Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 13 Tháng Mười Một, 2018, 07:14:35 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Tây Nam Bộ kháng chiến, Tập 1 (1945-1954)  (Đọc 85108 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8015


Lính của PTL


« Trả lời #20 vào lúc: 06 Tháng Bảy, 2012, 09:33:47 AM »

2. Những hoạt động đầu tiên của chính quyền cách mạng

Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ các cấp, chính quyền cách mạng bắt tay thực hiện nhiều công việc trên mọi lĩnh vực: Chính trị, xã hội, văn hóa, kinh tế…

Cứu đói, đẩy mạnh sản xuất

Mặc dù miền Tây Nam Bộ thường được xem là “vựa lúa” của cả nước, nhưng chính sách vơ vét và bóc lột của thực dân Pháp và phát xít Nhật khiến sức dân cùng kiệt, phần lớn nhân dân lao động ở thành thị cũng như ở nông thôn chịu cảnh bữa rau, bữa cháo qua ngày.

Vì vậy, một trong những việc đầu tiên của chính quyền cách mạng các tỉnh là tịch thu các kho lúa trong các đồn điền của thực dân Pháp trước kia, kho lúa của Nhật lập ra ở Sóc Trăng và vận động các điền chủ, các người giàu có để cấp gạo cứu trợ cho những hộ đang thiếu đói(1). Các tỉnh miền Tây còn gửi gạo ra Bắc bộ và Bắc Trung Bộ để tham gia khắc phục hậu quả khủng khiếp ở ngoài ấy(2). Riêng ở Sóc Trăng có kho thóc do Nhật tập trung, chính quyền cách mạng đã phá kho phân phát cho người nghèo, thiếu ăn.

Trải qua 6 năm Chiến tranh thế giới thứ hai, giao thương bị gián đoạn, hàng hóa khan hiếm, nhất là nhu yếu phẩm, thuốc trị bệnh, vải vóc, dầu lửa, xà bông… Nhiều nơi, dân chúng phải dùng đệm bàng, cà ròn, bao bố để thay quần áo, dùng nóp(3) thay mùng, dùng dầu dừa, dầu mù u, dầu cá để thắp sáng.

Để giải quyết từng bước tình trạng thiếu thốn nói trên, chính quyền và các đoàn thể vận động và tổ chức cho nhân dân đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp.

Đặc biệt, để giúp đỡ nông dân nghèo, chiếm đa số dân cư ở thôn quê Tây Nam Bộ, chính quyền vận động các điền chủ giảm tô 25%(4), giảm nợ hay hoãn nợ cho nông dân nghèo, cho họ vay vốn và mượn lúa giống để canh tác. Chính quyền còn tạm cho nông dân thiếu ruộng đất được trồng trọt trên các đồn điền của thực dân Pháp trước đây hoặc trên những đất bị bỏ hoang. Tại Miền Tây, nông dân mặc nhiên làm chủ ruộng đất, không đóng tô cho địa chủ, chỉ có một vài địa chủ nhỏ vào xin nông dân một số giạ lúa để sống.

Thực hiện chủ trương của Chính phủ Trung ương, ba thứ thuế của chế độ cũ, gồm thuế thân, thuế chợ, thuế đò, bị bãi bỏ hoàn toàn(5).

Đón tù chính trị ở Côn Đảo

Sau ngày cách mạng thành công, Xứ ủy và Ủy ban Nam Bộ gửi tàu “Phú Quốc” và đoàn ghe 22 chiếc ra Côn Đảo đón tù chính trị về đất liền.

Chiều 23-9-1945, tàu chở Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn, Phạm Hùng, cùng nhiều nhà cách mạng và yêu nước khác cấp bến Đại Ngãi (Sóc Trăng). Sáng hôm sau, một cuộc đón tiếp trọng thể được tổ chức tại thường xuyên Sóc Trăng. Những ngày sau đó, nhiều ghe biển lần lượt đưa hơn một ngàn cựu tù chính trị về an toàn. Chỉ một số ít về quê ở Bắc Bộ và Trung Bộ, hầu hết tự nguyện ở lại Nam Bộ công tác. Đây là nguồn cán bộ quý báu tăng cường cho lực lượng kháng chiến ở Nam Bộ. Tổng số tù chính trị ở Côn đảo về khoảng 2.000 người (về Sóc Trăng 1.800 người, về Cần Thơ (chuyến sau 200 người)(6).

Hưởng ứng “Quỹ độc lập” và “Tuần lễ vàng”

Ngày 4-9-1945, Chính phủ Trung ương lập “Quỹ độc lập” để chi dùng cho công việc xây dựng và bảo vệ đất nước. Trong “Tuần lễ vàng” từ ngày 17 đến ngày 24-9-1945, nhân dân miền Tây Nam Bộ cùng đồng bào cả nước hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hăng hái đóng góp nữ trang, đồ gia bảo…, ai không có vàng thì đóng góp tiền. Cuối đợt vận động, miền Tây Nam Bộ đã gửi ra Trung ương 2.500 lượng vàng và 20.000 đồng (tiền Đông Dương ngân hàng). Ngoài ra, với sự đồng ý của Trung ương, miền Tây Nam Bộ dành 25 kg vàng để mua vũ khí tại Thái Lan.



Nhân dân Nam Bộ tổ chức rước vàng đóng góp vào Quỹ Độc lập

Sau “Tuần lễ vàng”, nhân dân Tây Nam Bộ lại nhiệt tình góp hàng chục tấn đồng, thau, chì… để chế tạo súng đạn đánh giặc ngoại xâm.


(1) Tỉnh Cần Thơ xuất 5 vạn giá lúa, tỉnh Sóc Trăng xuất hàng trăm giạ lúa, v.v. để cứu đói.
(2) Việc gửi gạo ra Trung và Bắc bộ chỉ thực hiện trong vòng hơn một tháng, đến tháng 9, Pháp gây chiến ở Nam Bộ thì công việc này bị tắc nghẽn. Tính trong thời gian hơn một tháng, số gạo gửi ra Bắc qua đường sắt là 30.000 tấn và đường thủy là 16.000 tấn.
(3) Nóp là túi làm bằng sợi cây bàng (giống như loại lác ở miền Bắc), may lại hai đầu (trên và dưới), để ngủ thay mùng.
(4) Công báo 1945, số 10, tr. 86. Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.4, tr. 262 (Chủ trương giảm địa tô 25% là chủ trương chung của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ ngày 13 tháng 11 năm 1945, Chính phủ có Thông tư về việc vận động giảm địa tô 25% trên cả nước. Cũng ngày đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi “Giảm địa tô 25% đã công bình, lợi cho cả điền chủ và nông dân, không có lẽ gì mà sinh mối chia rẽ”).
(5) Sắc lệnh số 11 ngày 07-9-1945, quyết định bãi bỏ những thứ thuế vô lí của chế độ thực dân cũ. Công báo số 1 năm 1945.
(6) Ông Bùi Công Trừng trong Hồi kí của mình đã kể lại câu chuyện mở cửa nhà tù và mở các lớp học: “Khi mới cướp chính quyền, việc đầu tiên là thả tù chính trị. Tất cả các nhà lao trong đất liền đều mở cửa. Chính phủ cách mạng cũng ân xá cho tất cả thường phạm. Duy còn Côn Đảo ở xa, chúng tôi phải trưng dụng tàu để ra đó rước anh em về. Anh Nguyễn Công Trung và anh Đào Duy Kì được chỉ định phụ trách việc đưa tù Côn Đảo về. Chị Nguyễn An Ninh (vợ nhà cách mạng Nguyễn An Ninh) thì làm nhiệm vụ đi quyên tiền trong bà con Sài Gòn giúp đỡ tù chính trị… Anh Tưởng Dâu Bảo được giao nhiệm vụ đi trưng thu gần 40 chiếc thuyền mới đủ để chở 4.300 tù từ Côn Đảo về. Chỉ tính riêng số tù chính trị ở Côn Đảo cũng đã có 2.300 người. Bên ngoài còn có 1.500 đảng viên đang hoạt động ở Nam Kì lúc đó. Đây thực là một lực lượng khá lớn. Ngoài ra những anh em thường phạm cũng đã có nhiều người giác ngộ chính trị. Họ cũng đóng góp được rất nhiều việc. Sau khi đưa anh em tù Côn đảo về, chúng tội họp Xứ ủy. Lúc này, tôi thấy vấn đề đào tạo cán bộ và in các tài liệu giáo dục là rất cần thiết. Do đó anh em đã cử anh Lê Duẩn thay tôi sắp xếp công việc của anh em tù Côn Đảo. Còn tôi về Ô Môn tổ chức các cơ quan huấn luyện …” (Hồi kí Bùi Công Trừng: Đi lâu mới biết đường dài, Lưu trữ gia đình Bùi Công Trừng, tr. 54-55).
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8015


Lính của PTL


« Trả lời #21 vào lúc: 06 Tháng Bảy, 2012, 09:36:29 AM »

Tổ chức bầu cử Quốc hội (khóa I)

Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ Trung ương ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị: “Tổ chức càng sớm càng hay cuộc TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử”(1) bầu ra Quốc hội để soạn thảo Hiến pháp và cử ra Chính phủ chính thức.

Do Lư Hán(2) và những người cầm đầu các tổ chức phản động Việt Minh Cách mạng Đồng minh hội (Việt Cách) và Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc) cản trở, ngày bầu cử phải hoãn đến ngày 6-1-1946. Riêng 2 tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng được Trung ương cho phép tổ chức bầu cử sớm vào ngày 25-12-1945, vì lí do chiến sự.

Đây là cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên trong lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc Việt Nam, thể hiện quyền làm chủ thiêng liêng của mọi người dân. Riêng đối với nhân dân Tây Nam Bộ, đây còn là dịp thể hiện quyết tâm bảo vệ độc lập và thống nhất chống lại âm mưu xâm lược và chia cắt đất nước của thực dân. Vì vậy, cử tri Nam Bộ hăng hái đi bầu, kể cả những nơi có chiến sự(3).

Tỉ lệ người đi bỏ phiếu rất cao: 90,77% ở Bạc Liêu, 93,54% ở Sa Đéc…(4). Chín tỉnh miền Tây Nam Bộ bầu 30 đại biểu (trong tổng số 333 đại biểu) vào Quốc hội khóa I, trong số đó có nhiều nhà cách mạng (như Dương Quang Đông, Nguyễn Văn Tạo, Ung Văn Khiêm, Nguyễn Văn Kỉnh…), các trí thức yêu nước (bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng, luật sư Trần Công Tường, kĩ sư Nguyễn Ngọc Bích…), có đại biểu của phụ nữ (Ngô Thị Huệ), của tôn giáo (Cao Triều Phát), của dân tộc thiểu số (Kim Chourou)…

Đối phó với thù trong, giặc ngoài

Tây Nam Bộ là nơi phát tích của giáo phái Hòa Hảo. Đa số tín đồ là những người dân hiền hòa, yêu nước. Thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân, Ủy ban nhân dân Nam Bộ mời người sáng lập giáo phái này ông giáo chủ Huỳnh Phú Sổ giữ chức ủy viên đặc biệt của Ủy ban.

Tuy nhiên, một số phần tử có nhiều tham vọng về quyền hành đã lợi dụng danh nghĩa của giáo phái đòi giao những tỉnh có đông tín đồ (như Cần Thơ, Long Xuyên, Châu Đốc) cho họ cai quản. Khi yêu sách phi lí này không được đáp ứng, họ 2 lần tổ chức biểu tình tuần hành, kéo vào thị xã Long Xuyên (cuối tháng 8-1945) và thị xã Châu Đốc (đầu tháng 9-1945) định gây bạo loạn. Lực lượng vũ trang cách mạng được huy động đến kịp thời giải tán.

Ngày 9-9-1945, họ lại tổ chức tuần hành ở thị xã Cần Thơ, nói dối với tín đồ là “đi rước Đức Thầy”, thực chất là dự định cướp chính quyền. Được nhân dân cấp báo, chính quyền tỉnh Cần Thơ phá tan âm mưu phản động này, bắt những người cầm đầu, đưa ra tòa xét xử và kết án tử hình 3 tên. Đối với tín đồ, chính quyền giải thích âm mưu của kẻ xấu, khuyên họ trở về nhà tiếp tục làm ăn, không để bị lợi dụng.

Theo nghị quyết của Hội nghị các cường quốc ở Postdam (Đức), Anh đưa quân vào miền Nam Đông Dương (từ vĩ tuyến 16 trở vào) để giải giới và hồi hương hàng quân Nhật. Nhưng, thiếu tướng Anh Douglas Gracey (lúc đó còn ở Kandy trên đảo quốc Ceylan) ra lệnh cho quân Nhật từ Campuchia sang Nam Bộ để “giữ gìn an ninh trật tự”, thực chất là để giúp Anh - Pháp chống lại chính quyền cách mạng Việt Nam. Quân Nhật vượt biên giới, chiếm đóng một số nơi ở thị xã Châu Đốc, quận Tân Châu (tỉnh Châu Đốc) và quận Chợ Mới (tỉnh Long Xuyên).

Liên tỉnh ủy Hậu Giang điều động lực lượng vũ trang các tỉnh Trà Vinh, Sa Đéc, Rạch Giá đến tăng cường cho bộ đội Châu Đốc và Long Xuyên.

Ngày 12-9-1945, quân ta bao vây một trung đội quân Nhật đóng trong nhà thờ Cù Lao Giêng (xã Tân Mĩ, quận Chợ Mới), kêu gọi đầu hàng. Quân ta đông, nhưng vũ khí ít và thô sơ), nên quân Nhật không chịu ra hàng, từ bên trong bắn ra quyết liệt. Đêm hôm sau 13-9, quân ta đốt rơm rạ có tẩm bột ớt, bột tiêu rồi quạt vào nơi quân Nhật đóng. Trong khi đó, hàng ngàn người dân làng Tâm Mĩ đốt pháo, đánh chiêng trống, la ó vang trời để uy hiếp tinh thần địch. Đến 3 giờ sáng ngày 14-9, cả trung đội quân Nhật giương cờ trắng đầu hàng. Ta bắt sống 20 lính Nhật, thu 2 trung liên, 1 súng cối 60 li, 30 súng trường, tiểu liên, súng phóng lựu.

Quân Nhật ở Tân Châu và thị xã Châu Đốc bị ta bao vây nhiều ngày, đồ tiếp tế cạn dần, nên đến đầu tháng 10 rút trở lại sang Campuchia.

Ngoài ra, còn một số quân Nhật chiếm giữ các kho lương thực ở thị xã Rạch Giá và Tô Châu (Hà Tiên). Ta yêu cầu họ nộp vũ khí và giao các kho cho ta. Quân Nhật ở Tô Châu đồng ý, nhưng quân ở thị xã Rạch Giá không chịu, trả lời rằng phải đợi quân Đồng Minh đến mới bàn giao. Ta dùng mưu, bắt sống 20 lính Nhật, sau đó tập kích diệt 7 lính còn lại, thu 1 trung liên và 23 súng các loại.

Tuy nhiên, “giặc ngoài” nguy hiểm nhất lúc này là thực dân Pháp đang lăm le xâm lược nước ta lần nữa.


(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.4, tr.8.
(2) Tướng chỉ huy quân Trung Hoa Dân quốc vào miền Bắc Đông Dương để giải giới và hồi hương hàng quân Nhật theo Nghị quyết Hội nghị Postdam.
(3) Báo Sự thật (Hà Nội), ngày 20-1-1946 đưa tin: “Ở làng Đông Thành (quận Trà Ôn, Cần Thơ), có 2.188 cử tri. Buổi sáng, máy bay địch đến đánh phá, đến chiều vẫn có tới 1.827 người đi bỏ phiếu”.
“Ở làng Thành Mĩ Hưng (Cần Thơ), có 4.288 cử tri. Bất chấp địch đánh phá, vẫn có 4.209 người đi bỏ phiếu”.
(4) Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946-1960, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr. 51-52.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8015


Lính của PTL


« Trả lời #22 vào lúc: 06 Tháng Bảy, 2012, 09:39:59 AM »

II. ĐỐI PHÓ VỚI ÂM MƯU TÁI CHIẾM NƯỚC TA CỦA THỰC DÂN PHÁP

1. Thực dân Pháp âm mưu tái chiếm nước ta

Tháng 6-1940, Đức quốc xã mở cuộc tấn công nước Pháp, Chính phủ Pháp nhanh chóng đầu hàng. Phần lớn lãnh thổ Pháp bị quân đội Hitler chiếm đóng. Tướng De Gaulle phải chạy sang châu Phi lập Chính phủ lưu vong. Lợi dụng thời cơ ấy, phát xít Nhật xua quân vào Đông Dương. Tuy vẫn duy trì bộ máy hành chính và quân sự của Pháp, nhưng Nhật đã trở thành người chủ thực sự của Đông Dương.

Trong hoàn cảnh như thế, tướng De Gaulle vẫn nuôi tham vọng chiếm lại 3 nước Đông Dương (Việt Nam, Lào và Campuchia) làm thuộc địa.

Sau khi nước Pháp thoát khỏi ách chiếm đóng của Hitler, Chính phủ lâm thời chuyển về Paris, tướng De Gaulle càng đẩy mạnh việc chuẩn bị trở lại Đông Dương.

Ngày 9-3-1945, Nhật tiến hành đảo chính, xóa bỏ hoàn toàn bộ máy cai trị của Pháp ở Đông Dương. Thế nhưng, nửa tháng sau, ngay 24-3-1945, De Gaulle vẫn đưa bản tuyên bố, theo đó Đông dương tiếp tục thuộc chủ quyền của Pháp, gồm 5 xứ (Bắc Kì, Trung Kì, Nam Kì, Lào, Campuchia), được ban cho một ít quyền tự trị. Như thế, Việt Nam sẽ không được độc lập hoàn toàn và vẫn bị chia cắt làm 3 miền.

Hay tin Nhật đầu hàng Đồng Minh (ngày 15-8-1945), De Gaulle vội vàng cử đại tướng Leclerc làm Tổng chỉ huy đạo quân viễn chinh Pháp ở Viễn Đông (ngày 16-8-1945) và đô đốc D’Argenlieu làm Cao ủy Pháp tại Đông Dương (ngày 17-8-1945), kèm theo chỉ thị “Sứ mệnh hàng đầu là lập lại chủ quyền của Pháp trên các lãnh thổ của Liên bang Đông Dương”(1).

Để thực hiện tham vọng ấy, Pháp phải giành cho được sự ủng hộ và giúp đỡ của Mĩ, siêu cường đứng đầu phe đế quốc tư bản chủ nghĩa. Do đó, ngày 22-8-1945, De Gaulle bay sang Washington.

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Mặt trận Việt Minh đứng trong phe Đồng minh chống phát xít. Đối với Mĩ, “Hồ Chí Minh, với bí danh Licius, đã cung cấp cho tổ chức tình báo OSS của Mĩ nhiều tin tức tình báo về lực lượng của Nhật (ở Đông Dương), các du kích quân của Hồ Chí Minh đã cứu thoát 17 phi công Mĩ bị (Nhật) bắn hạ”(2).

Khi chủ nghĩa phát xít đã bị đánh bại, Mĩ tiến hành cuộc “chiến tranh lạnh” chống hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới. Một mặt, Mĩ cho rằng “một chính phủ ở Đông Dương bị Việt Minh thống trị có thể có hại cho quyền lợi của Mĩ”(3). Mặt khác, Mĩ đang tìm cách lôi kéo Pháp về phe với mình để chống lại các nước xã hội chủ nghĩa ở châu Âu. Vì vậy, khi tiếp De Gaulle ngày 24-8-1945 tại Nhà Trắng, Tổng thốn Mĩ Harry S. Truman hứa: “Trong mọi trường hợp đối với Đông Dương, chính phủ của tôi không chống lại việc chính quyền và quân đội Pháp quay trở lại xứ ấy”(4). Truman còn cho Pháp vay dài hạn 650 triệu đô la, viện trợ nhiều súng đạn và cho mượn tàu chở quân Pháp sang tái chiếm Đông Dương.

Ngoài Mĩ, Pháp còn cần cả Anh nữa, vì Anh vừa được Hội nghị các cường quốc ở Potsdam (từ ngày 17-7 đến ngày 2-8-1945), giao cho nhiệm vụ giải giới và hồi hương quân Nhật ở phía Nam Đông Dương (từ vĩ tuyến 16 trở vào).



Ngày 1-2-1946 tại Sài Gòn, viên đô đốc Hải quân Nhật
kí văn bản đầu hàng trước quân Anh




Tại cảng Sài Gòn, hàng binh Nhật bắt đầu lên tàu về nước

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, các thuộc địa của Anh ở Đông Nam Á bị Nhật chiếm đóng. Do đó, Anh chủ trương “giữ nguyên trạng như trước chiến tranh”: Thuộc địa của đế quốc nào trả lại cho đế quốc đó. Vì vậy, ngày 24-8-1945, Anh kí với Pháp Hiệp ước công nhận “chủ quyền” của Pháp ở Đông Dương. Thiếu tướng Douglas Gracey, chỉ huy quân Anh ở miền Nam Đông Dương, tuyên bố: “Việc Pháp kiểm soát (Đông Dương) về dân sự lẫn quân sự chỉ là vấn đề thời gian trong vài tuần lễ mà thôi”(5).

Ban Thường vụ Trung ương Đảng nhận định: “Mục đích của Anh, Mĩ là kéo thực dân Pháp bao vây Liên Xô và ngăn ngừa cách mạng thuộc địa, giao thực dân Pháp và Hà Lan nhiệm vụ canh giữ Đông Dương và Nam Dương (tức Indonesia ngày nay) để cho Anh - Mĩ rảnh tay một phần nào hòng ngăn ngừa sức bành trướng của Liên Xô”(6).

Vì vậy, trong lễ mừng Độc lập tổ chức ở Sài Gòn ngày 2-9-1945, Bí thư Xứ ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban Hành chính lâm thời Nam Bộ Trần Văn Giàu đã cảnh báo đồng bào Nam Bộ: “Mừng thắng lợi (của Cách mạng Tháng Tám) nhưng đồng bào chớ say sưa vì thắng lợi. Không khéo lo, nước ta, dân ta có thể bị tròng lại vòng nô lệ”(7).


(1) Philippe Devilliers Paris - Saigon - Hanoi, Nxb Gallimard Jullard, Paris, 1968, tr.87.
(2) Tuần báo Time (Mĩ), số ra ngày 12-9-1969, tr.22.
(3) Gary Hes: The United States Emergene as a Southeast Asian Power 1940 – 1950, Columbia University Press, New York, 1987, tr.207.
(4) Charles de Gaulle: Mémoires de guerre, Nxb Plon, Paris, 1953, t. III, tr. 249-250.
(5) Stanley Karrow: Việt Nam, a History, Nxb Penguin Books, New York, 1987, tr. 148.
(6) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.8, tr.41.
(7) Trần Tấn Quốc: Sài Gòn September 1945, Báo Việt Thành xuất bản, Sài Gòn, 1947, tr.8-9.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8015


Lính của PTL


« Trả lời #23 vào lúc: 11 Tháng Bảy, 2012, 06:42:36 AM »

2. Nam Bộ kháng chiến bùng nổ ở Sài Gòn

Tuy Hội nghị Potsdam chỉ giao cho Anh nhiệm vụ giải giới và hồi hương quân Nhật ở miền Nam Đông Dương, thiếu tướng Gracey khi đến Sài Gòn đưa ra hàng loạt biện pháp, nhằm giúp Pháp tái chiếm Nam Bộ, như thả 1.400 lính Pháp (bị Nhật bắt giam tại Sài Gòn từ ngày đảo chính 9-3-1945), trang bị súng đạn cho số lính này và các kiều dân Pháp ở Sài Gòn. Mặt khác, Anh cho lính Pháp mặc quân phục Anh, trà trộn vào đội hình quân Anh tới Sài Gòn.

Lợi dụng lệnh giới nghiêm và thiết quân luật của Gracey, ủy viên Cộng hòa Pháp ở Nam Bộ là đại tá Cédille ra lệnh cho quân Pháp nổ súng vào trụ sở Ủy ban nhân dân Nam Bộ, Quốc gia tự vệ Cuộc Nam Bộ, nhà dây thép, kho bạc, đài phát thanh… ở Sài Gòn trong đêm 22 rạng ngày 23-9-1945.

Ngay lập tức, Xứ ủy, Ủy ban nhân dân và Ủy ban kháng chiến Nam Bộ họp liên tịch, với sự có mặt của đồng chí Hoàng Quốc Việt, quyết định một mặt kêu gọi nhân dân Sài Gòn và Nam Bộ đánh trả quân xâm lược, mặt khác điện ra Trung ương báo cáo tình hình và xin chỉ thị.

Xứ ủy điện báo cáo quyết tâm lên Trung ương Đảng và Chính phủ lâm thời:

“Chúng tôi đã:

1. Lập Ủy ban kháng chiến để lo việc quân sự.

2. Hạ lệnh tổng đình công và bất hợp tác với người Pháp.

3. Truyền đi lục thỉnh thi hành kế hoạch phá hoại đường giao thông tiếp tế để bao vây quân địch”(1).


Đồng thời hạ lệnh cho các lực lượng vũ trang nhân dân chiến đấu.



Đồng chí Hoàng Quốc Việt, Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng năm 1945

Nhận được điện, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thường vụ Trung ương Đảng họp khẩn cấp ở Bắc Bộ phủ, nhất trí với quyết tâm của Xứ ủy và Ủy ban nhân dân Nam Bộ. Hội nghị hạ quyết tâm tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược để bảo vệ độc lập, tự do và kêu gọi nhân dân cả nước chi viện sức người, sức của cho Nam Bộ. Thường vụ Trung ương Đảng còn quyết định thành lập những đơn vị Nam tiến.

Chính phủ Trung ương ra Huấn lệnh đồng ý với quyết định phát động cuộc kháng chiến của ban lãnh đạo Nam Bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen ngợi đồng bào Nam Bộ và khẳng định Chính phủ cùng nhân dân ca nước sẽ hết sức giúp đỡ cuộc kháng chiến ở Nam Bộ.

“Hỡi đồng bào Nam Bộ!

Tôi chắc và đồng bào các nước đều chắc vào lòng kiên quyết ái quốc của đồng bào Nam Bộ. Tôi chắc và đồng bào Nam Bộ cũng chắc rằng Chính phủ và toàn quốc đồng bào sẽ hết sức giúp những chiến sĩ và nhân dân hiện đang hi sinh tranh đấu để giữ vững nền độc lập của nước nhà”(2).


Được sự tăng cường của lực lượng vũ trang các tỉnh Nam Bộ và sự chi viện của bộ đội Nam Tiến trong cả nước, quân và dân Sài Gòn dùng chiến thuật “trong đánh, ngoài vây” (đánh địch trong nội thành, chốt chặn các cầu ra vào thành phố, không cho chúng đánh nống ra ngoại thành), giam chân địch trong một tháng trời, hãm chúng vào tình trạng không điện, không nước, không lương thực.

Pháp nhờ Anh lợi dụng danh nghĩa Đồng Minh đi tước khí giới hang binh Nhật để bộ đội ta không chặn đánh. Nhờ thủ đoạn ấy, quân Anh vượt qua phòng tuyến của ta, chiếm Thủ Dầu Một (ngày 23-10-1945) và Biên Hòa (ngày 24-10-1945), rồi trao lại cho quân Pháp. Vòng vây của ta bị chọc thủng.

Mặt khác, Pháp xin Mĩ cho mượn thêm tàu chở viện binh sang Sài Gòn. Nhà sử học Mĩ Joseph Buttinger nhận định: “Việc Mĩ giúp tàu bè chuyên chở khiến cho Pháp có đủ quân lính tới Sài Gòn để đánh bại cuộc cách mạng ở trong Nam”(3).

Có thêm quân tăng viện, tướng Leclerc (đến Sài Gòn ngày 5-10-1945) đánh nống ra các tỉnh Nam Bộ. Quân địch bị bộ đội ta chặn đánh ở khắp nơi, song do tương quan lực lượng quá chênh lệch, bộ đội ta phải rút khỏi các thị xã Tân An (22-10), Mĩ Tho (25-10) và Gò Công (28-10).

Ngay từ ngày đầu của Nam Bộ kháng chiến, các tỉnh miền Tây Nam Bộ một mặt tiếp nhận và giúp đỡ đồng bào từ các nơi có chiến sự tản cư về, mặt khác cử những đơn vị bộ đội trang bị đầy đủ nhất lên chi viện cho chiến trường Sài Gòn.

Trong khi đó, việc chuẩn bị mọi mặt để đánh địch được xúc tiến một cách khẩn trương.

Để lãnh đạo kịp thời cuộc kháng chiến đang lan rộng, ngày 25 tháng 10, Đảng bộ Nam Bộ họp hội nghị ở Thiên Hộ (Mĩ Tho). Đây là hội nghị lớn nhất của Đảng bộ Nam Bộ từ sau khi giành được chính quyền. Hội nghị kiểm điểm tình hình, rút kinh nghiệm chỉ đạo cuộc kháng chiến Nam Bộ. Hội nghị đề ra nhiều biện pháp cấp thiết củng cố và xây dựng lực lượng như đưa đảng viên vào nắm bộ đội, đặt lực lượng vũ trang dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Để tăng cường lực lượng lãnh đạo của Đảng, Trung ương Đảng quyết định phần lớn những đồng chí vừa ra tù ở lại Nam Bộ. Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có khoảng 1.000 đồng chí vừa từ Côn Đảo về được phái vào bộ đội và về các địa phương làm nòng cốt cho phong trào kháng chiến.

Sau Hội nghị Trung ương, ngày 20-11, Hội nghị quân sự được triệu tập ở xã An Phú (Gia Định), kiểm điểm tình hình hoạt động vũ trang, bàn công tác tổ chức, lãnh đạo, chỉ huy. Hội nghị chỉ định khu trưởng, ủy viên chính trị các Chiến khu 7, 8, 9, đồng thời bàn biện pháp củng cố lực lượng vũ trang tỉnh, thành phố. Các chi đội Vệ quốc đoàn và xây dựng các khu Lạc An, Đồng Tháp, U Minh làm căn cứ cho các chiến khu.

Chiến khu 8 gồm các tỉnh Tân An, Mĩ Tho, Gò Công, Bến Tre, Sa Đéc. Lúc này địch mới chiếm được các thị xã Tân An, Mĩ Tho, Gò Công.

Chiến khu 9 gồm các tỉnh Châu Đốc, Hà Tiên, Long Xuyên, Rạch Giá, Trà Vinh, Bạc Liêu, Vĩnh Long, Cần Thơ, Sóc Trăng. Lúc này địch mới chiếm được thị xã Vĩnh Long và Cần Thơ.

Thanh niên nô nức tòng quân vào Cộng hòa vệ binh(1) và dân quân du kích để bảo vệ quê hương. Ban lãnh đạo miền Tây giao cho đồng chí Võ Quang Anh mở các lớp huấn luyện quân sự ngắn ngày nhằm đào tạo cấp tốc quân sự cho các tỉnh. Sau đó, số cán bộ này tỏa về huấn luyện lại cho lực lượng vũ trang các quận, xã. Các binh công xưởng được thành lập để rèn dao găm, mã tấu…, đúc lực đạn, nạp lại thuốc súng (“rờ sạc”), sửa chữa hỏng hóc…

Để tổ chức công cuộc kháng chiến, Ủy ban kháng chiến Hậu Giang được thành lập, do Trần Văn Khéo làm Chủ tịch, Huỳnh Phan Hộ làm Phó Chủ tịch, đóng tại Cầu Nhiếm - Ba Xe. Tháng 12-1945, Ủy ban được giải thể khi Bộ Tư lệnh Chiến khu 9 ra đời.


(1) Trích Tuyên cáo quốc dân của Ủy ban nhân dân Nam Bộ, Báo Cứu quốc, ngày 29 tháng 9 năm 1945.
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.4, tr.27.
(3) Joseph Buttinger: Việt Nam: A Dragon Embattled, Nxb Fraeger, New York, 1967, tr. 343.
(4) Sau khi giành chính quyền, Ủy ban nhân dân Nam Bộ cải tổ ba lữ đoàn bảo an binh ở Sài Gòn thành Đệ nhất sư đoàn (sau đổi là Cộng hòa vệ binh) với số quân khoảng 10.000, có 400 súng các loại. Ở các tỉnh, những đơn vị bảo an binh cũng được cải tổ thành Cộng hòa vệ binh.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8015


Lính của PTL


« Trả lời #24 vào lúc: 11 Tháng Bảy, 2012, 06:47:25 AM »

III. NHỮNG THÁNG ĐẦU KHÁNG CHIẾN Ở MIỀN TÂY NAM BỘ

Ngày 27-10-1945, từ Mĩ Tho, quân Pháp dùng tàu chiến vượt sông Tiền. Chúng bắn phá Vĩnh Long suốt 2 ngày liền, sau đó đổ bộ lên bờ. Quân và dân Vĩnh Long đánh trả quyết liệt. Nhưng do trang bị kém, bộ đội phải rút ra ngoại ô (ngày 29-101-945), tổ chức nhiều cuộc đột kích vào thị xã, chặn đánh địch nống ra (như trận đánh cầu Ông Me, quận Long Hồ, quân ta chặn đánh địch suốt ngày, gây nhiều thương vong cho địch).

Ngày 29-10, quân Pháp đi trên 10 tàu chiến, có thông báo ham A.72 dẫn đầu, qua sông Hậu, nã trọng pháp vào thị xã Cần Thơ. Sáng 30-10, khi chúng lên bến phà Cần Thơ, liền bị một trung đội Cộng hòa vệ binh nổ súng, một số quân Pháp bị diệt và bị thương.

Cần Thơ là đô thị lớn nhất miền Hậu Giang, thường được mệnh danh là Tây Đô (Thủ phủ miền Tây Nam Bộ), nơi Liên tỉnh ủy Hậu Giang đặt cơ quan lãnh đạo. Do đó, theo yêu cầu của Ủy ban kháng chiến Hậu Giang, các tỉnh gửi các đơn vị Cộng hòa vệ binh lên tăng cường cho mặt trận Cần Thơ. Tỉnh Rạch Giá gửi 1 tiểu đội (do Ngô Hồng Giỏi chỉ huy), tỉnh Sóc Trăng gửi 2 tiểu đội (do Lê Văn Phát chỉ huy), tỉnh Bạc Liêu gửi 1 phân đội (do ông giáo Sáu và tú tài Năm chỉ huy), v.v.

Áp dụng chiến thuật “trong đánh, ngoài vây” như Sài Gòn cuối tháng 9-1945, bộ đội ta rút ra ngoại thành, tổ chức bao vây nội thành, chặn đánh địch đánh nống ra. Khi địch tiến ra Tham Tướng, một trung đội Cộng hòa vệ binh chặn đánh cho đến chiều. Chỉ huy trung đội Nguyễn Văn Thạnh bị thương nặng, ra lệnh cho đòng đội rút, một mình ở lại chặn địch, anh dũng chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, đập gãy súng trước khi hi sinh.

Sáng 12-11-1945, năm chiến sĩ Quốc gia tự vệ Cuộc(1) Cần Thơ (gồm chỉ huy Lê Bình, Phó chỉ huy Bùi Quang Trinh, cùng 3 đội viên Trần Chiến, Lê Nhật Tảo, Cao Minh Lộc) phối hợp với lực lượng Cộng hòa vệ binh và dân quân du kích, giả làm người buôn heo, tấn công giữa ban ngày một đại đội quân Pháp đóng ở nhà việc(2) xã Trường Thạnh, Tổng Bảo Định (nay là Trụ sở Ủy ban nhân dân thị trấn Cái Răng). Năm chiến sĩ dùng súng và lựu đạn tiêu diệt một số quân Pháp, bắn trọng thương đại úy Rouan, hạ cờ Pháp xuống, treo cờ đỏ sao vàng lên cột cờ. Trong khi đó, các chiến sĩ Cộng hòa vệ binh và dân quân du kích nổ súng đánh phối hợp.

Trận đánh gây tiếng vang lớn trong cả nước. Trong cuộc họp Hội đồng Chính phủ vào sáng ngày 20-11 (tức 8 ngày sau), Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị khen thưởng năm chiến sĩ anh dũng hi sinh trong trận Cái Răng. Nhân dân Cần Thơ lấy tên các chiến sĩ đặt cho thị trấn và chợ (thị trấn Lê Bình, chợ Lê Bình), cầu (cầu Quang Trinh), sông (sông Nhật Tảo)…(3).

Tháng 10-1945, một trung đội Cộng hòa vệ binh Bạc Liêu được điều lên Tân An chi viện cho mặt trận cửa ngõ phía Nam Sài Gòn. 20 đồng chí đã hi sinh.

Ở Trà Vinh, sáng ngày 6-12-1945, Pháp dùng tàu chiến theo sông Cổ Chiên tiến vào bắn phá thị xã Trà Vinh và cho quân đổ bộ lên vàm Trà Vinh. Suốt chặng đường tiến đến thị xã, quân Pháp bị lực lượng của ta chặn đánh rất quyết liệt, dù chỉ bằng vũ khí thô sơ, bằng lựu đạn và mấy khẩu súng kiểu cũ, nhất là chưa có kinh nghiệm chiến tranh.

Tối hôm đó, chúng tiến vào thị xã, quân ta rút ra ngoài bao vây, chống địch. Thực dân Pháp thực hiện âm mưu rất thâm độc, chúng mua chuộc lôi kéo một số người xấu và dùng bọn phản động người Khơme cướp giật tài sản, chém giết người Việt ở một số nơi thuộc Trà Vinh nhằm tinh hành chính sách chia rẽ dân tộc.

Sau khi chiếm được thị xã, Pháp mở rộng cuộc đánh chiếm ra các huyện của tỉnh Trà Vinh. Cơ quan lãnh đạo các cấp của tỉnh phải tạm thời rút về Bạc Liêu. Một số cán bộ, đảng viên tìm những nơi an toàn, bám nhân dân để kháng chiến.

Trung tuần tháng 12-1945, bộ đội Cần Thơ phối hợp với một phân đội của Bạc Liêu tiêu diệt một đồn Pháp ở Bình Thủy. Địch cho quân đến ứng cứu. Số quân địch đông hơn quân ta nhiều lần; phân đội của Bạc Liêu bị bao vây, nhưng vẫn chiến đấu rất dũng cảm (7 chiến sĩ hi sinh, 3 chiến sĩ khác bị thương). Đơn vị được đồng bào tặng danh hiệu “Bộ đội bình thắng” (Bình Thủy chiến thắng).

Đội du kích mang tên Lê Bình (do Huỳnh Thủ chỉ huy) đánh nhiều trận ở vùng ven Cái Răng, diệt và làm bị thương nhiều lính Pháp và lính partisan (tay sai Pháp), thu một số súng.


(1) - Cộng hòa vệ binh là đổi tên từ lính Thủ hộ (Garde Civile) thời Pháp.
- Quốc gia tự vệ cuộc là lực lượng bảo vệ an ninh quốc gia, tức lực lượng vũ trang của ngành công an.
(2)  Nhà việc là trụ sở của hội tề làng (xã).
(3) - Tên của Lê Bình cũng được đặt cho hai con đường (một ở Thủ đô Hà Nội, một ở Hà Tĩnh quê hương anh).
- Nhà văn Nam Cao mô tả trận đánh dũng cảm trong cuốn “Năm anh hàng thịt”.
- Bản thân đại úy Rouan, sau đó cũng viết trên báo Humanité ca ngợi khí tiết anh hùng của các chiến sĩ Việt Nam, đề cao cuộc kháng chiến giành độc lập của nhân dân ta: “Lương tâm tôi thức tỉnh. Tôi thấy rõ chính nghĩa và tinh thần dũng cảm của một dân tộc mà trước đây tôi xem thường. Tôi sẽ vận động nhân dân Pháp cùng với tôi ủng hộ phong trào giải phóng của dân tộc Việt Nam sớm thành công”, Báo Humanité, 10-1-1946.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8015


Lính của PTL


« Trả lời #25 vào lúc: 11 Tháng Bảy, 2012, 06:49:31 AM »

Bước sang đầu năm 1946, hai tiểu đội Cộng hòa vệ binh Cần Thơ (do kĩ sư Nguyễn Đăng, tham mưu trưởng Mặt trận Cần Thơ, vạch kế hoạch), đánh một trận oanh liệt ở Tầm Vu(1).

Trong trận phục kích này đoàn xe của Pháp từ Rạch Gòi về Cần Thơ ngày 20-1-1946, bộ đội ta diệt 2 xe và 4 lính Pháp, trong đó có đại tá Dessert, chỉ huy quân Pháp ở miền Tây Nam Bộ. Đây là viên sĩ quan cao cấp đầu tiên của Pháp bị diệt trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

Ngày 4-1-1946, từ Cần Thơ, quân Pháp dùng tàu đổ bộ chiếm Đại Ngãi, sau đó, chúng chia làm hai cánh quân đánh vào Sóc Trăng: Một cách đi bằng tàu trên kinh Saintard, một cánh đi bằng đường bộ. Quân ta chặn đánh nhưng chỉ làm chậm bước tiến của địch, chứ không chặn được ý đồ của chúng. Chiều 4-1, ta phá tòa Bố, cầu Quay trước khi rút về phòng ngự ở Bố Thào và Nhu Gia.

Ngày 8-1, Phó Quốc gia tự vệ Cuộc Sóc Trăng Nguyễn Hùng Phước chỉ huy một tổ vũ trang tập kích một nhóm lính ngụy ở ngã ba An Trạch, bắt sống 2 tên, thu 2 súng.

Ngày 9-1, hai cánh quân Pháp tiến đánh Long Xuyên. Cánh quân thủy dùng các tàu A.72 theo đường sông, bắn xổi xả lên bờ, rồi đổ bộ lên thị xã. Cánh quân bộ tiến rất chậm, phần vì đường xã, cầu cống đã bị quân và dân ta phá hoại theo chủ trương “tiểu thổ kháng chiến”, phần vì bị quân ta chặn đánh. Chiều 9-1, bộ đội ta để lại một bộ phận nhỏ tiếp tục bám dân đánh địch, phần lớn rút về căn cứ U Minh để bảo toàn lực lượng.

Ngày 20-1, địch chiếm thị xã Châu Đốc. Từ Châu Đốc, địch tiến quân chiếm thị xã Hà Tiên (ngày 22-1).

Ngày 26-1, địch từ Long Xuyên đánh chiếm thị xã Rạch Giá.

Ngày 29-1, địch từ Sóc Trăng, theo đường số 1 (nay là quốc lộ 1A) đánh xuống Bạc Liêu. Để chủ động ngăn chặn địch, đơn vị Cộng hòa vệ binh tỉnh Bạc Liêu, thiết lập phòng tuyến ở Nhu Gia (thuộc Sóc Trăng, phá cầu Nhu Gia buộc địch phải dừng chân tại đây.

Đêm đó, lợi dụng trời tối, quân Pháp dùng thuyền kết bè, định vượt sông. Chờ địch ra giữa sông, lực lượng của ta đồng loạt nổ súng. Thuyền địch bị chìm, 17 tên chết. Cuộc vượt sông của quân Pháp thất bại.

Đêm hôm sau, quân ta bí mật vượt sông, tập kích vào một đơn vị của Pháp, diệt 20 tên. Bị thiệt hại, quân Pháp rút trở lại Sóc Trăng.

Hơn hai tuần sau, Pháp phải chuyển sang dùng đường thủy tiến đánh Bạc Liêu. Ngày 29-1-1946, một đoàn tàu địch theo sông Cổ Cò, Vàm Lèo đánh thị xã Bạch Liêu. Ta dùng dây cáp căng qua sông, chặn tàu địch và chuẩn bị xăng để đốt tàu, nhưng không có kết quả. Cộng hòa vệ binh tỉnh và du kích lớp bám theo tàu địch, lớp mai phục tại cầu sắt Cá Đường. Khi Pháp đổ quân lên bờ, ta đồng loạt nổ súng vào đơn vị đi đầu, diệt một số tên, hàng ngũ của địch rối loạn. Ta và địch quần bám nhau rất ác liệt, anh em cảm tử dùng lựu đạn, dao găm xung phong tiếp cận, đánh giáp lá cà với địch. Súng địch ở tàu bắn lên, vào cả bộ binh của chúng. Ta hết đạn phải rút. Quân Pháp tiến vào được thị xã.

Đội cảm tử trụ ở thị xã do đồng chí Hai Ngô chỉ huy, trang bị mỗi người 4 lựu đạn, mai phục trên lầu cao ném lựu đạn vào đội hình của địch và bắn tỉa. Do ta còn chưa có kinh nghiệm đánh trong đô thị nên bị địch bắt 13 chiến sĩ. Sáng ngày 30-1-1946, địch đưa 13 chiến sĩ trong đơn vị cảm tử ra bắn tại cầu Quay. Nhân dân Bạc Liêu vô cùng thương tiếc các chiến sĩ cảm tử quên mình chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc.

Sau khi chiếm được thị xã Bạc Liêu, quân địch đánh xuống thị trấn Giá Rai (ngày 2-2). Bộ đội Sa Đéc do Nguyễn Hữu Xuyến chỉ huy và một trung đội du kích do Trần Khương Kiện chỉ huy, tập kích quân địch, diệt một số tên. Trần Khương Kiện hi sinh(1). Ngày 2-2-1946, địch dùng tàu theo kênh Hộ Phòng và sông Gành Hào tiến chiếm quận lị Cà Mau.

Như vậy, đến đầu tháng 2-1946, quân Pháp chiếm tất cả các thị xã và thị trấn, kiểm soát các trục thủy bộ chính ở miền Tây Nam Bộ. Phần lớn cán bộ và lực lượng vũ trang của Chiến khu 9 tập trung về Chiến khu U Minh (nằm trên địa bàn 2 tỉnh Rạch Giá và Bạc Liêu). Một số đơn vị vũ trang của Chiến khu 8 cũng rút về U Minh. Chỉ còn một bộ phận cán bộ và bộ đội còn bám trụ ở những vùng nông thôn chưa bị chiếm để tiếp tục đánh địch.


(1) Tầm Vu lúc đó thuộc xã Thạnh Hóa, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Cần Thơ, nay thuộc xã Thạnh Xuân, huyện Châu Thành, cách thành phố Cần Thơ 17 cây số về phía tây nam. Trong kháng chiến chống Pháp, bộ đội ta đánh 4 trận lớn trên địa bàn Tầm Vu, nên trận Tầm Vu ngày 20-1-1946 được gọi là “trận Tầm Vu 1”.
(2) Tên của Trần Khương Kiện được đặt cho một xã, xã Khương Kiện, huyện Giá Rai.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8015


Lính của PTL


« Trả lời #26 vào lúc: 11 Tháng Bảy, 2012, 06:52:25 AM »

Sau khi chiếm xong các thị xã và thị trấn, Pháp chuyển sang tiến hành bình định. Nhằm đặt lại ách thuộc địa lên Nam Bộ để từ đây đánh chiếm toàn bộ Đông Dương.

Áp dụng chính sách “dùng người Việt đánh người Việt”, ngày 4-2-1946, Cao ủy D’Argenlieu lập ra Hội đồng tư vấn Nam Kì (gồm 4 thành viên người Pháp và 8 thành viên người Việt, trong số 8 người Việt có 7 người đã nhập quốc tịch Pháp).

Pháp tập hợp các tay sai cũ cũng như những kẻ mất các đặc quyền, đặc lợi trong Cách mạng Tháng Tám, lập các ban hội tề.

Pháp chiêu mộ những phần tử phản quốc để lập các đội thân binh (Partisan), hương dõng giúp Pháp trong việc giữ gìn an ninh trật tự ở làng xóm, bảo vệ cầu đường… những vùng bị Pháp chiếm.

Pháp lập đồn bót ở những nơi hiểm yếu, đồng thời mở các cuộc hành quân tiến công vùng tự do hay càn quét vùng tạm chiếm.

Vào cuối năm 1945 đầu năm 1946, nhiều cán bộ chủ chốt của Nam Bộ(1) được triệu tập ra công tác ở Trung ương hay ra Hà Nội họp Quốc hội. Bí thư Xứ ủy lâm thời Lê Duẩn cũng ra Hà Nội, các Xứ ủy viên còn lại mỗi người đi một ngả. Liên lạc giữa cấc miền, các tỉnh rất khó khăn. “Do đó, sự lãnh đạo chưa thông suốt đến các cấp cơ sở, sự chỉ đạo còn rời rạc”(2).

Ngày nay nhìn nhận lại một cách công bằng thì thấy rằng những khó khăn và nhược điểm kể trên là điều khó tránh đối với một đội quân cách mạng mới chỉ có mấy tháng tuổi, phải đối phó ngay với hàng loạt sự kiện mới mẻ, đột xuất, chưa kịp định hình được phương thức tác chiến, lại gần như hoàn toàn thua kém đối phương về phương tiện chiến tranh. Trong hoàn cảnh đó, khó có thể đòi hỏi phải chặn đứng bước tiến của địch, giữ vững hàng ngũ và trận địa… Riêng việc tồn tại được đã là một kì tích. Nhìn lại những cuộc kháng Pháp ở nước ta trước đây và cả những cuộc đấu tranh giải phóng trên thế giới vào thời điểm đó, thì trong những tình huống tương tự, không phải đội quân nào cũng còn đủ sức lực và ý chí để phục hồi.

Riêng miền Tây Nam Bộ, “việc chỉ huy và lãnh đạo của Khu còn chưa thống nhất, tổ chức chính quyền, đoàn thể các tỉnh gần như tan rã”(3).

Cuộc kháng chiến lâm vào tình thế cực kì khó khăn, nhưng vẫn còn những yếu tố căn bản nhất để phục hồi. Các Xứ ủy viên Ung Văn Khiêm, Võ Sĩ (tức Lê Văn Sĩ) triệu tập các cán bộ chỉ huy 2 Chiến khu 8 và 9 (Vũ Đức, Phan Trọng Tuệ, Huỳnh Phan Hộ…) ngày 2-2-1946 về rạch Bà Đặng, xã Thới Bình, quận Cà Mau, tỉnh Bạc Liêu để nhận định tình hình và bàn chủ trương đối phó.

Hội nghị nhận định: Từ ngày 27-10-1945, quân và dân miền Tây Nam Bộ đã chiến đấu rất dũng cảm, nhưng do tương quan lực lượng giữa và địch quá chênh lệch, nên không cản được bước tiến của quân thù.

Về chủ trương đối phó trong thời gian trước mắt, có 2 ý kiến khác nhau:

Ý kiến thứ nhất, chủ trương bám đất, bám dân, dựa vào cơ sở cách mạng tại chỗ, phân tán lực lượng vũ trang, bí mật luồn vào vùng tạm chiếm, dùng chiến thuật du kích để đánh địch, phá tề, khôi phục và phát triển phong trào kháng chiến.

Ý kiến thứ hai, chủ trương đưa phần lớn lực lượng vũ trang của Chiến khu 8 và Chiến khu 9 lên miền Đông Nam Bộ để phối hợp với Chiến khu 7 đánh Pháp, vì miền Đông có rừng núi, tiếp nhận chi viện và chỉ đạo của Trung ương thuận lợi hơn. Khi lực lượng Chiến khu 8 và Chiến khu 9 lớn mạnh sẽ quay về miền Trung và miền Tây Nam Bộ (chủ trương này gọi là “Xuyên Đông”).

Hội nghị thảo luận sôi nổi, kéo dài đến nửa đêm và kết luận: Tùy theo hoàn cảnh, từng địa phương từng đơn vị mà hành động theo ý kiến thứ nhất hay tứ hai. Kết thúc Hội nghị, đã có quyết định của Xứ ủy thành lập Ban chỉ huy lực lượng Xuyên Đông do Đào Văn Trường làm Trưởng và Vũ Đức làm Phó chỉ huy (Đào Văn Trường không dự Hội nghị nhưng được chỉ định vắng mặt).

Một số đơn vị Chiến khu 8 (do Khu trưởng Đào Văn Trường chỉ huy) vượt sông Hậu đến Bến Tre thì gặp địch, một số chiến sĩ thương vong. Khu trưởng Đào Văn Trường phải dùng ghe biển ra cực Nam Trung Bộ, ra Ủy ban kháng chiến miền Nam rồi ra Trung ương.

Trong khi đó, một vài tiểu đội của Chiến khu 9 mới đến Sóc Trăng thì gặp tàu địch tuần tiễu trên sông Hậu nên không qua sông được. khu trưởng Chiến khu 9 Vũ Đức ra lệnh không “Xuyên Đông” nữa, ở lại bám trụ, tập hợp lực lượng cùng đồng bào tổ chức du kích chiến.


(1) Trong số những cán bộ này có Trần Văn Giàu (nguyên Bí thư Xứ ủy, nguyên Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Nam Bộ), Cao Hồng Lãnh và Tôn Đức Thắng (Chủ tịch và Chủ nhiệm Hậu cần Ủy ban kháng chiến miền Nam), Phạm Văn Bạch, Phạm Ngọc Thạch, Huỳnh Văn Tiểng (Chủ tịch và các ủy viên Ủy ban nhân dân Nam Bộ), v.v… Riêng Trần Văn Giàu sau khi ra Hà Nội từ tháng 11-1945, đã xin Trung ương qua Thái Lan để vận động mua vũ khí tiếp tế cho chiến trường Nam Bộ.
(2) Trần Văn Trà: Chiến tranh nhân dân khởi đầu từ Nam Bộ như thế (trong sách: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr.74).
(3) Bộ Tư lệnh Quân khu 9: Quân khu 9 ba mươi năm kháng chiến, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1996, tr.73.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8015


Lính của PTL


« Trả lời #27 vào lúc: 11 Tháng Bảy, 2012, 06:54:30 AM »

IV. MIỀN TÂY NAM BỘ ĐẨY MẠNH CUỘC KHÁNG CHIẾN

1. Hội nghị Ngang Dừa thể hiện quyết tâm đánh địch ở miền Tây Nam Bộ

Sau khi bỏ chủ trương “Xuyên Đông”, Khu bộ trưởng Chiến khu 9 triệu tập các đại biểu quân, dân, chính, đảng của Chiến khu 9 về Ngang Dừa (thuộc xã Vĩnh Lộc, huyện Phước Long, tỉnh Rạch Giá) vào trung tuần tháng 2-1946. Xứ ủy viên Võ Sĩ được mời dự Hội nghị.

Hội nghị khẳng định: Bỏ chủ trương Xuyên Đông của Hội nghị Thới Bình, để vượt qua tình thế khó khăn hiện nay, cán bộ và bộ đội các tỉnh phải trở về địa phương của mình, bám đất, bám dân, đẩy mạnh chiến tranh du kích, tổ chức lại chính quyền cơ sở và các đoàn thể quần chúng, giải tán hội tề, diệt ác, trừ gian, để củng cố vùng tự do và khôi phục phong trào ở vùng tạm chiếm. Đây là một quyết định có ý nghĩa lịch sử đối với sự tồn tại và phát triển của mặt trận kháng chiến Tây Nam Bộ. Những diễn biến thực tế trên chiến trường sau đó đã xác nhận đó là một quyết định thể hiện tinh thần cách mạng tích cực, thấm nhuần tư tưởng của Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân, và nhờ đó đưa sự nghiệp kháng chiến của Tây Nam Bộ từ chỗ rút lui, có nguy cơ tan rã, nhường trận địa cho giặc, từng bước chuyển sang thế đứng vững và phát triển.

Cũng tại hội nghị này, Bộ chỉ huy Chiến khu 9 quyết định thành lập 3 mặt trận (còn gọi là 3 Phân khu).

Mặt trận Ngang Dừa - Phước Long: Đây là nơi Khu bộ trưởng Vũ Đức và Chủ nhiệm chính trị bộ Phan Trọng Tuệ đóng hành dinh của Chiến khu 9. Lực lượng vũ trang ở mặt trận này gồm bộ đội Nam Tiến (do Nguyễn Bá chỉ huy) và bộ đội các tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cần Thơ và Vĩnh Long.

Mặt trận Cái Tàu - An Biên: Do Khu bộ phó Nguyễn Ngọc Bích và Võ Quang Anh chỉ huy, có bộ đội các tỉnh Rạch Giá, Hà Tiên, Long Xuyên, Châu Đốc

Mặt trận Cà Mau - Tân Hưng: Do Tăng Thiên Kim chỉ huy (từ giữa tháng 2-1946), có bộ đội tỉnh Bạc Liêu và bộ đội một số tỉnh còn rải rác ở nhiều nơi sau khi rút lui từ nhiều hướng về.

Ngoài 3 mặt trận nói trên, lúc này còn có Mặt trận Giồng Bốm (ở xã Phong Thạnh, huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu, cách Cà Mau 10 km về hướng đông bắc) do Cao Triều Phát, đại biểu Quốc hội tỉnh Bạc Liêu, đồng thời là chức sắc cao cấp phái Cao Đài Minh Chơn Đạo, thành lập, quy tụ hàng ngàn tín đồ, lấy Tòa thánh Ngọc Minh làm hành dinh.



Cụ Cao Triều Phát

Thi hành nghị quyết của Hội nghị Ngang Dừa, từ đầu tháng 3-1946, bộ đội các tỉnh lần lượt về lại địa phương của mình củng cố và phát triển: Sóc Trăng (có 2 trung đội, do Nguyễn Hùng Phước và Lưu Khánh Đức chỉ huy), Cần Thơ (có 1 trung đội do Ngô Hồng Giỏi chỉ huy), Rạch Giá (có 1 đại đội, do Huỳnh Thủ chỉ huy), Long Xuyên (có 2 phân đội, do Nguyễn Văn Lầu, Đào Công Tâm và Bùi Văn Danh chỉ huy), Châu Đốc (có 1 phân đội, do Lê Văn Phát, Trần Đình Khôi chỉ huy), Bạc Liêu (có 2 trung đội, do Đinh Công Thưởng và Tào Văn Tị chỉ huy), Vĩnh Long có đại đội do Phạm Ngọc Hưng chỉ huy, Trà Vinh có đơn vị do Nguyễn Thành Thi chỉ huy, v.v. Bộ đội tỉnh Sa Đéc (thuộc Chiến khu 8) do Nguyễn Hữu Xuyến chỉ huy (lâu nay đứng chân trên căn cứ U Minh) cũng về lại tỉnh nhà.

Đặc biệt, để phá âm mưu “dùng người Việt đánh người Việt” của địch, các tỉnh lập các đội diệt ác, phá tề mang nhiều tên gọi khác nhau, như Sát gian đoàn (Cần Thơ), Ban hành động (Long Xuyên), Đội trừ gian (Châu Đốc, Rạch Giá, Bạc Liêu), v.v. gửi thư cảnh cáo tận nhà bọn Việt gian, phục kích hay đột nhập vào tận nhà để tiêu diệt những tên ác ôn có nợ máu với nhân dân rồi để lại bản cáo trạng… khiến bọn chúng rung động, một số chùn tay một số khác xin nghỉ việc, số còn lại chỉ dám hoạt động ban ngày, ban đêm phải vào ngủ trong đồn bót. Ở một số nơi, ban hội tề bị vô hiệu hóa, vùng tự do mở rộng(1).


(1) Lúc bấy giờ vùng giải phóng ta thường gọi là vùng tự do hoặc vùng độc lập
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8015


Lính của PTL


« Trả lời #28 vào lúc: 11 Tháng Bảy, 2012, 06:58:24 AM »

2. Pháp không thi hành Hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946

Ngày 6-3-1946, tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Vũ Hồng Khanh (đại diện Chính phủ Việt Nam) và Jean Sainteny kí Hiệp định sơ bộ(1).

Tuy nhiên, sau khi đưa 15.000 quân ra phía bắc vĩ tuyến 16 thay cho quân Trung Hoa Dân quốc, Pháp lật lọng. Mặc dù Hiệp định gi rõ: J.Sainteny là “người thay mặt Chính phủ Cộng hòa Pháp, đại biểu của Cao ủy Pháp được đô đốc D’Argenlieu - Cao ủy Pháp, người chấp chưởng quyền hành của Cộng Hòa Pháp - ủy quyền một cách hợp thức”, đại tá Cédille (ủy viên Cộng hòa Pháp ở Nam Bộ) tuyên bố Hiệp định 6-3-1946 không áp dụng cho phía nam vĩ tuyến 16, Cao ủy D’Argenlieu cũng phụ họa, xem Hiệp định 6-3-1946 chỉ là một “Hiệp định địa phương” giống như Hiệp định 7-1-1946 kí giữa Alessandri (Pháp) và Monireth (Campuchia)(2).

Vì vậy, khi Bộ chỉ huy Chiến khu 9 cử Huỳnh Phan Hộ và Nguyễn Văn Châu đến Vàm Xáng - Ngang Dừa gặp viên chỉ huy Pháp trên một tàu chiến để bàn việc thi hành Hiệp định sơ bộ tại miền Tây Nam Bộ, phía Pháp từ chối.

Để ngăn cản “việc hợp nhất 3 kì” đã được ghi rõ trong Hiệp định, D’Argenlieu xúc tiến việc lập “Cộng hòa tự trị Nam Kì”(3), nhằm tách Nam Bộ ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Ngày 26-3-1946, Nguyễn Văn Thinh, một bác sĩ có quốc tịch Pháp, được cử làm Thủ tướng Chính phủ Nam Kì tự trị. Ngày 1-6-1946, Chính phủ này ra mắt tại quảng trường trước nhà thờ Đức Bà. Ngày 1-10-1946, Pháp lập cho Chính phủ này một đạo quân lấy tên là “Vệ binh Cộng hòa Nam Kì”. Chúng thuê những tên du đãng gây gổ đánh đập người miền Bắc và người miền Trung, đòi “trục xuất” họ khỏi đất Nam Bộ, v.v.

Không chỉ chia rẽ Bắc - Nam, Pháp còn tìm cách chia rẽ người Việt và người Khơme. Ở những tinh Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Rạch Giá, Pháp kích động một số người Khơme nổi lên “Cáp Duồn”(4), gây ra cảnh xung đột đẫm máu. Khu Bộ trưởng Vũ Đức chỉ thị cho cán bộ các cấp ở miền Tây Nam Bộ phải giải thích cho cả người Khơme, lẫn người Việt thấy rõ âm mưu “chia để trị” rất thâm độc của Pháp. Nhờ vậy, những hiểu lầm được giải tỏa, hai dân tộc anh em trên đất Nam Bộ lại đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau, cùng chung sức chống kẻ thù chung.

Pháp còn lợi dụng những phần tử phản động trong đạo Hòa Hảo, một giáo phái ra đời ở Chợ Mới (Long Xuyên) trong những năm 30 của thế kỉ XX, và có nhiều tín đồ ở miền Tây Nam Bộ. Những phần tử này lập ra 4 nhóm, được Pháp trang bị và cung cấp tiền bạc để chống lại kháng chiến:

- Nhóm Trần Văn Soái (Năm Lửa), đóng tại Cái Vồn (Vĩnh Long).

- Nhóm Lâm Thành Nguyên (Hai Ngoán), đóng tại Cái Dầu (Châu Đốc).

- Nhóm Lê Quang Vinh (Ba Cụt), đóng tại Thốt Nốt (Long Xuyên).

- Nhóm Nguyễn Giác Ngộ, đóng tại Chợ Mới (Long Xuyên).

Ngày 17-3-11946 (tức chỉ hơn 10 ngày sau Hiệp định sơ bộ), quân Pháp dùng tàu chiến theo kinh xáng Phụng Hiệp vào ngã tư Đầu Sấu rồi tiếng thẳng xuống Mặt trận Ngang Dừa - Phước Long. Bộ đội ta chặn đánh địch quyết liệt trong 2 ngày liền. Do hỏa lực của địch mạnh nên Khu bộ trưởng Vũ Đức ra lệnh rút quân, cho một số đơn vị rút xuống mặt trận Tân Hưng.

Cuối tháng 3-1946, quân Pháp đánh vào Mặt trận Cái Tàu - An Biên. Ta chặn đánh địch ở Xẻo Rô và Tắc Thủ, nhưng sau đó phải rút vào U Minh.

Ngày 15-4-1946, Pháp nã pháo và ném bom xuống Mặt trận Giồng Bốm rồi cho 2 tiểu đoàn bộ binh từ 3 hướng tiến vào khu Tòa thánh Ngọc Minh. Dưới sự chỉ huy của Cao Triều Phát, nghĩa quân Minh Chơ Đạo đánh xáp lá cà với giặc, diệt và làm bị thương khoảng 100 tên địch, giết một đại úy Pháp. Đến trưa, quân Pháp chiếm được Tòa thánh. 106 nghĩa quân hi sinh. Cao Triều Phát lui quân về Cái Nước.

Đầu tháng 5-1946, quân Pháp từ nhiều phía theo lộ Cà Mau - Năm Căn, sông Ông Đốc, sông Gành Hào và kinh xáng Đội Cường, có pháo binh và máy bay yểm trợ, cùng lúc tiến công Mặt trận Tân Hưng - Cà Mau. Quân ta dưới sự chỉ huy của Tăng Thiên Kim đánh trả quyết liệt, cầm cự với địch trong nhiều ngày, sau đó trước hỏa lực mạnh của địch, quân ta lui về Tân Duyệt, Tân Thuận, Đầm Dơi, U Minh.


(1) Theo Hiệp định này, Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do, cam đoan thừa nhận những quyết định của nhân dân Việt Nam trực tiếp phán quyết về việc hợp nhất 3 kì (Bắc Kì, Trung Kì, Nam Kì). Việt Nam đồng ý việc Pháp đưa 15.000 quân ra phía Bắc vĩ tuyến 16 thay quân Trung Hoa Dân Quốc. Hiệp định sơ bộ 6-3 và sau đó là Tạm ước 14-9 tuy bị Pháp lật lọng, nhưng có tác dụng lớn là “hòa để tiến”, đuổi quân Tàu Tưởng về nước, cứu nguy cho tình hình Nam Bộ và chuẩn bị cho Toàn quốc kháng chiến.
(2) Philippe Devillers: Histore du Vietnam de 1940 à 1952, Ed. Seuil, Paris, 1952, P.248, 249.
(3) République Auntonome de Cochinchine, còn gọi là “Nam Kì quốc”.
(4) Cáp Duôn (tiếng Khơme): Chặt đầu người Kinh.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8015


Lính của PTL


« Trả lời #29 vào lúc: 11 Tháng Bảy, 2012, 07:01:13 AM »

3. Hội nghị Rau Dừa chủ trương đẩy mạnh cuộc kháng chiến ở Tây Nam Bộ

Cuối tháng 4-1946, đồng chí Võ Sĩ (tức Lê Văn Sĩ) thay mặt Xứ ủy lâm thời Nam Bộ triệu tập hội nghị ở Rau Dừa (huyện Cà Mau, tỉnh Bạc Liêu).

Hội nghị bầu Khu ủy Hậu Giang mới, gồm Trần Văn Hiển (quyền Bí thư), Vũ Đức, Phan Trọng Tuệ, Nguyễn Văn Vực, Trần Văn Đại. Khu ủy đóng ở vùng căn cứ Cái Tàu - Khánh An - Khánh Lâm (U Minh Hạ)(1).

Sau đó, nhân sự các Tỉnh ủy cũng được củng cố(2).

Hội nghị chủ trương tiếp tục phát triển chiến tranh du kích, đẩy mạnh công tác binh địch vận, trừ gian, phá tề.

Thực hiện chủ trương của Khu ủy, từ tháng 5-1946 trở đi, các lực lượng vũ trang (bao gồm Vệ quốc đoàn, Quốc vệ đội, dân quân du kích, các đội trừ gian…) thực hiện nhiều trận đánh địch táo bạo, gây ảnh hưởng tích cực.

Sát gian đoàn Cần Thơ (do Hoàng Hà, Văn Vĩ, Trần Nhựt Quang chỉ huy) ném lựu đạn vào vũ trường, diệt và làm bị thương nhiều sĩ quan Pháp. Đội trừ gian Châu Đốc bắt một xã trưởng gian ác ngay giữa quận lị Tân Châu, trong khi đội du kích xã Mĩ Đức (quận Tân Phú, Châu Đốc) đột nhập chợ, đâm chết một viên trung úy Pháp và 5 lính khác, thu 7 súng.

Các chiến sĩ Vệ quốc đoàn tổ chức nhiều trận hóa trang, vừa anh dũng, vừa thông minh. Tại Sóc Trăng, Giang Paul (Giang Ba) đóng vai sĩ quan Pháp, Nguyễn Hùng Phước đóng vai thông ngôn, lấy súng địch ở Trà Bang Nhỏ, sau đó lại chiếm được đồn địch ở Long Phú, thu toàn bộ vũ khí. Ở Cần Thơ, một lính lê dương (đã chuyển sang hàng ngũ của ta) đóng vai sĩ quan Pháp, vào đồn Cai tổng Giỏi do lính Khơme giữ, ra lệnh cho lính xếp hàng và đặt tất cả súng lên giá súng để “sĩ quan Pháp” kiểm tra. Sau đó, ta thu toàn bộ súng đạn, cho phép lính trở về với gia đình, sau khi cấm họ đi lính cho Pháp giết hại đồng bào.

Nhiều trận phục kích thu được kết quả. Bộ đội Sóc Trăng (do Nguyễn Hùng Phước chỉ huy) nhiều lần đón đánh các đoàn xe của địch ở Long Phú, ở Thạnh Trị, v.v.

Bộ đội Bạc Liêu (do Trần Hồng Sơn và Trần Tứ Phương chỉ huy) phục kích từ vàm Tắc Thủ đến Cái Tàu, bắn chìm 200 (trong tổng số 360) chiếc xuống, diệt 80 quân địch.

Sáng ngày 16-8-1946, lần đầu tiên trên chiến trường miền Tây Nam Bộ, hai chiến sĩ ở Cá Chương (An Trường, quận Càng Long, tỉnh Trà Vinh) dùng súng trường bắn rơi 1 máy bay trinh sát của Pháp. Với nhiều thành tích xuất sắc đạt được trong 3 tháng (tính từ ngày trở về Sóc Trăng 23-3-1946). Ngày 25-6-1946, Quốc vệ đội Sóc Trăng do Nguyễn Hùng Phước(3) làm Đại đội trưởng được Bộ chỉ huy Chiến khu 9 biểu dương và cho mang phiên hiệu “Bộ đội chủ lực danh dự Hồ Chí Minh lưu động toàn Khu” (gọi tắt là Đại đội danh dự Hồ Chí Minh). Trong một trận chống càn ở Tân Lộc (Cà Mau) ngày 23-7-1946, ta diệt 13 quân địch. Sau đó, Pháp bắt và tra tấn 12 người trong Ban hội tề xã, vì nghi những người này giúp đỡ kháng chiến. Nhân dịp này, ta tố cáo tội ác của thực dân, vận động những người đang ở trong các ban hội tề không họp tác với địch nữa. Nhiều người hưởng ứng.

Những thắng lợi nên trêu của lực lượng vũ trang các tỉnh miền Tây Nam Bộ đã khôi phục một bước quan trọng phong trào kháng chiến, làm nức lòng mọi người dân. Nhiều thanh niên nô nức tòng quân, mở rộng các đơn vị cũ hoặc thành lập các đơn vị mới. Phụ nữ, người già, trẻ em cũng hăng hái giúp đỡ bộ đội làm liên lạc, trinh sát, thu lượm tin tức, chuyên chở vũ khí và đưa đón bộ đội. Nhiều gia đình nuôi giấu cán bộ, bộ đội ngay trong vùng tạm chiếm.


(1) Nhưng sau đó, Phan Trọng Tuệ và Nguyễn Văn Vực “tự ý tách ra về ở Đầm Cùng (U Minh Hạ)” (Bộ Tư lệnh Quân khu 9: [/i]Quân khu 9 ba mươi năm kháng chiến 1945-1975[/i], sđd, tr.81).
(2) Các tỉnh ủy: Vĩnh Long (Bí thư Phan Văn Đáng), Trà Vinh (Bí thư Phạm Thái Bường), Cần Thơ (Bí thư Nguyễn Truyền Thanh), Sóc Trăng (Bí thư Phan Văn Chiêu), Long Xuyên (Bí thư Lê Tín Đôn), Châu Đốc (Bí thư Phạm Thành Dân), Bạc Liêu (quyền Bí thư Trần Văn Đại), Rạch Giá (Bí thư Nguyễn Xuân Hoàng, rồi Phan Công Cương), Hà Tiên (Bí thư Trần Văn An).
(3) Khi Nguyễn Hùng Phước được bổ nhiệm làm Khu bộ phó Chiến khu 9, Nguyễn Văn Thơm được cử làm đại đội trưởng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM