳng định lại ý kiến xin cùng đơn vị đi chiến đấu, làm nhiệm vụ quốc tế. Để làm rõ, khách quan hơn, đề nghị cuộc họp nêu thêm cả ưu điểm dù là nhỏ nhất của Sơn. Anh em đều cho rằng: Nếu có khuyết điểm, đơn vị góp ý, phê bình, Sơn nhận ngay.  Nhưng có khuyết điểm Sơn sửa được, có khuyết điểm  không sửa được lại còn tái phạm. Sơn học tập loại  trung bình, có lúc khá. Các kỳ thi bắn, thao tác vũ khí, nhiều lúc Sơn đạt điểm cao. Sức khoẻ Sơn tốt. Trong lao động, nhất là những ngày ở bãi xe có tổ chức thi đua Sơn thường được biểu dương cuối ngày. Những lúc hưng phấn, Sơn lao động không ai bằng.

Như vậy ưu và khuyết điểm của Sơn cái nào là chính? Tôi nêu vấn đề không khí cuộc họp trầm hẳn lại. Đồng chí đại đội trưởng phát biểu:

- Đồng chí Sơn đều có mặt ưu, mặt khuyết như nhiều chiến sĩ khác. Khuyết điểm thường lặp đi, lặp lại là tính tự do, thường bỏ đi rong chơi. Anh em sợ qua Lào, Sơn cứ như vậy sẽ ảnh hưởng đến uy tín của đơn vị.

Sơn xin nói với thái độ quyết tâm, thành khẩn:

- Khuyết điểm nào em cũng xin ráng sửa chữa, sẽ không tái phạm nửa. Đề nghị các thủ trưởng cứ cho em đi.

Nhìn vẻ mặt đau khổ, khẩn thiết của Sơn, tôi thầm nghĩ: Đi làm nhiệm vụ quốc tế lúc này đồng nghĩa với sự chấp nhận chịu đựng gian khổ hy sinh. Những người chiến sĩ cứ nài nỉ xin đi như thế này thì đó là một thái độ đáng trân trọng biết bao.

Tôi về báo cáo lại với Ban chỉ huy Trung đoàn, sau đó quyết định cho Sơn đi công tác cùng đơn vị. Trước khi lên đường, Sơn tự làm bản kiểm điểm, hứa quyết tâm sửa chữa khuyết điểm để trở thành người chiến sĩ tốt.

Thời gian trôi qua, ba tháng rồi sáu tháng, Ban chỉ huy Trung đoàn đều nhận được báo cáo của đơn vị từ Lào gửi về, nêu rõ tiến bộ của Sơn. Qua đất bạn, trong hoàn cảnh khó khăn thiếu thốn, Sơn luôn tỏ ra là một chiến sĩ gương mẫu trong công tác, dũng cảm trong chiến đấu, khiêm tốn, đoàn kết với anh em trong đơn vị và được bạn yêu mến. Tiểu đoàn đề nghị đề bạt Sơn được vượt cấp từ binh nhất lên trung sĩ, đề nghị tặng anh Huân chương Chiến công hạng Ba và kết nạp anh vào Đoàn. Tôi nghe kể lại: Khi sang Lào, thấy Sơn tiến bộ nhanh, anh em hỏi: Tại sao lại có sự thay đổi so với ở nhà ? Sơn đã trả lời: ở nhà, có anh, có em, sai gì cũng là sai trong nhà. Còn sang đây (Lào) làm nghĩa vụ quốc tế, nếu mình mắc sai lầm, khuyết điểm, bạn không chỉ xem thường mình mà còn xem thường nước mình nữa ...

Chúng tôi rất vui mừng về sự tiến bộ và trưởng thành của Sơn. Qua sự việc này, riêng tôi suy nghĩ ở đời, người nào cũng có những mặt mạnh, yếu. Làm sao để phân biệt được ? Khi nhận định đánh giá một con người, rõ ràng không nên vội vàng, chỉ nhìn hình thức, biểu hiện hào nhoáng bên ngoài mà không thấy hết "cái chất", "cái nội dung" quí giá còn tiềm ẩn trong họ. Con người Việt Nam luôn mang rong mình dòng máu con Lạc, cháu Hồng, giàu lòng nhân ái vị tha, tinh thần dũng cảm, và lòng tự hào dân tộc. Nếu biết động viên, khích lệ, giúp đỡ, nhất là thanh niên nhận thức được ý thức trách nhiệm của mình trước dân tộc, đất nước sẽ tao cho họ sức mạnh, khắc phục được những nhược điềm (nhiều khi ta tưởng là nan giải) để vươn lên làm những việc tốt, có ý nghĩa hơn nhiều. Tin vào sức mạnh tự cải tạo, tự hoàn thiện ở mỗi con người chưa đủ mà còn phải tin, phải dựa vào sức mạnh cảm hoá, thuyết phục, động viên đúng lúc, đúng chỗ và thường xuyên của cả một tập thể cách mạng đối với con người ấy.

Trong những năm từ năm 1959 đến 1961, chúng tôi tập trung học tập, huấn luyện, xây dựng Trung đoàn Tăng - Thiết giáp 202, thực hiện nghĩa vụ quốc tế nhưng cũng luôn theo dõi diễn biến của tình hình cách mạng miền Nam.

Bằng luật 10/59, Mỹ - Diệm đã câu kết, công khai phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ phá hoại Tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Nhận rõ âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, Hội nghị lần thứ 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã xác định phương hướng xây dựng và chiến đấu của các lực lượng vũ trang ở miền Nam. Dưới ánh sáng Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng, phong trào cách mạng miền Nam có bước phát triển mạnh mẽ. Từ đấu tranh chính trị, ta đã dần dần chuyển sang kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang.
Đầu năm 1961, Tổng Quân ủy ra chỉ thị thành lập Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, một bộ phận của Quân đội Nhân dân Việt Nam do Đảng ta sáng lập, xây dựng và lãnh đạo. Tiếp đó, cuối tháng 1, "thành lập Trung ương cục miền Nam, đồng chí Nguyễn Văn Linh (Mười Cúc) được cử làm Bí thư”.

Ngày 15 tháng 2 năm 1961 , ta "thống nhất các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam. Hệ thống chỉ huy quân sự được hình thành từ Miền đến xã Bộ Tư lệnh các quân khu, các ban quân sự tại các tỉnh, huyện cũng được thành lập ... Các thành phố, thị xã có cơ sở vũ trang bí mật, các tổ biệt động, đội tuyên truyền vũ trang".

Tại miền Bắc, những tháng năm này, không khí lao động xây dựng chủ nghĩa xã hội diễn ra sôi nổi. Toàn quân phát động phong trào "Xây dựng quân đội tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chính quy hiện đại". Ngoài Trung đoàn 202, nhiều cơ quan, đơn vị, nhà trường quân sự khác cũng lần lượt ra đời, phát triển. Nhằm đáp ứng từng bước yêu cầu đòi hỏi cách mạng của chiến trường miền Nam, các đoàn vân tải trên biển, trên bộ cũng được thành lập, tiêu biểu là Đoàn 559 vận tải hàng hoá đưa đón cán bộ, bộ đội hành quân theo đường Trường Sơn vào xây dựng lực lượng cho cách mạng miền Nam. Nhiều đoàn, nhiều cán bộ, chiến sĩ đã lên đường (1).

