Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 23 Tháng Chín, 2014, 09:16:12 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cách mạng tháng Tám 1945 - Toàn cảnh  (Đọc 67035 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6307


Lính của PTL


« Trả lời #50 vào lúc: 27 Tháng Tám, 2011, 07:46:22 AM »

SƠN TÂY(*)

Sơn Tây là một địa bàn chiến lược quan trọng, nằm giữa trung du và đồng bằng, ngay sát Hà Nội. Vì vậy, thực dân Pháp đã đặt tại đây nhiều đồn binh trọng yếu ở thành Sơn Tay, Thông, Hòa Lạc… để kiểm soát tình hình.

Phong trào cách mạng ở Sơn Tây hình thành sớm, nhưng phát triển không liên tục. Năm 1937, chi bộ lâm thời đầu tiên của tỉnh mới được thành lập ở thôn Đa Phúc và chịu trách nhiệm lãnh đạo phong trào trên địa bàn toàn tỉnh. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào dân chủ những năm 1937-1938 của Sơn Tây được đẩy mạnh.

Tháng 9.1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, chấp hành chỉ thị rút vào hoạt động bí mật, chi bộ Đa Phúc đã bảo toàn được lực lượng, tiếp tục lãnh đạo phong trào. “Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế” được thành lập, đưa phong trào cách mạng trong tỉnh bước sang một thời kì mới - thời kì cách mạng giải phóng dân tộc.

Từ đầu năm 1949, phong trào phản đế trong tỉnh phát triển mạnh mẽ. Ở các thị trấn, huyện lị, tỉnh lị, truyền đơn và cờ đỏ búa liềm xuất hiện. Các đoàn thể cứu quốc tăng nhanh về số lượng và chất lượng. tại các vị trí quân sự quan trọng của Pháp ở Thông, Sơn Lộc xuất hiện truyền đơn kêu gọi binh lính chống chiến tranh. Bên cạnh đó, các cuộc đấu tranh chống phù thu lạm bổ, chia lại công điền công thổ… vẫn tiếp tục, tuy không rầm rộ như trước.

Trước sự phát triển của phong trào phản đế và các cơ sở Đảng trong toàn tỉnh (lúc này đã thành lập được cơ sở ở Phúc Thọ và Tùng Thiện). Xứ ủy Bắc Kỳ quyết định thành lập Ban Tỉnh ủy lâm thời Sơn Tây (10.1940). Đảng bộ ra đời, chủ trương tổ chức phong trào luyện tập quân sự trong các độ tự vệ và phản đế; tuyên truyền xung phong ở những nơi đông người để gây ảnh hưởng cho mặt trận và hưởng ứng tinh thần Bắc Sơn, Nam Kỳ khởi nghĩa. Các cuộc tuyên truyền xung phong được tổ chức liên tiếp ở Đa Phúc, chợ Nủa (Thạch Thất), La Gián (Tùng Thiện), thu hút hàng trăm người tham gia. Sự phát triển rầm rộ, lộ liễu của phong trào lúc này đã dẫn đến hậu quả bị địch đàn áp, khủng bố. Đầu năm 1941, phong trào bị vỡ. Hầu hết đảng viên và quần chúng, cốt cán bị bắt hoặc phải thoát li địa phương. Cả tỉnh chỉ còn lại một cơ sở chi bộ Đa Phúc, không đủ điều kiện để duy trì Ban Tỉnh ủy. Xứ ủy quyết định chuyển tỉnh ủy Sơn Tây thành Ban cán sự Sơn Tây, giao phong trào cách mạng Sơn Tây cho Tỉnh ủy Hà Đông phụ trách.

Mặc dù vừa bị địch khủng bố, Đảng bộ Sơn Tây đã lợi dụng ngày hội chùa Thầy (4.1941) để tổ chức một cuộc tuyên truyền, vận động sâu rộng trong quần chúng, tiếp tục hưởng ứng tinh thần Bắc Sơn, Nam Kỳ và ủng hộ Trung Hoa kháng Nhật. Trước mặt bọn quan lại, lính tráng, mật thám đến dự hội, các chiến sĩ cách mạng đã treo cờ đỏ búa liềm trên đỉnh núi Thầy. Kẻ thù tức tối mở một cuộc vây ráp nhưng không bắt được ai.

