Ý nghĩa của truyện Thánh Gióng

(1/2) > >>

lamphong:
Thánh Gióng
Bài viết này dựa trên nền tảng là cuốn: “Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam” của giáo sư – nhà giáo nhân dân Trần Văn Giàu – NXB Chính Trị Quốc Gia – 2011.
Cách đây hàng ngàn năm, trên vùng đất màu mỡ được bồi đắp bởi phù sa sông Hồng, nước Văn Lang đã được hình thành dưới sự hợp nhất một cách tự nguyện của mười năm bộ lạc. Ở nơi sinh tụ giàu tiềm năng đó, các bộ lạc chung sống một cách hòa hợp, đoàn kết, yêu thương đùm bọc lẫn nhau, cùng chung tay lao động, đối chọi với sự khắc nghiệt của thiên nhiên, cải tạo tự nhiên để phục vụ cho cuộc sống của mình. Thời gian trôi qua, con người vẫn cần cù, hăng say lao động, xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước. Biết bao mồ hôi, xương máu đã đổ xuống, thấm đẫm, làm trù phú mảnh đất quê hương, dệt nên non sông gấm vóc khôn thiêng. Và cũng qua chính những chặng dài lịch sử ấy mà lòng người càng gắn sâu vào đất, tình yêu quê hương, đất nước ngày càng đậm đà, tha thiết. Từ đó mà một nền văn hóa đặc sắc mà “lòng yêu nước” là sợi chỉ đỏ xuyên suốt bề dày lịch sử được hình thành và phát triển rực rỡ, là cái nguồn, cái giếng cấp nước tưới cho những giá trị tinh thần khác đơm hoa kết trái.
Điều này được thể hiện rất rõ qua nền văn học nước nhà khi dòng văn đứng đầu luôn là văn chương yêu nước, những truyện đứng đầu luôn là chuyện yêu nước, yêu giống nòi (bốn truyện thần thoại đứng đầu: sự tích Hồng Bàng, truyện Sơn Tinh, truyện Thánh Gióng, truyện Thần Rùa Vàng) mà tiêu biểu nhất là truyện Thánh Gióng – một câu chuyện luôn trường tồn với dân tộc qua bao biến cố lịch sử, một truyện mà những tinh túy của nó luôn được bảo tồn và phát triển suốt hàng ngàn năm lịch sử và cho tới tận ngày nay.
Truyện Thánh Gióng quả thật có rất nhiều ý nghĩa mà ý nghĩa đầu tiên phải kể đến đó là lòng yêu nước thiết tha, sâu đậm của mỗi người con xứ sở:
Truyện Thánh Gióng có thể được xem như một cách mà ông cha ta tổng kết lịch sử các cuộc chiến thắng chống ngoại xâm thời cổ đại. Nét đẹp của truyện ngày một được tô đậm qua từng lời truyền miệng của nhân dân để rồi qua thời gian, truyện trở nên đẹp trong từng chi tiết và ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng: ông Thánh là hình ảnh tượng trưng cho những người dân thuở ấy với những nét đẹp nhất, tiêu biểu nhất, cao quý nhất của những người con yêu nước:
-   Cha Gióng là ông thần Khổng Lồ. Ông Khổng Lồ này đi hái cà trong cơn lốc, để lại dấu chân trong vườn cà, để rồi mẹ nó đặt chân lên dấu mà thụ thai sinh ra nó – một đứa bé không tên ở làng Gióng. Đứa trẻ này không tên vì nó là mọi người. Cha nó là một ông Khổng Lồ - một ông Khổng Lồ rất dân giã khi ra đồng hái cà để ăn. Như vậy, đứa bé là con của một dân tộc vĩ đại.
-   Đứa trẻ làng Gióng sinh ra đã mấy năm rồi mà cứ nằm trong nôi, không nói không cười. Nhưng khi sứ giả Hùng Vương thứ sáu đi truyền rao cần nhân tài cứu nước, đánh giặc Ân thì đứa bé liền thông cảm và biết nói, lời nói đẩu tiên của nó là xin tình nguyện ra đi đánh giặc, bảo vệ quê hương. Như vậy, lòng yêu nước của Gióng đã được ủ sẵn từ rất sớm mà có lẽ không phải từ khi mới sinh ra mới có mà là từ trước khi sinh, khi còn nằm trong bụng mẹ, khi được nghe những lời mẹ ru, khi được nghe bằng đôi tai, nhìn bằng cặp mắt,… của mẹ,… Sau này, khi nói: “cứu nước, cứu dân trước”, “Tổ quốc trên hết”, “Tôi chỉ có một ước muốn, một ý muốn tột bậc, là giải phóng nước nhà, làm cho dân ấm no hạnh phúc”,… thì tư tưởng này đã có sẵn trong truyện Thánh Gióng ngàn xưa rồi.
-   Đứa bé mới ngày nào còn nằm trong nôi, hôm nay đã lãnh trọng trách đánh giặc. Khi lãnh trọng trách đánh giặc, cứu nước thì vừa vươn vai một cái, nó đã hóa thành một ông Khổng Lồ, to lớn và khỏe mạnh phi thường. Thế là dân làng đem cà mắm thật nhiều, Gióng ăn cà mắm lại càng lớn mạnh hơn nữa, có sức nhổ cả một bụi tre để làm vũ khí đánh giặc. Lột cái dáng vẻ thần thoại ra thì ta có thể nhận thấy ngay rằng, sức mạnh này là sức mạnh của toàn dân, sức mạnh của lòng người – của lòng yêu nước – một sức mạnh lớn lao, phi thường đang lớn lên cực kỳ nhanh chóng mà không gì, không một thế lưc hắc ám nào có thể đánh bại. Và tư tưởng “toàn dân chung sức, đồng lòng đánh giặc”  và cũng là một lối đánh truyền thống nhưng không bao giờ lỗi thời qua thời gian, năm tháng đã được thể hiện rất rõ tại đây. Mỗi con người đất Việt tuy bình thường trông có vẻ nhỏ bé nhưng đến khi đất nước lâm nguy thì đều trở nên vĩ đại, phi thường, đều đóng một vai trò quan trọng trong công cuộc bảo vệ đất nước. Chắc hẳn nhân dân sáng tác và trau dồi truyện thánh Gióng muốn nói rằng dân tộc ta một khi đứng trước một nhiệm vụ lịch sử nặng nề, tưởng chừng như quá sức gánh vác của mình, thì, bởi sẵn lòng yêu nước nồng nàn, bởi biết chung sức với nhau, bởi nhiều mưu trí và sáng tạo mà vươn lên mau chóng cho kịp nhiệm vụ được giao. Thật vậy, suốt mấy ngàn năm sau, Văn Lang, Âu Lạc đã dám đánh thắng và thắng những kẻ xâm lược lớn mạnh hơn mình gấp mấy chục lần.
-   Giặc tan, vị anh hùng làng Gióng không về triều lĩnh thưởng mà giục ngựa lên núi Sóc, về trời, hẹn khi nào đất nước lâm nguy thì sẽ trở lại giúp dân đánh quân xâm lược. Bằng cử chỉ cao quý này, truyện muốn ca ngợi một chủ nghĩa yêu nước hoàn toàn trong trắng không một hạt bụi danh vị hay một chút tư lợi cá nhân, ca ngợi một tinh thần phục vụ vô điều kiện cho Tổ quốc, cho đồng bào. Ngoài ra, đứng trên phương diện nhân vật Gióng, ta cũng có thể cảm nhận được một góc khác trong tấm lòng của người anh hùng mà sâu xa hơn là chính mỗi người dân xứ sở: bảo vệ đất nước là trách nhiệm, là bổn phận của mỗi người dân và độc lập, tự chủ chính là phần thưởng lớn nhất, cao quý nhất mà không ai có thể ban cho ngoài chính bản thân mỗi người.
(còn nữa)