Những tin tức từ khắp mọi miền Tổ quốc đến với chúng tôi, những cán bộ, chiến sĩ miền Nam đang sống trên đất Bắc làm ai cũng vui mừng, phấn khởi. Nỗi nhớ thương miền Nam, lòng căm thù địch, ước muốn được chắp cánh bay về cùng chiến đấu với đồng bào đồng chí trong Nam càng da diết, đan xen, thường trực ở mỗi người. Cảnh "ngày Bắc, đêm Nam" vẫn tiếp diễn. Riêng tôi, có vợ con đang sống ở miền Bắc, tuy không ở gần nhau thường xuyên nhưng còn có một "tổ ấm", đỡ trống trải, khắc khoải nỗi nhớ, nỗi lo hơn anh em khác. Tuy vậy, tôi còn gia đình, cha mẹ, anh chị em, nhiều đồng chí đồng đội, bà con, cô bác thân thương trong đó, nên lòng dạ cũng không lúc nào yên. Suy nghĩ nhiều cộng với công việc bận rộn, triệu chứng mất ngủ xuất hiện, có đêm tôi trằn trọc mãi không ngủ được.

Đến giữa năm 1962, tôi được Tổng cục Chính trị điều về học lớp bổ túc quân sự ở trường trung cao quân sự ở Bạch Mai - Hà Nội. Đồng chí Song Hào, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị thân mật hỏi tôi:

- Nếu Đảng điều đồng chí về Nam công tác đồng chí có khó khăn gì không ?

Tôi đã ấp ủ tâm tư nguyện vọng này từ lâu, do vậy không cần suy nghĩ, đắn đo gì nhiều, tôi báo cáo ngay:

- Thưa anh, đó chính là ước mơ, nguyện vọng lớn lao của tôi.

Được biết, đây là khoá bổ túc quân sự để chuẩn bị vào Nam, tôi mừng lắm. Khoá học này kéo dài sáu tháng. Tôi tập trung học tập, tích luỹ thêm kinh nghiệm, kiến thức và chờ ngày được trở lại miền Nam.

Mùa xuân 1963, tin vui chiến thắng trên chiến trường miền Nam tiếp tục làm nức lòng quân dân ta. Tại Cai Lậy - Mỹ Tho, ta đã diệt và làm bị thương 450 tên địch, bắn rơi, bắn hỏng 16 máy bay, phá hủy 30 xe M 113 , bắn chìm 2 tàu chiến ... "Phong trào thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công phát triển mạnh trên khắp chiến trường miền Nam".

Tiếp đó, "Từ 13 đến 17 tháng 3, quân và dân Đồng Tháp Mười đánh bại cuộc càn "Đức Thắng" của 9.000 quân nguỵ, có nhiều máy bay và xe thiết giáp hỗ trợ ... "

Đối với tôi mùa xuân, tháng 3 nở rộ hoa chiến thắng này lại trở thành dấu ấn đáng nhớ. Sau gần 10 năm xa miền Nam, xa gia đình, người thân tập kết ra miền Bắc, tôi được lệnh tập trung tại Hà Nội để chuẩn bị về Nam. Thế là mong ước của tôi sắp được thực hiện. Tôi xin phép trở về đơn vị, chia tay với anh em. Tâm trạng của tôi thật khó tả. Buồn, vui thương, nhớ cứ hoà quyện vào nhau.
Sắp phải xa Trung đoàn 202, xa đồng chí, đồng đội của tôi rồi. Vào thăm lại từng doanh trại các đại đội, tiểu đoàn, cơ quan, nhìn những gương mặt thân quen, sạm nắng gió thao trường, lòng tôi trào dâng miền tin tưởng tự hào về đồng chí, đồng đội của mình. Anh em cùng tôi ra bãi bắn, bãi lái, vào các nhà xe. Tôi bâng khuâng nhìn ngắm, sờ mó các xe tăng đã cùng đơn vị dày công xây dựng, bảo quản, bảo dưỡng. Tôi dành nhiều thời gian đến bên chiếc xe số 114 "chiếc xe của Chính ủy" như anh em thường gọi. Tôi là một trong năm thành viên của chiếc xe chỉ huy trung đoàn tăng này (Đi chiến đấu, Trung đoàn Tăng - Thiết giáp có hai xe chỉ huy, xe trung đoàn trưởng và xe của Chính ủy).
Anh em "kíp xe 114" cùng tôi ngồi quây quần bên nhau, dặn dò, hứa hẹn nhau tiếp tục bảo quản, giữ gìn xe thật tốt, để bàn giao cho đồng chí chính ủy mới. Bên ấm trà đậm đặc do đồng chí quản lý đại đội mang ra, không khí câu chuyện của chúng tôi diễn ra thật tình nghĩa, ấm cúng như chung một gia đình vậy.

Anh Đào Huy Vũ, Trung đoàn trưởng vừa công tác về. Nghe tin, anh lật đật chạy vào bãi gặp tôi. Thay mặt Trung đoàn 202, anh Vũ tặng cho tôi một cây súng ngắn Tiệp Khắc để lên đường chiến đấu (Cây súng này tôi giữ mãi đến ngày giải phóng 30 tháng 4 năm 1975). Tôi bắt tay anh em cố kìm nén nỗi xúc động...

- Tôi đi trước chuẩn bị chiến trường cho các cậu đây. Các cậu vào nhé. Chúng ta gặp nhau trong đó. Chúng tôi ôm nhau, hôn nhau không nói nhẹ lời. Nhưng trong ánh mắt những người ở lại, người đi như thầm hẹn: Miền Nam đang trong máu lửa, miền Nam đang chiến đấu, một ngày không xa, tăng ta nhất định sẽ có mặt tiêu diệt quân thù.

Trong cuộc đời binh nghiệp của mình, một thời tôi đã gắn bó với lực lượng Tăng - Thiết giáp. Ở cương vị, môi trường công tác, chiến trường nào vẫn luôn nhớ và tự hào về sự trưởng thành của Binh chủng Tăng - Thiết giáp của quân đội ta.
Logged
rongxanh
Thành viên
*
Bài viết: 2085

Mơ về nơi xa lắm.


« Trả lời #7 vào lúc: 09 Tháng Chín, 2008, 02:40:59 PM »

NÚI ĐANH ƠI MỘT THỜI ĐỂ NHỚ

Đại tá Đào Văn Xuân,
 Nguyên Chính uỷ Trung đoàn 202 (1 964 - 1965)
[/i]
 Là Chính ủy một trung đoàn bộ binh, năm 1960 tôi được cử đi học trường chỉ huy- kỹ thuật xe tăng tại Liên Xô. Năm 1964 về nước được giao nhiệm vụ Chính ủy Trung đoàn xe tăng 202, thay Trung tá Đặng Quang Long chính uỷ cũ đã được điều trở lại chiến trường B2 từ cuối năm 1963.

Cạnh núi Đanh, cách thị xã Vĩnh Yên không xa, một doanh trại khá khang trang, các tiểu đoàn đều ở nhà xây hai tầng đẹp, khu để xe được xây dựng theo chế độ chính qui, ở hai cửa vào và ra đều có trạm kiểm tra và bảo dưỡng kỹ thuật... Một dãy các lớp học, bàn ghế đầy đủ, có cửa kính, cửa chớp, sàn lát đá hoa bóng lộn. Đường đi, lại trong doanh trại thoáng đãng, hai bên đường phủ rợp bóng xà cừ...

