Nhân vật lịch sử 64 tình thành trong kháng chiến chống Pháp

<< < (2/5) > >>

satthat:
TỈNH HÀ TĨNH
Anh hùng liệt sỹ PHAN ĐÌNH GIÓT
Liệt sỹ Phan Đình Giót sinh năm 1920 tại Tam Quan, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh; nhập ngũ năm 1950. Trước Chiến dịch Điện Biên Phủ, Phan Đình Giót đã lập chiến công xuất sắc ở Tràng Bạch, Chùa Tiếng, Ba Vì... trong các chiến dịch: đường 18, Trung Du, Hoà Bình, Tây Bắc. Tham gia đánh cứ điểm Him Lam mở màn cho Chiến dịch Điện Biên Phủ, Phan Đình Giót là tiểu đội phó tiểu đội bộc phá thuộc Đại đội 58, Đại đoàn 312. Đại đội 58 được lệnh dùng bộc phá mở rào dây thép gai cho quân ta tiến vào tiêu diệt cứ điểm. Nhận lệnh, Phan Đình Giót cùng đồng đội đi mở đường; bản thân Phan Đình Giót đánh đến quả bộc phá thứ 9 thì bị thương vào đùi nhưng vẫn xung phong đánh quả thứ 10. Địch tại cứ điểm Him Lam tập trung hoả lực bắn vào cửa ta vừa mở làm nhiều chiến sỹ ta bị thương vong. Phan Đình Giót lao lên đánh tiếp 2 quả bộc phá, phá tan đoạn rào cuối cùng, thông cửa mở để đồng đội đánh sập lô cốt đầu tiên. Lợi dụng lúc địch hoang mang, anh vượt lên áp sát lô cốt số 2, ném thủ pháo bắn kiềm chế địch. Từ lô cốt số 2, súng địch tiếp tục nhả đạn, Phan Đình Giót dùng súng tiểu liên bắn yểm trợ cho đồng đội đồng thời lao cả thân mình vào bịt lỗ châu mai, dập tắt hỏa lực lợi hại của địch, tạo điều kiện cho đơn vị diệt gọn cứ điểm Him Lam.

satthat:
TỈNH THANH HOÁ
Anh hùng liệt sỹ Tô Vĩnh Diện
Tô Vĩnh Diện sinh năm 1924 ở xã Nông Trường, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa), nhập ngũ tháng 7/1949. Năm 1953, Tô Vĩnh Diện được điều về làm tiểu đội trưởng pháo cao xạ thuộc Đại đội 827, Tiểu đoàn 394, Trung đoàn 367. Trong quá trình đơn vị hành quân cơ động trên chặng đường hơn 1.000km tới vị trí tập kết, chuẩn bị đánh mở màn Chiến dịch Điện Biên Phủ. Đường kéo pháo hẹp, nhiều đèo dốc, trên cương vị là tiểu đội trưởng, Tô Vĩnh Diện thường xuyên gánh vác những việc nặng nhọc, động viên, giúp đỡ đồng đội đưa pháo tới đích an toàn.

Ngày 26/1/1954, Bộ chỉ huy mặt trận chuyển từ phương án "đánh nhanh, giải quyết nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc" và lệnh kéo pháo ra để chuẩn bị đầy đủ, đảm bảo chắc thắng. Kéo pháo ra gian nan gấp bội phần so với kéo pháo vào bởi một phần đường kéo pháo đã bị lộ, máy bay trinh sát của địch thường xuyên do thám cho pháo binh bắn vào những vị trí chúng nghi ngờ. Thêm vào đó, sau hơn 10 ngày kéo pháo vào trụ tời đã lung lay, dây thừng đã bị sờn, ải... Qua 5 đêm kéo pháo ra, đến nửa chừng dốc "Chuối", dây tời bị đứt, pháo lao nhanh xuống dốc hất 4 chiến sỹ chèn pháo văng xuống suối. Trước tình thế đó, tiểu đội trưởng Tô Vĩnh Diện buông bánh lái, lao mình vào chèn bánh pháo. Khẩu pháo 37mm bị vướng đổ nghiêng vào sườn núi. Tấm gương hy sinh anh dũng của anh hùng liệt sỹ Tô Vĩnh Diện vào ngày 1/2/1954 đã cổ vũ mạnh mẽ toàn đơn vị vươn lên hoàn thành nhiệm vụ.

satthat:
TỈNH HẢI DƯƠNG
Anh hùng liệt sỹ MẠC THỊ BƯỞI
Mạc Thị Bưởi là một chiến sỹ du kích, một cán bộ cơ sở, hoạt động ở địa phương. Với lòng căm thù sâu sắc bọn đế quốc, và giai cấp phong kiến áp bức, bóc lột, đồng chí khắc phục khó khăn, kiên trì xây dựng cơ sở, vận động và lãnh đạo quần chúng đấu tranh chống giặc trong những năm 1946-1947, tham gia công tác phụ nữ ở địa phương. Năm 1949, địch về đóng bốt Trung Hà, tại quê hương, chúng làm hàng rào, tháp canh, càn quét, vây bắt cán bộ. Vì vậy cán bộ ở xã Nam Tân bị bật sang các vùng lân cận. Trong điều kiện khó khăn ấy, một mình đồng chí vẫn bám dân, bám đất, kiên trì hoạt động, giác ngộ nhân dân, xây dựng cơ sở kháng chiến, đào hầm bí mật, đón cán bộ về chỉ đạo kháng chiến. Kết quả, đồng chí đã tổ chức được 3 tổ nữ du kích, xây dựng 35 cơ sở ở ba thôn của xã; vận động quần chúng chống nộp thuế, đi phu cho giặc
   Năm 1950, bộ đội ta đánh bật bốt Thanh Dung(?), Mạc Thị Bưởi làm liên lạc, lúc nổ súng đồng chí đã bò qua 3 hàng rào dây thép gai và ra vào vị trí địch ba bốn lần để truyền lệnh và báo tình hình, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Nhiều lần đồng chí cùng cán bộ huyện đột nhập vào các xã để diệt tề, trừ gian, bảo vệ cơ sở.
   Năm 1951, Mạc Thị Bưởi làm nhiệm vụ vận động nhân dân vùng tạm chiến chuẩn bị gạo, đường, sữa chuyển ra vùng tự do phục vụ chiến dịch Trần Hưng Đạo, đánh đường 18. Đồng chí đã tổ chức vận chuyển ra vùng tự do chu đáo. Trong chuyến cuối cùng, đồng chí không may bị địch phục kích bắt được. Từ lâu đồng chí đã bị địch theo dõi và chúng treo giải thưởng lớn, nếu ai bắt Mạc Thị Bưởi, nhưng không tìm ra tung tích đồng chí . Khi sa vào tay giặc, chúng đã tra tấn cực kỳ tàn bạo, đồng chí cắn răng chịu đựng không khai một lời, trung thành tuyệt đối với tổ chức. Biết không thể khuất phục được người con gái kiên cường này, giặc đã treo đồng chí lên bụi tre và dùng dao chọc tiết lợn giết đồng chí. Mạc Thị Bưởi hy sinh khi mới 24 tuổi xuân. Nhân dân địa phương và tất cả đồng đội vô cùng thương tiếc. Tấm gương của Mạc Thị Bưởi đã thúc dục các tất cả mọi người dũng cảm chiến đấu, tiêu diệt kẻ thù để trả thù cho đồng chí và cho đồng bào đã bị giặc giết hại.
Ngày 31-8-1955, Mạc Thị Bưởi được Chủ tịch nước Việt nam Dân chủ Cộng Hoà tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang(LLVT) nhân dân và Huân chương quân công hạng II.
Ngày nay Đảng bộ và nhân huyện Nam Sách đã dựng tượng đài Mạc Thị Bưởi, cạnh quốc lộ 5 và xây nhà tưởng niệm tại khu vực đền thờ Mạc Đĩnh Chi để ghi công và tưởng nhớ người con gái anh hùng của quê hương.
Anh hùng liệt sỹ NGUYỄN ĐỨC TỤNG
Đồng chí Nguyễn đức Tụng, sinh năm 1918. Sinh trú quán tại xã Liên Mạc, huyện Thanh Hà. Dân tộc Kinh. Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Hy sinh ngày 15 tháng 2 năm 1951, tại quê hương. Khi hy sinh, đồng chí là xã đội phó xã Liên Mạc.
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo, là con trai duy nhất trong gia đình có 6 chị em. Từ nhỏ, vốn là người thông minh, ham học, tiếp thu nhanh kiến thức xã hội, sớm có tầm nhìn rộng lớn hơn nhưng thanh niên cùng trang lứa. Năm 1946, đồng chí vào Hội nông dân cứu quốc, tháng 12 năm 1946, vào đội du kích thoát ly của xã. Đồng chí là người hăng say, gương mẫu trong công tác, dũng cảm trong chiến đấu.
Từ năm 1947 đến năm 1950, đồng chí cùng đồng đội đã đánh trả 35 trận càn của địch, tiêu hao nhiều sinh lực địch, làm cho chúng khiếp sợ, không giám thương xuyên càn quét, bảo vệ được tài sản và tính mạng của nhân dân, trấn áp bọn phản động lợi dụng tôn giáo, chống xây bốt, lập tề.
Với thành tích chiến đấu và công tác xuất sắc, năm 1948, đồng chí được kết nạp đảng. Cuối năm 1950, đồng chí được cử làm xã đội phó.
Với cương vị là xã đội phó, đồng chí đã gương mẫu, sáng tạo trong chiến đấu, làm cho phong trào du kích chiến vững mạnh.
Cuối năm 1950, tình hình địch vây ráp, càn quét vô cùng ác liệt, đội du kích xã phải chia làm nhiều nhóm nhỏ, bám dân, bám làng để hoạt động. Là một trong những người lãnh đạo đội du kịch, đồng chí vừa tham gia sản xuất để tự túc cuộc sống, vừa liên hệ với các nhóm, nắm chắc tình hình địch, báo động kịp thời cho cán bộ nằm vùng và du kích chủ động đối phó khi địch càn quét.
Cuối năm 1950, các vùng xung quanh xã địch lần lượt chiếm đóng, vùng địch hậu thu hẹp dần. Các bốt Hương Đại và Cổ Chẩm như hai gọng kìm ép chặt hai bên, nhiều làng xã kế cận bị lập tề, nhiều người dao động, một số phần tử muốn ra hàng giặc, lập tề. Trong điều kiện vô cùng khó khăn đó, đồng chí đã cùng ban chỉ huy bám sát cơ sở, lãnh đạo nhân dân đấu tranh hợp pháp, chống bắt phu, chống lập tề, xây bốt. Từ đầu năm 1951, địch thường xuyên vây ráp, tập kích bất ngờ vào địa bàn xã, lực lượng du kích phải thường xuyên thay đổi vị trí hoạt động. Khoảng 11 giờ đêm 14 tháng 2 năm 1951, Nguyễn Đức Tụng và 2 đồng chí Tiêu Công Năng (tiểu đội trưởng), Phạm Văn Lạc (tiểu đội phó) nhận nhiệm vụ đón bộ đội huyện về hoạt động tại nhà đồng chí Tụng. Do bị lộ, tên Phạm Văn Cù, nguyên là du kích, phản bội, dẫn đường cho bọn địch ở bốt Cổ Chẩm gồm trên 20 tên, do tên sĩ quan Pháp chỉ huy, bất ngờ ập vào nhà đồng chí Tụng, bắt 3 người về nhà bà Nguyễn Thị Lắm, xóm Quang Trung, trói vào gốc mít. Khoảng quá nửa đêm, lợi dụng địch sơ hở, đồng chí Tụng dùng bàn tay bị trói quặt ra phía sau cởi trói cho đồng chí Năng và đồng chí Lạc, rồi ra hiệu cho hai đồng chí trốn thoát.
Sáng 15 tháng 2, chúng cới trói, rồi cởi quần áo đồng chí Tụng, chuẩn bị tra điện vào chỗ hiểm. Trong lúc cởi quần áo, đồng chí Tụng đã quan sát thấy con dao găm đeo bên hông của tên sĩ quan Pháp đứng gần, nhanh như cắt, đồng chí với tay cướp con dao, đâm thẳng vào sường tên sĩ quan Pháp. Tên Cù đứng gần lao tới, bị đồng chí đâm thẳng vào ngực, chết ngay tại chỗ. Sau đó đồng chí chạy được một đoàn thì bị địch xả súng bắn theo. Đồng chí đã anh dũng hy sinh, để lại lòng kính trọng của đồng đội và nhân dân và lỗi kinh hoàng của quân thù. Tên sĩ quan Pháp, trên đường khiêng về bốt cùng đã chết.
Chiến công anh dũng và xuất sắc của đồng chí Tụng đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công hạng III.
Ngày 10 tháng 4 năm 2001, Chủ tịch nước đã truy tặng đồng chí danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân.

satthat:
HẢI PHÒNG
Phạm Ngọc Đa quê ở xã Bạch Đằng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng. Nhà nghèo, Đa phải đi ở cho một nhà giàu. Chính những năm đi ở đấy, cậu bé  Đa 12 tuổi đã vào Đội Thiếu niên để hoạt động du kích.

    Đa bắt cóc buộc vào ống bơ thả vào đồn làm cho giặc ăn không ngon ngủ không yên. Anh đánh trâu lồng húc thẳng vào bọn giặc, cứu anh phụ trách. Đa làm liên lạc theo dõi địch, đặt mìn, vót chông, giấu cán bộ xuống hầm bí mật. Một hôm giặc đi càn. Chúng bắt được anh, hỏi anh có phải là “Thép một” không. Anh trừng mắt trả lời vào mặt chúng: “Tao là người đang muốn giết hết bọn Tây cướp nước và bọn Việt gian bán nước. Tao không biết thép… nào cả. Tất cả chúng tao đều là thép hết!”.

    Chúng bắt anh chỉ hầm bí mật. Chúng chặt một tay rồi hai tay… anh vẫn không khai nửa lời. Biết chẳng khai thác được gì ở con người gan dạ ấy nên chúng đã chặt người anh nát ra từng khúc. Anh đã hi sinh vì quê hương đất nước.

    Anh đã được Đảng và Nhà nước ta phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

satthat:
NAM HÀ
Dương Văn Nội
Dương Văn Nội quê ở Nam Hà, gia đình chuyển ra Hà Nội để kiếm sống; bố mẹ đều làm nghề bốc vác ở ga Hà Nội. Chứng kiến cảnh đánh đập, khủng bố đã man của phát xít Nhật đối với đồng bào ở nhà dầu Shell Khâm Thiên, Nội quyết tâm đi theo cách mạng để tham gia diệt phát xít Nhật, đánh đuổi thực dân Pháp.Dương Văn Nội tham gia Đội Thiếu niên cứu quốc Thủ đô làm liên lạc cho một đại đội tự vệ chiến đấu ở khu Thăng Long.

    Đầu tháng 4 năm 1947, giặc Pháp mở cuộc hành quân lớn gồm nhiều mũi tấn công vào nơi đóng quân của Đội du kích Thủ đô. Nội đã cùng các anh tham gia chiến đấu chống giặc. Với khẩu súng trường trong tay, Nội bình tĩnh ngắm địch nhả đạn. Dương Văn Nội đã giết ba tên Pháp và hi sinh oanh liệt. Hôm ấy là ngày 12-4-1947 Nội vừa bước sang tuổi 15.

    Dương Văn Nội đã được Đảng và Nhà nước ta truy tặng Huân chương chiến công hạng Nhì và anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Navigation

[0] Message Index

[#] Next page

[*] Previous page