Tháng 12.1941, Mặt trận Việt Minh và các tổ chức Cứu quốc ra đời ở Sơn Tây. Đảng bộ chủ trương tuyên truyền giải thích sâu rộng tôn chỉ, mục đích của Mặt trận, vạch trần thủ đoạn áp bức bóc lột của Pháp - Nhật và tiến hành phát triển rộng rãi các hội viên cứu quốc. Hình thức tuyên truyền chủ yếu lúc này là rải truyền đơn, dán áp phích, treo cờ đỏ sao vàng dọc các đường giao thông chính, các chợ, thị trấn, thị xã và các cơ quan công sở. Đặc biệt, Đảng bộ cho rải truyền đơn vào các trại lính ở Thông, Sơn Lộc để kêu gọi binh lính chống chiến tranh đế quốc và phản đối lệnh đi đàn áp, khủng bố cách mạng…

Phong trào Việt Minh đang phát triển thì tháng 2.1942, địch phát hiện được cơ sở giao thông của Xứ ủy ở Đa Phúc; phong trào lại bị vỡ. Hè năm 1943, được sự tăng cường cán bộ của Xứ ủy, chi bộ Đảng được tái lập, phong trào dần dần được phục hội.

Cuối năm 1944, Xứ ủy chủ trương xây dựng một khu an toàn ở phía bắc Hà Đông, nam Sơn Tây gồm 3 huyện Hoài Đức, Quốc Oai và Đan Phượng. Do đó, phong trào ở Sơn Tây nói chung và các xứ Đa Phúc, Thượng Đức, Mỹ Giang (thuộc Quốc Oai) nói riêng được củng cố và phát triển. Tòa soạn báo “Cứu quốc” - cơ quan ngôn luận của Tổng bộ Việt Minh được đặt tại Đa Phúc và núi Sài Sơn. Đầu năm 1945, cơ quan báo bị lộ và khủng bố, phải chuyển đi nơi khác nhưng phong trào trong tỉnh vẫn được duy trì.

Sau khi Nhật đảo chính Pháp, tình hình chính trị, xã hội ở Sơn Tây hết sức rối loạn. Bên cạnh đó, nạn đói cũng bước vào giai đoạn thê thảm nhất. Quần chúng nhiều nơi đã tự phát chống đối, giết bọn sĩ quan Nhật và chủ đồn điền. Trước tình hình đó, nhiều cán bộ, đảng viên đã vượt ngục về địa phương hoạt động. Xứ ủy cũng kịp thời cử thêm một số cán bộ đến Sơn Tây để tăng cường lãnh đạo phong trào.

Trung tuần tháng 3.1945, Ban cán sự của tỉnh họp tại thôn Thượng Hiệp (Quốc Oai), kiểm điểm tình hình và vạch ra kế hoạch đẩy mạnh phong trào. Sau khi nghiên cứu kĩ chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, hội nghị đã quyết định đẩy mạnh công tác gây dựng, củng cố và mở rộng cơ sở ở những vùng quan trọng về chính trị như thị xã, các huyện lị dọc các đường giao thông lớn; xúc tiến việc nối liền các căn cứ địa cách mạng trong toàn tỉnh; khẩn trương chuẩn bị các lực lượng vũ trang, gây dựng một cao trào cách mạng trong nhân dân. Hội nghị cũng chủ trương vận động nhân dân thành lập quỹ nghĩa thương để tương trợ chống đói, tổ chức lực lượng tự vệ để giữ gìn trật tự an ninh, bảo vệ cán bộ, chống Nhật bắt phá hoa màu trồng đay… Hội nghị quyết định sẽ tổ chức tuần hành thị uy để biểu dương lực lượng, gây thanh thế cho cách mạng ở những nơi có điều kiện.


(*) Người viết: ThS. Lê Minh Huệ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6307


Lính của PTL


« Trả lời #51 vào lúc: 27 Tháng Tám, 2011, 07:48:01 AM »

Sau hội nghị, phong trào ở khắp các địa phương có tiến bộ rõ rệt. Các đoàn thể Cứu quốc đã thu hút được đông đảo các tầng lớp công nhân, thợ máy, lái xe, thanh niên, học sinh, sư sãi… Tổ “Việt Nam Cứu quốc hội” được phát triển gồm số đông hào lí, phụ lão đã có tác dụng tích cực trong việc đấu tranh không nộp thuế, nộp thóc (ở Tùng Thiện). Tổ chức “Nhi đồng cứu vong” cũng được phát triển ở Thuần Mỹ, Kiều Trung, làm tốt công tác bảo mật phòng gian, phát tán truyền đơn, đưa đón cán bộ… Ở miền núi, vùng đồng bào Mường, Ban cán sự tỉnh bố trí cán bộ nhằm chuẩn bị xây dựng căn cứ du kích của tỉnh. Lực lượng vũ trang, các đội tự vệ và tự vệ chiến đấu được gấp rút xây dựng. Ở nhiều nơi, các đội bảo an địa phương biến thành đội tự vệ của ta. Quần chúng khắp nơi tích cực tìm kiếm, mua sắm vũ khí. Nhiều nơi như ở Bất Bạt, nhân dân lấy được cả súng, lựu đạn của Pháp vứt lại trong ngày đảo chính để trang bị cho các đội tự vệ. Các lớp huấn luyện chính trị và quân sự được mở liên tục ở Cấn Xá, Hạ Bằng, Sài Sơn… Tỉnh còn gửi một số đồng chí lên học trường quân chính ở chiến khu Việt Bắc.