VMH:
Yêu cầu bổ sung nguồn!

caytrevietnam:
Đ/c mới này đã viết nguồn ngay phía trên đầu bài rồi mà  ::)

Trần Anh:
Nhân dịp đi theo các thầy sang bảo tàng Nhân học, em có lượm được một về truyền thuyết Thánh Gióng.
Đây là một bài nghiên cứu khoa học chủ yếu về nguồn cội của truyền thuyết, qua đó đề cập đến văn hóa, môi trường văn hóa và sự tiếp xúc và giao lưu văn hóa xảy ra trên đất nước ta vào thời điểm này.
Tác giả:Nguyễn Việt*




Truyền thuyết Thánh Gióng - sự phối trộn các thành tố huyền thoại Âu và Lạc ở thế kỷ III Trước Công Nguyên Nguyễn Việt


Sự tích Thánh Gióng – Phù Đổng thiên vương ra đời trong khoảng thế kỷ 3-2 trước Công nguyên, thoạt đầu là vị thần khổng lồ có nguồn gốc từ thần đá và thần tre trúc sau đó phát triển lên thành anh hùng dân tộc chống ngoại xâm; gắn với sự hình thành liên minh Âu Lạc bởi nó ẩn chứa trong mình cả hai thành tố Âu, Lạc.

I- TỪ MỘT SỐ VẤN ĐỀ HIỆN TỒN

Đối với nghiên cứu Tiền sử học thì có một số điểm gắn liền với huyền thoại Thánh Gióng cho đến nay vẫn chưa làm rõ được như:
1- Tại sao Thánh Gióng đời vua Hùng thứ 6 lại đánh nhau với “giặc Ân mũi đỏ”, khi mà trong lịch sử chỉ có một nhà nước Ân, là cách gọi khi nhà Thương đóng đô ở đất Ân (Ân Khư, Hà Nam, Trung Quốc). Tuy rằng vào khoảng thời gian này (Ân Thương) đã xuất hiện mối bang giao của thủ lĩnh văn hóa Phùng Nguyên với vùng Tứ Xuyên, Hà Nam thông qua những chiếc nha chương phát hiện ở Xóm Rền và Phùng Nguyên.
2- Di tích khảo cổ học gắn với thời tiền sử muộn có thể liên quan đến thần thoại Thánh Gióng lại gần như vắng bóng quanh chân núi Sóc, mà hơi chệch về phía tây và phía nam. Khu vực đền thờ mẹ Gióng cũng là nơi sinh ra Gióng là làng Phù Đổng mới là khu vực phân bố dày các di tích khảo cổ học, trong đó ở viền xa hơn một chút có cả những di tích niên đại sớm tương đương với thời Ân Thương (như Bãi Tự, Từ Sơn, Đại Trạch, Dương Xá…). Tuy nhiên, trực tiếp quanh vùng Phù Đổng lại tập trung chủ yếu là các di tích Đông Sơn có niên đại từ thế kỷ 3 trở về sau (Trung Mầu, Dương Nội, Đa Tốn, Đình Tổ, Luy Lâu…).
3- Bản chất Thánh Gióng là vị thần cổ đại nào của người Việt và “Phù Đổng” hàm nghĩa gì khi gắn với Thánh Gióng.
Bài viết này thử dùng tiếp cận tiền sử học để giải thích các câu hỏi đó.

II- GIẢI THÍCH CÁC THÀNH TỐ CỘI NGUỒN
A- Thánh Gióng hiện thân của Trúc Vương (vua sinh ra từ thân cây tre) trong huyền thoại Dạ Lang. Thử tìm mối liên hệ xa hơn về khái niệm “giặc Ân”.

Về huyền thoại Thánh Gióng đã có công trình nghiên cứu đồ sộ của nhà nghiên cứu văn hóa dân gian lão thành Cao Huy Đỉnh. Trong đó cây tre đóng một vai trò rất cơ bản trong huyền thoại này: tre dùng làm vũ khí đánh giặc sau khi gậy sắt bị gãy, tre đằng ngà màu vàng, đặc sản của rừng Sóc được coi như dấu tích lửa cháy từ chiến trận đánh giặc Ân. Về mặt ngôn ngữ học thì cả “Gióng” và “Sóc” đều ít nhiều liên quan đến loài cây có đốt rất gắn bó với đời sống cư dân Việt cổ. Gióng là một khúc đoạn dùng riêng cho thân cây có đốt, nay còn dùng phổ biến khi nói đến “gióng mía” và Sóc còn lại trong thành ngữ “đòn sóc hai đầu”, chỉ một loại đòn gánh thời xưa làm bằng thân tre đực vót nhọn hai đầu, rất tiện dùng khi gánh củi bó, lúa giạ cũng như làm vũ khí.
Về một khía cạnh nào mà nói, có thể hiểu Thánh Gióng là một vị thần tre trúc đã hóa thân thành một anh hùng dân tộc chống giặc ngoại xâm. Giả thiết này được ủng hộ bởi hình ảnh vị thần huyền thoại của người Dạ Lang là Trúc Vương (vị vua đầu tiên được sinh ra từ thân cây tre). Theo huyền thoại được kể sớm nhất trong Hoa Dương quốc chí chép trong Hậu hán thư thế kỷ 4 sau Công nguyên thì ở nước Dạ Lang, khi xưa có một người con gái ra giặt ở sông Đồn Thủy, bỗng thấy khúc tre lớn ba đốt trôi vướng vào chân, nghe trong có tiếng khóc, cô gái liền bổ khúc tre ra, thấy một bé trai, mang về nhà nuôi dưỡng. Khi lớn lên, cậu con trai có tài võ nghệ, tự lập làm Dạ Lang hầu, lấy họ là Trúc. Vị Dạ Lang hầu này sau đó bị Hán Vũ Đế giết, được dân chúng tôn làm thần nhân, lập đền thờ Trúc vương Tam lang rất linh ứng ở cửa sông Đồn Thủy đổ vào sông Uất Lâm. Dân trong vùng truyền rằng: Trúc vương quyên sinh, phá trúc ở tại đồng hoang sau trở thành rừng trúc, ngày nay đền thờ vương ở đất Quế Lâm vậy. Vương thường cùng gia nhân đến dừng chân trên tảng đá lớn và ra lệnh nấu canh, gia nhân thưa: không có nước nấu. Vương dùng kiếm chặt vào hòn đá, nước từ trong chảy ra. Ngày nay có sông Trúc vương thủy là bắt nguồn từ đó.
Về mô tip truyền thuyết thì hai câu chuyện Thánh Gióng và Trúc Vương đều giống nhau ở một số điểm, đó là một cuộc sinh nở kỳ bí: mẹ Gióng dẫm phải vết chân khổng lồ của thần nhân và mẹ Trúc Vương thấy đứa trẻ trong thân đốt cây tre. Cả Gióng lẫn Trúc Vương đều liên quan đến tre trúc. Những khác biệt còn lại cũng khá lớn, ở chỗ Gióng là thần biểu trưng cho anh hùng đánh giặc giữ nước, còn Trúc vương chỉ là vị thần lập quốc giúp dân. Cuộc đời Trúc Vương gắn với lịch sử thời Tần Hán, trong khi Thánh Gióng gắn với sự tích giặc Ân, mà nếu đích thực là thời nhà Ân Thương thì cũng phải từ hơn 1000 năm trước đó. Kết cục Thánh Gióng thắng giặc xong bay về trời (như sự sinh ra bí hiểm bởi con thần) còn Trúc Vương đầu hàng rồi bị kẻ xâm lược là Hán Vũ Đế phong vương rồi giết chết. Những khác biệt đó không cho phép đánh đồng hai nhân vật huyền thoại này làm một, nhưng có một số dẫn liệu khảo cổ học gợi mở hướng truy tìm sự ra đời của cốt chuyện Thánh Gióng từ thần thoại Trúc Vương của người Dạ Lang.
Những dẫn liệu khảo cổ học mà tôi đưa ra gắn liền với sự ra đời của nước Âu Lạc và gốc gác của vị vua Thục Phán An Dương vương.
Sự việc bắt đầu bằng những phát hiện khảo cổ học tại vùng Khả Lạc (Quý Châu, Trung Quốc). Đây là một khu mộ táng lớn có niên đại từ thời Chiến Quốc đến Đông Hán đã được phát hiện và khai quật từ 1978 rồi 2000. Loại hình mộ táng và di vật chôn theo của chủ nhân khu mộ đã cho phép các nhà nghiên cứu Trung Quốc đề xuất một văn hóa khảo cổ riêng biệt mang tên “Văn hóa Khả Lạc” (KeLe Culture). Khi mở rộng nghiên cứu so sánh, các nhà khoa học Việt Nam, Trung Quốc cũng như quốc tế đều nhận thấy sự gần gũi của cách chôn cất giữa văn hóa Khả Lạc với khu mộ táng Đông Sơn ở Làng Vạc (Nghĩa Đàn, Nghệ An). Đó là kiểu chôn người chết trong những huyệt đất nông có dùng đá kè mộ và nhất là cách đặt đầu người chết bên trong hoặc bên trên các đồ đựng bằng đồng như trống, chậu, nồi, đĩa… Và điểm theo tôi là quyết định nhất để có thể nối văn hóa Khả Lạc với những chủ nhân Đông Sơn ở Làng Vạc đó là họ đều sở hữu những chiếc vòng ống bằng đồng có bản dẹt và nhất là những thanh kiếm lưỡi sắt (hoặc đồng) tra vào phần cán đúc bằng đồng trang trí rất đẹp và có hình thuyền cong, mỏng gắn ở đốc chuôi. Đây là loại kiếm mang tính đặc thù văn hóa tộc người vô cùng độc đáo và rõ nét. Ngay ở Trung Quốc chúng cũng chỉ mới phát hiện được ở Khả Lạc (khoảng 20 chiếc) và ở Việt Nam cũng mới thấy ở vùng Làng Vạc và phụ cận (khoảng 50 chiếc), chưa thấy ở bất kỳ nơi nào khác trên toàn thế giới. Sự tương đồng này đã được các nhà khoa học xác nhận như là minh chứng rõ nhất cho một làn sóng di chuyển những quý tộc Tây Âu – Dạ Lang từ vùng đất Dạ Lang xưa (Quý Châu, tây bắc Quảng Tây) xuống khu vực miền bắc Việt Nam.

Còn tiếp...

Nguồn: bảo tàng Nhân học (trường ĐHKH Xã Hội và Nhân văn) hoặc http://tapchinhavan.vn/news/Van-hoc-voi-nha-truong/Truyen-thuyet-Thanh-Giong-su-phoi-tron-cac-thanh-to-huyen-thoai-Au-va-Lac-o-the-ky-III-Truoc-Cong-Nguyen-1329/

Trần Anh:
Truyền thuyết Thánh Gióng - sự phối trộn các thành tố huyền thoại Âu và Lạc ở thế kỷ III Trước Công Nguyên Nguyễn Việt
                                                                                                                                                                        tiếp theo

...Sự kiện này được củng cố thêm bởi việc phát hiện loại qua đồng lưỡi thẳng, đốc có hình vị thần của người Tây Âu dọc sông Hồng từ Vân Nam đến Việt Trì và loại nồi đồng có quai xoắn thừng mỏng dẹt trên có tượng chim nhỏ, đáy nồi chia làm bốn ô, trong đó có hoặc không có chân núm nổi, phân bố ở vùng nam và đông nam Cổ Loa ( Thuận Thành Bắc Ninh, Văn Lâm, Mỹ Hào Hưng Yên, Phú Xuyên, Mỹ Đức Hà Nội, Duy Tiên Hà Nam). Đây cũng là hai loại hình tùy táng đặc trưng cho văn hóa Khả Lạc ở Quý Châu. Theo các nhà nghiên cứu Trung Quốc, văn hóa Khả Lạc có niên đại từ thế kỷ 5 trước Công nguyên đến thế kỷ 2 sau Công nguyên, đồng thời với văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam. Những hiện vật kể trên đều nằm trong khung niên đại sớm của nền văn hóa này (thế kỷ 5 đến thế kỷ 2 trước Công nguyên).
Tài liệu thư tịch cũng hé mở cho chúng ta khi hai lần Hậu Hán thư nói đến những người “man” Dạ Lang tồn tại ở “bên ngoài” Cửu Chân. Một lần khi nói đến công trạng của Nhâm Diên khi làm thái thú Cửu Chân (24-29 sau Công nguyên) đã hòa giải được với man Dạ Lang để giảm được quân tuần tra đồn trú. Một lần khác vào năm thứ nhất niên hiệu Vĩnh Sơ đời Hán An đế (năm 107) khi nhắc đến man Dạ Lang bên ngoài Cửu Chân nổi dậy chiếm đất lập lãnh thổ rông trên 1000 dặm. Quận Cửu Chân là một trong 9 quận của nhà Hán lập ra sau khi chiếm Nam Việt vào năm 110 trước Công nguyên. Phân bố của cửu Chân bao gồm vùng núi Tam Điệp trở vào đến vùng núi Nghi Sơn giáp ranh Thanh Hóa – Nghệ An hiện nay. “Bên ngoài” Cửu Chân có thể hiểu là vùng núi phía tây và phía nam Thanh Hóa hiện nay. Đây chính là vùng phân bố của các đồ đồng thau Đông Sơn mang phong cách giống với văn hóa Khả Lạc của người Dạ Lang ở Quý Châu thời xưa. Có một số dấu hiệu khảo cổ cho thấy rằng chính những người Dạ Lang này, với tư cách tàn quân Âu Lạc đã tham gia cùng Khu Liên lập nên nước Lâm Ấp chống Hán trong nhiều thế kỷ thuộc nửa đầu thiên kỷ 1 sau Công nguyên.
Vậy cuộc di chuyển của những thủ lĩnh Dạ Lang, Tây Âu xuống miền bắc Việt Nam đã diễn ra do đâu và như thế nào ?
Dạ Lang được nhắc đến đầu tiên trong Sử ký của Tư Mã Thiên (thế kỷ 2 trước Công nguyên). Khi đó có hai sự kiện lớn liên quan đến Dạ Lang, một là việc Triệu Đà mua chuộc áp phục Dạ Lang theo Nam Việt chống Hán vào khoảng 179-180 trước Công nguyên. Hai là, nhà Tây Hán cử quân đánh Nam Việt vào năm 110 trước Công nguyên có cử tướng sang Dạ Lang điều quân tham chiến. Nghiên cứu về nhà nước Dạ Lang đã làm rõ được đó là một tiểu quốc được cho là “lớn nhất ở Tây Nam Di” đối với các triều đại Trung Hoa cổ điển. Dạ Lang vốn phân bố chủ yếu ở đất Quý Châu hiện nay, xưa kia tiếp giáp về phía đông nam trực tiếp với Tây Âu. Sau khi Tây Âu nhập với Văn Lang để thành Âu Lạc thì cũng chính là tiếp liền với Âu Lạc. Khu vực tiếp giáp đó chính là phía tây bắc Quảng Tây hiện nay. Chúng tôi cho rằng một bộ phận phía bắc của Tây Âu có chung nền văn hóa với Dạ Lang, thể hiện qua sự tương đồng về vũ khí (qua, dao găm) và các đồ dùng gia dụng khác (trống, chuông, vòng tay, tai, nồi, chậu, trống…), trong đó có thể có chung cả một vị thần tre là Trúc Vương.
Sự ra đời của Âu Lạc đã rõ là sự kết hợp của khối Tây Âu khi đó phân bố ở Quảng Tây, Quảng Đông, một phần Vân Nam và các tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam, với những người Lạc Việt của nước Văn Lang (vùng trung, hạ lưu sông Hồng, lưu vực sông Mã, sông Cả) lấy Cổ Loa làm kinh đô đầu tiên. Sự khác biệt trong bộ di vật Đông Sơn từ thế kỷ 3 trước Công nguyên trở về sau trong phạm vi cương vực Văn Lang đã ghi nhận sự tham gia của khối Tây Âu này. Trong thực tế, khối Tây Âu cũng chính là một bộ phận Lạc Việt phía bắc đã chịu ảnh hưởng của các nền văn hóa nhà nước Sở, Ngô, Việt, Ba Thục mà thôi. Khi kết hợp với Văn Lang thủ lĩnh Tây Âu là Thục Phán đã nắm quyền lãnh đạo Âu Lạc. Có lẽ vì tàn dư Ba Thục có đậm nét trong văn hóa Tây Âu nên sách sử từ thế kỷ thứ ba sau Công nguyên (Giao Châu ngoại vực ký) đã ghi nhận: Thục Phán là “Thục vương tử” – tức dòng dõi vua nước Thục (đã bị mất nước từ khoảng 100 năm trước đó – năm 316 trước Công nguyên). Truyền thuyết dân gian cũng nói đến thất bại của Hùng vương là do vua Thục xin thông gia không được đã đem quân đến đánh. Tài liệu khảo cổ học Việt Nam xác nhận có nhiều yếu tố văn hóa Ba Thục để lại trong bộ di vật từ Phùng Nguyên đến Đông Sơn. Tuy nhiên, đi vào chi tiết thì sự thiếu vắng kiếm kiểu Khả Lạc, Dạ Lang ở đồng bằng sông Hồng tương đồng với vắng bóng qua đồng trong sưu tập vũ khí Làng Vạc cho thấy dường như có một bộ phận thủ lĩnh Dạ Lang khi bị sức ép của Tần, Hán đã đi theo đường núi từ Quý Châu đến vùng thượng du sông Hiếu (Nghệ An) và chỉ có khối Tây Âu đi xuống đồng bằng sông Hồng thôi.
Trong bối cảnh lịch sử như vậy thì việc xuất hiện thần tre trúc (Trúc Vương) từ khối Tây Âu – Dạ Lang vào hệ thống thần thoại Âu Lạc thì cũng không có gì là quá cưỡng bức. Sự kiện đánh nhau với giặc Ân, nếu có thì cũng chỉ có thể diễn ra với tổ tiên người Ba Thục trong bình tuyến văn hóa Tam Tinh Đôi (Sanxingtui) ở Tứ Xuyên. Yếu tố Ba Thục này hẳn đã truyền xuống phía nam trong quá trình lan tỏa vào Dạ Lang và Tây Âu sau khi nước thục bị Tần diệt vào năm 316 trước Công nguyên. Điều này càng củng cố thêm cho giả thuyết về thành tố thần Tre Trúc trong việc cấu thành hình tượng Thánh Gióng thời Hùng Vương.

Còn tiếp....

Navigation

[0] Message Index

[#] Next page