Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 13 Tháng Mười Một, 2018, 07:55:14 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Anh hùng LLVTND trong kháng chiến chống Mỹ  (Đọc 163746 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 3819



« Trả lời #10 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2012, 10:33:13 AM »

ANH HÙNG NGUYỄN TRUNG THÀNH



    Nguyễn Trung Thành (tức Ba Thợ Rèn), sinh năm 1926, dân tộc Kinh, quê ở xã Khánh An, huvện Trần Văn Thời, tỉnh Minh Hải tham gia cách mạng tử tháng 1 năm 1946, nhập ngũ tháng 12 năm 1959. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là phó ban quân giới T.3, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

    Trước khi vào phục vụ trong quân đội, Nguyễn Trung Thành đã trải qua nhiều công tác trong kháng chiến chống Pháp như: đội viên chiến đấu ở chi đội 21 từ những năm đầu kháng chiến ở Nam Bộ, chính trị viên và trưởng ngành đúc xưởng 131 Nam Bộ, chính trị viên và phó ban công an xã... Cuối năm 1959, đồng chí được điều động vào quân đội phụ trách bí thư chi bộ binh công xưởng tỉnh Cà Mau, với nhiệm vụ lảnh đạo, tổ chức, xây dựng binh công xưửng và nghiên cứu sản xuất vũ khí phục vụ cho chiến trường.

   Xuất thân từ thành phần công nhân, ngót 20 năm hoạt động cách mạng (tính đến ngày được tuyên dương), Nguyễn Trung Thành đã luôn nêu cao tinh thần bền bỉ chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Trong những lúc khó khăn gian khổ nhất, đồng chí vẫn một lòng trung thành với Đảng, với cách mạng và đã hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Từ khi phụ trách xưởng quân giới, với tinh thần trách nhiệm cao, “dám nghĩ, dám làm, dám giành thắng lợi”, dựa vào tập thể, dựa vào nhân dân, cùng nhau khắc phục mọi khó khăn nhờ đó đồng chí đã phát minh được nhiều sáng kiến, sản xuất và sửa chữa, cải tiến được nhiều loại vũ khí, đáp ứng kịp với yêu cầu của chiến trường. Với 20 ki-lô-gam đồ nghề, từ những ngày đầu đầy thiếu thốn khó khăn, hoàn cảnh công tác rất gian khổ và nguy hiểm, đồng chí đã góp phần cùng với tập thể xây dựng nên ngành quân giới ở miền Tây Nam Bộ.

   Mặc dù lúc đầu quân số còn rất ít, cả xưởng chỉ có 11 người, trình độ còn thấp, nguyên vật liệu, dụng cụ, phương tiện thiếu, địch vây hãm đánh phá liên tục, đời sống trong chiến khu rất gian khổ, khó khăn, đồng chí đã cùng tập thể kiên trì xây dựng nội bộ vững về ý chí tư tưởng, có quyết tâm cao, vừa tự lực cánh sinh, vừa dựa vào dân để khẳc phục những khó khăn thiếu thốn. Trong sản xuất, vừa làm, vừa nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm bạn bè, được tập thể giúp đỡ, nhờ đó đồng chí đã có 7 phát minh mới và 15 công trình cải tiến kỹ thuật có giá trị.

   Nguyễn Trung Thành đã cùng anh em nghiên cứu thành công việc tận dụng phế liệu trong nhân dân để làm ra chất nổ dùng trong các loại đạn bắn tàu thủy, lô cốt, diệt xe cơ giới địch, v.v. Các loại đạn này đã được sử dụng trong chiến đấu, có hiệu quả cao, giải quyết được những khó khăn lớn lúc đó, phục vụ tốt yêu cầu của chiến trường.

   Đồng chí còn nghiên cứu thành công việc dùng chất hóa học - sau nhiều lần thí nghiệm rất nguy hiểm - để chế đạn lửa trong điều kiện ở xa trung ương, mọi phương tiện cung cấp, vận chuyển đều thiếu thốn.

   Bản thân Nguyễn Trung Thành vừa làm công tác tổ chức, lãnh đạo, vừa nỗ lực nghiên cứu, khó khăn không bó tay, thất bại không nản chí, nguy hiểm không chùn bước, đã cùng tập thể khắc phục nhiều khó khăn, sản xuất được nhiều loại vũ khí phức tạp khác nửa phục vụ chiến trường, và qua lao động đã đào tạo được một đội ngũ công nhân nòng cốt. Từ 11 đồng chí ban đầu, qua 5 năm xưởng đã có hơn 100 công nhân thành thạo, từ một cơ sở binh công xưởng ở Cà Mau đã phát triển thành nhiều cơ sở của 6 tỉnh miền Tây Nam Bộ.

  Nguyễn Trung Thành là một công nhân gương mẫu, luôn luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm của người đảng viên, hết lòng phục vụ Tổ quốc; sống giản dị, khiêm tốn, tận tình giúp đỡ đồng đội, chú ý xây dựng đơn vị trưởng thành toàn diện.

  Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Nguyễn Trung Thành được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.





ANH HÙNG NGUYỄN THỊ ÚT



   Nguyễn Thị Út (tức Út Tịch), sinh năm 1920, dân tộc Kinh, quê xã Tam Ngãi, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh, tham gia cách mạng từ năm 1945. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là du kích xã Tam Ngãi.

    Xuất thân là một cố nông, ngay từ nhỏ Út Tịch đã phải đi ở cho địa chủ, chịu bao cay đắng, áp bức của đế quốc và phong kiến. Khi đã lấy chồng rồi, cả hai vợ chồng vẫn phài chịu cảnh đi ở đợ cho tới ngày Cách mạng tháng Tám thành công. Được giải thoát khỏi cảnh đọa đày tủi nhục, hai vợ chồng đều hết sức phấn khởi, hăng hái, tích cực tham gia hoạt động cách mạng. Từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, mặc dù sức vếu và bận con mọn, đồng chí đã xung phong vào du kích. Khi tải thương, khi đi trinh sát, khi xách súng đuổi địch, đồng chí đã trải qua nhiều công tác cùng với bộ đội tham gia hàng chục trận đánh và đã hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ với hiệu quả công tác và hiệu suất chiến đấu cao.

   Vừa giỏi việc nước, vừa đảm việc nhà, tuy đã sáu con, Út Tịch đánh giặc vẫn rất hăng hái, có nhiều mưu mẹo tài tình, khi có thai 8 tháng, vẫn chỉ huy du kích hạ hai đồn giặc. Hai vợ chồng luôn luôn tâm đâc, cùng hỗ trợ nhau giết giặc, lập công xuất sắc.

   Trong một trận địch càn vào xã, Út Tịch lúc đó mới sinh con 2 tháng, còn đang nghỉ, nhưng vừa nghe tiếng súng, liền đưa con xuống hầm, rồi xách súng đi chiến đấu. Khi giáp trận, Út Tịch nhanh như con sóc chạy hết nơi này đến nơi kia, lợi dụng địa hình nổ súng diệt địch. Trong khi đang trườn lên một bờ đê cao, do sức còn yếu, đồng chí bị trượt, ngã lăn xuống ruộng và ngất xỉu. Cũng may, lại gặp chồng ở đơn vị bộ đội tập trung dẫn quân về cùng phối hợp chống càn. Trận chiến đấu đã nhanh chóng kết thúc thắng lợi.

   Một hôm, trên đường ra chợ, phát hiện thấy 1 đại đội địch đi càn, đồng chí vội chạy tắt đường về tìm đội du kích bàn kế hoạch đánh địch. Bố trí trận địa xong, Út Tịch tranh thủ chạy về cho con nhỏ bú và dắt các con lớn xuống hầm ẩn nấp an toàn rồi lại trở ra trận địa. Chờ quân địch vào gần, đồng chí cùng đồng đội nổ súng mãnh liệt, bất ngờ, buộc chúng phải tháo chạy, bỏ lại một số tên chết và bị thương.

  Nhận nhiệm vụ chuẩn bị đánh đồn Bến Cát, Út Tịch tiến hành điều tra kỹ lưỡng và vạch kế hoạch lấy đồn chu đáo, tỉ mỉ. Sau khi đã tìm cách làm quen được với bọn lính trong đồn, đồng chí dụ chúng ra ăn nhậu ngoài quán cho đến lúc say, cùng lúc đó, theo ám hiệu của đồng chí, du kích xông vào lấy đồn; đoạt súng, Út Tịch cũng nhanh như cắt chĩa súng bắt toàn bộ bọn lính đang ăn uống ngoài quán phải đầu hàng.

   Nguyễn Thị Út là một cán bộ phụ nữ giàu nghị lực, rất mực trung thành, kiên quyết đánh giặc, giữ nước, giữ nhà, tới mức như đồng chí nói: “Còn cái lai quần cũng đánh”. Đối với đồng đội, bà con cô bác, Út Tịch hết sức tận tình thương yêu, giúp đỡ, sẵn sàng nhường cơm sẻ áo khi hoạn nạn khó khăn, nên luôn luôn được đồng đội và nhân dân tin yêu, đùm bọc.

   Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Nguyễn Thị Út được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giãi phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 3819



« Trả lời #11 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2012, 10:36:26 AM »

ANH HÙNG VAI


   Vai (tức Hồ Đức Vai) sinh nãm 1942, dân tộc Pa Cô, quê ở thôn Lê Lốc, xã Hồng Bắc, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên - Huế, vào du kích năm 1961. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là xã đội trưởng, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Mồ côi cha lẫn mẹ từ năm lên 6 tuổi, Hồ Đức Vai sống nhờ bà con đùm bọc, bữa đói, bữa no cho tới lúc trưởng thành. Được cách mạng giúp đỡ và giáo dục, dồng chí đã nhận rõ phải quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng đất nước, nên đã hãng hái tham gia hoạt động kháng chiến.

   Ở địa phương đồng chí, cơ sử cách mạng lúc đầu còn rất yếu, bọn địch thường truy lùng tìm bắt cán bộ và đàn áp, bóc lột nhân dân rất thậm tệ. Công việc đầu tiên đồng chí được giao là vận động nhân dân chống giặc bắt lính, vót chông rào làng và trồng sắn ủng hộ cách mạng. Đồng chí đã làm tốt nhiệm vụ cấp trên giao.

   Sang năm 1961, tiểu đội du kích được thành lập. Hồ Đức Vai được giao nhiệm vụ làm tiểu đội trưởng, vì chưa quen đánh giặc, lúc đầu một số anh em có phần bỡ ngỡ, đồng chí tận tình đi sát, giúp đỡ, chỉ dẫn anh em tỉ mỉ. Lúc chiến đấu củng như khi công tác gặp việc gì khó khăn, nguy hiểm, đồng chí đều đi trước, làm trước. Nhờ có lãnh đạo, chỉ huy chặt chẽ, có tổ chức canh phòng cần mật, nên nhiều lần tiểu đội du kích đã chặn đánh diệt được bọn địch ở đồn A Lưới về quấy phá nhân dân khiến đồng bào yên tâm sản xuất.

   Trong năm 1961, đồng chí đã đánh 22 trận, diệt 32 tên địch, bắn bị thương 9 tên, làm sập hầm chông chết 1 tên và bị thương 50 tên khác. Lợi dụng địa hình rừng núi, đổng chí thường phát huy lối đánh nhỏ lẻ, bất ngờ, tiến công rất táo bạo, dũng cảm gây cho địch nhiều thiệt hại.

   Năm 1962, địch càn vào xã. Mặc dù vết thương từ trận đánh trước chưa lành, đồng chí vẫn thường xuyên có mặt ở vị trí chiến đấu. Trong suốt 3 ngày liền quần nhau với giặc, đồng chí đã góp phần quan trọng đánh bật quân địch, bảo vệ xóm làng.