Trong hoàn cảnh ngày đó, thì doanh trại của Trung đoàn là một mẫu mực lý tưởng, một niềm mơ ước của nhiều đơn vị trong toàn Quân. Đến nhận nhiệm vụ ở một đơn vị có cơ sở khang trang như vậy, tôi rất phấn khởi và thầm cảm ơn cán bộ chiến sĩ "Công trường 92", đã đổ biết bao công sức, chuẩn bị nơi sinh cơ, lập nghiệp cho đứa con đầu lòng của binh chủng chiến đấu của quân đội ta.

Cán bộ chỉ huy, lãnh đạo... của Trung đoàn mỗi người một vẻ. Trung tá Đào Huy Vũ, trung đoàn trưởng, tốt nghiệp trường chỉ huy - kỹ thuật xe tăng ở Trung Quốc, tính tình nghiêm nghị, ít nói, sống giản dị, gương mẫu trong lao động, học tập. Đối với tôi anh luôn cởi mở trao đổi tình hình đơn vị mỗi khi tôi hỏi anh. Tôi đã được nghe kể một câu chuyện vui về anh. Hàng ngày anh thường đột xuất kiểm tra tình hình các đơn vị, qua trực ban, ở các tiểu đoàn.
Một hôm anh gọi điện thoại hỏi:

- Trực ban tiểu đoàn đâu ?

- Có tôi

- Trực ban tên là gì ?

- “Tao”

Anh Vũ đã hơi bực to giọng hỏi lại:

- Ai là trực ban ?

Vẫn có tiếng trả lời gọn:

- Tao.

Hoá ra không phải là đồng chí trực ban “hỗn láo” với cấp trên mà tên đồng chí ấy là Tao. Một lần khác, đồng chí trợ lý cán bộ báo cáo: Anh em xì xào về khuyết điểm của Trung đoàn trưởng để thời gian trong giờ làm việc học tiếng Nga. Tôi không đồng tình với ý kiến đó, nói lại rằng: Việc dành thời gian để tự học tập thêm, kể cả ngoại ngữ là việc làm tốt cần biểu dương, sau đó đôi lúc anh cần tôi giúp thêm anh về tiếng Nga.

Từ những ngày đầu ấy, hai chúng tôi luôn tìm thấy nhau sự đồng cảm trong các vấn đề xây dựng và chiến đấu của bộ đội xe tăng.

Đối với Thiếu tá Nguyễn Kim Hoàng, Phó Chính uỷ Trung đoàn, tôi được nghe nhiều về anh, qua câu chuyện nói lên tính cách tốt đẹp: chân thật, sôi nổi và dễ hoà nhập với cấp dưới. Anh em kể lại, anh được đi học ngắn hạn ở Học viện Chính trị, khi đi anh mang quân hàm cấp Đại uý. Khi về Trung đoàn anh đã được đề bạt cấp Thiếu tá. Trong cuộc họp mặt cán bộ, anh Kim Hoàng đọc câu thơ vui:

Xa nhau mới bấy nhiêu ngày,

Nay về công việc đổi thay rất anh nhiều...

Một đồng chí sửa lại là:

Xa nhau mới bấy nhiêu ngày.

Mà nay, ve áo “đường ray” sáng ngời....
 
(cấp uý có 1 vạch, cấp tá có 2 vạch).

Tất cả vỗ tay cười ran... Thiếu tá Nguyễn Chí Tam, Trung đoàn phó về kỹ thuật, người bạn cũ, chúng tôi đã công tác với nhau ở trường Sĩ quan Lục quân khoá V vào năm 1949. Thật vui mừng khi gặp lại anh, anh Tam học về kỹ thuật xe tăng ở Trung Quốc, về kỹ thuật lái xe tăng đạt cấp "Lái xe ưu tú”… , Anh luôn sẵn sàng giúp đỡ tôi để nhanh chóng nắm bắt các vấn đề về kỹ thuật đang áp dụng ở Trung đoàn...

Tôi thật sự vui mừng được công tác với tập thể chỉ huy Trung đoàn 202 ngày ấy.

Sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ (5-8-1964), khí thế sẵn sàng chiến đấu ở Trung đoàn thật sôi động. Toàn Trung đoàn bùng lên một không khí xin đi chiến đấu. Bản thân tôi cũng có mong muốn ấy, song trách nhiệm lãnh đạo đơn vị xe tăng đầu tiên của quân đội ta, giúp tôi kìm mình và hướng dẫn đơn vị vào phong trào huấn luyện để sẵn sàng chiến đấu, kiên nhẫn đợi thời cơ xe tăng lên đường...

Một buổi tối, chính trị viên phó tiểu đoàn 4, Đại uý Lê Minh Tân lên gặp tôi đề nghị được giao nhiệm vụ gì đó cho các chi đoàn thanh niên của tiểu đoàn làm vào ngày chủ nhật với khí thế quyết tâm đánh Mỹ. Tôi bàn với Đại uý Lê Quang Phước, chủ nhiệm chính trị Trung đoàn: Hướng dẫn cho anh em “cuốc” một khẩu hiệu "Quyết đánh thắng đế quốc Mỹ" thật to ở lưng chừng núi Đanh, để luôn nhắc 1 nhở ý chí và quyết tâm chiến đấu cho toàn Trung đoàn. Thế là chỉ sau có 1 ngày khẩu hiệu đã hoàn thành. Đi từ Tam Đảo xuống, cách xa núi Đanh 4 - 5 km cũng đọc rõ khẩu hiệu.

Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn rất phấn khởi. Anh Đào Huy Vũ, Trung đoàn trưởng cũng rất hứng thú, anh bàn với tôi sẽ huy động đá hộc xếp vào các chỗ đã cuốc rồi quét vôi trắng để bọn giặc lái máy bay, dù bay rất cao cũng phải sởn gai ốc về ý chí của quân đội ta ...

Tôi thấy ý anh rất hay, nhưng khi bàn với anh Nguyễn Văn Phước thì thấy xe vận tải, có thể lấy ở Trung đoàn, nhưng đá hộc thì không thể kiếm được, vì toàn bộ khẩu hiệu có 27 chữ cái mà mỗi chữ cái rộng độ 3m, còn chiều cao gần 10m.

Trong không khí sôi sục chiến đấu ấy, thật là sung sướng khi đại đội cao xạ tự hành 57 mm (zcy-2- 57) của Trung đoàn được Bộ Tổng Tham mưu điều đi tham gia bắn máy bay. Đại đội trưởng, Thượng uý Lê Văn Ong, chính trị viên đại đội, Thượng uý Phùng Xuân Mai hai con người năng nổ, xông xáo ấy đã đến gặp tôi. Hai anh hứa: "Đại đội cao xạ tự hành sẽ chiến đấu để xứng đáng là đại diện của Trung đoàn xe tăng trên mặt trận bắn máy bay Mỹ...".

Khi những cơn gió mùa Đông Bắc bắt đầu hun hút thổi về, nhớ tới cán bộ, chiến sĩ đang đứng trong giá lạnh bắn máy bay, tôi và Đại uý Hoàng Đăng Huệ, trưởng Ban cán bộ cùng một số cán bộ chở một xe vận tải các tấm tranh của cán bộ chiến sĩ toàn Trung đoàn gửi tới đại đội cao xạ tự hành. Bức thư và các tấm đệm tranh của toàn thể trung đoàn gửi tới đã làm ấm lòng anh em trong chiến đấu...

Đầu năm 1965 Bộ Tổng Tư lệnh đã chấp thuận đề nghị của Trung đoàn: xin cử một bộ phận vào chiến trường B chiến đấu bằng vũ khí bộ binh để nghiên cứu việc chiếm xe tăng địch, tổ chức lực lượng Tăng - Thiết giáp tại chiến trường... Và thế là khung một trung đoàn xe tăng, gọn nhẹ được chuẩn bị lên đường vào Nam Bộ (B2). Đoàn trưởng là Đại uý Nguyễn Thế Hùng, anh được đào tạo về kỹ thuật xe tăng ở Trung Quốc. Chính trị viên đoàn là Đại uý Bùi Tân, học về kỹ thuật xe tăng ở Liên Xô. Cán bộ khung của trung đoàn nhẹ này từ trung đội trưởng trở lên được đào tạo về chỉ huy và kỹ thuật xe tăng ở ngoài nước..

Đây là đoàn thứ 3 từ Trung đoàn 202 vào chiến trường (B2) chiến đấu. Sau này, vào năm 1972, khi thời cơ đến, các bộ phận này trở thành nòng cốt tổ chức thành lực lượng xe tăng Nam Bộ (B2), Tây Nguyên (B3) và Khu Năm (B1).
Tôi nhớ mãi trong số cán bộ, chiến sĩ đi đợt đầu năm 1965 ấy có một chiến sĩ mới đã được đào tạo thành pháo thủ xe tăng, tên đồng chí là Ma Văn Vân. Chiến sĩ Vân người dân tộc Tày (Cao Bằng). Trường hợp của chiến sĩ Vân để lại cho tôi nhiều suy nghĩ về trách nhiệm người cán bộ ...

Ma Văn Vân nhập ngũ tháng 2 năm 1965, trong học tập và công tác không có gì đáng chê trách, nhưng khi chuẩn bị tập luyện để lên đường thì Vân trốn về nhà. Ngày đó mà một chiến sĩ bỏ ngũ trốn là một điều cán bộ rất day dứt... Cán bộ đại đội và tiểu đoàn phải về tận nhà đón lên. Chính trị viên tiểu đoàn đang phụ trách huấn luyện là Đại uý Nguyễn Văn Tằng lên gặp tôi xin ý kiến về hình thức và biện pháp kỷ luật đối với chiến sĩ Vân.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tôi công tác ở Đại đoàn 316, nơi có nhiều cán bộ chiến sĩ người các dân tộc ở Việt Bắc như Tày, Nùng, và tôi cũng từng trú quân ở nhà các dân tộc ấy, nên hiểu tâm tư, tình cảm bà con. Vì vậy tôi nhắc anh Tằng chưa nên kỷ luật gì, mà cần gần gũi trò chuyện khuyên răn. Anh Tằng là một cán bộ chính trị nhạy bén, do đó anh hiểu và tiến hành gặp gỡ nhiều lần với chiến sĩ Vân.

Nhưng Vân lại tiếp tục bỏ ngũ lần thứ hai, rồi lần thứ ba nữa.

Ngày lên đường vào chiến trường đã đến gần, do đó tâm lý cán bộ muốn tiến hành kỷ luật và thay thế Vân bằng người khác, đó là điều cũng dễ thông cảm. Tôi nói với anh em để tôi gặp chiến sĩ Vân lần cuối cùng nữa. Tôi và chính trị viên tiểu đoàn ngồi nói chuyện với Ma Văn Vân, người chiến sĩ dân tộc Tày ấy vừa khóc vừa nói: Em không sợ hy sinh, em sẵn sàng đi chiến đấu, nhưng em chỉ nhớ và thương “Mế” (tức là mẹ) thôi… Nhìn những giọt nước mắt chân thật và hiếu thảo ấy, mặc dầu cách xử sự của Vân chưa đúng, tôi thật sự cảm động. Tôi chợt nhớ tới câu nói của các bà mẹ người Tày hay dùng mắng con, nên nói:
Thế Vân có biết câu : "Kin mí kin, nòn mí nòn, háy ca lăng mòn" không ?" (ăn không ăn, ngủ không ngủ, khóc cái gì nào ?).

Vân cười rất tươi nói em biết chứ !

Tôi nói tiếp đấy, nếu vì nhớ “mế” mà bỏ lỡ việc đi chiến đấu thì “mế” còn buồn nhiều hơn là con quấy khóc đấy.

Chiến sĩ Vân yên lặng, cúi xuống nói khẽ: "Em không trốn về nữa đâu ...".
Ngày anh em lên đường, tôi và Trung đoàn trưởng Đào Huy Vũ, ra ga Vĩnh Yên tiễn anh em. Trưởng ga đã phất cờ, tàu đã kéo còi chuẩn bị lăn bánh, bỗng Ma Văn Vân từ trên tàu nhảy xuống, tôi giật bắn người lên chợt nghĩ: Chết rồi Vân lại trốn, nhưng không, chiến sĩ Vân chạy nhào tới ôm chặt lấy tôi nói: Vân nhớ Thủ trưởng Xuân lắm, rồi chạy theo nhảy lên đoàn tàu.

Tôi đứng lặng yên vẫy theo đoàn tàu xa dần, mắt nhoà đi.

Thời gian cứ lặng lẽ trôi đi, không bao giờ trỏ lại Thời gian có thể bào mòn núi đá, có thể thay đổi cả dòng sông. Thời gian cũng xoá đi bao ký ức trong mỗi con người... Song thời gian không thể làm phai mờ được những hình ảnh đẹp đẽ về tình đồng chí, đồng đội trong những năm, tháng ấy.

 Ngày nay đất nước có hoà bình, đời sống ngày càng tốt hơn, tôi thường tự hỏi: Ngày nay khi mặt trái của nền kinh tế thị trường đang len lỏi vào các ngõ ngách của cuộc sống, liệu tình đồng chí, tình người có còn thắm đượm như xưa nữa ?
Logged
rongxanh
Thành viên
*
Bài viết: 2085

Mơ về nơi xa lắm.


« Trả lời #8 vào lúc: 09 Tháng Chín, 2008, 02:42:13 PM »

BỘ ĐỘI VIỆT - LÀO CHUNG MỘT CHIẾN HÀO

Thiếu tướng Lê Xuân Kiện, nguyên Tư lệnh Binh chủng (1980 - 1989)

Mùa khô năm 1967 - 1968, cùng với những thất bại nặng nề của Mỹ và quân nguỵ Sài Gòn ở miền Nam Việt Nam, trên chiến trường Lào tuy được viện trợ của Mỹ, quân đội Thái Lan và nguỵ Lào liên tiếp bị bộ đội Pa thét Lào và quân Tình nguyện Việt Nam đánh cho nhiều trận thất bại, vùng giải phóng của lực lượng cách mạng Lào ngày càng được củng cố và mở rộng.

Để cứu vãn sự thất bại, tránh bị sụp đổ, từ đầu năm 1969, quân nguỵ Lào đã tiến công lấn chiếm vùng giải phóng hòng tiêu diệt lực lượng vũ trang cách mạng Lào.

Quân nguỵ Lào được sự yểm trợ trực tiếp của quân đội Thái. Chúng tiến công chiếm đóng phòng thủ Bản Khai - Mường Sủi, căn cứ Bản Khai, Nậm Xoong và một số điểm chốt phía đông căn cứ Bản Khai. Chúng tổ chức phòng thủ Bản Khai - Mường Sủi gần giống một cụm cứ điểm lớn với quân số gồm 2 binh đoàn (2 GM) và một số tiểu đoàn độc lập và từng bước tiến công Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng - vùng giải phóng của lực lượng cách mạng Lào.

Bộ đội Pa thét Lào và quân Tình nguyện Việt Nam tổ chức phòng ngự tốt, đánh lui nhiều đợt tiến công của địch giữ vững cao điểm Phu Khút và khu vực Cánh đồng Chum, Xiêng Khoảng.

Đầu tháng 5 năm 1969, theo đề nghị của Bộ chỉ huy quân sự Pa thét Lào, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam và Bộ Tư lệnh Thiết giáp cử một đoàn cán bộ, chiến sĩ và nhân viên kỹ thuật 1 thiết giáp gồm 32 đồng chí do tôi lúc đó là trung đoàn trưởng Trung đoàn thiết giáp 202 làm trưởng đoàn với nhiệm vụ hành quân sang Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng để giúp bộ đội Pa thét Lào và lực lượng trung lập yêu nước Lào sửa chữa khôi phục những xe tăng lội nước (PT-76) bị hư hỏng bảo đảm cho bạn Lào tang thêm số xe tăng tham gia chiến dịch tiến công giải phóng Bản Khai - Mường Sủi trước mùa mưa năm 1969. Trước khi bước vào chiến dịch, tôi được giao nhiệm vụ tham mưu cho Bộ chỉ huy quân Tình nguyện Việt Nam về sử dụng xe tăng trong chiến dịch. Sau khi hoàn thành việc sửa chữa xe tăng cho bạn, đoàn cán bộ, chiến sĩ thiết giáp 202 đã tổ chức thành một lực lượng phối hợp với bộ đội Thiết giáp Lào trực tiếp tham gia chiến đấu.

Đoàn được mang phiên hiệu là Đoàn 195 để kỷ niệm ngày sinh của Bác Hồ kính yêu.

Khó khăn của đoàn là không có phương tiện hành quân, tôi đã báo cáo với Bộ Tổng tham mưu và đề nghị Bộ điện sang Tổng cục Hậu cần xin ô tô vận chuyển đoàn và khí tài, vật tư kỹ thuật hành quân sang Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng.

Chiều ngày 10 tháng 5 năm 1969, tôi nhận được thông báo của Tổng cục Hậu cần cho xe chở người, phương tiện, vật tư khí tài sửa chữa sang Cánh đống Chum - Xiêng Khoảng. Chúng tôi rất vui mừng khi nhận được tin này.

Ngày 12 tháng 5, Đoàn 195 hành quân từ Hà Nội vào Mường Xẻn tỉnh Nghệ An đêm 14 - 5, vượt biên giới Việt - Lào, hành quân sang Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng.

Đoàn vừa đến đất Lào, tại Noọng Pẹt, chúng tôi và bộ đội vận tải Việt Nam và các đơn vị bộ binh tăng cường cho quân Tình nguyện Việt Nam bị máy bay của nguỵ quân Lào liên tiếp đánh phá chặn đường rất ác liệt, xe ô tô của Đoàn 195 bị mảnh bom trúng ca bin xe, nhưng lái xe và chiến sĩ thiết giáp ngồi trên thùng xe đều an toàn.

Ngày 13 tháng 5, chúng tôi được đồng chí trưởng đoàn chuyên gia Việt Nam tại Lào thông báo về tình hình Lào, lực lượng trung lập yêu nước Lào, đặc biệt là tình hình xe tăng thiết giáp của bạn. Buổi chiều hôm đó, cán bộ, nhân viên kỹ thuật Đoàn 195 đã cùng với cán bộ, chiến sĩ Thiết giáp Lào đi đến các kho vật tư, khí tài, các điểm giấu xe tăng đã hỏng để tìm nhặt phụ tùng, khí tài vật tư của xe tăng đem về tổ chức sửa chữa khôi phục số xe hỏng cho bạn Lào. Trải qua hai mươi ngày kiểm tra và tiến hành sửa chữa toàn bộ số xe tăng PT76 hư hỏng, Đoàn 195 đã sửa chữa khôi phục cho bạn Lào được 9 xe tăng (6 xe của Pa thét Lào, 3 xe của lực lượng trung lập yêu nước Lào). Sau đó Đoàn 195 đã cùng với các đồng chí chuyên gia Việt Nam ở Lào tổ chức một trung đội tăng cho lực lượng trung lập và một đại đội tăng (thiếu một trung đội) cho bộ đội Pa thét Lào.

Tinh thần hăng say khôi phục xe pháo cho bạn Lào của Đoàn 195 đã để lại những ấn tượng tốt 1 đẹp tình hữu nghị của quân đội và nhân dân hai nước Việt - Lào.

Một buổi sáng tháng 5 năm 1969, tại trụ sở đoàn chuyên gia Việt Nam trên đất Lào, đồng chí Tổng Tư lệnh quân đội Pa thét Lào Khăm Tày Xi Phan Đon đã tới thăm các cán bộ, chiến sĩ đoàn 195 chúng tôi. Đây là vinh dự của 32 cán bộ, chiến sĩ, nhân viên kỹ thuật Tăng - Thiết giáp Việt Nam sau một thời gian khẩn trương, tích cực giúp bạn khôi phục sửa chữa xe pháo tại Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng.

Sau phút bắt tay thân mật, hỏi thăm sức khoẻ chúng tôi, đồng chí Tổng Tư lệnh quân đội Pa thét Lào nói chuyện chân tình với chúng tôi. Trưa hôm đó chúng tôi được dự bữa cơm thân mật có các món ăn của Lào và Việt Nam. Buổi gặp tuy ngắn, nhưng chứa chan tình bạn cùng nhau chiến đấu chung một 1 chiến hào, tình hữu nghị đặc biệt giữa quân đội và nhân dân hai nước.

Trung tuần tháng 6 năm 1969, chúng tôi được lệnh hiệp đồng với bộ đội Tăng - Thiết giáp Lào tham gia chiến đấu giải phóng Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng. Phân đội xe tăng PT76 gồm cả cán bộ chiến sĩ Việt Nam và Pa thét Lào đã được giao nhiệm vụ hiệp đồng với lực lượng bộ binh Việt Nam và Lào tiến công căn cứ pháo binh Nậm Xoong.

Lực lượng chiếm đóng Nậm Xoong gồm một tiểu đoàn bộ binh quân nguỵ Lào nhằm bảo vệ trận địa pháo binh gồm 10 khẩu pháo 105 - 155 mm. Đây là trận địa pháo của quân Thái Lan.

Theo kế hoạch hiệp đồng tác chiến, về phía lực lượng bộ binh Việt - Lào trong đêm phải tiếp cận căn cứ Nậm Xoong, còn phân đội xe tăng đêm 19 tháng 6, bí mật tiến gần căn cứ Nậm Xoong, cách địch khoảng 10 ki-lô-mét, tạm dừng lại. Khi pháo binh của chiến dịch bắn chuẩn bị vào Nậm Xoong thì xe tăng dùng tốc độ cao tiến đến phía đông Nậm Xoong triển khai thành đội hình chiến đấu, hiệp đồng với bộ binh tiến công tiêu diệt địch.

Đúng 5 giờ ngày 20 tháng 6, phân đội xe tăng đã tiếp cận mục tiêu và triển khai thành đội hình chiến đấu, nhưng quan sát các hướng đều không thấy bộ binh, người chỉ huy phân đội xe tăng Việt - Lào ra lệnh nổ súng tiến công. Do xe tăng xuất hiện quá bất ngờ, quân địch hốt hoảng, một số bỏ chạy, số địch còn lại kéo 2 khẩu 105 milimét ra cổng chính bắn trực tiếp vào xe tăng. Một xe tăng của ta bị địch bắn hỏng. Đồng chí Nguyễn Trọng Kiên trưởng xe sau này anh là Phó Tư lệnh chính trị Bộ Tư lệnh Tăng - Thiết giáp) đã nhanh chóng phát hiện địch và chỉ huy pháo trên xe tăng bắn tiêu diệt tốp địch và 2 khẩu pháo 105 mihmét trước cổng chính. Sau 20 phút dũng cảm chiến đấu, xe tăng đã đột nhập vào trong căn cứ Nậm Xoong và tiêu diệt tiếp số địch còn chống cự, buộc địch bỏ pháo vác súng tháo chạy, số địch còn lại đầu hàng. Lực lượng hậu cần của bạn Lào thu dọn chiến trường, còn phân đội xe tăng rút ra khu vực Nậm Xoong 2 killômét sơ tán đề phòng máy bay địch đến bắn phá để đêm hôm đó rút về khu tập kết. Khoảng 8 giờ 30 phút, máy bay của quân nguy Lào đến bắn phá càn cứ Nậm Xoong.

Sáng ngày 21 tháng 6 năm 1969, tại sở chỉ 1 huy chiến dịch của Bộ Tư lệnh quân Tình nguyện Việt Nam nhận được báo cáo là căn cứ Nậm Xoong đã bị phân đội xe tăng Việt - Lào tiêu diệt, ta làm chủ chiến trường, nhưng ở hướng cụm cứ điểm Bản Khai, Mường Sủi lực lượng đặc công và bộ binh của quân Tình nguyện Việt Nam và bộ đội Pa thét Lào tiến công địch gặp khó khăn phải rút ra ngoài. Lúc này, phân đội xe tăng đã tắt máy không liên lạc với đại diện xe tăng bên cạnh sở chỉ huy chiến dịch nữa. Tôi trực tiếp đến gặp Đại tá Vũ Lập - Tư lệnh chiến dịch đề nghị cho phép tôi, Trung đoàn trưởng Thiết giáp 202 và một vài cán bộ di chuyển ra phía trước, bắt liên lạc với phân đội xe tăng và hướng dẫn giúp đỡ anh em tiếp tục chuẩn bị các mặt cho các trận chiến đấu tiếp theo. Suy nghĩ một chút và mời tôi uống trà, đồng chí Tư lệnh chiến dịch nói: "Di chuyển ra phía trước, tôi đồng ý, nhưng đồng chí báo cáo với đồng chí Huỳnh Đắc Hương chính uỷ chiến dịch, nếu Chính uỷ đồng ý thì tổ chức một số cán bộ cùng đồng chí di chuyển ra phía trước ngay sáng nay”.

Được Chính uỷ chiến dịch đồng ý, tôi rất mừng và tổ chức một tổ gồm có: tôi Lê Xuân Kiện, Đỗ Văn Xảo (chuyên gia Việt Nam tại Lào) , 2 chiến sĩ trinh sát, một liên lạc, một chiến sĩ bảo vệ khẩn trương hành quân ra phía trước từ 6 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút thì chúng tôi đến gần phía Nam sông Nậm Ngúm. Chúng tôi quan sát phát hiện thấy vết xích xe tăng và bảo nhau đi theo vết xích sẽ tìm thấy xe. Thật vậy, chúng tôi đi khoảng 700 - 800 m thì gặp chiến sĩ xe tăng đang đào công sự và kiếm tra kỹ thuật xe pháo. Nhìn thấy chúng tôi, tất cả anh em cán bộ, chiến sĩ xe tăng Việt - Lào chạy tới tay bắt mặt mừng.
Sau khi chúng tôi làm việc với đồng chí chỉ huy phân đội xe tăng, biết rõ khó khăn lúc này của anh em là các xe tăng đều thiếu dầu nhớt. Đạn và lương thực còn đảm bảo chiến đấu 2 - 3 trận nữa. Tôi bàn với đồng chí chỉ huy phân đội xe tăng là lệnh cho các xe, cử người mang can nhựa, sô, nếu không có can, sô thì chặt bương đi theo tôi để tìm hậu cần chiến dịch lĩnh đầu nhớt.

Rất may là chúng tôi đi khoảng hơn 1 km thì thấy vết xe ô tô phía nam sông Nậm Ngúm. Phán đoán có thể là vết xe của hậu cần chiến dịch vận chuyển xăng dầu, vũ khí đạn ra phía trước. Chúng tôi đi theo vết xe ô tô khoảng hơn 1 km nữa thì gặp trạm hậu cần chiến dịch và đề nghị cấp phát dầu nhớt, lương khô cho phân đội xe tăng. Thế là chúng tôi nhận đủ dầu nhớt, lương khô mang về bổ sung cho đơn vị.

Trên đường từ trạm hậu cần chiến dịch về phân đội xe tăng, thật may mắn, tôi nhìn lên đồi thì thấy có cần ăng-ten đài vô tuyến điện, tôi lên đồi thì gặp tổ đài vô tuyến điện 50W. Tôi hỏi và biết được "đài vô tuyến điện của cơ quan thông tin chiến dịch" điều lên đây để các đơn vị báo cáo tình hình về Bộ Tư lệnh chiến dịch. Tôi vô cùng mừng rỡ và viết ngay điện báo cáo với Tư lệnh chiến dịch về tình hình chiến đấu thắng lợi tiêu diệt căn cứ pháo binh Nậm Xoong của phân đội xe tăng Việt - Lào và đề nghị cho phép đêm 23 tháng 6 năm 1969, phân đội xe tăng Việt - Lào vượt sông Nậm Ngủm tiến công căn cứ Bản Khai và cho các đơn vị bộ binh, đặc công, pháo binh đang vây Bản Khai, hiệp đồng với phân đội Tăng - Thiết giáp Việt - Lào tiến công tiêu diệt căn cứ Bản Khai.
Khoảng 18 giờ ngày 22 tháng 6, đồng chí Hoàng Thuyền, Tư lệnh pháo binh chiến dịch được cử ra phía trước gặp tôi thông báo mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh chiến dịch nhất trí với đề nghị của tôi và đã lệnh cho tất các các đơn vị đang có mặt xung quanh Bản Khai, Mường Sủi khắc phục mọi khó khăn, đêm 23 tháng 6 hiệp đồng với phân đội Tăng - Thiết giáp Việt - Lào tiến công tiêu diệt căn cứ Bản Khai, Mường Sủi. Đồng chí Hoàng Thuyền còn nói tiếp: "Chính uỷ Huỳnh Đắc Hương giao cho mình chuyển đạt cho cậu là đại diện xe tăng của chiến dịch, cậu có nhiệm vụ chỉ huy toàn bộ lực lượng ở mặt trận Phu Khét, Bản Khai, Mường Sủi, cờ đến tay cứ phất. Nghe vậy, tôi lo nhiệm vụ chỉ huy toàn lực lượng sẽ khó khăn, vì tôi không có cơ quan tham mưu đi cùng, mặt khác phương tiện để liên lạc với các đơn vị đặc công, sư đoàn bộ binh, pháo binh... không đảm bảo, vì cùng đi với tôi chỉ có đài 2 W và một đài 50 W. Tôi nói với đồng chí Hoàng Thuyền: "Cậu ở chiến trường Lào lâu năm và có nhiều kinh nghiệm nên tôi đề nghị cậu ở lại phía trước, chúng ta cùng nhau chỉ huy các đơn vị tiến công tiêu diệt Bản Khai - Mường Sủi". Nghĩ một chút, Hoàng Thuyền nói: "Tớ phải về sở chỉ huy chiến dịch làm nhiệm vụ, không thể ở lại đây được".

Sáng ngày 23 tháng 6, tôi và đồng chí Xảo chuyên gia xe tăng Việt Nam tại Lào tới sở chỉ huy của đồng chí Xa - Mán chủ nhiệm Tổng cục chính trị bộ đội Pa thét Lào đề nghị tiến công căn cứ Bản Khai: Đồng chí Xa Mán rất thân tình tiếp chúng tôi và đồng ý điều một đại đội bộ binh Pa thét Lào phối hợp với phân đội tăng chiến đấu.

Bản Khai, Mường Sủi là cụm cứ điểm lớn án ngữ kiểm soát trục đường số 7 từ Cánh đồng Chum đi Xa-la-phu-khum (ngã ba đường số 7 và quốc lộ 13). Lực lượng địch phòng thủ Bản Khai, Mường Sủi là 2 binh đoàn (GM) và một số tiểu đoàn bộ binh của quân nguỵ Lào và quân Thái Lan do 2 đại tá Thái Lan và Lào chỉ huy.

Địch tổ chức phòng thủ Bản Khai khá kiên cố, có hệ thống lô cốt bảo vệ, có giao thông hào để cơ động lực lượng, có trận địa pháo 105 ly và cối 81 ly. Cả ngày và đêm, địch tổ chức canh gác, tuần tra bảo vệ nghiêm mật.

Đêm 23 tháng 6 năm đó, phân đội tăng chở bộ binh hành quân tiếp cận Bản Khai. Trên đường hành quân, phân đội tăng gặp chốt địch cảnh giới từ xa, chúng bắn tiểu liên, súng trường, trung liên và ném lựu đạn. Xe tăng dùng tốc độ cao vượt qua chốt từ xa của địch để tiếp cận mục tiêu.

Đúng 5 giờ 15 phút ngày 24 tháng 6, phân đội tăng Việt - Lào triển khai đội hình chiến đấu cách cổng căn cứ Bản Khai 150m và nổ súng tiến công. Ngay sau đó, các đơn vị bộ binh, đặc công, pháo cối trên các hướng đều đồng loạt nổ súng hiệp đồng.

Sau 35 phút chiến đấu, các đơn vị bộ binh, đặc công đã phá rào và xung phong vào căn cứ, phân đội tăng và đại đội bộ binh đi cùng hiệp đồng chiến đấu tốt đánh thẳng vào trung tâm Bản Khai tiếp tục tiêu diệt địch. Do bị tiến công mạnh trên nhiều hướng và xe tăng xuất hiện bất ngờ, địch ở Bản Khai hốt hoảng, một số bị ta diệt, số còn lại ở Bản Khai rút chạy về Mường Sủi và kéo theo toàn bộ địch ở cứ điểm Mường Sủi tháo chạy về hướng Xa-la-phu' thun. Ta và bạn Lào hoàn toàn làm chủ căn cứ Bản Khai - Mường Sủi.

Trong khoảng một tuần, Đoàn 195 của Trung đoàn Tăng - Thiết giáp 202 đã cùng bộ đội Pa thét Lào, quân Tình nguyện Việt Nam hiệp đồng tiến công tiêu diệt căn cứ pháo binh Nậm Xoong và đánh thiệt hại nặng 2 binh đoàn (GM) của nguỵ Lào và Thái Lan phòng thủ cụm cứ điểm Bản Khai, Mường Sủi thu toàn bộ vũ khí, lương, thực phẩm quân trang quân dụng, giành thắng lợi. Chiến dịch giải phóng Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng hoàn toàn thắng lợi.

Tình bạn chiến đấu, tình hữu nghị đặc biệt giữa quân đội và nhân dân hai nước Việt - Lào ngày càng đậm đà, sâu sắc, thủy chung!
Logged
rongxanh
Thành viên
*
Bài viết: 2085

Mơ về nơi xa lắm.


« Trả lời #9 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2008, 08:15:01 AM »

NHỮNG NGÀY TRỨNG NƯỚC

Đại tá Dương Đằng Giang,
nguyên Tham mưu trưởng Binh chủng

Vào giữa năm 1955, tôi đang công tác tại Cục Quân huấn, Bộ Tổng tham mưu thì được lệnh về tập trung tại Trường Văn hoá Quân đội tại tỉnh Kiến An (cũ) Tôi cũng không ngờ, đó là một bước ngoặt quan trọng đời bộ đội của mình: trở thành chiến sĩ xe tăng.

Tại trường, ngoài học tập văn hoá, chúng tôi còn học ngoại ngữ và chiều chiều chúng tôi còn phải vác trống ra sân: "Cắc tùng, cắc tùng..." để "ôm" nhau tập nhảy quốc tế vũ, vì nghe nói là ra nước ngoài phải biết nhảy!

Đoàn học viên cán bộ xe tăng được học tiếng Trung Quốc. Cuối khoá, nhà trường mời một đồng chí người Trung Quốc nói chuyện để chúng tôi nghe thử. Do trình độ anh em còn có hạn, lại nghe người Quảng Đông nói rất khó khăn, có đồng chí còn không hiểu, nên có vẻ nản. Sau này, chúng tôi được nghe câu nói vui của học viên bạn "Trời không sợ, đất không sợ, chỉ sợ người Quảng Đông nói tiếng phổ thông" - tiếng Bắc Kinh.

Đoàn học viên xe tăng do đồng chí Đào Huy Vũ làm trưởng đoàn, tôi phó đoàn với số lượng 36 đồng chí đủ thành lập một khung cán bộ chỉ huy theo biên chế một trung đoàn xe tăng.

Đoàn học viên cán bộ tăng đến Bắc Kinh vào đầu mùa đông năm 1956. Lần đầu tiên được thấy tuyết rơi, mấy anh em còn trẻ chạy ra hứng tuyết,. reo hò. Sau đó, ngày ngày phải đi dọn tuyết, anh nào cũng méo mặt.

Tại Bắc Kinh, hệ chỉ huy từ cán bộ trung đội trở lên học tại trường xe tăng số 1 do đoàn trưởng và đoàn phó phụ trách. Hệ kỹ thuật có đồng chí Nguyễn Chí Tam trưởng ban kỹ thuật, học tại trường 2. Trường 4 đào tạo các chiến sĩ trên xe theo chức trách: trưởng xe, lái xe, pháo thủ số 1, số 2... Trường 5 đào tạo thợ sửa chữa.

Học chuyên môn khoảng 3 năm. Thời gian đầu khá vất vả, trình độ Trung văn của anh em còn thấp phải trực tiếp nghe, nói, đọc tài liệu kỹ thuật, nhất là khi gặp các từ, cụm từ Trung Quốc phiên âm tiếng nước ngoài (Nga, Anh). Thể lực anh em ta còn yếu so với yêu cầu điều khiển xe tăng.

Tôi vóc người "nhỏ con”. Hồi ở Chiến khu 2 cũ, khu trưởng Hoàng Sâm vẫn gọi đùa tôi là "Cái kẹo", sau này có đồng chí ở Bộ Tổng tham mưu gọi tôi là "Xe tăng loại nhẹ". Khi ngồi ghế lái, tôi phải đệm thêm cho ghế cao lên, khi phải chuyển hướng gấp hoặc xe "đằng sau quay" tôi đều phải dùng cả hai tay để kéo cần lái. Mùa đông, anh em phải chịu cái rét dưới âm mấy chục độ khi tập ở ngoài trời.

Tuy vất vả, song cũng rất vui vì kết quả học tập tiến bộ, vui trong sinh hoạt ngày thường, nhiều chuyện tức cười xảy ra khi tiếp xúc với bạn: đá bóng vào người ta, không nói "Xin lỗi" mà lại "Cảm ơn". Khi đi mua hàng, xì xồ thế nào đó mà Cao hổ cốt ~ thành cao dán tan nhọt; quên từ "Con gà mái" phải nói là "mua vợ con gà trống" ... làm họ cười lăn.

Về chuyên môn, các kỳ kiểm tra và thi cuối khoá anh em ta đều đạt thành tích cao: nắm vững chiến thuật và kỹ thuật, thành thạo sử dụng xe, vũ khí trên xe : pháo, súng máy... ; Còn tiếng Trung Quốc, đã có đồng chí nói nhanh như "gió" Lê Xuân viện, ĐỖ Văn Xảo, Nguyễn Đình Doãn... Tuy nhiên, vẫn còn bộ phận nói và nghe tiếng Trung còn yếu như đồng chí Lê Thành Liễu, thao tác thì được, nhưng khi hỏi lý thuyết thì lắc đầu nói "Tôi không biết", đồng chí Liễu rất tốt và hiền ai cũng mến, sau thành "biệt danh" cả trường gặp đều chào vui: Đồng chí "Tôi không biết".

Ngoài ra, anh em ta cùng tham gia lao động xã hội chủ nghĩa hoạt động văn nghệ, thi đá bóng..., anh em trường 1 trình diễn "múa sạp", các "cô gái Thái" do mấy anh "thư sinh": "Đằng Giang, Văn Doãn, Tường Tiến... đóng, sạp thì bó bằng cọc màn; đội bóng "Sao đỏ" của tường 4 được các đội bạn vị nể vì đá cũng không... xoàng;

Với sự giúp đỡ của bạn, vào cuối tháng 8-1959 Trung đoàn đã tập trung tại Quế Lâm, Quảng Tây, Nam Trung Quốc tiếp nhận xe T-34 và pháo tự hành CAY-76, bắt đầu huấn luyện. Tại đây, Trung đoàn đã tham gia diễn tập thực binh bắn đạn thật với Sư đoàn Bộ binh La Thịnh Giáo của bạn (Chí nguyện quân ở Triều Tiên vê) và bạn đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Để hoàn chỉnh về tổ chức Trung đoàn, tôi được cử về nước hai lần: xem xét địa điểm xây dựng doanh trại chính qui cho Trung đoàn và đón đoàn cán bộ chính trị sang Quế Lâm gồm Chính uỷ: Đặng Quang Long, ba chính trị viên tiểu đoàn, sáu cán bộ đại đội và số cán bộ chủ chốt của ban chính trị.

Lễ thành lập Trung đoàn xe tăng 202, trung đoàn xe tăng đầu tiên của quân đội ta được tổ chức tại Quế Lâm (có đại diện bạn tham dự), Thiếu tướng Trần Văn Quang, Phó Tổng Tham mưu trưởng, thay mặt Bộ Quốc phòng công bố quyết định của Bộ ký ngày 5 tháng 10 năm 1959 và ngày đó cũng là ngày truyền thống của Binh chủng Tăng - Thiết giáp sau này. Về phiên hiệu 202, có đồng chí hiểu lầm cho là do số học viên có 202 đồng chí mà có nêu đặt tên là Trung đoàn 202. Song chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Theo quy định của cơ quan giúp Bộ tổ chức lực lượng quân đội như sau: Các sư đoàn bộ binh mở. đầu bằng số 3: 304, 305, 308, 316... "Họ" nhà pháo: bất kể pháo đất, pháo trời và (theo các đồng chí đó) pháo xe tăng đều mở đầu bằng số 2: 204, 208 (pháo binh) 216, 241, 282 ... (pháo phòng không) và tăng ta cũng là :202, 203...

Sau diễn tập, trung đoàn trở về huấn luyện thường xuyên, chăm sóc xe, đợi ngày về nước.

Sau diễn tập, tôi và mấy cán bộ về trước để chuẩn bị.

Đúng 17 giờ ngày 13 tháng 7 năm 1960, chuyến xe tăng đầu tiên (đều nằm trong khung bạt kín) được vận chuyển an toàn bằng xe lửa về nước: 18 giờ 33 phút, chiếc xe tăng mang số hiệu 114 do Trung sĩ Đào Văn Bàn lái, dưới sự chỉ huy của cán bộ kỹ thuật Hà Văn Đa, đã từ toa tàu đặt hai bánh xích xuống mảnh đất thiêng liêng của Tổ quốc tại ga Vĩnh Yên như đánh dấu một mốc son đi vào lịch sử của Binh chủng Tăng - Thiết giáp Việt Nam.

Ngay sau đó, Trung đoàn tập trung toàn cán bộ chỉ huy, kỹ thuật, các kíp xe để kiểm tra, bảo dưỡng niêm cất xe đúng theo yêu cầu kỹ thuật tại các kho xe cũng vừa xây dựng xong trước thời gian qui định. Từ đây, Trung đoàn chuyến vào nhiệm vụ trung tâm là huấn luyện và xây dựng đơn vị.

Một ngày ghi nhớ là ngày 26-9-1960, Đại tướng VÕ Nguyên Giáp - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Thượng tướng Văn Tiến Dũng - Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam đến thăm Trung đoàn.

Sự có mặt của đồng chí Bộ trưởng và đồng chí Tổng Tham mưu trưởng ngay từ những ngày đầu tiên xây dựng Trung đoàn càng làm cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn thấy được sự quan tâm chăm sóc của Đảng, Quân uỷ và Bộ Quốc phòng đối với đơn vị xe tăng đầu tiên của quân đội ta.

Bộ đội xe tăng Việt Nam từ thời kỳ "thai nghén" đến khi ra đời, về trên Đất Mẹ, hoàn thiện được chính mình, toàn Trung đoàn đã phải trải qua thời gian 4 năm tròn. Đất Vĩnh Yên, "cái nôi" của bộ đội xe tăng, đối với những chiến sĩ xe tăng đầu tiên và nhiều thế hệ nối tiếp sẽ mãi mãi không quên:

Núi Đanh, Tam Đảo còn ghi mãi,
Kim Long, Hữu Thủ chẳng mờ phai.
Logged
Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM