Lịch sử Tây Nam Bộ kháng chiến, Tập 1 (1945-1954)

<< < (2/30) > >>

macbupda:
III - DÂN CƯ, KINH TẾ -VĂN HÓA VÀ ĐỜI SỐNG TINH THẦN

1. Dân cư

Người Việt cùng với người Khơme, Hoa, Chăm… nỗ lực khai phá vùng đất hoang hóa Đồng Nai - Bến Nghé - Cửu Long.

Trong nửa đầu thế kỉ 16, nhà thám hiểm Bồ Đào Nha (Fernand Mendez Pinto) đã dùng thuyền đi biển phiêu lưu tới một số nước Đông Nam Á. Trong hồi kí, ông viết có gặp người Côsanhchina (tức người Việt Nam)(1).

Rừng rậm mênh mông, đất đai màu mỡ, thuận lợi cho việc khai hoang lập nghiệp.

Người Việt, Khơme, Hoa, Chăm… mỗi dân tộc làm ăn sinh sống theo ngành nghề, phong tục, tập quán, tôn giáo riêng. Tất cả cùng chung sống hầu như chưa hề xảy ra đụng chạm, tranh chấp đất đai.

Theo truyền thống, người Việt đến đâu đều lập làng, xã, đùm bọc, tương trợ lẫn nhau, hòa hợp và giúp đỡ các dân tộc anh em, trở thành cộng đồng dân tộc, đoàn kết xây dựng cuộc sống. Trước đây thường nói: “Nhất cận thân, nhị lân cận” , nhưng điều kiện cụ thể cuộc sống hiện tại đã trở thành: “Nhất cận lân, nhì cận thân” , làm cho tình dân tộc, nghĩa đồng bào quyện chặt với tình làng, nghĩa xóm, khi hoạn nạn, khó khăn, cũng như lúc bị thiên tại, địch họa…

Dân làng tự lập, tự quản thôn, xóm, từ năm 1535 đến năm 1732 đã trở thành nền dân chủ cộng đồng dân cư, trong lòng chế độ phong kiến Việt Nam.

Ở miền Tây, ngoài người Việt chiếm phần đông nhất, còn có nhiều thành phố dân tộc khác sống hòa hợp trong cộng đồng dân cư.

Dân tộc Khơme ở Nam Bộ có khoảng 1.300.000 người. Các tỉnh Tây Nam Bộ chiếm gần 1.000.000 người, nhiều nhất là Sóc Trăng (trên 300.000 người, tính đến năm 2007), Trà Vinh (gần 300.000 người). Các tỉnh khác đều có đồng bào Khơme. Đồng bào Khơme đa số là nông dân. Khối đoàn kết các dân tộc Việt - Khơme - Hoa - càng chặt chẽ hơn trong đấu tranh giành quyền sống và chống quân xâm lược. Đinh Sâm, lãnh tụ kháng chiến vùng Ba Láng - Trà Niềng (Cần Thơ), năm 1868 đã giết tên cai tổng gian ác Nguyễn Văn Vĩnh, tay sai đắc lực của Pháp. Chủ Chọt ở xã Ninh Thạnh Lợi, huyện Phước Long (Rạch Giá) thà chết không chịu mất đất, đã đứng lên chiến đấu, chống lại bọn cai trị Pháp cướp giật ruộng đất của ông năm 1927…, nói lên tinh thần đấu tranh quyết liệt của người nông dân Khơme.

Người Hoa, xấp xỉ bằng số người Khơme, nhưng đã sớm hòa hợp cùng người Việt và người Khơme trong lao động sản xuất, sinh hoạt bình thường trong lễ hội và trong đấu tranh chống quân xâm lược và bọn áp bức bóc lột. Ngày nay, người Hoa đã dựng vợ gả chồng cho con cái người Việt, người Khơme, là điều trước đây chưa có) và ngày Tết, lễ hội của 3 dân tộc đều cộng hưởng chung, coi như lễ hội của dân tộc mình.

Người Chăm, ở An Giang có tới 13.000 người tập trung tại 9 xóm thuộc các huyện An Phú, Tân Châu, Châu Thành. Đời sống của bà con chủ yếu là mua bán, thêu, diệt và một số ít canh tác ruộng rẫy, chăn nuôi bò, dê… Chiếc ghe lường của người Chăm là căn hộ di động dùng làm kế sinh nhai ở các bến chợ quanh vùng đồng bằng sông Cửu Long. Thời gian gần đây, nhờ hỗ trợ vốn sản xuất, giải quyết việc làm và xóa đói, giảm nghèo, cuộc sống từng gia đình được nâng lên, hầu hết đều bám trụ địa phương làm ăn và hạn chế việc bỏ nhà đi mua bán xa. Việc học hành của con em đồng bào Chăm được chú ý hơn. Hiện ở tỉnh An Giang có hơn 40 sinh viên dân tộc Chăm đang theo học các trường đại học ở đồng bằng sông Cửu Long và thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra có 5 em khác được tuyển đi du học nước ngoài, hưởng chế độ ưu đãi về đào tạo của Nhà nước(2).

2. Kinh tế

Trên vùng đất mới còn hoang sơ, hiếm dấu chân người, vừa khơi dậy tiềm năng khai thác dồi dào về nông nghiệp trên chân trời mở rộng, vừa đòi hỏi phải vượt qua bao thử thách của thiên nhiên, thú dữ, mùa khô thiếu nước, mùa nước lũ lụt hằng năm… bắt tuộc những người đến vùng đất mới phải có nhiều sáng tạo trong tư duy cũng như hành động.

Lưu dân đa số là những người nghèo khổ, bị giai cấp thống trị tước đoạt ruộng đất, vào vùng đất mới khai khẩn đất hoang, được làm chủ ruộng đất mình khai hóa, và có thời gian dài (gần 200 năm, từ 1535 đến 1732), tự lập, tự quản, thực hiện dân chủ cộng đồng… nên thiết tha bảo vệ, chăm sóc ruộng đất thành thục, ngày càng có năng suất cao.

Xa quê cha, đất tổ, tính tự lực, sáng tạo được phát huy, vượt qua khó khăn, thử thách để tồn tại và xây dựng cuộc sống ngày càng sung túc, nên đời sống các cộng đồng dân cư đã thích ứng với thực tế, với tình hình sản xuất tại đây.

Để thích nghi và phát triển trên đất này, dân không đắp đê mà chung sống với lũ, làm thủy lợi, xổ phèn, mang lại hiệu quả lớn…

Trong canh tác, nông dân dùng 2 trâu (hay bò) để cày bừa, trục(3)… Lưỡi cày to, bừa lớn (gần 4 mét), răng bằng tre gốc… để làm đất cấy lúa. Cỏ nhiều phải trục. Vùng đất sình lầy, vùng đất sâu, không cày được, phải dùng phảng(4) phát cỏ, cấy nọc(5) (ngày nay, có máy cày thì sạ là phổ biến). Vùng ngập lụt, cấy giống lúa nổi, sạ khô, mùa mưa lúa vươn theo nước sâu 3 - 4 mét, cây lúa dài 5 - 6 m. Khi nước ngập, lúa nổi lên, lúc nước rút, mỗi đốt lúa bám rễ vào phù sa, mọc đều lên như cây lúa cấy. Vùng nước sâu, có lúa cao giàn (từ 1,4 m đến 1,6 m), dùng nọc dài cấy lúa cây…

Thu hoạch dùng liềm hoặc vòng hái gặt, tùy từng loại lúa và từng vùng.

Mỗi lực điền làm ăn chăm chỉ, hằng năm phải được 2 - 3 mẫu (mỗi mẫu = 1 ha). Ngay vụ đầu đã có ăn. Từ năm thứ 3 đất thuần cho năng suất cao. Ruộng phì nhiêu, 1 giạ(6) lúa giống thu hoạch được 300 hộc lúa. Đất rộng mênh mông, còn hoang hóa nhiều, nên nông dân nếu thấy nơi này làm ăn không khá, thì đi nơi khác.

Trong săn bắt cá, ngoài chài, lưới, đó… còn đặt lờ, lọp, ống trúm(7)… nên bắt được nhiều cá. Có dư thì làm khô, làm mắm… để khi thiếu cá đem ra dùng.

Sản xuất cá có thể kết hợp làm mướn ở các trang trại của các vị thiên hộ (1000 hộ), bá hộ (100 hộ). Sản lượng lúa khá cao, đồng bằng sông Cửu Long trở thành vựa lúa và hàng thủ công, có mặt trên thị trường trong nước và xuất khẩu. Thương cảng Hà Tiên, Bãi Xàu… trước đây tấp nập ghe, tàu của nước ngoài.

Khi triều Nguyễn dùng chính sách ban thưởng phẩm hàm cho người mộ dân khai hoang lập đồn điền, chính sách đó đã có tác dụng tích cực trong việc khuyến khích khai hoang, lập ấp, phát triển kinh tế. Nhưng đồng thời nó cũng tạo ra một tầng lớp địa chủ, cường hào. Trong tầng lớp này cũng đã sản sinh một số phần tử, cường hào, tham quan, ô lại, dựa vào đó để chiếm đoạt ruộng đất của nông dân, bắt sống người mới đến làm công không cho chúng. Đất đai dần dần tập trung vào tay địa chủ cường hào.

Bị ức hiếp, bị lấy đất ruộng, nông dân chống lại quyết liệt. Cả người Việt, Khơme, Hoa, Chăm, đều đoàn kết đấu tranh chống bọn áp bức, bóc lột.

Nhà Nguyễn không lập được chế độ công điền và quân cấp công điền giống như ở miền Trung và miền Bắc. Vì miền Trung và miền Bắc là vùng đất đã được khai phá từ lâu dưới chế độ công xã, ruộng công vẫn còn tồn tại như một sản phẩm của chế độ công hữu công xã. Nam Bộ thì khác. Việc khai khẩn là việc mới gần đây, chủ yếu do tư nhân tiến hành. Do đó, đất được khai phá thường là tư điền của địa chủ và cường hào, một số là của nông dân tự canh. Vì vậy, gần như không có chế độ công điền.

Suốt 3 đời Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức (từ 1820 đến 1883) khủng hoảng xã hội phong kiến diễn ra nghiêm trọng, nông dân nổi lên chống đói. Triều đình phải mang quân đánh dẹp, bình định.

Khi Pháp xâm chiếm Nam Kì, với chính sách bóc lột thuộc địa, đặc trưng cho hình thức thực dân địa của Pháp là khai thác tài nguyên, sử dụng nhân công rẻ mạt, kìm chế công nghiệp và thủ công nghiệp bản xứ, chiếm dụng đất đai để lập các đồn điền, dùng nhân công địa phương…, giai cấp địa chủ càng phát triển (cả địa chủ Pháp, Việt, Ấn, Hoa…). Đất đai càng tập trung vào địa chủ lớn vào các đồn điền Pháp. Mấy lần khủng hoảng kinh tế thế giới, chẳng những nông dân, tầng lớp lao động khác nghèo khổ thêm, mà trung nông, phú nông và địa chủ nhỏ, địa chủ bậc trung cũng bị phá sản. Đất đai lại càng tập trung hơn.

(1) Trần Văn Giàu, chủ biên: Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1987, tr. 145.
(2)  Mai Hương: Chuyện học ở làng Chăm, Báo Sài Gòn Giải Phóng, số 967, ngày 5-6-2004.
(3) Một dụng cụ làm nhuyễn đất.
(4) Một loại dao dài có cán cong để cầm phát cỏ.
(5) Là một khúc cây có mũi nhọn và cầm ngang để cấy.
(6) Thùng = 20kg, tương đương 40 lít.
(7) Các dụng cụ đánh bắt thủy sản.

macbupda:
Theo thống kê của Pháp:

- Người có 50 ha trở lên chỉ có 2,55 dân số, chiếm 45% đất đai.

- Người có từ 10 ha đến 50 ha, 11% dân số, chiếm 32% ruộng đất.

- Còn người có từ 0,5 ha trở xuống, chỉ chiếm 23% đất đai, với 71% dân số.

- Đất phi nông nghiệp chiếm 14%.

Miền Tây ruộng đắt càng tập trung hơn.

- Hà Tiên có 8 đồn điền Pháp, chiếm gần hết đất đai.

- Bạc Liêu đại địa chủ chiếm 70% ruộng đất và toàn bộ 14.000 ha ruộng muối (Trần Trinh Trạch, địa chủ Bạc Liêu lớn nhất Việt Nam, ngoài 145.000 ha ruộng lúa và 10.000/14.000 ha ruộng muối, còn chiếm nhiều ruộng ở nhiều tỉnh Nam Kì và Trung Kì).

- Sóc Trăng, chủ đồn điền Pháp và đại địa chủ chiếm 80% ruộng đất (đồn điền Gressier, La Basthe, Jourdan…).

- Ở Cần Thơ 70%.

Ở Trà Vinh có 4 họ đại địa chủ (Lâm Quang, Từ Bá, Tạ, Trần), riêng họ Lâm Quang, hằng năm thu 400.000 giạ lúa tô (8.000 tấn).

Xuất cảng lúa gạo ở Nam Kì số lượng tăng nhanh từ 281 tấn (năm 1880) lên 1.548.000 tấn (năm 1937).

Nhà Kinh tế học người Pháp Pôn Bécna (Paul Bernard) nhận xét: Chính nhờ sự đóng góp của Nam Kì, chủ yếu từ lúa gạo đồng bằng sông Cửu Long, chính phủ Pháp có thể đài thọ cho bộ máy cai trị toàn Đông Dương, toàn bộ chi phí cho những công trình công cộng, nuôi toàn bộ quân đội Pháp ở Việt Nam, Campuchia, Lào.

Vùng Hậu Giang, Rạch Giá, có diện tích lớn: 358.900 ha (1930), Bạch Liêu 330.030 mẫu, Sóc Trăng 212.909 mẫu, Cần Thơ 205.000 mẫu (ha), làm cho lượng xuất khẩu gạo của Nam Kì tăng nhảy vọt (miền Hậu Giang chiếm số lượng nhiều nhất). Trước đây, Miền Điện (Myanmar) là nước xuất khẩu gạo nhiều nhất, từ 1925 Nam Kì dẫn đầu, tuy gạo của ta phẩm chất không bằng gạo Miến Điện.

Miền Tây, năm 1934, 4 tỉnh: Rạch Giá, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cần Thơ, có 996.000 ha ruộng lúa, bằng 40% diện tích lúa toàn Nam Kì, xuất khẩu 968.000 tấn lúa(1), bằng 50% đến 70% lúa xuất khẩu toàn Nam Kì.

Địa chủ càng tập trung đất, càng làm dân cày bị phá sản thành công nhân nông nghiệp, dính liền với miếng đất của địa chủ, không phải hàng ngày, hàng tháng, như thợ thuyền thành thị đối với tư bản, mà buộc suốt nhiều đời từ cha, con đến cháu, chắt… bằng cách chống chất lên đầu tá điền hàng trăm thứ nợ.

Thời Pháp thuộc, vào nông thôn thấy bên cạnh nhà gạch to, rộng mênh mông, xung quanh có hàng ngàn siêu vẹo “nhà đá” , “nhà đạp”. Có nhiều thiếu nữ không có áo che thân… Có nhà cả vợ chồng chỉ có một quần dài (để luân phiên tiếp khách). Chúng ta cũng thấy rõ, đến mùa gặt, lúa đầy sân, nhưng đã chạy vào kho lẫm của địa chủ. Tá điền còn 2 tay trắng, lại phải đi vay hỏi để ăn và làm mùa. Đó là một loại công nhân nông nghiệp gắn liền với đại đồn điền của thực dân. Những điều tra của sử gia Pháp Daniel Hémery về tình hình đời sống các tầng lớp dân cư ở nông thôn vùng đồng bằng Nam Bộ năm 1936 cho thấy:

Biểu 1.1: Cơ cấu thu nhập và các khoản chi tiêu của
ba loạn ngân sách nông dân (năm 1936)



Nguồn D. Hémery: Révolutionnaires Vietnammient et pouvoir colonial de l’Indochine, Ed. Maspéro, Paris, 1975, p.446.

Chính sách cai trị của bọn thực dân đế quốc từ khi chúng xâm lược nước ta (1859) là “chia để trị”, nên chúng thường lợi dụng tôn giáo để chống lại dân tộc, chống lại cách mạng. Thủ đoạn quen thuộc của chúng là mua chuộc một số người cầm đầu trong đạo để lừa bịp tín đồ theo chúng chống lại cách mạng.

Tuy nhiên, đồng bào tín đồ các đạo giáo ở Việt Nam nói chung và Tây Nam Bộ nói riêng vốn có truyền thống yêu nước, chống áp bức, bất công, nên chúng không dễ mua chuộc, dụ dỗ được. Một số người ở một số địa phương, trong thời gian nhất định nào đó, có bị dụ dỗ, lầm lẫn, nhưng theo với thời gian, thực tế kháng chiến của dân tộc và chính sách đại đoàn kết của Đảng Cộng sản, của Chính phủ Cách mạng cũng làm cho bà con nhận ra chính nghĩa mà trở về với hàng ngũ dân tộc.

Ngay trong các vị chức sắc cao cấp của các tôn giáo cũng có nhiều vị ngay từ đầu đã đi theo kháng chiến, giữ những vị trí quan trọng trong chính quyền, mặt trận, đoàn thể…

(1) Lê Minh: Đồng bằng sông Cửu Long, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1984, tr. 16-17.

macbupda:
3. Văn hóa tinh thần

Đặc điểm của người dân Nam Bộ, trong đó có miền Tây là yêu nước nồng nàn, bất khuất, chống áp bức, bất công, trọng nghĩa, khinh tài, khẳng khái, khoáng đạt, thủy chung, yêu chuộng cái mới. Nhà Bác học Lê Quý Đôn còn cho rằng: Cởi mở, bộc trực, chân thật, dễ tin người, hào hiệp và mến khách, năng động và dám làm ăn lớn(1).

Sách Đại Nam Nhất Thống Chí cũng viết: Người Nam Bộ, thói thường, chuộng khí tiết, trọng nghĩa, khinh tài, sĩ phu ham đọc sách. Thường lấy việc mình lí làm đầu, nhưng vụng về lời văn. Nông dân siêng năng, khi khởi công gieo cấy, sau lại ít hay bòn xới gì, cứ để tùy theo Trời mà mùa được hoặc mất. Bá công kĩ nghệ còn thô sơ, đồ dùng thì mộc mạc mà bền. Khách buôn bán lớn đều từ ngoài đến, người địa phương chỉ buôn bán nhỏ, chuyển từ chỗ nhiều đến chỗ ít, giúp vào cuộc sống hằng ngày mà thôi. Đất nhiều sông rạch, ai cũng biết bơi lội. Người đủ 4 phương, mỗi nhà có tập tục riêng(1).

Tình cảm, tâm lí của con người ở đồng bằng sông Cửu Long thường diễn ra hằng ngày, trên mọi mặt hoạt động của xã hội. Đó là:

- Tình cảm kết bạn xóm làng với nhau, thân thiết như người nhà, không phân biết từ đâu đến hay dân tộc nào, chỉ biết sống gần nhau, sớm tối có nhau.

- Tâm lí quý khách, trọng tình nghĩa, trọng học vấn, đùm bọc người cùng địa phương là một nét chung của các dân tộc ở đây.

- Cung cách ứng xử bộc trực, thẳng thắn, dễ dãi, chí tình và những tác phong nóng nảy, không chịu khuất phục trước đàn áp và bất công, tinh thần xả thân bảo vệ người dân và lẽ phải.

Đó là những đặc trưng tâm lí xã hội chung rõ rét của người dân Tây Nam Bộ, bất luận dân tộc nào.

Tuy nhiên, từng khu vực riêng, với những đặc thù về kinh tế, xã hội, tâm lí, tình cảm cụ thể cũng có những điểm riêng. Nông dân vùng rừng và biển, tuy học vấn còn thấp, nhưng nặng nghĩa tình, hết mình vì bạn bè và người tin cậy, dứt khoát với kẻ thù (thà sống bất hợp pháp, không thích sống hợp pháp với quân thù). Nông dân vùng ruộng cũng giống như vùng rừng, biển “ăn đứng, thua nằm”, quyết sống chết với quân thù. Nông dân vườn, học thức, hiểu biết có khá hơn, sinh hoạt như tiểu tư sản thành thị; trong đấu tranh chống địch, khả năng đấu tranh hợp pháp, nửa hợp pháp rất thích hợp.

Văn hóa dân gian

Những truyền thống tốt đẹp đó được giữ vững và phát huy cao, sau khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, biểu hiện nổi nhất trong các cuộc đấu tranh khởi nghĩa chống áp bức, bóc lột trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ.

Những hoạt động văn nghệ ở đây có tác dụng thúc đẩy sản xuất phát triển và vui chơi giải trí lành mạnh trong những ngày thường, nhất là các ngày lễ hội. Văn nghệ dân gian đã sớm phát triển, ngay từ lúc người dân đặt chân lên vùng đất mới. Đó là các điệu dân ca đậm đà bàn sắc Nam Bộ, như hò chèo, ghe, hò xay lúa, hò đối đáp… Các điệu lí, nói thơ Lục Vân Tiên. Người Khơme thì đua ghe ngo, đua bò, thả đèn gió…

Ngoài ra, còn có phong trào đờn ca tài tử trong xóm, ấp. Các loại hình sân khẩu như: hát Dù Kê của người Khơme, hát Tiều, hát Quảng của người Hoa, hát Bội của người Việt đều được nhân dân ưa thích.

Trước đây ở Gia Định thành, có gánh hát bội của Tổng trấn Lê Văn Duyệt. Đến năm 1932, sau khi Lê Văn Duyệt mất, tại Bạc Liêu có gánh hát Bội của bầu An (tức Lê Bình An, 1817 - 1887).

Hát Bội Nam Bội đã một thời làm rạng rỡ các bảng hiệu truyền thống Việt Nam, từ gánh hát bầu Lê Văn Duyệt, rồi bầu An, đến sau này bầu Bòn, bầu Thắng… với những vở hát Bội nổi tiếng, như: Sơn Hậu, Kim Thạch Kì duyên (của Bùi Hữu Nghĩa).

Sau đó, cổ nhạc truyền thống Nam Bộ lại bộc phát một loạt bài bản mới sáng tác, như Sáu Bắc, Bảy Bài, rồi Ba Nam và Bốn Oán rất được ưa thích, không chỉ ở Nam Bộ mà phổ biến trong cả nước.

Nhạc sư Lê Tài Khị (tức Nhạc Khị, 1862-1924) là người Bạc Liêu, con ông Lê Bình An (bầu An). Nhạc Khị là bậc thầy, được giới cổ nhạc tôn là Hậu Tổ của nhạc truyền thống Nam Bộ.

Học trò của Nhạc Khị là:

- Cao Văn Lầu (Sáu Lầu), tác giả “Dạ cổ hoài lang”.

- Mộng Vân (soạn giả nhiều bản cải lương nổi tiếng).

Từ những năm 1910, đờn ca tài tử phát triển nhanh thành phong trào rộng khắp Nam Bộ. Thế là từ ca đến hát, dẫn đến phong trào ca ra bộ (đó là bước quá độ từ biểu diễn âm nhạc, chuyển sang biển diễn sân khấu).

Khoảng năm 1914-1915, ca ra bộ Bùi Kiệm - Nguyệt Nga của tác giả Trương Duy Toản, lần đầu tiên xuất hiện tại Phong Điền (Cần Thơ) rất được ưa thích. Sau đó Trương Duy Toản dựng lên vở hát Lục Vân Tiên (vở cải lương đầu tiên trên sân khấu Thầy Năm Tú - Mĩ Tho năm 1971(3)).

Cùng lúc đó, tại Thốt Nốt (nay thuộc thành phố Cần Thơ, từ một nhóm tài tử ở làng Trung Nhất (thị trấn Thốt Nốt) đờn hát rất hay, có năng khiếu biểu diễn (ca ra bộ) được nhiều người mến mộ, như: Trần Ngọc Đảnh, Tư Bền, Song Hỉ… Trong đó có Huỳnh Năng Nhiêu (kép Bảy Nhiêu) là một trong số những ngôi sao cải lương góp phần cùng Ba Vân, Năm Châu, Tư Trang, Phùng Hà… đưa nghệ thuật sân khẩu cải lương từ buổi non trẻ vào thời kì hưng thịnh.

Từ đó, ông Vương Có (trưởng nam của ông Vương Thiệu, chủ hãng rượu) thích văn nghệ, ca hát tài tử, bỏ tiền ra mua sắm y trang, vẽ cảnh trí, mua nhạc cụ, lập đoàn hát cải lương “Tập ích ban”. Vở diễn đầu tiên ra mắt khán giá tại rạp (thị trấn Thốt Nốt) là “Tình duyên phấn lục” (năm 1916). Tiếp theo hai kịch bản “Cô gái gia huê” (Javet) và “Tình duyên trắc trở” của soạn giả kiêm thầy tuồng Nguyễn Trọng Quyền, bút danh Mộc Quán(4).

Những năm tiếp theo các ban hát lớn tiếp tục ra đời như: Trần Đắc (1930), Hữu Thành, Phước Cương… Ban ca kịch Dân Nam và ban Đồng Tâm đều ở Cần Thơ.

Riêng đại ban Trần Đắc của ông Trần Đắc Nghĩa ở Cân Thơ, thu hút hầu hết đào kép có tên tuổi như: Phùng Há, Tư Chơi, Bảy Nhiêu, Năm Châu… nên biểu diễn được khán giả hoan nghênh, đi trình diễn từ Nam chí Bắc(5).

(1) Nguyễn Công Bình - Lê Xuân Diêm - Mạc Đường: Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994.
(2) Đại Nam nhất thống chí, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1969, t.II, tr.73.
(3) Trương Bỉnh Tông: Đôi nét về lịch sử văn học nghệ thuật Tây Nam Bộ, năm 1913.
(4) Soạn giả Mộc Quán (Nguyễn Trọng Quyền), sinh năm 1876, tại Trung Nhất (Thốt Nốt), làm thư kí hãng rượu của ông Vương Thiệu (cha của Vương Cổ) có Tây Học, Hán Học, ông viết truyện và làm thơ.
Ông sáng tác gần 80 kịch bản cải lương cho các đại ban như: Tập ích ban, Huỳnh Kì, Phụng Hỏa, Tân Tân… Phần lớn kịch bản này được thâu vào đĩa hát. Có vở đã trở thành mẫu mực (cổ điển), dùng để dạy ở các trường nghệ thuật Trung ương, như: Phụng Nghi Đình (1939), Những vai mẫu trong Phụng Nghi Đình đã gắn liền tên tuổi các nghệ sĩ lừng danh của sân khấu cải lương gần ngót một thế kỉ qua, như Phùng Há, út Trà Ôn, Bạch Tuyết, Thanh Nga, Ngọc Giàu…
(5) Ngô Hồng Khanh: Văn hóa nghệ thuật tỉnh Cần Thơ (Huỳnh Minh: Cần Thơ xưa và nay, Cánh Bằng, 1966).

macbupda:
Trí thức và văn hóa trí thức

Cùng với văn hóa dân gian, Tây Nam Bộ đã sớm hình thành một nền văn hóa trí thức đặc sắc.

Những sĩ phu yêu nước sống ở vùng đất mới, đã gắn bỏ chặt chẽ với nhân dân, góp phần tích cực vào sự hình thành tính năng động, sáng tạo của của chủ nhân vùng khai hoang và tạo động lực mạnh mẽ, thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng xã hội ở vùng này. Trong các cuộc đấu tranh chống áp bức của phong kiến, đế quốc, sô trí thức yêu nước luôn sát cánh với nhân dân ở mặt trận vũ trang cũng như chính trị, như: Phan Thanh Giản, Bùi Hữu Nghĩa, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, Huỳnh Mẫn Đạt, Nguyễn Thông, Lê Quang Chiểu, Nguyễn Thần Hiến, v.v…

Khi Pháp xâm chiếm Nam Kì, chúng đào tạo đội ngũ trí thức Tây học để phục vụ cho bộ máy cai trị thực dân. Nhưng nề văn hóa Việt Nam tiếp thụ tinh hoa văn hóa châu Âu càng giúp số đông trí thức Việt Nam khẳng định con đường yêu nước, giải phóng dân tộc và giai cấp của mình. Nhiều trí thức, sau tốt nghiệp (cả ở Pháp) không làm việc trong bộ máy cai trị, mà làm nghề tự do.

Qua các cuộc đấu tranh, khởi nghĩa, đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ, đông đảo trí thức tham gia, trong đó có nhiều trí thức danh tiếng, có những đóng góp to lớn cho kháng chiến như: Phạm Văn Bạch, Nguyễn Văn Hưởng, Phạm Ngọc Thạch, Hoàng Xuân Nhị, Ngô Tấn Nhơn…

Ở miền Tây có “Tao Đàn Chiêu Anh Các” do Mạc Thiên Tứ sáng lập từ năm 1736 đến 1771 (35 năm) ở Hà Tiên, để lại nhiều tác phẩm rất tốt, mà nhà bác học Lê Quý Đôn đã đánh giá trong Phủ Biên Tạp Lục: “Không thể bảo bằng ở hải ngoại xa xôi, không có văn chương vậy”.

Tỉnh Cần Thơ có trường Bà Đồ, do bà Nguyễn Thị Nguyệt, bút danh “Hằng Nga nữ sĩ” nối nghiệp cha anh mở lớp dạy học, quy tụ nhiều nhà thơ yêu nước, có tên tuổi: Thủ khoa Nghĩa, Cử Trị, Huỳnh Mẫn Đạt, Nguyễn Thông, Lê Quang Chiểu… để bàn luận thi phú và tình hình đất nước, mà nhân dân thường gọi là Tao Đàn “Bà Đồ” từ năm 1833 đến 1910.

Ở Vĩnh Long, Văn Thánh Miếu thành lập năm 1862, có 2 bộ phận: Một bộ phận thờ Khổng Tử và các Thánh hiền, một lầu thờ các vị Văn Xương, cụ Võ Trường Toản, Phan Thanh Giản, Nguyễn Thông, đồng thời là nơi dạy học, đọc sách, ngâm thơ, hội họp… Tháng 10-1914, được trùng tu, đổi tên Văn Xương Các.

Phan Thanh Giản, đậu cử nhân ở trường thi Gia Định, ra Huế thi Hội, là người Nam Bộ đầu tiên thi đậu tiến sĩ.

Bùi Hữu Nghĩa (1807-1872), sinh tại xã Long Tuyền, Cẩn Thơ, năm 1835 thi hương ở Gia Định đậu thủ khao, được bổ nhiệm tri huyện phủ Trà Vang (Trà Vinh), trong một vụ xử kiện giải quyết quyền lợi chính đáng cho đồng bào Khơme ở Láng Thé (Trà Vinh). Người Khơme phá đập rọ của người Hoa, cuộc xô xát xảy ra, 7 - 8 người Hoa bị giết. Bọn cầm quyền ở tỉnh Vĩnh Long gửi về Gia Định, rồi sớ về triều (vua Tự Đức), tố cáo ông tự tiện giết người.

Bà Nguyễn Thị Tồn, vợ của Thủ khoa Nghĩa, đi ra Huế kêu oan. Nhờ sự giúp đỡ tận tình của Lại bộ Thượng thư Phan Thanh Giản, bà Tồn vào đến vua nổi 3 hồi trống, dâng đơn kêu oan. Vua Tự Đức thu đơn giao cho Bộ hình thẩm xét. Bộ hình tuyên án “tha cho Bùi Hữu Nghĩa khỏi tử hình, song phải quân tiền hiệu lực đoái công chuộc tội”. Bà Từ Dũ Thái hậu (mẹ vua Tự Đức) kêu bà Tồn vào cung, tỏ lời khen và ban cho tấm biển 4 chữ vàng “Liệt phụ khả phong”.

Sau đó ông Bùi Hữu Nghĩa xin hồi hưu, trở về Bình Thủy, Cần Thơ mở trường dạy học, ông mất ngày 21-1 năm Nhân Dầm (1872), thọ 65 tuổi.

Thủ khoa Nghĩa là một nhà thơ, văn nổi tiếng ở miền Nam lúc đó (trước Nguyễn Đình Chiểu và Phan Văn Trị). Cụ được liệt vào một trong bốn rồng vàng ở Nam Bộ.

“Đồng Nai có bốn rồng vàng
Lộc họa, Lễ phú, Sang đàn, Nghĩa thi”

Ông sáng tác nhiều thơ nôm và tuồng hát (hát bội), trong đó nổi bật là vở tuồng hát bội “Kim Thạch Kì Duyên”.

Ông Phan Văn Trị, tức Cử Trị (1830-1910), sinh ở Ba Tri, Bến Tre, đậu cử nhân năm 1840. Ông là một nhà thơ, nhà giáo, thầy thuốc, là nhà yêu nước. Đặc biệt về thơ, ông nổi tiếng với 10 bài họa thơ Tôn Thọ Tường. Ông nói thẳng: “Đừng mượn oai hùm rung nhát khỉ. Lòng ta sắt đá há lung lay”… Đậu cử nhân nhưng ông không ra làm quan, sống bằng nghề làm thuốc và dạy học.

Khi giặc Pháp chiếm Gia Định, ông xuống Vĩnh Long cùng một số sĩ phu yêu nước: Đồ Chiểu, Thủ khoa Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt đề ra phong trào “tị địa” bất hợp tác với Pháp, cực lực đả kích những kẻ xu thời. Khi 3 tỉnh miền Tây lọt vào tay Pháp (1867), ông về xã Phong Điền (nay là xã Nhân Ái, Cần Thơ) dùng ngòi bút đả kích quân xâm lược và bè lũ tay sai. Ông đề cao gương anh hùng, chống ngoại xâm, ông đau lòng trước cảnh nước mất, nhà tan, nhưng vẫn tin vào tương lai của Tổ quốc, vào tinh thần bất khuất của dân tộc. Ông mất năm 1910, tại xã Nhân Ái (Cần Thơ).

Nguyễn Thần Hiến (1857-1914), con của cụ Nguyễn Như Ngươn (làm quan cùng thời cụ Phan Thanh Giản, sau khi cụ Phan tử tiết, cụ Ngươn từ chức tại Vĩnh Long, về quê Hà Tiên). Ông Nguyễn Thần Hiến (tự Nguyễn Như Khuê) làm Hội đồng địa hạt tỉnh Hà Tiên. Năm 1902, ông dời về Cần Thơ và xin từ chức để lo việc cứu nước. Ông từng gặp cụ Phan Bội Châu ở Sa Đéc và tại Nam Nhà Đường (Bình Thủy, Cần Thơ) từng đi Trung Hoa, Nhật, Thái Lan để vận động cứu nước. Cụ Hiến đã cùng ông Nguyễn Văn Thưởng, Võ Văn Thơm, lập “Khuyến dụ học hội” tại Cần Thơ, đem tài sản góp vào quỹ “du học sinh” và đã đưa nhiều học sinh sang Trung Quốc, Nhật, Pháp học.

Năm 1913, cụ Hiến từ Hương Cảng chở vũ khí về nước, bị địch bắt giam tại nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội). Cụ tuyệt thực để phản đối đế quốc Pháp và hi sinh trong tù ngày 26-1-1914.

Chùa Nam Nhà Đường ở Bình Thủy, Cần Thơ, do học sinh của cụ Bùi Hữu Nghĩa là ông Nguyễn Giác Nguyên xây dựng và thờ cụ Bùi Hữu Nghĩa tại đây cùng những người yêu nước khác. Chùa này từng nuôi, chứa nhiều nhà yêu nước, như: Phan Bội Châu, Nguyễn Thần Hiến, Ngô Gia Tự, Châu Văn Liêm…

macbupda:
4. Tín ngưỡng và tôn giáo

Người Việt Nam trọng lễ nghĩa, ân nghĩa giữ phần quan trọng. Nên người Việt Nam thờ trời, đất, Phật, các thần linh, các anh hùng dân tộc, thờ tổ tiên, ông bà, cha mẹ và những vị đem lại lợi ích cho Tổ quốc, cho quê hương, và cho gia đình mình. Chúng ta thấy ngoài thò tổ tiên, ông bà, cha mẹ còn thờ Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trung Trực… thờ bà Cửu Thiên Huyền Nữ, ông Địa, ông Táo, ông Thần Tái và cả ông Quan Công… Đặc biệt trong kháng chiến, nhiều đám giỗ, cúng cơm, có thêm một mâm để cúng chiến sĩ trận vong.

Đây không phải đạo Ông Bà và việc thờ cúng này không kể là tôn giáo, vì không có giáo chủ, không có giáo điều… Và trong khi thờ phụng Tổ tiên, người Việt Nam vẫn theo một hay hai đạo. Nhưng đã theo đạo nào (cả Công giáo và Tin Lành) đồng bào ta vẫn thờ ông bà, trời, Phật… Đồng bào Tây Nam Bộ cũng nằm trong tình hình này.

Sống ở vùng đất hoang vu, đầm lầy, mới khai mở, nhất là vùng có núi non kì vĩ, như Thất Sơn (còn gọi là Bảy Núi) ở Long Xuyên, Châu Đốc, trước nhiều cảnh đời gian khổ, éo le, bị áp bức, bóc lột, đồng bào ta thường gửi gắm tâm linh của mình, ở Trời, Phật, Thần thánh, nên tìm đến đạo giáo, tín ngưỡng…

Ở Tây Nam Bộ có khá đông đồng bào tôn giáo: Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo… Riêng đồng bào Chăm theo đạo Hồi giáo…

Navigation

[0] Message Index

[#] Next page

[*] Previous page