   Ngày 3 tháng 3 năm 1963, Hồ Đức Vai dẫn một tổ dân quân vào quấy rối đồn A Lưới. Đang bò qua hàng rào thì ta phát hiện được mìn địch gài - một loại mìn mới, chưa ai biết cách tháo gỡ. Đồng chí vẫn giữ vững quyết tâm tiếp tục trận đánh, tạm thời cho anh em lui ra, một mình đồng chí ở lại nghiên cứu tìm cách khắc phục. Cuối cùng, đồng chí đã gỡ được mìn, và tiếp tục chỉ huy anh em tiến vào đánh địch. Khi ra về, tiểu đội còn mang đủ số mìn đã thu được để sau này dùng vào việc huấn luyện và gài xen với chông bẫy bảo vệ xóm làng. Sau trận này, anh em đều phấn khởi và càng thêm tin tưởng ở đồng chí.

   Tháng 7 năm 1963, bọn địch được tăng viện, thường hùng hùng hổ hổ kéo nhau đi càn. Lúc về, chúng hay cụm lại ở Lê Lốc. Hồ Đức Vai dẫn một tổ bí mật bám sát địch, khi còn cách chúng 20 mét mới bất ngờ nổ súng, diệt 4 tên ngay tại chỗ. Từ đó, bọn địch rất hoảng sợ, không còn dám ngông nghênh đi gây tội ác như trước.

   Ngày 11 tháng 7 năm 1963, nghe tin địch càn vào xã A Ninh, lúc đó, đang một mình làm rẫy, để tranh thủ thời cơ đánh địch, đồng chí đã vác súng chạy tắt rừng đón đánh địch. Sau khi tìm được địa hình thuận lợi nhất, đồng chí bí mật nằm phục, chờ cho toán địch đi đầu vào cách 5 mét mới nổ súng, diệt tại chỗ 3 tên. Bọn còn lại hốt hoảng chạy tán loạn, bỏ dở cuộc càn.

  Đêm 27 tháng 5 năm 1969, Hồ Đức Vai dẫn một tổ bò sát đồn A Lưới, kiên trì nằm phục chờ trời sáng khi bọn địch ra sân tập hợp mới đồng loạt nổ súng, bắn chết 3 tên và bắn bị thương một số.

   Trong mọi mặt công tác Hồ Đức Vai đều luôn luôn gương mẫu, việc gì khó khăn nguy hiểm, đồng chí cũng xung phong làm trước cho anh em noi theo, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ đồng đội, khiêm tốn học hỏi đồng chí được anh em tin yêu, nhân dân mến phục.

   Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Hồ Đức Vai được Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.




ANH HÙNG PUIH THU



   Puih Thu (tức Puih Banh), sinh năm 1935, dân tộc Gia Rai, quê ở xã Ia Lớp, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai, tham gia cách mạng năm 1961. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là trung đội trưởng du kích xã.

         Puih Thu sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo, sống bằng nghề làm rẫy, từ nhỏ Puih Thu phải ỉàm lụng vất vả nhưng cuộc sống vẫn thiếu đói; thời Mỹ - ngụy quê hương Puih Thu đầy bóng giặc, chúng đàn áp, bóc lột nhân dân thậm tệ, lập ra các trưởng làng, thôn trưởng và ấp trưởng... chúng lập đồn, xây bốt trong làng trong ấp, kiểm soát việc làm ăn ra vào, ngang nhiên cướp của, giết người, bắt lính...

  Người dân Tây Nguyên xưa nay sống tự do, đùm bọc, yêu thương và vui vẻ trong những ngày hội của buôn làng, nay bị tước hết. Lòng căm thù giặc sâu sắc, Puih Thu tình nguyện ra lập đội du kích và trực tiếp làm trung đội trưởng (đầu năm 1963). Với vũ khí thô sơ tự tạo như cung tên, giáo mác, đồng chí đã cùng đội du kích và nhân dân chiến đấu diệt nhiều ác ôn tề điệp.

   Trong trận chiến ngày 18 tháng 4 năm 1964, tại ấp làng Tốt, Puih Thu đã cùng đội du kích mưu trí lợi dụng ngày hội Nhà Ma cho bọn chúng uống rượu say rồi xông lên cướp súng, bắt trói 8 tên và diệt một số tên ác ôn, thu 8 súng trang bị cho đội du kích.

   Cũng trong tháng 4 năm 1964, địch càn vào xã, đồng chí dũng cảm dùng ná tẩm thuốc độc tiêu diệt hàng chục tên địch, làm cho địch bị sa lầy vào thế trận hầm chông, cạm bẫy của nhân dân và du kích, buộc địch phải bỏ dở cuộc càn.

  Ngày 14 tháng 5 năm 1964, Puih Thu chỉ huy trung đội du kích cùng nhân dân làng Lan nổi dậy diệt 18 tên (có 4 tên cảnh sát, 2 tên điệp ngầm), đốt nhà hội đồng của địch bắt sống 6 tên, thu 12 súng các loại và nhiều đạn dược. Khi máy bay địch đến oanh tạc, đồng chí đã dùng súng trường bắn rơi 1 máy bay lên thẳng, diệt nhiều tên. Chiến công của Puih Thu được nhân dân địa phương rất khâm phục.

   Puih Thu là một trung đội trưởng du kích chiến đấu dũng cảm, trận nào củng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần xây dựng lực lượng du kích xã trưởng thành, được cán bộ và nhân dân tin yêu.

   Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Puih Thu được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 3819



« Trả lời #12 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2012, 10:42:00 AM »

ANH HÙNG PHẠM VĂN CỘI
(LIỆT SĨ)



   Phạm Văn Cội, sinh năm 1940, dân tộc Kinh, quê ở xã Nhuận Đức. huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh. Khi hy sinh đồng chí là xã đội trưởng, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Phạm Văn Cội sinh ra trong một gia đình nghèo khổ cha và chị gái bị giặc Pháp giết hại, bản thân phải lao động làm thuê cực nhọc từ nhỏ. Sẵn có mối thù sâu sắc với bọn giặc cướp nước và bán nước, cho nên khi được cách mạng giáo dục, đồng chí sớm hiểu rõ chỉ có kiên quyết đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước thì nhân dân ta mới có hạnh phúc, vì thế, Phạm Văn Cội luôn luôn nêu cao tinh thần tích cực tiến công, tìm Mỹ mà diệt, tự tạo ra nhiều vũ khí đẻ đánh bộ binh, diệt cơ giới, bắn máy bay địch, v.v. góp phần đẩy mạnh phong trào du kích chiến tranh trong xã; cổ vũ mọi người tham gia diệt Mỹ khi chúng đổ quân chiếm đóng căn cứ Đồng Dù (Củ Chi). Riêng Phạm Văn Cội diệt 120 tên Mỹ, 8 xe cơ giới và 1 máy bay lên thẳng.

  Năm 1960, nghe tin quê nhà đồng khởi, Phạm Vãn Cội thôi việc cạo mủ ở đồn điền cao su, trở về xã tham gia chiến đấu trong đội tự vệ mật rồi đội du kích ấp.

  Năm 1961, là tiểu đội trưởng du kích, Phạm Vãn Cội dẫn bộ đội đi săn bọn giặc tập nhảy dù, riêng đồng chí đã bắn chết nhiều tên địch bằng súng thô sơ. Trong hoàn cảnh thiếu thốn vũ khí, đồng chí tự sản xuất chông đinh, cung tên để giết giặc.

   Năm 1962, quân chủ lực ngụy mở cuộc càn vào xã, du kích trong ấp đi làm và công tác xa chưa về kịp, tuy chỉ còn một mình, đồng chí vẫn kiên quyết chiến đấu, dùng súng trường, lựu đạn đánh chặn diệt 5 tên giặc, buộc chúng phải bỏ dở cuộc càn.

   Năm 1963, lần đầu tiên địch dùng xe M.113 đi càn trong xã, Phạm Văn Cội cùng một đồng chí nữa đã mưu trí, dũng cảm dùng lựu đạn đánh đứt xích 1 xe, diệt nhiều tên giặc, gây cho anh em lòng tin tưởng với vũ khí tự tạo nhưng có quyết tâm thì vẫn diệt được xe bọc thép của địch. Sau trận này, Phạm Văn Cội được giao phụ trách ấp đội trưởng rồi xã đội phó.

   Trong 2 năm 1964, 1965, Phạm Văn Cội chỉ huy đội du kích xã liên tục bám đánh địch, bảo vệ nhân dân, làm cho bọn ngụy hoang mang không dám càn vào xã. Tuy vẽt thương còn đau, hàng ngày đồng chí vẫn đi nghiên cứu trận địa, củng cố xã chiến đấu, rèn luyện thêm về quân sự cho anh em du kích, sẵn sàng chiến đấu.

  Ngày 8 tháng 1 năm 1966, giặc Mỹ mở cuộc càn quét lớn vào củ Chi. Suốt 8 ngày liền, Phạm Văn Cội đã lãnh đạo và chỉ huy anh em trong đội du kích ngoan cường bám đánh địch, diệt 111 tên, bắn rơi và phá hủy 7 máy bay lên thằng, 1 máy bay khu trục và nhiều xe cơ giới, buộc địch phải rút lui, bỏ dở cuộc càn.

   Tháng 2 năm 1966, đồng chí đã 5 lần chỉ huy anh em khi thì đi tập kích bọn Mỹ, khi chặn đánh cơ giới địch càn vào xã, riêng đồng chí diệt 6 xe bọc thép, giết hàng chục tên giặc, thu vũ khí.

   Tháng 4 năm 1966, Phạm Văn Cội dẫn một số anh em vượt rào gai, bãi mìn, lọt vào căn cứ Mỹ ở Đồng Dù, gài mìn diệt 2 xe, đồng thời gỡ được mìn của địch đem về sử dụng.

  Tháng 9 năm 1966, địch chia làm nhiều mũi mở cuộc càn lớn vào xã kéo dài 12 ngày, chặn các đường liên lạc với phía sau của đội du kích. Trời mưa, công sự đều bị sụt lở. Trong ổ chiến đấu vừa sửa lại không có nắp, trơ trọi giữa chỗ trống, một số đồng chí bị thương vong, Phạm Văn Cội cùng một người nữa kiên quyết chặn địch, bảo vệ thương binh. 2 chiếc xe M.118 bị trúng mìn, nổ tan xác, nhưng các xe khác của chúng ở xung quanh vẫn nổ máy gầm gừ, đồng thời bọn giặc ùa nhau kéo tới. Phạm Văn Cội đã cùng đồng đội dũng cảm, bình tĩnh dùng lựu đạn chiến đấu, chặn đứng 3 đợt xung phong của địch, giết chết 25 tên, bảo vệ đồng đội được an toàn.

  Trong một trận chống càn mùa khô năm 1967, Phạm Văn Cội chỉ huy đội du kích phối hợp với đơn vị chủ lực chiến đấu bẻ gãy cuộc càn của xe cơ giới Mỹ. Sau trận đánh Phạm Văn Cội đi kiểm tra trận địa, giữa đường gặp địch phục kích, đồng chí đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và anh dũng hy sinh.

   Đồng chí đã nêu tấm gương sáng về tinh thần quyết chiến quyết thầng, xứng đáng là ngọn cờ đầu trong phong trào thi đua diệt Mỹ của du kích Củ Chi, tự tạo vũ khí đánh địch, được đồng đội và nhân dân vô cùng thương mến, tin yêu.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Phạm Văn Cội được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.




ANH HÙNG ĐỒNG PHƯỚC HUYẾN
(LIỆT SĨ)


   Đồng Phước Huyến, sinh năm 1946, dân tộc Kinh, quê ở xã Quế Phú, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, nhập ngũ tháng 3 năm 1965. Khi hy sinh đồng chí là tiểu đội trưởng thuộc đại đội 1, tiểu đoàn 72 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Nam.

   Sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo, cha mẹ chết sớm, Đồng Phước Huyến phải đi ở ngay từ khi còn nhỏ. Được giáo dục về lòng yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, lòng căm thù quân cướp nước và bán nước, đồng chí sớm giác ngộ cách mạng và đã tham gia hoạt động bí mật ở xã từ năm 1961, sau đó được chỉ định phụ trách tiểu đội du kích. 7 tháng tham gia chiến đấu, đồng chí đã cùng đội du kích chiến đấu 15 trận, hoàn thành tốt nhiệm vụ, hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị ở địa phương.

  Vào quân đội, Đồng Phước Huyến đã tham gia chiến đấu 53 trận, giết và làm bị thương trên 70 tên địch, bắt sống 15 tên, thu 25 súng các loại, đánh hỏng 3 xe bọc thép. Trong chiến đấu, đồng chí luôn luôn nêu cao tinh thần chiến đấu gan dạ, dũng cảm.

  Vừa vào bộ đội, tham gia trận Mộc Bài (tháng 3 năm 1965), Đồng Phước Huyến đã anh dũng xông lên đánh giáp lá cà vật lộn với địch, giết chết 1 tên, thu súng và bắn chết thêm 2 tên nữa.

   Trong trận Cầu Ông Bộ ngày 20 tháng 6 năm 1965, được phân công trong tổ mũi nhọn đánh thọc sâu, đồng chí đang tiếp cận thì bị lộ. Địch chống cự ác liệt, 5 lần đồng chí cùng tổ xung phong vào đội hình giặc nhưng không được. Đại đội giao cho tổ đồng chí chuyển hướng đánh mạnh vào hướng chính diện. Được lệnh, Đồng Phước Huyến nhanh chóng phát triển đánh ngay vào giữa đội hình địch, cướp trung liên địch, diệt địch, tạo điều kiện cho đơn vị trong 10 phút tiêu diệt gọn 2 trung đội địch, thu toàn bộ vũ khí.

  Trận đánh cầu Tam Kỳ ngày 17 tháng 1 năm 1966, làm nhiệm vụ ở mũi thọc sâu, bị địch ngoan cố chống trả quyết liệt, Đồng Phước Huyến kiên quyết xông lên đánh chiếm lô cốt đầu cầu, thu một trung liên, kiềm chế hỏa lực của địch để đơn vị giành thắng lợi giòn giã.

  Trận Chồi Sũng ngày 14 tháng 2 năm 1966, Đồng Phước Huyến được giao nhiệm vụ ở tổ thọc sâu. Vừa được lệnh nổ súng, đồng chí vượt qua 15 mét rào dây thép gai bùng nhùng, xung phong đánh vào tung thâm, tạo điều kiện cho đơn vị triển khai chiến đấu mau lẹ, diệt 1 đại đội địch. Trong trận này, đồng chí bị thương 2 lần nhưng vẫn không rời trận địa, kiên quyết chiến đấu, diệt 8 tên, mang 1 trung liên và 1 súng trường về vị trí tập kết an toàn.

  Trận đánh cứ điểm Núi Giàng, ngày 17 tháng 3 năm 1966, vừa ở bệnh viện về, sức còn yếu, được đơn vị cho nghỉ, nhưng Đồng Phước Huyến hăng hái xung phong đi chiến đấu, và đã cố gắng mang được 20 quả thủ pháo, lựu đạn. Được giao phụ trách mũi phó thọc sâu, chỉ trong mấy phút, đồng chí đã dung 12 thủ pháo diệt gọn bọn chỉ huy và 3 ổ trung liên, làm tê liệt hỏa lực địch, tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị diệt gọn 1 đại đội địch trong 15 phút. Bị thất bại nặng, địch dùng phi pháo oanh tạc dữ dội vào trận địa ta, làm cho ban chỉ huy và một số đồng chí bị thương vong. Đồng Phước Huyến đã động viên anh em kiểm tra kỹ trận địa và tổ chức chu đáo đưa thương binh, tử sĩ ra ngoài. Một mình đồng chí với 2 súng trên vai, cõng 1 thương binh và vác 1 trung liên chiến lợi phẩm về vị trí an toàn.

   Đêm 25 tháng 6 năm 1966, phối hợp với đơn vị bạn hạ đồn An Hà, Đồng Phước Huyến chỉ huy tiểu đội hoàn thành nhiệm vụ chủ yếu của trung đội, diệt 16 địch tại ấp chiến lược cạnh đồn. Ngày 26 tháng 6 năm 1966, trung đội về vị trí tập kết, vừa ăn cơm xong thì 3 trung đoàn Mỹ, ngụy có 24 xe M.113, M.118 và phi pháo yểm trợ ồ ạt càn vào nơi đóng quân. Sau khi tổ đảng họp hạ quyết tâm chiến đấu, trung đội còn 19 người, đã nhanh chóng triển khai theo kế hoạch. Ta và địch chỉ cách nhau 30 mét, cuộc chiến đấu diễn ra hết sức ác liệt. Một số đồng chí đã bị thương vong, Đồng Phước Huyến vẫn bình tĩnh động viên anh em quyết tâm chiến đấu. Một chiếc xe bọc thép chở đầy lính địch kéo tới, đồng chí bắn mãnh liệt vào đội hình địch và động viên anh em chuẩn bị lựu đạn, thủ pháo để diệt xe cơ giới, trả thù cho đồng đội. Vừa lúc đó, Đồng Phước Huyến bị thương gãy nát cả hai chân. Biết mình không thể sống, đồng chí giao nhiệm vụ chỉ huy đơn vị cho tiểu đội trưởng tiểu đội 2. Sau mấy phút ngất đi, tỉnh dậy, Đồng Phước Huyến vẫn thấy anh em đánh trả quyết liệt với địch. Nhìn chiếc xe M.113 đang lù lù bò đến, đồng chí lợi dụng gò đất, chồm lên ném 2 quả thủ pháo vào xe. Chiếc M.113 bốc cháy, 15 tên Mỹ trên xe phải đền tội. Chiếc thứ 2 bò đến bị một anh em trong tiểu đội dùng thủ pháo đánh hỏng tại chỗ không nhích lên được. Chiếc thứ 3 thấy vậy lao thẳng đến hòng nghiến nát đồng chí. Xe vừa lao tới, Đồng Phước Huyến dùng hết sức lực còn lại, nhoài lên ném quả thủ pháo vào chiếc xe địch. Chiếc xe bị đứt xích gầm rú tại chỗ. Cả đoàn xe địch dồn lại trước gò đất bắn loạn xạ rồi hoảng hốt kéo nhau rút chạy. Đồng Phước Huyến đã hy sinh anh dũng, góp phần chặn đứng mũi tiến công của địch.

   Khi còn sống, đồng chí luôn luôn gương mẫu, đi đầu trong mọi mặt công tác, đoàn kết với nhân dân, tận tình giúp đỡ đồng đội, sống khiêm tốn, được nhân dân tin yêu, đồng đội mến phục.

  Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhất.

  Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Đồng Phước Huyến được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 3819



« Trả lời #13 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2012, 10:44:39 AM »

ANH HÙNG TÔ THỊ HUỲNH
(LIỆT SĨ)



   Tô Thị Huỳnh, sinh năm 1946, dân tộc Kinh, quê ở xã Lương Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, vào du kích năm 1960. Khi hy sinh đồng chí là xã đội phó xã Lương Hòa, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo, bố bị giặc bắn chết, có lòng căm thù giặc sâu sắc, lại được cán bộ đi sát giúp đỡ, giáo dục, Tô Thị Huỳnh sớm giác ngộ cách mạng. Năm 16 tuổi chị đã hăng hái vận động được 8 bạn gái cùng xin vào du kích và Tô Thị Huỳnh được cử làm đội trưởng. Được tập thể giáo dục; rèn luyện, Tô Thị Huỳnh đã trở thành người chỉ huy trẻ tuổi, luôn luôn nêu cao tinh thần dũng cảm, táo bạo, chỉ huy mưu trí, dẫn đầu đơn vị trong những tình huống khó khăn, phối hợp cùng các đơn vị bạn đánh thắng nhiều cuộc càn quét của địch.

   Đặc biệt, đầu năm 1968, Tô Thị Huỳnh chỉ huy đội du kích dựa vào thế trận chông, mìn, kiên cường chiến đấu đánh bại cuộc càn của 1 tiểu đoàn địch có hỏa lực, cơ giới mạnh yểm hộ, diệt trên 30 tên, giữ vững khu căn cứ Ô Chích. Chiến công của đội nữ du kích do Tô Thị Huỳnh chỉ huy đã góp phần cổ vũ mạnh mẽ phong trào du kích chiến tranh ở địa phương, làm cho nhân dân tin tưởng quyết tâm đánh giặc.

   Tháng 4 năm 1964, Tô Thị Huỳnh được cử làm xã đội phó trực tiếp chỉ huy tiểu đội du kích xã, đã chỉ huy đơn vị nhiều lần tiến công diệt bốt do từng tiểu đội địch đóng giữ, tạo điều kiện cho quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ.

   Tính chung, đồng chí đã tham gia chiến đấu và chỉ huy chiến đấu 150 trận, cùng đơn vị loại khỏi vòng chiến đấu trên 100 tên địch, bắt 20 tên, thu 30 súng các loại. Riêng Tô Thị Huỳnh còn gài chông, đạp lôi, làm bị thương trên 20 tên địch.

   Trong quá trình chiến đấu, đồng chí đã kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động vũ trang với binh vận, đi sát tuyên truyền giải thích 55 gia đình binh sĩ, vận động được 16 lính địch bỏ ngũ; xây dựng được 5 cơ sở làm nội ứng cho du kích đánh chiếm đồn địch, thu 18 súng.

  Tô Thị Huỳnh tích cực tham gia xây dựng các đoàn thể cách mạng trong xã, tuyên truyền được 28 hội viên phụ nữ giải phóng, vận động được 40 thanh niên nam, nữ vào lực lượng vũ trang (có 16 thanh niên vào bộ đội).

   Là một nữ thanh niên trẻ tuổi, Tô Thị Huỳnh đã tỏ ra là một người giàu nghị lực, có lòng yêu nước nồng  nàn, có tinh thần chiến đấu dũng cảm, mưu trí, có phẩm chất trong sáng, được đồng đội và nhân dân tin yêu. Sau khi chị hy sinh, (tháng 12 năm 1966) tiểu đội nữ du kích Lương Hòa mang tên liệt sĩ Tô Thị Huỳnh, tiếp tục lập nhiều chiến công, đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích ở địa phương lên rất cao.

    Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Tô Thị Huỳnh được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.




ANH HÙNG NGUYỄN VĂN LỊCH
(LIỆT SĨ)


   Nguyễn Văn Lịch, sinh năm 1950, dân tộc Kinh, quê ở xã Phước Vĩnh An, huyện củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh, nhập ngũ năm 1964. Khi hy sinh đồng chí là tiểu đội trưởng trinh sát bộ đội địa phương quận Dĩ An, khu Sài Gòn - Gia Định.

   Sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo khổ, cha bị giặc giết chết, Nguyễn Văn Lịch phải đi ở cho địa chủ từ lúc còn bé. Căm thù sâu sắc bọn giặc cướp nước và bè lũ bán nước giết hại đồng bào, chia cắt Tổ quốc, khi được tiếp xúc với cách mạng, đồng chí sớm giác ngộ, mới 12 tuổi đã hãng hái tham gia công tác thông báo tin tức, canh gác, bảo vệ cán bộ. Năm 14 tuổi Nguyễn Văn Lịch vào du kích xã, sau chuyển sang bộ đội tập trung của quận. Đồng chí là một chiến sĩ luôn luôn thể hiện lòng trung thành với cách mạng, có tinh thần chiến đấu dũng cảm, kiên quyết tiến công địch.

   Trong một trận chống càn (năm 1964), được phân công bám địch, nhân lúc bọn địch sơ hở, Nguyễn Văn Lịch ném 1 quả lựu đạn, diệt 1 tên thiếu úy ngụy, làm bị thương một số khác.

   Tháng 5 năm 1965, đồng chí được điều đi học, sau bổ sung về Dĩ An. Tuy mới vào bộ đội, trong trận chiến đấu đầu tiên. Nguyễn Văn Lịch đã tỏ ra rất dũng cảm, mưu trí, ngay phút đầu dồng chí đã cùng đồng đội nổ súng diệt 4 tên, bắn bị thương một số khác, thu 1 súng.

   Trận chống càn ở rừng Cò Mi (tháng 8 năm 1965), đồng chí đã dùng tiểu liên diệt gọn ban chỉ huy đại đội địch, dùng thủ pháo đánh hỏng 1 xe M.113, buộc địch phải dừng lại, bảo vệ cho đơn vị rút ra an toàn.

   Năm 1966, Nguyễn Văn Lịch được điều về đơn vị trinh sát. Một lần đồng chí cùng 2 du kích đi mở đường bị lọt vào ổ phục kích của địch, Nguyễn Văn Lịch bình tĩnh nằm lại nổ súng diệt 1 tên địch, bảo vệ cho 2 du kích rút trước, sau đó thu 1 súng rồi rút ra an toàn. Trong một lần khác, Nguyễn Văn Lịch bị thương vào tay nhưng vẫn bình tĩnh nằm lại, dùng 2 trái lựu đạn diệt ổ trung liên và tên thiếu úy chỉ huy rồi tìm đường trở về đơn vị.

   Ngày 27 tháng 5 năm 1966, trên đường từ đội điều trị về đơn vị, đồng chí bị địch phục kích. Bị thương gãy nát cả 2 chân, nhưng 2 tay vẫn nắm chắc 2 trái lựu đạn, đồng chí trườn đi hướng khác đánh địch. Tới một căn nhà bỏ trống, vì kiệt sức quá, đồng chí phải nghỉ lại. Sáng hôm sau, 2 tên sĩ quan Mỹ và 8 tên sĩ quan Nam Triều Tiên đi qua đấy, vừa khi đó, một bà má từ ngoài đi vào nhà. Thấy Nguyễn Văn Lịch bị thương nặng quá, má giục đồng chí tránh đi kẻo nguy hiểm. Nguyễn Văn Lịch cố thuyết phục má tránh ra xa cho mình tiện đánh địch. Khi bà má đã đi xa, bọn địch thấy có vết máu đang tụm lại xem, Nguyễn Văn Lịch dung hai khuỷu tay cố trườn đến gần và tung 2 trái lựu đạn, diệt cả 10 tên sĩ quan địch. Đồng chí đã anh dũng hy sinh bên đống xác giặc.

   Khi còn sống, Nguyễn Văn Lịch luôn luôn gương mẫu trong công tác, học tập và rèn luyện. Sự hy sinh anh dũng của đồng chí đã nêu tấm gương sáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho đồng đội noi theo giết giặc, cứu nước.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Nguyễn Văn Lịch được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 3819



« Trả lời #14 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2012, 10:48:48 AM »

ANH HÙNG LƯU VĂN LIỆT
(LIỆT SĨ)



   Lưu Văn Liệt, sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở xã Tường Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long, nhập ngũ năm 1965. Khi hy sinh đồng chí là chiến sĩ biệt động thị xã Vĩnh Long. Đồng chí là con út trong gia đình có một anh hy sinh trong kháng chiến chống Pháp và một anh hy sinh trong kháng chiến chống Mý. Khi đồng chí còn nhỏ, cha mẹ cho ra học ở thị xã Vĩnh Long.

   Là một thanh niên học sinh, sống ở thành phố, hàng ngày tai nghe, mât thấy những tội ác của giặc Mỹ, Lưu Văn Liệt sớm giác ngộ cách mạng, có lòng căm thù sâu sắc giặc Mỹ và bè lũ tay sai. Đồng chí đã hăng hái tham gia rải truyền đơn trong khu vực có nhiều căn cứ quân sự, tình báo và công an Mỹ - ngụy. Nhiều lần bị địch đuổi bắt, Lưu Văn Liệt vẫn bình tĩnh, mưu trí, dũng cảm đối phó với địch, hoàn thành tốt nhiệm vụ.

   Năm 1965, đồng chí bỏ học, xin vào bộ đội. Với quyết tâm diệt địch cao, Lưu Văn Liệt say mê rèn luyện nâng cao bản lĩnh chiến đấu. Khi được giao lựu đạn và động viên tìm Mỹ để diệt, đồng chí rất phấn khởi. Suốt nửa tháng, chiều nào Lưu Văn Liệt cũng mang lựu đạn đi về phía căn cứ quân sự Mỹ, nhưng chỉ gặp những tên Mỹ đi lẻ tẻ. Không muốn nổ 1 trái lựu đạn mà chỉ diệt được 1 tên địch, Lưu Văn Liệt kiên trì chờ thời cơ giết được nhiều địch hơn. Một lần, gặp 3 tên Mỹ và bốn tên sĩ quan ngụy đi cùng, đồng chí quan sát đường rút và tháo chốt lựu đạn chuẩn bị ném. Nhưng bất ngờ một chiếc xe quân vụ của địch chạy đến đỗ chắn mất đường, đồng chí phải gài chốt lựu đạn và tìm cách rút ra an toàn.

   Khi được giao nhiệm vụ điều tra nghiên cứu và vạch phương án diệt Mỹ, Lưu Văn Liệt kiên trì ngày đêm bám sát, theo dõi nắm chắc tình hình địch và đề ra phương án tác chiến táo bạo, mang bom vào đặt ở nơi bọn Mỹ thường hay lui tới. Khi được giao nhiệm vụ chiến đấu, Lưu Văn Liệt xung phong nhận khai hỏa bom và chặn hậu khi lui quân. Tối 5 tháng 2 năm 1966, Lưu Văn Liệt và một đồng chí nửa bí mật mang bom vào đặt ở cái quán bọn Mỹ hay tới ăn uống. Bọn Mỹ đến rất lẻ tẻ nên đồng chí phải kiên trì chờ đợi. Mặc dầu biết cảnh sát địch đã nghi ngờ theo dõi, Lưu Văn Liệt vẫn bình tĩnh, nhanh nhẹn châm ngồi nổ rồi chờ đến lúc bom sắp nổ mới vượt ra ngoài. Bom nổ, 17 tên Mỹ và một số cảnh sát tan xác tại chỗ, nhưng Lưu Văn Liệt cũng bị thương. Bọn cảnh sát đuổi theo và bắn đồng chí bị thương lần thứ hai. Biết mình không thể thoát khỏi, đổng chí chờ bọn giặc đến gần, rồi rút chốt quả lựu đạn cuối cùng diệt thêm 2 tên giặc nữa và Lưu Văn Liệt đã anh dũng hy sinh.

   Khi còn sống, Lưu Văn Liệt luôn luôn gương mẫu, xung phong đi đầu trong mọi công tác, vui vẻ nhận phần khó về mình, sẵn sàng nhường thuận lợi cho bạn. Đồng chí Lưu Văn Liệt đã sống xứng đáng với lòng tin yêu, mến phục của đồng đội và đã hy sinh oanh liệt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Lưu Văn Liệt được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.



ANH HÙNG HOÀNG ĐÌNH NGHĨA
(LIỆT SĨ)


   Hoàng Đình Nghĩa, sinh năm 1942, dân tộc Kinh, ở xã Phước Hiệp, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh, nhập ngũ tháng 9 năm 1961. Khi hy sinh đồng chí là tiểu đội trưởng bộ binh đại đội 3, tiểu đoàn 1, trung đoàn 15, sư đoàn 9, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Gia đình Hoàng Đình Nghĩa vốn quê hương ở Nam Hà (miền Bắc), do quá nghèo khổ, phải bỏ làng đi làm ăn khi thực dân Pháp mộ phu. Cha làm phu ở đồn điền cao su cho tới khi ốm chết, một người anh của Hoàng Đình Nghĩa bị giặc giết năm 1964, bản thân đồng chí sinh ra và lớn lên ở miền Nam, sống rất cơ cực từ nhỏ, phải đi ở đợ, làm thuê hết nhà này sang nhà khác cho mãi tới ngày vào bộ đội.

   Đồng chí có lòng căm thù rất sâu sắc bọn thực dân đế quốc và rất tha thiết với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Lúc nào đồng chí cũng hết lòng hết sức hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, nêu tấm gương sáng cho toàn đơn vị học tập.

   Từ ngày nhập ngũ cho đến lúc hy sinh, Hoàng Đình Nghĩa đã dự 29 trận đánh, luôn luôn thể hiện tinh thần hăng hái, dũng cảm và tác phong chiến đấu mưu trí, linh hoạt, quyết tâm tiêu diệt địch, góp phần xứng đáng vào những chiến công vẻ vang của đơn vị.

   Ngày 29 tháng 12 năm 1964, làm nhiệm vụ dẫn đường đưa đơn vị vào tiêu diệt tiểu đoàn biệt động ngụy vừa đổ xuống phía nam "ấp chiến lược" Bình Giã, mặc cho máy bay địch rà sát, bắn phá dử dội, địa hình vận động lại trống trải, Hoàng Đình Nghĩa vẫn khẩn trương, khéo léo dẫn bộ phận kìm giữ địch đến vị trí triển khai chiến đấu, rồi kịp thời quay lại đón cả đại đội.    Cuộc chiến đấu nổ ra ác liệt. Đồng chí như con thoi lao đi giữa làn đạn địch, nhanh chóng truyền đạt mệnh lệnh của chỉ huy đến các trung đội, lại còn hướng dẫn một khẩu đội súng cối đến chiếm lĩnh vị trí có lợi, bắn tiêu diệt một cụm giặc ngoan cố. Đồng chí đã góp công lớn cùng đơn vị tiêu diệt tiểu đoàn biệt động ngụy này.

   Ngày 31 tháng 12 năm 1964, bọn thủy quân lục chiến ngụy chia thành hai mũi từ "ấp chiến lược" Bình Giã tiến đến sở cao su ở Xuân Sơn. Hoàng Đình Nghĩa đã cùng đơn vị chặn đánh địch, nhiều lần đánh bật chúng trở lại. Địch ỷ thế đông, tập trung hỏa lực bắn dữ dội vào trận địa ta rồi tổ chức phản kích cả chính diện và bên sườn; máy bay địch quần đảo bắn phá vào giữa đội hình, gây cho ta rất nhiều khó khăn. Hoàng Đình Nghĩa không sợ đơn độc, một mình cũng tiến công, dũng cảm nhằm chỗ địch núng thế, thọc sâu vào giữa đội hình địch, dùng tiểu liên, lựu đạn diệt bọn ở gần, rồi xông tới diệt gọn một ổ hỏa lực nguy hiểm đang cản trở quân ta tiến lên. Hoàng Đình Nghĩa dùng ngay khẩu trung liên vừa thu được bắn mãnh liệt, tạo thời cơ cho đại đội xung phong, cùng các đơn vị bạn đánh thẳng vào sở chỉ huy của giặc, tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn thủy quân lục chiến ngụy. Trong trận này, đồng chí diệt 35 tên địch, thu 16 súng (có 1 trung liên), nên được cử đi kể chuyện chiến đấu cho toàn trung đoàn học tập.

   Đánh địch đổ quân xuống sân bay Thuận Lợi ngày 10 tháng 6 năm 1965, Hoàng Đình Nghĩa là tiểu đội trưởng đã linh hoạt chỉ huy tiểu đội đánh mũi vu hồi vào sườn quân địch. Với lối đánh nhanh, mạnh, chia cắt địch, diệt hết cụm giặc này đến cụm giặc khác, đồng chí đã tạo điều kiện thuận lợi cho cả đơn vị chỉ trong vài chục phút bao vây, tiến công, tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn quân ngụy.

   Ngày 12 tháng 6 năm 1965, 1 tiểu đoàn lính dù có máy bay yểm trợ định đánh chiếm lại sân bay. Đồng chí nhanh chóng dẫn tiểu đội vận động vượt qua lưới lửa của địch, chiếm vị trí có lợi, đánh giáp lá cà với địch vô cùng dũng mãnh. Mũi tiến công của giặc bị bẻ gãy; riêng đồng chí đã diệt 30 tên địch. Trong khi truy kích, Hoàng Đình Nghĩa bị trúng đạn và anh dũng hy sinh; nhưng toàn đơn vị đã nắm thời cơ có lợi xung phong, tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn dù của địch.

   Hoàng Đình Nghĩa rất nhiệt tình và tận tụy, trong chiến đấu cũng như trong công tác và học tập, luôn luôn xung phong nhận việc khó về mình, có ý thức trách nhiệm chung đối với toàn đơn vị. Đồng chí chân thành, hết lòng thương yêu và chăm sóc đồng đội, được anh em rất quý mến, tin yêu.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhì, 6 bằng khen, 13 giấy khen, 2 năm liền 1964 - 1965 là Chiến sĩ thi đua trung đoàn, 2 lần đạt danh hiệu "Chiến sĩ Ấp Bắc".

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Hoàng Đình Nghĩa được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 3819



« Trả lời #15 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2012, 10:51:31 AM »

ANH HÙNG NGUYỄN VĂN QUANG
(LIỆT SĨ)



   Nguyễn Văn Quang, sinh năm 1942, dân tộc Kinh, quê ở xã Phương Bình, huyện Long Mỹ, tỉnh Cần Thơ, nhập ngũ tháng 7 năm 1964. Khi hy sinh đồng chí là tiểu đội phó thuộc đại đội 2, tiểu đoàn 303, bộ đội chủ lực Tây Nam Bộ.

   Với lòng căm thù quân thù quân cướp Mỹ và bè lũ tay sai, long tha thiết yêu quý độc lập, tự do của Tổ quốc, tháng 7 năm 1964, Nguyễn Văn Quang tạm biệt gia đình ra vùng giải phóng, vào bộ đội.

   Đồng chí là một chiến sĩ luôn luôn tỏ rõ tinh thần dũng cảm, gan dạ, tích cực tiến công địch trong nhiều trận chiến đấu, mặc dù có trận lực lượng địch nhiều hơn ta gấp bội.

   Sáng ngày 8 tháng 2 năm 1966, địch cho 3 tiểu đoàn chia làm 3 mũi càn vào khu vực kênh xáng Cò Tuất - nơi trú quân của đơn vị đồng chí - tiểu đội Nguyễn Văn Quang phụ trách chặn địch ở một hướng của đại đội. Sau khi bị đánh bật ra nhiều lần, bọn địch tập trung 1 mũi đánh vào hướng tiểu đội của Quang để mở lối rút về Tân Hiệp. Với quyết tâm chặn địch lại để tiêu diệt, đồng chí đã động viên anh em kiên trì chờ cho địch vào thật gần mới nổ súng. Địch vào cách 300 mét, 200 mét... 30 mét... rồi 10 mét, Quang mới xiết cò khẩu trung liên và cùng đồng đội diệt nhiều tên, đánh bật bọn địch ra xa, nhưng tiểu đội trưởng hy sinh và Quang cũng bị thương. Bọn địch củng cố lại và tổ chức xung phong tiếp đợt 2. Đồng chí vẫn chờ cho địch vào gần mới chỉ huy anh em nổ súng mãnh liệt đánh bật chúng ra. Bọn địch cụm lại bắn mạnh vào khu vực tiểu đội đồng chí, đồng thời dùng máy bay lên thẳng đổ quân xuống phía sau tiểu đội. Lúc này, trong tiểu đội đã có thêm một số đồng chí nữa bị thương vong. Nguyễn Văn Quang bị thương gãy tay trái, nhưng vẫn bắn trung liên mãnh liệt và trườn lên ném lựu đạn, diệt nhiều tên và đánh bật bọn địch trở ra. Ba vết thương đau nhức làm Nguyễn Văn Quang ngất đi, nhưng khi tỉnh dậy đồng chí lại ôm trung liên bắn dập đầu quân địch xuống. Cánh tay trái giập nát làm vướng quá, đồng chí nhờ đồng đội chặt hộ rồi lại tiếp tục chiến đấu. Tiểu đội chỉ còn 2 người phải chống trả với gần 2 tiểu đoàn địch. Nguyễn Văn Quang quyết định cho đồng chí kia về báo cáo đơn vị và xin bổ sung lực lượng. Bọn địch phát hiện lực lượng ta ít nên ồ ạt xung phong. Còn một mình lại bị thương nặng, Nguyễn Văn Quang vẫn kiên cường chiến đấu, bắn hết 1 băng trung liên, quật ngã nhiều tên giặc. Bọn địch xô đến, đồng chí ném quả lựu đạn thứ nhất, rồi ném quả lựu đạn thứ hai; bọn địch bị chết thêm một số, buộc chúng phải chững lại. Nguyễn Văn Quang bị thương lần thứ tư và đã anh dũng hy sinh, nhưng trận địa vẫn giữ vững, và đơn vị đã kịp thời vận động tới đánh bật bọn địch ra xa.

   Khi còn sống, Nguyễn Văn Quang luôn luôn gương mẫu, xung phong đi đầu trong mọi mặt công tác, học tập và rèn luyện. Đồng chí luôn luôn chú trọng xây dựng tiểu đội lớn mạnh toàn diện, hết lòng thương yêu, giúp đỡ nhân dân và đồng đội, được mọi người tin yêu, mến phục.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng ba, nhiều bằng khen và giấy khen.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Nguyễn Văn Quang được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.




ANH HÙNG HUỲNH VĂN TẠO
(LIỆT SĨ)


   Huỳnh Văn Tạo sinh năm 1946, dân tộc Kinh, quê ở xã Đức Hòa, huyện Đức Hòa. tỉnh Long An, nhập ngũ năm 1965, khi được tuyên dương Anh hùng là tiểu đội phó thuộc đại đội 2, tiểu đoàn 2 bộ đội địa phương tỉnh Long An.

   Sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo, có truyền thống cách mạng, khi 10 tuổi Huỳnh Văn Tạo đã phải đi ở đợ chăn trâu, nên đồng chí sớm giác ngộ cách mạng và hăng hái tòng quân cầm súng giết giặc, giải phóng quê hương, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc.

   Đồng chí ỉà một chiến sĩ xung kích dũng cảm, gan dạ, luôn luôn sẵn sàng xả thân vì cách mạng. Mới hơn 1 tuổi quân, Huỳnh Văn Tạo đã đánh trên 20 trận, trận nào cũng hoàn thành xuất sẳc nhiệm vụ, nêu cao tinh thần kiên quyết, tích cực tiến công tiêu diệt địch, bị thương nặng không rời trận địa, một mình, một mũi cũng tiến công tiêu diệt địch.

   Trận đánh đồn Phú Lộc, đơn vị gặp khó khăn vì một bãi mìn và lựu đạn của địch trước cửa mở. Không ngại hy sinh, Huỳnh Văn Tạo đã xung phong lên trước, khéo léo bò qua bãi mìn, mưu trí dùng 1 bó chà rào kéo cho mìn, lựu đạn nổ, mở đường cho xung kích xung phong tiêu diệt gọn đồn địch.

   Trận đánh đồn Vĩnh Công, khi đơn vị rút ra, bọn địch phản kích ác liệt, một mình đồng chí đã dũng cảm nằm lại chặn địch, chiến đấu ngoan cường suốt mấy giờ liền đẩy lùi nhiều đợt xung phong của địch, bảo đảm cho đơn vị đưa hết thương binh, tử sĩ ra ngoài an toàn. Khi rút lui, bị địch đuổi theo, đồng chí vừa bình tĩnh chiên đấu, vừa mưu trí chuyển được 1 thương binh, 1 tử sĩ và 4 khẩu súng về nơi quy định.

   Trận Nhật Ninh, trong lúc địch đang bắn phá ác liệt, Huỳnh Văn Tạo đã vượt qua bom đạn vào nhà cõng một bác nông dân ra ngoài rồi nhường hầm của mình cho bác. Hành động quên mình cứu dân của đồng chí được nhân dân địa phương hết sức ca ngợi.

   Trong một trận đánh khác, tuy đã bi thương, Huỳnh Văn Tạo vẫn nằm lại tiếp tục chỉ huy phân đội. Bị ngất đi, nhưng khi tỉnh dậy, đồng chí lại tiếp tục chiến đấu.

   Trong trận diệt đồn Tân Quý ngày 8 tháng 10 năm 1966, đồng chí đã dũng mãnh xung phong đánh chiếm lô cốt đầu cầu rồi đánh thọc sâu vào giữa đội hình địch. Khi bị thương rất nặng, Huỳnh Văn Tạo vẫn nêu cao khí phách chiến đấu kiên cường cho đến lúc hy sinh.

   Khi còn sống, Huỳnh Văn Tạo luôn luôn gương mẫu đi đầu trong mọi mặt công tác, sẵn sàng nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho bạn, hết long thương yêu đồng đội, tận tình giúp đỡ nhân dân, được đồng đội tin yêu, nhân dân quý mến.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Huỳnh Văn Tạo được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lựợng vũ trang nhân dân giải phóng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 3819



« Trả lời #16 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2012, 10:54:28 AM »

ANH HÙNG HUỲNH VIỆT THANH
(LIỆT SĨ)



   Huỳnh Việt Thanh (tức Thanh Vân), sinh năm 1926, dân tộc Kinh, quê ở xã Long Khánh, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, trú quán xã Hậu Thạnh, huyện Tân Thanh, tỉnh Long An, vào du kích tháng 7 năm 1957. Khi hy sinh đồng chí là xã đội trưởng xã Hậu Thạnh, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Huỳnh Việt Thanh tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1956, làm liên lạc, tuyên truyền, hướng dẫn đồng bào đấu tranh; sau đó vào du kích, đến tháng 12 năm 1958, bị địch nghi ngờ bắt giam 16 tháng. Chúng dùng đủ mọi thủ đoạn tra tấn dã man, nhưng đồng chí vần giữ trọn khí tiết người chiến sĩ cách mạng. Năm 1960, Huỳnh Việt Thanh đã cùng với anh em trong tù phá nha giam, trở về địa phương, tổ chức, phát triển đội du kích đánh giặc giữ làng.

   Huỳnh Việt Thanh là một cán bộ chỉ huy du kích tài trí, hơn 10 năm tham gia hoạt động cách mạng và chiến đấu, luôn luôn nêu cao tinh thần kiên cường, bất khuất, có mặt ở những nơi khó khăn nguy hiểm nhất, sẵn sàng xả thân, cứu đồng đội. Địa phương bị địch đánh phá quyết liệt, bị chúng gom dân, lập ấp chiến lược, đồng chí đã cùng đội du kích quyết tử bám đất, bám dân, trụ lại đánh địch, diệt trừ ác ôn, phá thế kìm kẹp, góp phần đưa phong trào chiến tranh du kích ở xã tiến lên mạnh mẽ.

   Hai năm 1965 - 1966, đồng chí đã chỉ huy đội du kích chiến đấu trên 100 trận, diệt 400 tên địch, thu nhiều súng các loại. Đồng chí Huỳnh Việt Thanh có nhiều sáng kiến trong việc chế tạo, sử dụng vũ khí thô sơ đánh địch.

   Trận chống càn ở bờ nam kênh Dương Văn Dương, đồng chí tổ chức gài mìn, đặt chông và chỉ huy du kích phục sẵn một đại đội địch đi càn. Chờ cho địch vào thật gần, đồng chí mới ra lệnh cho du kích nổ súng mãnh liệt. Bọn giặc bị đánh bất ngờ nhảy xuống mương chống cự thì đụng phải chông, nhưng cụm lại trên bờ đất cao thì bị mìn, lựu đạn gài nổ, chúng hoang mang tìm đường tháo chạy, bỏ lại 40 xác chết.

   Để diệt tên ác ôn chỉ huy đại đội biệt kích về đóng ở xã, đồng chí tổ chức cho du kích đào hầm bí mật, bố trí sẵn lựu đạn, đạp lôi và kiên trì nằm phục suốt 7 ngày liền. Tên này cùng với 1 trung đội địch đi trên 2 chiếc xuồng máy. Chờ cho chúng đi qua rồi khi trở lại; đồng chí chỉ huy du kích 2 bên bờ bắn mạnh. Hai chiếc xuồng bị chìm, tên ác ôn bị thương nặng, một số lính bị diệt.

   Ngày 21 tháng 9 năm 1966, 3 đại đội địch bất ngờ càn vào khu vực có cán bộ và du kích đang họp. Khi địch vào gần ta mới phát hiện được, Huỳnh Việt Thanh đã dũng cảm, một mình chống một chiếc xuồng ra chiến đấu chặn địch và thu hút hỏa lực về phía mình để đội du kích đưa cán bộ thoát vòng vây an toàn. Bọn địch tập trung bắn mạnh về hướng đồng chí, xuồng chìm, đồng chí bị thương nặng và đã hy sinh oanh liệt.

   Khi còn sống, Huỳnh Việt Thanh luôn luôn hết lòng thương yêu, giúp đỡ đồng đội, bảo vệ nhân dân, được mọi người rất yêu mến, tín nhiệm.

   Đồng chí đã nhiều lần được tặng bằng khen và giấy khen, 3 năm liền (1964 - 1966) là Chiến sĩ thi đua.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Huỳnh Việt Thanh được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng, hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.




ANH HÙNG HUỲNH THÚC BÁ



   Huỳnh Thúc Bá (tức Huỳnh Ba), sinh năm 1944, dân tộc Kinh, quê ở xã Duy Tân, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, nhập ngũ tháng 10 năm 1962. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là y tá đại đội 1, tiểu đoàn 72 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Nam, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Lớn lên trong một gia đình có nhiều người tham gia cách mạng bị địch giết, bắt tù đầy, tra tấn, Huỳnh Thúc Bá sớm có lòng yêu quý độc lập, tự do của Tổ quốc, lòng căm thù giặc Mỹ sâu sắc. Sau khi hoạt động ở địa phương bị lộ, đồng chí đi bộ đội, làm công tác cứu thương và từ tháng 10 năm 1965 làm y tá đại đội.

   Từ năm 1962 đến năm 1966, đồng chí đả trực tiếp chiến đấu và phục vụ chiến đấu 65 trận, là một y tá rất tận tụy, hết lòng cứu chữa thương binh, quên mình vì đồng đội, vì nhân dân. Ngoài ra Huỳnh Thúc Bá còn là một chiến sĩ dũng cảm, tự tay diệt 55 tên địch, bắt sống 5 tên, thu nhiều vũ khí. Trong nhiều trận đánh gay go, ác liệt, đồng chí đều xông xáo, lên xuống nhiều lần dưới hỏa lực địch, luôn luôn có mặt ở nơi gay go ác liệt để kịp thời động viên và cấp cứu thương binh. Huỳnh Thúc Bá đâ cấp cứu tại chỗ 80 anh em và cùng đơn vị đưa về nơi an toàn 120 thương binh, nhiều lần dũng cảm chiến đấu bảo vệ thương binh, tử sĩ, giữa bom đạn đã lấy thân mình che chở cho thương binh.

   Trong trận cầu Tam Kỳ (tháng 1 năm 1966), giặc chỉ cách ta 35 mét, chúng bắn ra dữ dội, Huỳnh Thúc Bá vẫn bình tĩnh lấy thân mình che đỡ và băng bó cho thương binh, đem ra an toàn rồi tiếp tục cùng đơn vị chiến đấu.

   Trận tiến công đồn Chổi Sũng (tháng 2 năm 1966), mặc cho đạn địch đang bắn tới tấp, đồng chí vẫn bám sát đơn vị, chạy lên chạy xuống kịp thời cứu chữa, băng bó 28 thương binh và đưa ra an toàn, mặc dù bản thân củng bị thương hai lần.

   Trận Núi Giàng (tháng 3 năm 1966), khi cán bộ chỉ huy bị thương vong, máy bay và pháo địch bắn phá dữ dội chuẩn bị cho bộ binh địch phản xung phong Huỳnh Thúc Bá tự động tổ chức và chỉ huy 12 đồng chí còn lại vừa chiến đấu ngăn chặn địch, vừa yểm hộ cho nhau đưa thương binh, tử sĩ lui về phía sau. Khi ra khỏi trận địa, kiểm tra biết còn sót 2 tử sĩ, Huỳnh Thúc Bá lại cùng đồng chí cứu thương quay trở lại tìm bằng được để đưa về chôn cất chu đáo.

   Sau trận Kỳ Sanh, có 7 thương binh không kịp đưa đi, phải đem giấu trong rừng, phi pháo địch đánh liên tục, đồng chí ở lại tìm cách nuôi dưỡng anh em trong 5 ngày rồi tìm đường dìu cả 7 thương binh về bệnh xá an toàn.

   Huỳnh Thúc Bá còn khéo phát động và tổ chức anh em đẩy mạnh phong trào phòng bệnh, chú ý huấn luyện cho các cứu thương thuần thục động tác chuyên môn và có kế hoạch chu đáo trước mỗi trận đánh để làm tốt công tác cứu chữa thương binh. Đồng chí thường ở lại trận địa đến phút cuối củng để kiểm tra, không trận nào bỏ sót thương binh, tử sĩ.

   Trong hoàn cảnh thiếu thốn thuốc men, Huỳnh Thúc Bá chịu khó học hỏi nhân dân, áp dụng các phương pháp chữa bệnh cổ truyền như nấu cám làm thuốc chữa ghẻ, dùng lá vông chế thuốc an thần, tìm nhiều lá, rễ cây khác thay thế thuốc đỏ và làm thuốc chữa ho, kiết lỵ...

   Đồng chí còn có kế hoạch cụ thể giúp đỡ nhân dân các vùng đóng quân về công tác vệ sinh, phòng bệnh, băng bó cho hàng chục người bị thương vì bom, đạn địch. Trận lụt lơn năm 1964 ở Bình Giang, đồng chí một mình bơi thuyền ra giữa dòng nước lũ vớt được 29 đồng bào, cấp cứu 41 người khác khỏi nạn lụt.

   Đồng chí Huỳnh Thúc Bá không sợ gian nguy, tận tình bao vệ tính mạng của đồng đội trong chiến đấu, chăm lo nghiên cứu, cải tiến, nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn, đáp ứng yêu cầu chiến đấu và xây dựng của đơn vị, là ngọn cờ đầu thi đua của ngành quân y Quân khu 5.

   Huỳnh Thúc Bá đã đưực tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhì, là Chiến sĩ thi đua liền 2 năm 1965-1966 và là Dũng sĩ Quyết thắng cấp ưu tú.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Huỳnh Thúc Bá được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 3819



« Trả lời #17 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2012, 11:00:48 AM »

ANH HÙNG NGUYỄN VĂN BÉ



   Nguyễn Văn Bé, sinh năm 1941, dân tộc Kinh, quê ở xã Phú Cường, huyện Châu Thành, tỉnh Sông Bé, nhập ngũ tháng 7 năm 1961. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội phó đại đội 304, tiểu đoàn bộ đội địa phương Phú Lợi, Thủ Dầu Một, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Trong chiến đấu Nguyễn Văn Bé luôn luôn nêu cao tinh thần kiên quyết, dũng cảm, tích cực chủ động tiến công, bình tĩnh, mưu trí trong mọi tình huống gay go, ác liệt, nhiều lần bị thương, vẫn không rời vị trí, ngoan cường chỉ huy đơn vị giữ vững trận địa, hiệp đồng chặt chẽ với đơn vị bạn, lập công xuất sác. Từ năm 1961 đến đầu năm 1967, đồng chí đã tham gia chiến đấu 60 trận, giết chết 85 tên địch có 30 tên Mỹ), bắt sống 8 tên, thu 30 súng (có 1 đại liên, 2 trung liên).

   Trong trận Bến Súc, tổ Nguyễn Văn Bé có 4 người thì 3 đã bị thương vong, chỉ còn một mình đồng chí. Bị địch ném lựu đạn hất ngã từ trên lô cốt xuống đất, ngất đi, nhưng tỉnh lại, đồng chí vẫn giữ vững quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ, leo lên dùng thủ pháo diệt bằng được hỏa điểm địch.

   Trong trận phục kích Quý Hiệp trên đường số 13, ngày 22 tháng 5 năm 1965, sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ, thấy đơn vị bạn gặp khó khăn, Nguyễn Văn Bé chủ động chỉ huy phân đội đánh sang chi viện cho bạn. Trong lúc xung phong, bị hỏa lực địch ở chính diện ngăn chặn quyết liệt, đồng chí bình tĩnh tổ chức một bộ phận nhỏ bắn kiềm chế, rồi tự mình chỉ huy đại bộ phận đánh thọc sườn và sau lưng địch, hiệp đồng chặt chẽ với đơn vị bạn, tiêu diệt gọn quân địch. Bị thương vào cánh tay, máu chảy nhiều Nguyễn Văn Bé vẫn tiếp tục chỉ huy chiến đấu cho đến khi trận đánh hoàn toàn thắng lợi.

   Tại truông Bồng Bông (cách bâc thị xã Thủ Dầu Một 5 ki-lô-mét), ngày 24 tháng 3 năm 1966, 1 tiểu đoàn Mỹ có xe tăng yểm hộ ồ ạt tiến vào trận địa của ta. Nguyễn Văn Bé bình tĩnh động viên anh em chờ địch tới thật gần mới bất ngờ nổ súng, tiêu diệt nhiều địch ngay từ loạt đạn đầu. Địch cho xe tăng đi trước, xông thẳng vào trận địa ta, đồng chí linh hoạt chỉ huy anh em bắn mạnh, chia cắt bộ binh với xe tăng địch, đồng thời tập trung hỏa lực diệt chiếc xe tăng đi đầu ngay trước chiến hào 10 mét. Chúng chuyển sang hướng khác, Nguyễn Văn Bé lập tức dẫn chiến sĩ B.40 vượt qua làn đạn địch, đến chi viện cho trung đội bạn, bắn cháy thêm một chiếc xe tăng nữa. Sau 5 tiếng đồng hồ bị quân ta đánh trả quyết liệt, giặc Mỹ bị đòn đau buộc phải rút lui. Nguyễn Văn Bé đã góp phần xứng đáng cùng đại đội diệt 185 tên Mỹ, 2 xe tăng, 1 xe bọc thép, thu nhiều vũ khí, giữ vững trận địa.

   Tại Bông Trang ngày 25 tháng 6 năm 1966, 3 lữ đoàn Mỹ có xe tăng, pháo binh và máy bay yểm trợ, tiến vào đánh phá khu vực đóng quân của ta. Giữa làn đạn pháo địch dày đặc, Nguyễn Văn Bé đến với từng chiến sĩ để động viên, kiểm tra công tác chuẩn bị. Địch tiến công vào nhiều đợt nhưng đều bị đơn vị đồng chí đánh bật ra. Thấy phía trung đội bạn gặp khó khăn, Nguyễn Văn Bé dẫn một số anh em tới chủ động phối hợp, vừa tiêu diệt bộ binh địch, giữ vững trận địa, vừa chỉ huy tổ hỏa lực diệt được xe tăng địch. Suốt từ 6 giờ sáng đến 8 giờ tối trong lửa đạn mịt mù, không kịp ăn cơm, uống nước, Nguyễn Văn Bé luôn luôn dẫn đầu anh em, có mặt ở những nơi ác liệt nhất, xông xáo, dũng cảm chiến đấu rất linh hoạt, góp phần cùng cả tiểu đoàn trừng trị đích đáng bọn Mỹ, diệt gọn 1 tiểu đoàn địch và tiêu hao 2 tiểu đoàn khác.

   Nguyễn Văn Bé là một cán bộ xuất sắc toàn diện, không những huấn luyện hay, chỉ huy chiến đấu giỏi, mà còn làm tốt công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, chăm lo xây dựng đơn vị, hết lòng thương yêu, giúp đỡ đồng đội lúc thường củng như khi chiến đấu; sống khiêm tốn, giản dị, được đồng đội yêu mến.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhì, là Chiến sĩ thi đua 2 năm liền (1965-1966), đạt danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Nguyễn Văn Bé được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu. Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.




ANH HÙNG NGUYỄN NGỌC BÌNH



   Nguyễn Ngọc Bình, sinh năm 1930, dân tộc Kinh, quê ở xã Đại Hiệp, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng nhập ngủ tháng 12 năm 1948. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là tiểu đoàn phó tiểu đoàn 409 đặc công thuộc Quân khu 5, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Trong kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Ngọc Bình là trinh sát viên hoạt động trên các chiến trường Quảng Nam, Tây Nguyên, Khánh Hòa, luôn luôn tỏ ra gan dạ, mưu trí, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

   Tháng 5 năm 1955, tập kết ra Bắc được ít ngày Nguyễn Ngọc Bình nhận lệnh trở về miền Nam. Từ tháng 7 năm 1955 đến tháng 4 năm 1961, đồng chí làm nhiệm vụ ở cơ quan Khu ủy Khu 5, vừa là chiến sĩ bảo vệ, liên lạc, cần vụ, vận chuyển, vừa tổ chức đường dầy, xây dựng cơ sở địa phương, được cán bộ tín nhiệm và nhân dân yêu mến.

   Từ tháng 4 năm 1961 đến tháng 1 năm 1967, Nguyễn Ngọc Bình chiến đấu trong đơn vị đặc công, chỉ huy đơn vị đánh 18 trận đều hoàn thành tốt nhiệm vnạ, có nhiều trận xuất sắc.

   Ngày 30 tháng 8 năm 1961, trong trận diệt quận ly Đắc Hà, khi ta nổ súng, địch đối phó mạnh, mũi bạn chưa lên được, đồng chí dẫn một tổ tiến lên, tự tay đánh sập 4 lô cốt, lấy súng địch đánh địch, tạo điều kiện cho đơn vị nhanh chóng diệt gọn 2 trung đội bảo an gian ác, thu toàn bộ vũ khí.

   Tháng 11 năm 1964, trong trận diệt cứ điểm Núi Diêm (xã Phổ Trung - Đức Phổ - Quảng Ngãi), 5 đêm liền tổ trinh sát không vào được vì địch lùng sục và phục kích, Nguyễn Ngọc Bình đã cải trang, lợi dụng lúc trời mưa to, dùng thuyền đi điều tra giữa ban ngày. Nhờ chuẩn bị và tổ chức chu đáo, sau 5 phút nổ súng, đồng chí chỉ huy đơn vị hoàn toàn diệt gọn 1 đại đội lính ngụy, làm chủ trận địa, thu toàn bộ vũ khí.

   Để mờ màn cho đợt hoạt động mùa Xuân năm 1965 trên chiến trường Bình Định, đêm 7 rạng ngày 8 tháng 2 năm 1965, đơn vị đánh cứ điểm Gia Hựu. Trong tình thế hết sức khó khăn, Nguyễn Ngọc Bình đã dẫn đầu một đội dự bị vượt lưới lửa của địch, đánh chiếm đầu cầu. Một mình đồng chí dùng lựu đạn, thủ pháo đánh thốc lên khu chỉ huy của địch, chiếm điểm cao yểm trợ cho từng tổ lần lượt phát triển vào phía trong trận địa. Ba lần địch điên cuồng phản kích hòng chiếm lại điểm cao, cả ba lần đồng chí đều đánh bật địch ra. Đạn hết, bản thân lại bị thương, Nguyễn Ngọc Bình vẫn tiếp tục chỉ huy đơn vị lấy vũ khí của địch đánh địch. Sau 4 giờ liền chiến đấu, đồng chí cùng 7 anh em diệt 70 tên địch, bắt sống 29 tên, phá hủy 1 khẩu pháo 105 mi-li-mét và 1 xe GMC, thu 1 súng cối 60 mi-li-mét, 3 khẩu đại liên và nhiều vũ khí khác. Riêng đồng chí đã diệt được 5 lô cốt, giết 20 tên địch.

   Do nghiên cứu kỹ quy luật hoạt động của địch và có kế hoạch tác chiến chu đáo, đêm 22 tháng 3 năm 1966, Nguyễn Ngọc Bình đã chỉ huy đơn vị tập kích sân bay Chu Lai, phá hủy trên 50 máy bay phản lực, bắn cháy 2 xe M.118, thiêu hủy một kho nhiên liệu, diệt trên 200 tên Mỹ, gồm phần lớn là bọn lái máy bay và nhân viên kỹ thuật.

   Ngoài ra, trong các trận đánh ở Trà Mi (tháng 2 năm 1962), Trà Bồng (tháng 3 năm 1962), Mỹ Trang (tháng 10 năm 1964), An Lão (tháng 2 năm 1965), Kỳ Sanh (tháng 2 năm 1966), Hà Thanh (tháng 9 năm 1966)..., đồng chí đều chỉ huy đơn vị hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

   Nguyễn Ngọc Bình là một cán bộ chỉ huy giỏi, có quyết tâm cao, bình tĩnh xử trí những tình huống phức tạp, xây dựng đơn vị giỏi, đoàn kết và tận tình giúp đỡ đồng đội, vừa là một chiến sĩ giỏi, dũng cảm, mưu trí, được đồng đội tín nhiệm, yêu mến.

   Nguyễn Ngọc Bình đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhất, 2 Huân chương Chiến cóng Giải phóng hạng ba, được Đại hội liên hoan Chiến sĩ thi đua và dũng sĩ lần thứ 2 của Quân khu 5 (tháng 12 năm 1966) công nhận là ngọn cờ đầu “Cán bộ 3 giỏi” (chỉ huy giỏi, chiến đấu giỏi, xây dựng đơn vị giỏi).

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Nguyễn Ngọc Bình được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 3819



« Trả lời #18 vào lúc: 24 Tháng Mười Một, 2012, 09:01:28 AM »

ANH HÙNG LÊ VĂN BẢNG



   Lê Văn Bảng, (tức Lê Văn Bẻo), sinh năm 1930, dân tộc Kinh, quê ở xã Mỹ Hội, huyện Mỹ Khê, tỉnh Quảng Ngãi, trú quán ở xã Phan Rí, huyện Bẳc Bình, tỉnh Bình Thuận nhập ngũ tháng 6 năm 1948. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội trưởng thuộc bộ đội địa phương tỉnh Bình Thuận, Quân khu 6, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Sống trong một gia đình rất nghèo khổ, mẹ chết sớm, cha phải phiêu bạt vào tỉnh Bình Thuận làm ăn. Từ nhỏ Lê Văn Bảng đã phải chịu đựng một cuộc sống rất cực nhọc, lam lũ. Cho nên từ khi giác ngộ cách mạng, hiểu rõ nỗi khổ cực của người dân nô lệ, đồng chí luôn luôn tuyệt đối trung thành với cách mạng hăng hái hoạt động, vững vàng trên mọi vị trí chiến đấu, khác phục mọi gian khổ, khó khăn, kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ.

   Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Lê Văn Bảng đã tham gia chiến đấu gần 100 trận lớn, nhỏ. Sau ngày Hiệp nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 được ký kết, đồng chí làm nhiệm vụ giao liên, hoạt động vô cùng gian nan, nguy hiểm trong vùng địch kiểm soát ở tỉnh Bình Thuận. Được ra miền Bắc chữa khỏi bệnh, Lê Văn Bảng tham gia lao động sản xuất ở nông trựờng Sao Vàng, tỉnh Thanh Hóa.

   Trở về miền Nam chiến đấu, từ năm 1961 đến đầu năm 1967, Lê Văn Bảng đã đánh trên 30 trận, tự tay diệt 40 tên địch, bắt sống 16 tên, thu 40 khẩu súng các loại (có hai trung liên), góp phần cùng đơn vị lập công xuất sắc.

   Năm 1961, đánh vào Lương Sơn, một “ấp chiến lược” kiểu mẫu của địch ở tỉnh Bình Thuận, đồng chí dẫn các tổ viên bí mật vượt qua nhiều lớp rào dây thép gai và hào giao thông, lọt vào vị trí giặc, nhanh chóng diệt tên gác, đánh sập 1 lô cốt và 1 căn nhà do 1 trung đội địch đóng giữ, tạo điều kiện thuận lợi cho toàn đơn vị xung phong, hoàn thành nhiệm vụ sau 5 phút chiến đấu.

   Tháng 2 năm 1962, trong trận đánh Đồng Kho, giữa lúc tình hình đang diễn biến hết sức gay go quyết liệt, Lê Văn Bảng tuy bị thương ở tay vẫn dẫn đầu một tổ vượt qua hào sâu 2 mét câm đầy chông, lao nhanh vào trong, liên tiếp dùng lựu đạn, tiểu liên diệt địch, rồi từ bên trong đánh ra, diệt lô cốt, chuyển khó khăn thành thuận lợi, góp sức cùng đơn vị tiêu diệt hoàn toàn 1 trung đội địch, thu hàng chục khẩu súng các loại.

   Trong các trận Tam Tân (tháng 8 năm 1962), Ma Lâm (tháng 1 năm 1964), Lê Văn Bảng đều dũng cảm, mưu trí, thọc sâu đánh mạnh, diệt ngay sở chỉ huy và các hỏa điểm lợi hại của địch, có lần bị thương nặng ở cổ và vai, đồng chí vẫn tiếp tục chiến đấu cho đến khi trận đánh kết thúc thắng lợi. Sau khi chiến đấu xong, bao giờ đồng chí cũng tổ chức và cùng anh em khiêng cáng mang đi hết anh em bị thương, hy sinh và thu dọn chiến lợi phẩm chu đáo.

   Lê Văn Bảng đưực đơn vị tín nhiệm, nhiều lần cử đi nghiên cứu, chuẩn bị chiến trường ở Phú Long, Sông Lúy, Thuận Nghĩa, Xa Ra..., lần nào cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ.

   Đầu năm 1967, cùng ở trong ban chỉ huy trận đánh chi đoàn xe bọc thép M.113 của địch trên đường số 8, Lê Văn Bảng đã khéo léo bố trí trận địa và chỉ huy đơn vị chiến đấu, khóa đuôi địch rất chặt, khiến chúng không sao cơ động đối phó nổi. Đơn vị đã nắm thời cơ nhất tề xung phong, tiêu diệt gọn cả chi đoàn xe M.113 gồm 14 chiếc.

   Lê Văn Bảng là một cán bộ chỉ huy gương mẫu, hết lòng thương yêu đồng đội. Trong các trận đánh, đồng chí có tác phong thường đi trước, về sau, luôn luôn nắm chắc tình hình, xử trí linh hoạt, gặp trường hợp khó khăn, nguy hiểm đến đâu, cũng quvết tâm hoàn thành nhiệm vụ, bao giờ cũng làm tốt công tác thương binh, liệt sĩ.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến thắng hạng ba, 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng ba, 2 lần là Chiến sĩ thi đua của tỉnh.

   Ngày 17 tháng 9 nám 1967, Lê Văn Bảng được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.




ANH HÙNG ĐOÀN VĂN CHIA



   Đoàn Văn Chia, sinh năm 1918, dân tộc Kinh, quê ở xã Hòa Mỹ, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Cần Thơ, nhập ngũ tháng 6 năm 1946. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội phó, bộ đội địa phương tỉnh Cần Thơ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam,

   Đoàn Văn Chia luôn luôn nêu cao tinh thần chiến đấu dũng cảm, mưu trí, bền bỉ, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, chịu khó tìm tòi, nghiên cứu, sáng tạo ra nhiều loại vũ khí thô sơ dễ làm, dễ dùng, diệt được nhiều địch, góp phần tích cực đẩy mạnh phong trào chiế tranh du kích của nhân dân trong tỉnh.

   Đoàn Văn Chia tham gia chiến đấu từ năm 1946 đến năm 1954, sau đó lại được phân công ở lại quê hương hoạt động.

   Những năm 1955, 1956, trong hoàn cảnh vũ khí rất thiếu thốn, kẻ thù o ép gắt gao, nhưng do có lòng căm thù sâu sẳc giặc Mỹ và bè lũ tay sai, Đoàn Văn Chia tìm mọi cách làm các loại chông, nỏ, mìn, lựu đạn, súng kíp để sẵn sàng đón thời cơ diệt địch.

   Từ tháng 2 năm 1963, được giao nhiệm vụ đi các nơi trong tỉnh để phổ biến kinh nghiệm làm vũ khí thô sơ, đồng chí tự tạo 33 loại hầm chông, 10 loại mìn; có nhiều loại được sử dụng rộng rãi, có tác dụng tốt. Đoàn Văn Chia làm lựu đạn bằng vỏ chai, tốn ít thuốc nổ nhưng hiệu quả sát thương cao, ngay trận đầu đã diệt 2 tên, bị thương 1 tên; loại vũ khí đó đồng chí phổ biến cách làm và sử dụng cho toàn huyện, diệt được nhiều địch.

   Có lần gỡ được gần 40 quả bom bi chưa nổ, Đoàn Văn Chia tìm tòi, nghiên cứu cách tháo rồi cải tiến thành 4 loại mìn gài, kết quả giết 136 tên giặc. Thấy anh em du kích có súng cối nhưng thiếu đạn, đồng chí lại tìm cách cải tiến bom bi của địch thành đạn súng cối, bắn xa trên 500 mét, diệt hàng chục tên địch ở Long Bình, Gò Quao.

   Thấy máy bay địch rải bom bướm xuống các ấp giữa mùa cày cấy, Đoàn Văn Chia dũng cảm, mưu trí tự mình đi trước thu gỡ bom, sau đó phổ biến kinh nghiệm khắc phục bom bươm bướm cho anh em du kích, giúp nhân dân ổn định đời sống và tiếp tục việc đồng áng. Đoàn Văn Chia không ngại nguy hiểm, tìm cách tháo rời quả bom để nghiên cứu, thay đổi một số bộ phận, cải tiến thành lựu đạn chống bộ binh và mìn chống tăng.

   Đoàn Văn Chia đã thu, gỡ 4 quả bom phá và bom na-pan, 150 quả bom bi, 400 bom bươm bướm, 3 viên đạn cối 60 mi-li-mét, 26 hỏa tiễn để lấy gần 350 ki-lô-gam thuốc nổ làm vũ khí đánh địch; đồng thời hướng dẫn cho 650 cán bộ, chiến sĩ du kích biết cách chế tạo vũ khí thô sơ.

   Đặc biệt Đoàn Văn Chia đã dành nhiều công sức, kiên trì theo dõi cách sinh hoạt của ong vò vẽ, bắt nuôi và huấn luyện cho ong đánh dịch. Bọn giặc bị ong đốt, có đứa chết tại chỗ, nhiều tên khác chạy trốn, vấp phải lựu đạn gài hoặc rơi xuống hố chông. Nhiều nơi được đồng chí hướng dẫn cũng biết cách dùng ong đánh địch. Riêng đồng chí đã bắt nuôi và huấn luyện được hơn 100 tổ ong. Đội “quân ong vò vẽ” của đồng chí gây cho địch nhiều tổn thất, khiến chúng rất hoảng sợ, có lần làm cho cả tiểu đoàn quân ngụy phải bỏ dở cuộc càn. Chúng thấy cờ, khẩu hiệu của du kích treo cũng không dám đến gần để gỡ xuống.

   Đoàn Văn Chia còn chấp hành tốt chính sách dân vận, chính sách thương binh liệt sĩ, đoàn kết tốt nội bộ, được nhân dân và đồng đội rất quý mến.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Đoàn Văn Chia được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 3819



« Trả lời #19 vào lúc: 24 Tháng Mười Một, 2012, 09:04:11 AM »

ANH HÙNG PHAN THANH CHUNG



   Phan Thanh Chung, sinh năm 1945, dân tộc Kinh, quê ở xả Hải Thượng, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, nhập ngũ tháng 4 năm 1963. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đội phó thuộc đội 10, bộ đội đặc công tỉnh Quảng Trị, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Sớm được giác ngộ cách mạng, Phan Thanh Chung hiểu rõ lý tưởng cao đẹp của thanh niên lúc này là phải chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Bởi vậy ngay lúc còn đi học, đồng chí đã tích cực tham gia hoạt động ở cơ sở, giúp cán bộ nắm tình hình địch, rải truyền đơn..., nhiệm vụ nào cũng hoàn thành tốt.

   Vào bộ đội, qua rèn luyện thử thách, Phan Thanh Chung trưởng thành nhanh chóng. Trong công tác điều tra, chuẩn bị chiến trường, nhiều lần gặp khó khăn về địch, địa hình và thời tiết, đồng chí vẫn kiên trì vào tận nơi nắm tình hình địch tỉ mỉ, cụ thể, chính xác.

   Là một cán bộ gan dạ, mưu trí, dũng cảm, có tác phong chiến đấu tốt, Phan Thanh Chung thường được giao nhiệm vụ ehỉ huy mũi chủ yếu đánh vào cơ quan đầu não của địch. Với lối đánh thọc sâu, xông xáo, táo bạo, đồng chí đã cùng phân đội tiêu diệt được nhiều sở chỉ huy địch, tạo điều kiện cho toàn đơn vị giành thắng lợi rất giòn giã.

   Đặc biệt, trong trận đánh ở Tân Lệ lần thứ 2 ngày 16 tháng 10 năm 1966, Phan Thanh Chung được giao phụ trách đánh hướng chính. Địch bố phòng ở đây rất cẩn mật, vào đến hàng rào thứ 4, phân đội gặp một cái hào sâu, trên có dây thép gai bùng nhùng, dưới hào có chông và mìn. Giờ nổ súng sắp đến, đồng chí đã táo bạo dùng miếng vãi dù làm đây cho đồng đội thả đồng chí xuống trước, cắt hàng rào và gỡ mìn, mở đường cho đơn vị tiến vào tung thâm. Nghe tiếng chuông điện thoại trong vị trí địch réo, biết mình đã bị lộ, Phan Thanh Chung chủ động đánh luôn mấy quả bộc phá vào hầm ngầm rồi phát triển sang các mục tiêu xung quanh. Các mũi khác cũng kịp thời hiệp đồng chiến đấu. Sau 15 phút, đơn vị làm chủ hoàn toàn trận địa, tiêu diệt và bắt sống 115 tên địch, thu nhiều vũ khí.

   Phan Thanh Chung luôn luôn gương mẫu trong mọi mặt công tác, chú trọng xây dựng đơn vị lớn mạnh toàn diện, đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, chủ động hiệp đồng với đơn vị bạn, lập công tập thể. Đồng chí rất xứng đáng với sự tin cậy của cấp trên, lòng mến yêu của đồng đội và của nhân dân.

   Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công Giai phóng hạng ba, 2 bằng khen.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Phan Thanh Chung được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.




ANH HÙNG BÔNG VĂN DĨA



   Bông Văn Dĩa, sinh năm 1905, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Minh Hải, nhận ngũ năm 1945, khi tuyên dương Anh hùng là Đoàn phó Đoàn 962 vận tải biển - Quân khu 9, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

   Tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1934, Bông Văn Dĩa là một trong những chiến sĩ chiến đấu dũng cảm trong trận đánh chiếm Hòn Khoai (Bạc Liêu) trong cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ 1940.

   Hơn 30 năm liên tục hoạt động cách mạng chống đế quốc, phong kiến, Bông Văn Dĩa toàn tâm, toàn ý phục vụ lợi ích của Đảng, của dân tộc. Đồng chí được cấp trên giao phó nhiều công tác đặc biệt, nhiều lần nhận nhiệm vụ tổ chức vận tải tiếp tế vật liệu, vũ khí cho các đơn vị chiến đấu ở chiến trường. Tuy gặp rất nhiều khó khăn, phải qua nhiều chặng đường có địch tuần tra, canh gác, kiểm soát, khám xét rất ngặt nghèo, đồng chí luôn luôn có quyết tâm cao, bình tĩnh, dũng cảm, mưu trí, khéo ngụy trang, tìm cách đối phó với địch, đưa được hàng tới đích, phục vụ tốt cho chiến đấu.

   Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nhiều lần, trong khi làm nhiệm vụ vận chuyển vũ khí thì gặp địch bao vây, có lần bị chúng bắt giam tù, tra tấn rất dã man, Bông Văn Dĩa vẫn nêu cao khí tiết cách mạng, bất khuất, dũng cảm đấu tranh với địch, buộc chúng phải trả tự do; khi về, đồng chí lại tiếp tục làm nhiệm vụ.

   Trong những năm chống Mỹ, cứu nước, việc vận chuyển trên biển tăng lên nhiều lần, gặp rất nhiều khó khăn, thuyền nhỏ đi ngoài khơi gặp sóng to gió lớn dễ bị đầm, đi gần bờ thường gặp tàu chiến, máy bay phản lực, máy bay lên thẳng của địch tuần tiễu. Nhiều chuyến phải đi hơn nửa tháng liền, thiếu ăn, thiếu ngủ, Bông Văn Dĩa đã bình tĩnh, mưu trí tìm cách vượt tránh, nghi binh lừa địch, bảo đảm vận tải vũ khí cho bộ đội được tốt.

   Bông Văn Dĩa đã hàng chục lần xung phong nhận nhiệm vụ đi thử những chuyến vận chuyển tìm cập bến mới để rút kinh nghiệm và bố trí cung đường đi cho hợp lý và nhanh hơn. Đường lạ, luồng lạch mới, nhiều lần bị địch kiểm tra, lục soát, đe dọa, đồng chí vẫn bình tĩnh, mưu trí đối phó được với chúng và sau đó chuyển được hàng tới đích an toàn.

   Bông Văn Dĩa luôn luôn thể hiện đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, không sợ gian khổ, sẵn sàng hy sinh tính mạng, bảo vệ tài sản của cách mạng, quý trọng, chắt chiu từng viên đạn, hạt gạo để xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Tuy tuổi già, sức yếu, nhưng đồng chí vẫn say sưa liên tục công tác, nêu gương chiến đấu kiên cường, khiêm tốn, giản dị, được cấp trên rất tin tưởng, đơn vị yêu mến.

   Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Bông Văn Dĩa được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng huân chương Quân công giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM