Lịch sử Tây Nam Bộ kháng chiến, Tập 1 (1945-1954)

<< < (25/30) > >>

macbupda:
NGÔ THỊ HUỆ
(1918-?)

Bà Ngô Thị Huệ (bí danh Nguyễn Thị Nhiên), sinh ngày 22-6-1918 tại xã Mĩ Quới, huyện Hồng Dân, tỉnh Rạch Giá (Kiên Giang), nay là xã Mĩ Quới, huyện Thạch Trị, tỉnh Sóc Trăng.

Tháng 1-1936, bà thoát li gia đình tham gia hoạt động bí mật dưới sự chỉ đạo của đồng chí Trần Văn Bảy (tức Bảy Xệ); đến tháng 4-1906 được kết nạp vào Đảng tại chi bộ tự động, xã Mĩ Quới, huyện Phước Long, tỉnh Rạch Giá (nay là Kiên Giang).

Bà đã từng là Huyện ủy viên huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh (1937), tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Trà Vinh (1938), Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Cần Thơ, phụ trách huyện Châu Thành (1939), ủy viên Liên tỉnh ủy Hậu Giang gồm 6 tỉnh miền Tây (1940).

Ngày 23-11-1940, Khởi nghĩa Nam Kì bùng nổ, bà cùng các đồng chí lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa tại Vĩnh Long. Đến cuối tháng 12-1940, ba bị giặc Pháp bắt giam. Cuối năm 1941, địch xử bà trắng án nhưng quản thúc bà tại quê nhà (xã Mĩ Quới).

Đầu năm 1942, bà lên Sài Gòn bắt liên lạc với tổ chức, củng cố Thành ủy và tham gia Ban vận động tái lập Xứ ủy Nam Kì lâm thời. Tháng 8-1942, bà bị địch bắt lần thứ hai và bị kết án chung thân khổ sai.

Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp, bà cùng một số đồng chí phá khám để giải thoát chính trị, nhưng lính Nhật tràn tới và bà bị kẹt lại nhà tù. Tháng 6-1945, bà vận động một số anh em tiến bộ giúp bà thoát khỏi nhà tù đế quốc.

Sau đó, bà trở về tỉnh Bạc Liêu làm Tỉnh ủy viên, cùng các đồng chí chuẩn bị cướp chính quyền.

Tháng 1-1946, bà trúng cử đại biểu Quốc hội khóa I (bà là đại biểu Quốc hội từ khóa I đến khóa IV). Tháng 10-1946, bà ra Hà Nội dự cuộc họp Quốc hội khóa I.

Năm 1947, bà trở về Sài Gòn hoạt động, được cử và Ban Thường vụ Thành ủy. Bà tham gia Ban tổ chức Xứ ủy, Ban Phụ vận, Đảng đoàn Phụ nữ Nam Bộ từ năm 1952 đến năm 1954.

Năm 1954, sau khi Hiệp định Giơnevơ được kí kết bà được Đảng điều động trở lại hoạt động tại Sài Gòn, làm Trưởng ban Phụ vận Thành ủy để củng cố xây dựng cơ sở Đảng ở các chợ.

PHẠM HÙNG
(1912-1988)

Ông Phạm Hùng, tên thật là Phạm Văn Thiện, sinh ngày 11-06-1912 tại xã Long Hồ, huyện Châu Thành, tỉnh Vĩnh Long.

Năm 1928-1929, ông hoạt động trong phong trào thanh niên và học sinh, tham gia tổ chức “Nam Kì học sinh Liên hiệp hội” và “Thanh niên Cộng sản Đoàn”.

Năm 1930, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Hoạt động qua các cấp chi ủy xã, Huyện ủy và Tỉnh ủy Mĩ Tho.

Năm 1931, ông bị thực dân Pháp bắt và kết án tử hình như do phong trào đấu tranh của nhân dân trong nước cùng với Đảng Cộng sản và nhân dân Pháp, chúng phải giảm án xuống chung thân khổ sai và đày ông đi Côn Đảo.

Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, ông ra khỏi nhà tù đế quốc, được bầu vào Xứ ủy Nam Bộ. Năm 1946, ông được bầu làm Bí thư Xứ ủy lâm thời Nam Bộ.

Năm 1951, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Năm 1952, khi thành lập Trung ương Cục miền Nam, ông được chỉ định làm Ủy viên Trung ương Cục miền Nam, sau đó làm Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam kiêm bí thư và Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính Phân liên khu miền Đông Nam Bộ.

Năm 1954, khi Hiệp định Giơnevơ về Việt Nam được kí kết, ông làm Trưởng đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam trong Ban Liên hiệp đình chiến Nam Bộ.

Năm 1955, ông làm Trưởng phái đoàn liên lạc Quân đội nhân dân Việt Nam.

Với những cống hiến to lớn, ông được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng, huân chương cao quý nhất của Nhà nước ta và nhiều huân, huy chương khác.

Nhà nước Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Việt đã tặng ông Huân chương Cách mạng Tháng Mười, Huy chương Vì sự nghiệp củng cố Liên minh chiến đấu.

Nhà nước Cộng hòa Cu Ba tặng Huân chương E. Chê Ghêvara hạng nhất.

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc tặng huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng nhất và Huy chương Vì tình anh em chiến đấu.

Nhà nước Cộng hòa nhân dân Bungari tặng Huân chương. G.Đimitơrốp.

macbupda:
UNG VĂN KHIÊM
(1910-1991)

Ông Ung Văn Khiêm, sinh ngày 13-02-1910, tại làng Tân Đức (nay là xã Tân Mĩ, huyện Chợ Mới, tỉnh Long Xuyên (nay là tỉnh An Giang), trong một gia đình nông dân.

Năm 17 tuổi, ông học tại trường Collge de Cantho và đã bắt đầu chịu ảnh hưởng của phong trào yêu nước theo xu hướng xã hội chủ nghĩa của Nguyễn Ái Quốc.

Tháng 8-1929, ông tham gia thành lập An Nam Cộng sản Đảng và được chỉ định làm Bí thư Đảng ủy Hậu Giang (miền Tây Nam Bộ). Cuối năm 1930, Ngô Gia Tự bị địch bắt, Ung Văn Khiêm được cử làm Bí thư Xứ ủy thay Ngô Gia Tự. Năm 1931, ông bị địch bắt, bị kết án tù cầm cố và đày ra Côn Đảo. Năm 1936, ông ra tù và tiếp tục hoạt động trong phong trào Đông Dương Đại hội. Năm 1939, ông lại bị địch bắt kết án lần thứ hai và bị kết án 2 năm tù giam. Mãn hạn tù, địch định đưa ông lên trại tập trung Tà Lài. Thừa lúc địch sơ hở, ông chạy thoát, cải trang làm nông dân tá điền ở đồn điền Cờ Đỏ (Cần Thơ), tích cực chiến đấu gây dựng cơ sở cách mạng. Năm 1944-1945, Ung Văn Khiêm tập hợp lực lượng xây dựng Mặt trận Việt Minh và tham gia Xứ ủy Nam Kì, chuẩn bị Cách mạng Tháng Tám. Ông được cử ra Việt Bắc dự Đại hội Quốc dân Tân Trào.

Năm 1945, ông là Ủy viên Thường vụ Xứ ủy, tham gia cướp chính quyền ở Sài Gòn. Từ tháng 8-1945 đến cuối 1946, ông là Bí thư Xứ ủy Nam Bộ và sau đó là Thường vụ Xứ ủy phụ trách chính quyền.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần II (tháng 2-1951), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Trung ương Cục miền Nam, Bí thư kiêm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Bạc Liêu.

Năm 1955, ông làm Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Trưởng ban đối ngoại Trung ương Đảng. Năm 1960, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần III của Đảng, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Từ tháng 1-1961, ông làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Bộ trưởng bộ Nội vụ. Ông là Đại biểu Quốc hội khóa I, II và III.

Ung Văn Khiêm được Nhà nước tặng thưởng nhiều huân chương, trong đó có Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng I.

Trong Điếu văn của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Ủy viên Bộ Chính trị đọc tại lễ truy điệu ông ngày 22-3-1991, có đoạn viết:

“… Đồng chí Ung Văn Khiêm, một người cộng sản trung kiên và tiêu biểu, khiêm cung, giàu lòng nhân ái và tình thương yêu, đoàn kết với đồng chí, đồng bào. Cũng là một trong những người gieo mầm cách mạng vô sản trên mảnh đất này ngay từ những năm 20 của thế kỉ XX, là lứa đàn anh “khai sơn phá thạch” cho con đường cách mạng đầy gai góc của dân tộc Việt Nam…”.

LƯU VĂN LANG
(1880-1969)

Ông Lưu Văn Lang, sinh ngày 5-6-1880, tại làng Tân Phú Đông, tỉnh Sa Đéc (nay là tỉnh Đồng Tháp), thân phụ cụ là Lưu Văn Củng, làm nghề thợ mộc, làm cối xay lúa.

Thuở nhỏ học chữ Nho, đến 11 tuổi bắt đầu học chữ Quốc ngữ và chữ Pháp. Nhưng nhờ học giỏi nên được cấp học bổng lên Sài Gòn học trường Tây Chasseloup Laubat. Năm 17 tuổi lại được cấp học bổng qua Pháp vào trường đạo tạo kĩ sư lớn nhất của Pháp là Ecole ceuhale de Paris. Lưu Văn Lang là kĩ sư cầu cống đầu tiên ở Nam Kì được đào tạo tại Pháp.

Về nước, ông được bổ nhiệm đến Vân Nam (Trung Quốc) xây dựng đường xe lửa Vân Nam. Từ 1909 đến 1940, ông làm tại Sở Công chánh Sài Gòn. Ông nổi tiếng liêm khiết và đồng thời gần như một nhân vật huyền thoại về bản lĩnh và tài năng chuyên môn.

Là một học trò nghèo hiếu học, ông rất quan tâm đến vấn đề mở mang dân trí. Ông tham gia thành lập Hội Khai trí Tiến Đức ở Hà Nội và Hội SAMIPIC ở Sài Gòn, nhằm nâng cao tinh thần tí tuệ và và thể lực cho trí thức Nam Kì, giúp học bổng cho sinh viên nghèo.

Năm 1943-1944, ông tích cực giúp phong trào truyền bá Quốc ngữ chính thức hoạt động rầm rộ ở Sài Gòn và các tỉnh.

Sau Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), Lưu Văn Lang được mời ra Huế làm Tổng trưởng, nhưng ông tuyên bố dứt khoát “không làm đày tớ cho ai nữa cả”. Khi Pháp chiếm lại Sài Gòn ngày 23-9-1945, ông giữ thái độ bất hợp tác với Pháp.

Từ 1947 đến 1950, Lưu Văn Lang là một người tiêu biểu cho phong trào trí thức chống Pháp, đòi Pháp phải chấm dứt chiến tranh bằng cách ngưng bắn và thương lượng với Chính phủ Hồ Chí Minh.

Ông và bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng là người kí tên đầu tiên vào Tuyên ngôn trí thức năm 1947. Sau đó cùng bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng và giáo sự Đặng Minh Trứ mang bản Tuyên ngôn đi gặp Cao ủy Bollaert.

Năm 1948, ông làm cố vấn Hội trưởng Ban chấp hành bí mật của Thành hội Liên Việt.

Năm 1949, ông lại là người kí đầu tiên vào bản Tuyên ngôn thứ hai chống “giải pháp Bảo Đại”, đòi Chính phủ Pháp thương lượng với Chính phủ Hồ Chí Minh để trao trả độc lập cho Việt Nam và lập lại hòa bình. Nếu bản Tuyên ngôn thứ nhất năm 1947 thu được khoảng 400 chữ kí, thì lần này bản Tuyên ngôn thứ hai thu được 900 chữ kí của trí thức, nhân sĩ, công tư chức và cấc tầng lớp nhân dân khác ở Sài Gòn và lục tỉnh.

Ngày 12-1-1950, dù tuổi cao sức yếu, ông vẫn dẫn đầu hàng trăm ngàn người đưa đám tang trò Ơn.

Năm 1954, ông nhận chức Chủ tịch danh dự Phong trào hòa bình. Tháng 11-1954, ông bị bọn Ngô Đình Diệm bắt giữ, nhưng do uy tín của ông, chúng buộc phải thả ông ra.

Đồng bào thường gọi ông là Bác vật Lưu Văn Lang.

Ông hoàn toàn ủng hộ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, công khai phổ biến các văn kiện của Mặt trận giữa Sài Gòn.

Khi luật sư Nguyễn Hữu Thọ vào vùng giải phóng, ông căn dặn: “Phải coi chừng lệ thuộc ngoại bang…”.

Lưu Văn Lang mất ngày 8-8-1969.

macbupda:
HUỲNH THIÊN LỘC
(1910-1953)

Huỳnh Thiên Lộc sinh năm 1910 tại Rạch Giá, cháu nội ông Cả Bé, một địa điền chủ ở Tây Nam Bộ. Huỳnh Thiên Lộc học ở trường Taberd (Sài Gòn) rồi qua Pháp học, đậu kĩ sư canh nông.

Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, ông về Sài Gòn làm nghề kinh doanh. Ngoài 20.000 hécta ruộng đất, ông có nhiều cơ sở xay lúa. Ông được chính quyền thực dân chọn làm Ủy viên kinh tế lí tài Đông Dương, thuộc loại trẻ nhất.

Khoảng 1944-1945, ông có liên lạc với một số đảng viên Đảng Dân chủ Việt Nam ở Sài Gòn, ủng hộ vật chất và trở thành đảng viên Đảng Dân chủ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Tháng 5-1945, ông tham gia vận động thành lập Thanh niên tiền phong tại Giồng Riềng - Rạch Giá.

Tháng 1-1946, ông được chọn vào phái đoàn do Tôn Đức Thắng dẫn đầu gồm nhiều đại biểu Quốc hội và cán bộ cách mạng áp tải vàng nhận được trong Tuần lễ vàng của Nam Bộ đem ra Chính phủ Trung ương.

Tháng 4-1946, ông được cử làm Bộ trưởng Bộ Canh nông Chính phủ liên hiệp kháng chiến, được chọn vào phái đoàn đi dư Hội nghị Fontainebleau (Pháp).

Năm 1947, ông cùng nhiều cán bộ lãnh đạo khác trở về Nam. Ông được cử làm Ủy viên Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ, Phó Chủ tịch Hội Liên Việt Nam Bộ.

Ông đã hiến cho cách mạng 20.000 hécta ruộng đất và hệ thống xay xát ở Chợ Lớn, để Chính phủ cấp đất cho nông dân.

Trong phong trào hiến điền từ năm 1950, với uy tín của mình, ông đi khắp miền Tây Nam Bộ vận động điền chủ hưởng ứng. Vì vậy, hàng vạn nông dân đã có ruộng đất cày cấy, đời sống được cải thiện, kháng chiến được đẩy mạnh và Mặt trận dân tộc thống nhất củng cố được khối đoàn kết vững mạnh.

Năm 1952, ông bị bệnh và mất vào đầu năm 1953.

Trong lúc nằm trên giường bệnh, ông đề nghị được vào Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng chí Ung Văn Khiêm, Ủy viên Trung ương Cục miền Nam đã chấp thuận và kết nạp ông vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

NGUYỄN THỊ LỰU
(1909-1988)

Bà Nguyễn Thị Lựu, tức Tám Lựu, tên thật là Nguyễn Thị Thường, sinh ngày 23-8-1909 tại Hòa An, Cao Lãnh, Sa Đéc (nay là tỉnh Đồng Tháp).

Bà sinh ra trong một gia đình khá giả, đậu bằng sơ học Pháp - Việt, rồi lên Sài Gòn học tiếp. Bà hoạt động cách mạng cùng thời với Nguyễn Thị Nhỏ, Thái Thị Nhạn, Trần Thị Hàn, Nguyễn An Ninh…

Năm 1927, bà tham gia Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội, phụ trách công tác phụ nữ.

Năm 1928, bà thoát li gia đình lên Sài Gòn công tác tại cơ quan Kì bộ Nam Kì. Sau đó bà về công tác tại Ô Môn (nay thuộc thành phố Cần Thơ).

Cuối năm 1929, bà được kết nạp vào An Nam Cộng sản Đảng, công tác tại cơ quan phát hành báo chí của Đảng.

Năm 1930, bà vận động thành lập Nông hội tại Mĩ Tho và làm đặc phái viên Tỉnh ủy, phụ trách quận Cai Lậy. Sau đó bà về thành phố Mĩ Tho vận động công nhân, học sinh và phụ nữ. Cuối năm 1930, bà được bầu vào Tỉnh ủy Mĩ Tho.

Năm 1931, bà lên Sài Gòn, được bổ sung vào Xứ ủy Nam Kì và Ban Thường vụ Tổng công hội đỏ của Tôn Đức Thắng. Cũng trong năm 1931, bà bị thực dân Pháp bắt, giam tại Khám lớn Sài Gòn. Năm 1933, bà bị đưa ra xét xử trong “vụ án khổng lồ” Đảng Cộng sản Đông Dương và bị kết án 5 năm tù.

Năm 1936, bà mãn hạn tù. Từ đây, bà tích cực hoạt động trong phong trào 1936-1939. Cùng nhiều đảng viên khác, bà hoạt động trên mặt trận báo chí của Đảng ra công khai tại Sài Gòn, từ tờ Anvantgarde đến Le Peuple và Dân chúng.

Bà cũng là người được Đảng cử ra tham gia Ủy ban Trung ương triệu tập Đông Dương Đại hội và được bầu vào Ban thư kí.

Năm 1939, cuộc đấu tranh của nhân dân ta do Đảng lãnh đạo bị thực dân Pháp đàn áp quyết liệt. Bà cùng nhiều cán bộ cách mạng bị bắt, bà bị kết án 2 năm tù, 10 năm biệt xứ. Thực dân Pháp giam bà ở khám Phú Mĩ. Mãn hạn tù, chúng đày bà lên Bà Rá.

Năm 1944, bà bị bệnh phổi, được đưa về trị bệnh tại Sài Gòn, rồi bị quản thúc tại Tân Uyên (Biên Hòa).

Sau khi Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945) bà về Sài Gòn bắt liên lạc với Đảng và được phân công chuẩn bị cho việc cướp chính quyền tại Sài Gòn và Nam Bộ.

Tháng 10-1945, bà bị thổ huyết do bệnh lao cũ, bà được về Châu Đốc dưỡng bệnh. Năm 1946, bà được giao phụ trách tờ báo Phụ nữ cứu quốc, lấy tên Anh Thư. Năm 1947, bà tham gia thành lập Mặt trận Liên Việt thị xã Châu Đốc.

Năm 1949, bà trở lại Sài Gòn tham gia Thành ủy với nhiệm vụ Trưởng ban Phụ vận trong phong trào đấu tranh chống can thiệp Mĩ tháng 3-1950 ở Sài Gòn - Chợ Lớn. Bà là một trong những cán bộ cốt cán cùng với các bà Năm Hộ Sứ, Yến, Duy Liên…

Năm 1952, bà dự lớp Trường chinh, khóa III.

Năm 1954, bà là Trưởng tiểu ban Tổ chức Phong trào bảo vệ hòa bình. Năm 1955, bà lãnh nhiệm vụ Trưởng ban Trí vận Sài Gòn - Chợ Lớn. Năm 1956, bà về khu căn cứ Xứ ủy Nam Bộ.

Bà mất ngày 11-10-1988 tại thành phố Hồ Chí Minh.

macbupda:
TRIỆU CÔNG MINH
(1909-1975)

Nhà báo Triệu Trường Thế, tức Triệu Công Minh, sinh ngày 29-4-1909 tại Vĩnh Mĩ, quận Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.

Tốt nghiệp sư phạm Sài Gòn, ông đi dạy vài năm, nhưng rồi bỏ nghề chuyển sang làm nghề báo. Ông tham gia viết trên nhiêu tờ báo từ những năm 20 (thế kì XX với nội dung đấu tranh cho dân sinh, dân chủ, đả kích những điều bê bối, bất công thời thực dân, phong kiến. Ôn chuyên viết châm biếm, trào lộng, chuyện lạ, phong tục tập quán đồng quê Nam Bộ. Ông và bà Ái Lan (nữ sĩ Ái Lan, là vợ ông) cùng một chí hướng, hai người đã chọn nghề viết văn, viết báo làm sự nghiệp. Cả hai ông bà đều viết cho Lục tỉnh Tân văn, Nữ giới chung, Đông Pháp, thời báo Phụ nữ Tân văn… Sau ông tự xuất bản tờ Phóng sự và Cuối xuân, tên tuổi ông được xác định. Tờ Phóng sự đã gây tiếng vang mạnh mẽ với những bài điều tra, tố giác nhiều vụ ức hiếp nhân dân của quan chức thực dân và tay sai.

Năm 1945, hai ông bà tham gia kháng chiến tại miền Tây Nam Bộ, rồi được trở về công tác nội thành Sài Gòn - Chợ Lớn. Cả hai đều tham gia phong trào báo chí thống nhất ở Sài Gòn, đấu tranh cho tự do báo chí, tự do dân chủ, chống Pháp xâm lược, chống chính phủ bù nhìn, ủng hộ chính phủ Hồ Chí Minh. Khi thực dân đàn áp phong trào báo chí thống nhất, giết hại kí giả, Triệu Công Minh, Vũ Tùng, Thiếu Sơn phải rút ra khu giải phóng.

Triệu Công Minh ra chiến khu Đ ở trong Ban biên tập Đài phát thanh Sài Gòn - Chợ Lớn tự do (1950-1951). Rồi ông về báo Cứu quốc Nam bộ đến khi kí kết Hiệp định Giơnevơ (1954).

Trở lại Sài Gòn, Triệu Công Minh tiếp tục đấu tranh trong báo chí, trong các tổ chức nhà báo, kiên quyết chống Mĩ và tay sai. Ông viết trên hầu hết báo chính ở Sài Gòn: Buổi sáng, Dân chúng, Tiếng dội, Sài Gòn mới, Phụ nữ diễn đàn, Vui sống, Chị cùng em, Tân Dân, Hương quê, Tin vắn…

Triệu Trường Thế thường được biết với bút danh Triệu Công Minh, Triệu Tử Long và nhiều bút danh khác: Ba Kẹo, Tư Giò, Trùm Nóc, Chị ba sún răng, Chị tư xóm gà, Trường cao phong.

Trong giới văn nghệ sĩ, ai cũng biết Triệu Công Minh và Ái Lan sống bằng ngòi bút, nhưng nhiều bài viết ra không vì tiền, chỉ có những báo, nhà xuất bản tiến bộ mới dám cho in ấn bài viết của ông và gây được tiếng vang.

Nhà báo Triệu Công Minh mất ngày 2-2-1975 tại Sài Gòn.

NGUYỄN VIỆT NAM
(1921-1991)

Nguyễn Việt Nam sinh năm 1921 tại xã Mĩ Trà, huyện Cao Lãnh, Sa Đéc (nay là tỉnh Đồng Tháp). Ông vào trường trung học Cần Thơ cùng lúc với Lưu Hữu Phước.

Năm 1942, ông ra Hà Nội học trường Đại học Y khoa. Từ đó, ông tham gia phong trào sinh viên yêu nước của Tổng hội sinh viên Đông Dương.

Sau khi bắt được liên lạc với Đảng Cộng sản Việt Nam, một nhóm sinh viên “xếp bút nghiên” về Nam, trong đó có ông để tham gia chuẩn bị Tổng khởi nghĩa. Về Sài Gòn, ông là mọt trong sáng lập viên Tân Dân chủ đoàn, về sau là Đảng Dân chủ Việt Nam.

Sau ngày 25-8-1945, ông là Chính trị viên của Sư đoàn Cộng hòa vệ binh. Ngày 23-9-1945, trong một trận tập kích ngay trong thành phố, ông bị thương.

Từ đầu năm 1946, ông là Trưởng Ban tuyên truyền quân dân chính tỉnh Sa Đéc, làm Chủ nhiệm báo Dân chủ, cơ quan ngôn luận của tỉnh và biên tập viên tờ Kèn gọi lính của Ủy ban kháng chiến Nam Bộ.

Năm 1954, tập kết ra Bắc, ông là Ủy viên Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Đảng Dân chủ Việt Nam, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và là Tổng biên tập báo Độc lập của Đảng Dân chủ Việt Nam.

Ông mất năm 1991.

macbupda:
TRẦN ĐẠI NGHĨA
(1913-1997)

Ông Trần Đại Nghĩa, tên thật là Phạm Quang Lễ, sinh ngày 13-9-1913 tại Xuân Hiệp, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Cha của ông là Phạm Quang Mùi, dạy học ở tỉnh lị Vĩnh Long. Mẹ là Phạm Thị Diệu, một phụ nữ dịu hiền, rất mực yêu chồng, thương con, sống có nghĩa, có tình, điều này có ảnh hưởng rất lớn đến Phạm Quang Lễ. Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, cha mất sớm, Trần Đại Nghĩa đã chứng kiến và căm phẫn cảnh thực dân Pháp chà đạp, bóc lột nhân dân ta. Từ sự căm phẫn đó, ông đã nuôi hoài bão: “Cố gắng học để sau này cùng nhân dân đấu tranh giải phóng đất nước”.

Năm 1933, Trần Đại Nghĩa thi đỗ hai bằng tú tài (Tây và bản xứ). Vì nhà nghèo, Trần Đại Nghĩa không thể ra Hà Nội học đại học, đành trở về Mĩ Tho làm thư kí để kiếm tiền giúp mẹ và chị. Thời gian này, ông tự học thêm về luật. Hai năm sau, ông Dương Văn Ngưu, một nhà báo yêu nước mến mộ tài và trí của Trần Đại Nghĩa đã giúp ông có được suất học bổng ở trường Chasseloup Laubat.

Ngày 5-5-1935, Trần Đại Nghĩa rời Sài Gòn sang Pháp, đến tháng 6-1936, ông thi đậu vào trường Đại học quốc gia Cầu đường (École natiolale Jesponts et chaussés). Trần Đại Nghĩa vừa học trường Đại học quốc gia Cầu đường, vừa học Xoócbon, Viện khí động học, Học viện thống kê, Cao đẳng kĩ thuật điện, đồng thời tự nghiên cứu những vấn đề về chế tạo và sử dụng thuốc nổ và thiết kế chế tạo súng nhỏ, súng lớn.

Năm 1946, Trần Đại Nghĩa trở về nước. Từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, ông đã chế tạo các loại lựu đạn, súng phóng lựu, súng cối 50,8 li, súng SXZ, mìn phá xe và chế tao thành công súng badôca có tác dụng chống xe tăng, tàu chiến.

Năm 1947, Trần Địa Nghĩa được chỉ định làm Cục trưởng Cục pháp binh kiêm Cục trưởng Cục quân giới và sau Chiến dịch Thu - Đông ông được phong quân hàm Thiếu tướng. Năm 1949, ông được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam. Năm 1950, ông giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ Công nghiệp.

Trần Đại Nghĩa nhiều lần được chủ tịch Hồ Chí Minh, Chính phủ và Bộ Quốc phòng tuyên dương thành tích, được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng III. Trong Đại hội liên hoan anh hùng và chiến sĩ thi đua toàn quốc ngày 1-5-1952, Trần Đại Nghĩa được Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng I và danh hiệu Anh hùng lao động.

Năm 1954, Trần Đại Nghĩa làm Chủ nhiệm Ủy ban xây dựng cơ bản của nhà nước và Ủy ban Khoa học kĩ thuật nhà nước, Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam…

Ngày 9-8-1997, Trần Đại Nghĩa bị bệnh và mất tại thành phố Hồ Chí Minh.

Suốt cuộc đời mình, Trần Đại Nghĩa đã cống hiến trọn vẹn cuộc sống cho khoa học, và trên hết là cho cả dân tộc Việt Nam. Nhà vật lí Nguyễn Văn Hiệu đã nhận xét về ông như sau: “Đối với thế hệ chúng ta, công lao và đạo đức của nhà khoa học ấy đã đi sâu vào lịch sử như một thiên thần thoại truyền kì”, còn Đại tướng Võ Nguyên Giáp thì gọi Trần Đại Nghĩa là “Ông Phật chế tạo vũ khí”.

NGUYỄN NGỌC NHỰT
(1918-1952)

Nguyễn Ngọc Nhựt sinh ngày 15-91-918 tại làng An Hội (nay là phường 5, thị xã Bến Tre). Cha ông là Nguyễn Ngọc Tương, Đốc phủ sứ, điền chủ lớn, Giáo tông Cao Đài Ban chỉnh đạo, một vị Giáo chủ trước sau như một, luôn trung thành với Chính phủ Hồ Chí Minh.

Nguyễn Ngọc Nhựt du học ở Pháp, đậu kĩ sư cầu cống E.C.P, làm chuyên viên kĩ thuật cho nhiều hãng lớn của Pháp. Vợ ông là con một kĩ sư người Pháp, giám đốc một công ti lớn, đã giúp đỡ ông trong những năm chiếm đóng của phát xít Đức.

Mặc dù đang có một vị trí cao trong xã hội Pháp, từng được Công ti kinh doanh Sues ngỏ ý mời sang làm việc, nhưng năm 1946, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh (dẫn phái đoàn Việt Nam sang thương lượng với Pháp) có cuộc gặp gỡ kiều bào và trí thức Việt Nam, ông quyết tâm trở về đất nước, dù gặp nhiều trở ngại. Ông được sự đồng tình và ủng hộ của anh trai là kĩ sư Nguyễn Ngọc Bích, nguyên Khu bộ phó Khu 9, bị Pháp bắt trong một trận càn quét và đưa sang Pháp quản thúc (vì ông có quốc tịch Pháp), Nguyễn Ngọc Nhựt đã làm căn cước giả, trà trộn trong lính ONS (thợ Việt Nam không chuyên môn bị Pháp bắt sang phục vụ chiến tranh) về Sài Gòn.

Năm 1947, ông bắt liên lạc với kháng chiến và vào khu giải phóng Đồng Tháp Mười. Ông vào làm việc ở công binh xưởng Khu 8. Ông sống giản dị, gần gũi, chan hòa cùng công nhân. Ông cũng tham gia sản xuất vũ khí và hướng dẫn kĩ thuật cho công nhân. Với tài năng của mình, ông cùng công binh xưởng vượt qua mọi khó khăn, góp phần giúp cho bộ đội ta khắc phục được một phần thiếu thốn về trang bị. Theo lệnh cha, ông giao cho Chính phủ 100 hécta đất của gia đình tại Bến Tre.

Năm 1948, ông được cử làm Ủy viên Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ, phụ trách công tác thương binh xã hội.

Ngày 2-6-1949, Pháp mở cuộc hành quân lớn vào Đồng Tháp Mười, ông bị bắt tại Cái Bèo, Sa Đéc (nay thuộc tỉnh Đồng Tháp). Ông khai là giáo viên bình dân học vụ, nhưng vì trong số bị bắt có kẻ khai báo nên ông bị lộ tông tích.

Biết ông thuộc gia đình lớn, có tên tuổi, nhiều uy tín và ảnh hưởng, thực dân Pháp ra sức dụ dỗ, mời ông ra làm Bộ trưởng Quốc phòng, Công chánh trong Chính quyền Sài Gòn nhưng ông kiên quyết từ chối. Người vợ của ông (người Pháp) cũng sang thuyết phục ông trá hàng để gia đình bà tìm cách bảo lãnh ông được trả tự do, nhưng ông vẫn kiên quyết nêu cao ý chí yêu nước.

Thấy không mua chuộc được ông, thực dân Pháp đã tra tấn ông rất dã man, bằng việc tiêm thuốc độc gây rối thần kinh và những thủ đoạn o ép tinh thần đã làm ông kiệt sức, mất trí. Sau đó, thực dân Pháp đưa ông vào nhà thương điên Biên Hòa.

Sau 3 năm hành hạ tra tấn, thực dân Pháp thả ông ra. Ông mất ngày 15-9-1952, lúc ông vừa 34 tuổi.

Navigation

[0] Message Index

[#] Next page

[*] Previous page