Trong tháng 6 và 7.1945, phong trào phát triển mạnh mẽ với các hình thức đấu tranh rất phong phú; vận động quần chúng chống nộp thóc tạ, chống nhổ lúa trồng đay; cắt đường dây điện thoại, điện tín của địch. Có nơi, lực lượng cách mạng tổ chức cướp tiền thuế, cướp kho thóc, xe thóc của Nhật chia cho nông dân như ở Cần Kiệm, Tích Giang… Những cuộc tuyên truyền xung phong được tổ chức ở nơi đông người để vạch mặt bọn phản động, gây được ảnh hưởng mạnh mẽ trong quần chúng. Quần chúng biểu tình thị uy, thậm chí có những cuộc tước vũ khí của lính huyện đi canh đê như ở Triệu Xuyên (Phúc Thọ). Truyền đơn, áp phích, cờ đỏ sao vàng xuất hiện khắp nơi, thậm chí cả trong công sở, bàn giấy của bọn quan lại.

Trước khí thế cách mạng đó, nhiều quan lại, kì hào, binh lính đã từng chống đối cách mạng trở nên hoang mang, có người ủng hộ ngầm hoặc công khai đi theo cách mạng. Ở một số xã như Thuần Mỹ, Kiều Trung, bên cạnh chính quyền bù nhìn đã bị ta khống chế, lợi dụng, các Ủy ban dân tộc giải phóng đã bí mật ra đời, trực tiếp lãnh đạo chuẩn bị khởi nghĩa.

Từ 1 - 3.8.1945, Tỉnh ủy họp hội nghị bất thường tại xóm Bồ Đề, thôn Đa Phúc (Sài Sơn) để bàn kế hoạch giành chính quyền toàn tỉnh và phân công lãnh đạo khởi nghĩa ở các địa phương. Kế hoạch đề ra là sẽ giành chính quyền ở những nơi nào có phong trào cao trước, nắm chắc thắng lợi rồi mới tuần tự khởi nghĩa ở những nơi khác.

Ngày 15.8, Hội nghị khẩn cấp của Xứ ủy Bắc Kỳ quyết định phải đánh chiếm phụ lị Quốc Oai trước.

Ngày 17.8, được sự hỗ trợ của đội tự vệ do Xứ ủy điều từ Chương Mỹ lên, lực lượng cách mạng Sơn Tây đã chiếm được phủ Quốc Oai không tốn một viên đạn. Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời được thành lập.

Ngay sau thắng lợi ở Quốc Oai, ta tổ chức giành chính quyền ở Thạch Thất, rồi cử lực lượng đi lấy đồn Hòa Lạc (một đồn binh quan trọng ở Thạch Thất). Do có nhân mối bên trong từ trước nên việc lấy đồn diễn ra thuận lợi, không đổ máu.

Ngày 20.8, lực lượng cách mạng và quần chúng giành chính quyền ở Tùng Thiện và Phúc Thọ.

Tối 19.8, Hội nghị Tỉnh ủy mở rộng được triệu tập tại Kiều Trung để bàn kế hoạch giành chính quyền ở thị xã Sơn Tây.

Đêm 20.8, tự vệ chiến đấu cắt đường dây điện thoại của địch đi Hà Nội và các nơi khác. Tổ chức thanh niên Phan Anh, được sự tuyên truyền, vận động của Việt Minh đã tổ chức một cuộc biểu tình ủng hộ Việt Minh. Bọn Đại Việt bị cô lập rút về phía Mỏ Chén. Chính quyền địch ở Sơn Tây về cơ bản đã tan rã.

Ngày 21.8, các đội vũ trang các huyện và quần chúng nhân dân tự trang bị vũ khí thô sơ đã mít tinh, biểu tình, sau đó kéo về phía dinh Tỉnh trưởng và trại Bảo an binh, vừa đi vừa hô vang các khẩu hiệu ủng hộ cách mạng. Từ Tỉnh trưởng đến Bảo an binh, cảnh sát, công chức các công sở đều phải tuân lệnh của quân cách mạng, giao nộp lại chính quyền, sổ sách… Công cuộc giành chính quyền ở thị xã Sơn Tây thành công tốt đẹp.

Ngày 22.8, Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh được thành lập(1). Cùng ngày, ta giành chính quyền ở Quảng Oai.

Bất Bạt là huyện cuối cùng trong tỉnh giành chính quyền. Do nước lụt ngăn cản nên đến ngày 25.8, Tỉnh bộ Việt Minh mới điều một lực lượng vũ trang và tự vệ (khoảng một trung đội) lên giành chính quyền.

Như vậy, từ 17 đến 25.8.1945, Đảng bộ Sơn Tây (lúc này mới có 16 đồng chí) đã lãnh đạo nhân dân toàn tỉnh vùng lên giành chính quyền từ tay phát xít Nhật và tay sai.

*

Là một địa bàn chiến lược quan trọng, Sơn Tây thường xuyên bị bọn thực dân, phát xít theo dõi và khủng bố gắt gao. Các cơ sở Đảng ở Sơn Tây ra đời muộn và không có điều kiện để phát triển mạnh như ở các địa phương khác. Phong trào cách mạng nói chung phát triển chưa đều giữa các vùng. Trong thời kì tiền khởi nghĩa, khẩu hiệu đấu tranh kinh tế chưa được thực hiện một cách mạnh mẽ. Hình thức đấu tranh chủ yếu vẫn là tuyên truyền vận động quần chúng đấu tranh hợp pháp chống nộp thóc, các hình thức đấu tranh bất hợp pháp như cướp thóc, cướp thuế còn ít, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế… Tuy nhiên, Đảng bộ và nhân dân Sơn Tây lại có thuận lợi là được sự chỉ đạo và giúp đỡ trực tiếp của Xứ ủy Bắc kỳ. Nhờ vận dụng linh hoạt những chủ trương, chính sách của Trung ương và Xứ ủy, Đảng bộ Sơn tây đã huy động được sức mạnh của toàn dân, cô lập, tiến tới đánh bại kẻ thù, giải phóng quê hương.


(1) Ngày 25.8.1945, Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh chính thức ra mắt quần chúng, tuyên bố xóa bỏ hệ thống chính quyền của thực dân phong kiến, kêu gọi nhân dân toàn tỉnh đoàn kết bảo vệ chính quyền cách mạng.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6307


Lính của PTL


« Trả lời #52 vào lúc: 27 Tháng Tám, 2011, 07:50:07 AM »

HÀ ĐÔNG(1)

Hà Đông tiếp giáp với nhiều vùng đất quan trọng ở khu vực Bắc Bộ, phía đông bắc giáp Hà Nội, phái bắc giáp Sơn Tây, một vị trí quân sự quan trọng; phía tây nam giáp Hòa Bình; phía nam giáp Hà Nam. Với một hệ thống giao thông đường thủy, đường bộ, đường hàng không ngày càng phát triển như đường số 1, số 6, sông Nhuệ, sông Đáy… Hà Đông đã trở thành cầu nối giữa Hà Nội với nhiều miền của đất nước, trở thành nơi giao lưu kinh tế, chính trị, văn hóa của khu vực. Về mặt quân sự, Hà Đông đã trở thành áo giáp của Hà Nội về phía tây nam. Về mặt chính trị, do vốn cùng chung đơn vị hành chính nên dù tách thành tỉnh riêng, Hà Đông vẫn có mối quan hệ chặt chẽ với Hà Nội về nhiều mặt. Hà Nội có ảnh hương không nhỏ tới Cách mạng tháng Tám ở Hà Đông. Về kinh tế, Hà Đông là một tỉnh nhỏ có nền kinh tế phát triển trong khu vực, vùng sản xuất lương thực chủ yếu của Bắc Bộ, đồng thời cũng là “đất trăm nghề”. Toàn tỉnh có 136 ngành nghề với những sẩn phẩm nổi tiếng trong và ngoài nước, đặc biệt là ngành tơ lụa, khảm trai, thêu ren… Do tiếp giáp với Hà Nội nền kinh tế hàng hóa của tỉnh sớm phát triển để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, sản xuất của Hà Nội và các vùng khác. Hà Đông đã trở thành kho người, kho của rất quan trọng.

Sự phát triển kinh tế đã dẫn đến sự phân hóa xã hội mạnh mẽ. Bên cạnh giai cấp địa chủ, nông dân, ở Hà Đông đã xuất hiện đội ngũ công nhân hàng nghìn người, tập trung ở một số xí nghiệp lớn. Ngoài ra, ở đây còn xuất hiện hai lực lượng quan trọng có ảnh hưởng lớn đến phong trào cách mạng trong tỉnh là thợ thủ công và trí thức, tiểu tư sản. Do điều kiện sản xuất, thợ thủ công giao tiếp rộng rãi nên rất nhanh nhạy, nhiệt tình trong đấu tranh cách mạng. Lực lượng trí thức, tiểu tư sản xuất thân từ nhiều thành phần xã hội khác nhau như nông dân, thợ thủ công, nhà Nho, con em lí dịch… họ thường ra học ở Hà Nội và được giác ngộ cách mạng thông qua phong trào học sinh sinh viên ở Hà Nội. Với những đặc điểm nêu trên, Hà Đông đã trở thành địa bàn quan trọng không chỉ ở khu vực mà của cách mạng cả nước. Tháng 5.1930, chi bộ Đảng đầu tiên của Hà Đông được thành lập ở xã Đông Phù (Thanh Trì). Sau đó cơ sở Đảng, cơ sở quần chúng cách mạng được mở rộng. Đến 1938, Đảng bộ Hà Đông ra đời và trở thành lực lượng lãnh đạo quan trọng của phong trào cách mạng tỉnh.

Năm 1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Tình hình Đông Dương nhanh chóng chuyển biến, gây bất lợi cho cách mạng. Ngày 29.9.1939, thực dân Pháp ở Đông Dương đã công bố đạo luật phát xít và ngay ngày hôm sau, chúng đã tiến hành khủng bố, đàn áp dữ dội phong trào cách mạng ở Hà Đông. Tháng 10.1939, đồng chí Hoàng Văn Thụ, Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ cùng các cán bộ và cơ quan của Xứ ủy Bắc Kỳ, một số cán bộ của Trung ương đã về hoạt động ở Hà Đông. Sở dĩ Hà Đông được Xứ ủy và Trung ương chọn làm an toàn khu vì Hà Đông tiếp giáp với Hà Nội, lại ở vị trí đầu mối giao thông thuận lợi giữa các vùng trong xứ, các miền trong cả nước. Mặt khác, Hà Đông lại là nơi có cơ sở Đảng, cơ sở quần chúng mạnh, nhất là ở vùng Hoài Đức, nơi có nhiều làng nghề thủ công nên việc đi lại giao dịch hàng ngày rất tấp nập, giúp các cán bộ của Đảng dễ cải trang che mắt địch. Việc Xứ ủy Bắc Kỳ và Trung ương chọn Hà Đông làm an toàn khu đã giúp cho phong trào cách mạng địa phương phát triển nhưng đồng thời đây cũng là trách nhiệm nặng nề vì kẻ địch luôn rình mò, đàn áp, khủng bố quyết liệt nhằm tiêu diệt cơ quan Xứ ủy và Trung ương ở Hà Đông.

Tháng 5.1941, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 đề ra chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh và chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của Đảng và nhân dân trong thời kì mới. Hà Đông là nơi có nhiều cán bộ của Trung ương, Xứ ủy qua lại nên Đảng bộ sớm tiếp nhận nghị quyết 8 của Trung ương. Tháng 8.1941, kế hoạch tiến hành thành lập Mặt trận Việt Minh tỉnh đã được hình thành. Các cán bộ của Xứ ủy và Trung ương đóng ở địa phương, các cán bộ ở tỉnh đã mở các lớp huấn luyện về chương trình, điều lệ của Mặt trận Việt Minh, giúp các cơ sở xây dựng các đoàn thể cứu quốc, đồng thời tổ chức các hình thức tuyên truyền như treo cờ đỏ sao vàng, rải truyền đơn, giới thiệu chương trình điều lệ Mặt trận Việt Minh, tán phát thư kêu gọi của đồng chí Nguyễn Ái Quốc… Do hoạt động tích cực, đến cuối năm 1941, hầu khắp các cơ sở cách mạng trong tỉnh đã thành lập được Mặt trận Việt Minh. Đó là cơ sở để đến tháng 11.1941, Mặt trận Việt Minh tỉnh được thành lập ở làng Vạn Phúc. Sau đó, Mặt trận Việt Minh các huyện cũng lần lượt thành lập. Tổ chức Mặt trận Việt Minh các cấp đã được hình thành.

Cùng với xây dựng lực lượng chính trị, quán triệt quan điểm chuẩn bị khởi nghĩa của Hội nghị Trung ương Đảng 8, Ban cán sự Đảng tỉnh Hà Đông rất quan tâm đến việc phát triển lực lượng tự vệ. Từ năm 1939, do yêu cầu bảo vệ cơ quan và cán bộ của Trung ương Đảng và Xứ ủy ở an toàn khu nên một số đội tự vệ của Hà Đông đã được hình thành. Lực lượng tự vệ được tuyển chọn từ các đoàn thể phản đế. Sau đó, ở những nơi có phong trào mạnh, khu căn cứ của tỉnh cũng tổ chức các đội tự vệ. Tỉnh ủy còn cử đồng chí Phó Bí thư Tỉnh ủy và một số cán bộ đi dự lớp huấn luyện quân sự do Trung ương mở. Đến năm 1942, ở hầu hết các huyện thị đều đã xây dựng được đơn vị tự vệ ở thôn xã. Phong trào xây dựng lực lượng tự vệ có bước phát triển mới vào tháng 8.1944, khi Tổng bộ Việt Minh phát động phong trào “Sắm vũ khí, đuổi thù chung”. Đảng bộ Hà Đông đã củng cố các độ tự vệ sẵn có, tổ chức thêm các đội tự vệ mới, mua sắm vũ khí trang bị cho tự vệ, cử người đi học các lớp chính trị, quân sự do Xứ ủy, Trung ương, tỉnh tổ chức. từ 1944, trong tỉnh xuất hiện “Đội danh dự trừ gian”, có nơi gọi là “Đội tuyên truyền vũ trang xung phong”, hoạt động tuyên truyền bất ngờ ở nơi đông người một cách chớp nhoáng nhằm tố cáo tội ác của thực dân Pháp và phát xít Nhật, kêu gọi nhân dân đấu tranh. Đến giữa 1945, một số xã thuộc huyện Thanh Oai, Thanh Trì, Chương Mỹ đã thành lập đại đội tác chiến của vùng là những đội tự vệ mạnh của khu vực.

Như vậy, từ 1939 đến 1945, phong trào cách mạng Hà Đông phát triển mạnh mẽ, rộng khắp trong toàn tỉnh với lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang đứng đầu. Ngày 9.3.1945, Nhật đảo chính Pháp độc chiếm Đông Dương. Ngày 12.3.1945, Thường vụ Trung ương Đảng đã ra chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Ngày 18.3, Ban Tỉnh ủy Hà Đông đã họp và bàn kế hoạch thực hiện chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng và hội nghị đã phân công mỗi đồng chí trong Ban Tỉnh ủy phụ trách cách mạng của một vùng (khu vực do Tỉnh ủy chỉ đạo được chia làm 4 vùng lớn). Do sự lãnh đạo sát sao, trực tiếp của Tỉnh ủy, Xứ ủy, Trung ương, từ trung tuần tháng 3.1945, toàn tỉnh dấy lên phong trào đấu tranh cách mạng sôi nổi, mạnh mẽ, phong phú về nội dung và hình thức. Công tác tuyên truyền được đẩy mạnh, treo cờ, rài truyền đơn, dán áp phích diễn ra trong khắp các vùng, gây ảnh hưởng mạnh mẽ. Ban Tỉnh ủy đặc biệt chú ý chỉ đạo phát triển hình thành tuyên truyền xung phong. Các đội tuyên truyền xung phong ở các vùng, các cơ sở được thành lập. Các đội tuyên truyền xung phong thường được tổ chức ở các chợ vào những ngày phiên chợ, như chợ Trôi (Đan Phượng), chợ Chúc (Chương Mỹ), chợ Chuông (Thanh Oai), chợ Om, chợ Nhót (Thanh Trì), chợ Đanh, chợ Ngăm (Ứng Hòa), chợ Mía (Mỹ Đức)…


(1) Người viết ThS. Vũ Thị Hòa, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
« Sửa lần cuối: 14 Tháng Chín, 2011, 09:39:47 PM gửi bởi macbupda » Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6307


Lính của PTL


« Trả lời #53 vào lúc: 27 Tháng Tám, 2011, 07:57:04 AM »

Ảnh hưởng, tác động của của các cuộc vũ trang tuyên truyền rất lớn, thường sau đó các cuộc mít tinh của quần chúng được tổ chức ở nhiều nơi. Có nhiều cuộc mít tinh biến thành cuộc biểu tình tuần hành có hàng trăm người tham gia giương cao cờ dỏ sao vàng. Có những cuộc biểu tình kéo dài hàng kilômét, như ở chợ Bụa (Chương Mỹ), chợ Nứa (Mỹ Đức), chợ Đanh Xuyên (Ứng Hòa)… Qua công tác tuyên truyền và hoạt động của các đội tuyên truyền xung phong, đường lối chủ trương của Đảng được phổ biến rộng rãi, nhân dân được tổ chức và tập dượt đấu tranh. Khí thế cách mạng lên cao, có nơi nhân dân đã tự đi tìm cán bộ Việt Minh. Giữa lúc đó, nạn đói ngày càng trậm trọng. Năm 1945, toàn tỉnh chết đói khoảng 8 vạn quần chúng, gần bằng 1/10 dân số của tỉnh. Nạn đói diễn ra đặc biệt trậm trọng ở các vùng có nghề thủ công. Làng La Cả (Hoài Đức) có 2.093 người chết, chiếm 43% dân trong xã, trong đó có 147 gia đình chết không còn một ai. Làng La Khê (Hoài Đức) có 1200 người chết, chiếm 58% dân số của làng. Trước tình hình đó, Ban Tỉnh ủy đã chỉ đạo các cơ sở lập ban cứu đói, vận động nhân dân giúp đỡ nhau, đồng thời vận động nhân dân không nộp thuế, nộp thóc và giành lại số thóc mà hào lí đã thu nộp cho Nhật. Lực lượng tự vệ cứu quốc và quần chúng còn phục kích trên một số trục giao thông để giải tán các đoàn gánh thóc nhập kho cho Nhật. Việc giải quyết nạn đói, ngăn chặn không nộp thóc cho Nhật có ý nghĩa quan trọng nhiều mặt. Thức nhất, làm thất bại chính sách vơ vét của Nhật, bảo vệ quyền lợi kinh tế cho nhân dân, giải quyết nạn đói. Thứ hai, uy tín của Đảng, của Mặt trận Việt Minh lên cao. Thứ ba, đã phát động được phong trào đấu tranh sâu rộng nhằm tập dượt lực lượng chuẩn bị tiến tới giành chính quyền.

Phong trào cách mạng trong tỉnh lên cao nhưng số lượng đảng viên, cán bộ của tỉnh chỉ có hạn, dù sau 9.3.1945, một số cán bộ của Đảng đã thoát khỏi nhà tù, trở về địa phương hoạt động. Trước tình hình đó, Tỉnh ủy có nhiều biện pháp để đào tạo cán bộ. Trước hết, Tỉnh ủy bồi dưỡng một số đảng viên, quần chúng có năng lực ở cơ sở đi tuyên truyền, bắt mối phát triển phong trào. Nhiều người đã dựa vào các mối quan hệ xã hội, họ hàng, quen biết, đồng nghiệp, tôn giáo để phát triển cơ sở, như thông qua một trùm trưởng ở Vĩnh Lạc, cơ sở cách mạng đã phát triển một số nơi có đạo Thiên Chúa trong tỉnh. Một lực lượng tổ chức, lãnh đạo phong trào đấu tranh khá quan trọng là học sinh học ở các trường Hà Nội. Khi ở Hà Nội, họ đã được giác ngộ cách mạng, được giao nhiệm vụ trở về quê hương tổ chức, lãnh đạo phong trào cách mạng.

Để kịp thời chỉ đạo phong trào, báo chí, tài liệu tuyên truyền của Đảng, của Mặt trận Việt Minh như báo “Cờ giải phóng”, báo “Cứu quốc”, báo “Hồn nước” được chuyển về tận cơ sở. báo chí đã có vai trò quan trọng trong Cách mạng tháng Tám ở tỉnh vì nó có tác dụng mở rộng ảnh hưởng cách mạng trong quần chúng, thống nhất tư tưởng và hành động trước khi giành chính quyền.

Từ trong cao trào kháng Nhật cứu nước, nhiều quần chúng tích cực được rèn luyện qua thực tiễn đấu tranh đã được đứng trong hàng ngũ của Đảng. Các cơ sở Đảng và lực lượng đảng viên của tỉnh tăng nhanh. Đến tháng 8.1945, toàn Đảng bộ có 140 đảng viên, sinh hoạt ở 17 chi bộ và một số tổ Đảng. Đó là lực lượng quan trọng trong cuộc Tổng khởi nghĩa của tỉnh.

Từ trong cao trào kháng Nhật cứu nước, nhiều quần chúng tích cực được rèn luyện qua thực tiễn đấu tranh đã được đứng trong hàng ngũ của Đảng. Các cơ sở Đảng và lực lượng đảng viên của tỉnh tăng nhanh. Đến tháng 8.1945, toàn Đảng bộ có 140 đảng viên, sinh hoạt ở 17 chi bộ và một số tổ Đảng. Đó là lực lượng quan trọng trong cuộc Tổng khởi nghĩa của tỉnh.

Tháng 7.1945, phong trào cách mạng của tỉnh sôi sục khí thế của thời kì tiền khởi nghĩa. Trước sức mạnh của phong trào cách mạng, bộ máy chính quyền bù nhìn các cấp, nhất là ở huyện, xã hoang mang, rệu rã, thậm chí ở một số địa phương bị tê liệt hoàn toàn. Ở nhiều xã, đội ngũ lí dịch làm gì cũng xin phép ý kiến của Mặt trận Việt Minh. Ở nhiều nơi, những hình thức đầu tiên của chính quyền cách mạng đã hình thành, xã bộ Việt Minh đứng ra giữ gìn trật tự an ninh, giải quyết nạn đói, giải quyết xích mích trong dân. Một số nơi lập ủy ban dân tộc giải phóng. Trước tình hình đó, Xứ ủy, Tỉnh ủy chủ trương đẩy mạnh tiến công địch hơn nữa bằng việc sử dụng lực lượng tự vệ đội kích, phục kích, tước vũ khí ở các huyện và của bọn bảo an đi hoạt động lẻ.

Như vậy, chỉ trong vòng 5 tháng (từ tháng 3 đến tháng 7.1945), cách mạng ở Hà Đông đã có bước phát triển nhảy vọt, phong trào đấu tranh rộng khắp, sôi nổi mạnh mẽ từ đấu tranh kinh tế, chính trị, quân sự, tấn công những nơi sơ hở, những khâu yếu của địch, đẩy chính quyền tay sai vào thế suy yếu và bước đầu suy yếu.

Ngày 15.8.1945, được tin phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh, Xứ ủy Bắc Kỳ họp phiên khẩn cấp tại làng Vạn Phúc. Tuy chưa nhận được lệnh Tổng khởi nghĩa nhưng căn cứ vào chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, Xứ ủy nhận định thời cơ đã đến và quyết định khởi nghĩa ở những nơi có điều kiện chắc thắng. Xứ ủy quyết định khởi nghĩa ở Ứng Hòa (Mức Đức) và làng Vạn Phúc. Đêm 16.8, hai làng Trường Liên (Chương Mỹ), Vạn Phúc (Hoài Đức) đã khởi nghĩa giành chính quyền, thành lập Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời xã. Đây là hai làng khởi nghĩa thắng lợi đầu tiên của tỉnh. Tiếp đó, đêm 16.8, quần chúng từ các cấp cơ sở bắc Mỹ Đức, bắc Ứng Hòa, nam Thanh Oai tập kết tại Vĩnh Lạc (Mỹ Đức) và mờ sáng ngày 17.8 tiến về huyện lị Mỹ Đức. Dọc đường, nhân dân gia nhập rất đông. Tri huyện bỏ trốn, lính ngụy đầu hàng, quân khởi nghĩa nhanh chóng làm chủ huyện đường nhưng sau đó lại rút quân về Ba Thá.

Sáng 17.8, lực lượng cách mạng Chương Mỹ chiếm huyện lị. Huyện đường hầu như bỏ trống, vì quan lại, binh lính đã bỏ chạy từ ngày 14.8.1945 khi bị lực lượng tự vệ tấn công cướp vũ khí. Sau đó, lực lượng khởi nghĩa rút về Yên Trường, thành lập Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời huyện.

Chiều 17.8, nhân dân nam Ứng Hòa, nam Mỹ Đức đã chiếm phủ đường phủ Ứng Hòa. Sau đó, quân khởi nghĩa rút về Trầm Lộng, lập căn cứ và phát động nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền thôn xã, thành lập Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời huyện.

Ngày 18.8, nhân dân nhiều huyện, phủ trong tỉnh đã nổi dậy giành chính quyền. Sáng 18.8, huyện Thanh Trì khởi nghĩa. Do huyện trưởng đã có quan hệ với Việt Minh từ trước nên sẵn sàng giao nộp huyện đường. Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời huyện được thành lập và ra mắt quần chúng ngay chiều 18.8.

Sáng 18.8, quân khởi nghĩa đã đột nhập huyện đường Phú Xuyên. Việc đột nhập huyện đường thuận lợi do huyện trưởng đi vắng, lính huyện hoang mang; nhưng do không dự kiến khởi nghĩa giành chính quyền nên quân khởi nghĩa chỉ tước vũ khí, sau đó rút khỏi huyện đường.

Cũng ngày 18.8, hai nhóm cứu quốc ở Hà Hồi, Bình Vọng (được chỉ đạo từ Hà Nội) đã phối hợp với nhau biến cuộc mít tinh của thanh niên Phan Anh thành cuộc biểu tình chiếm phủ đường, thành lập Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời huyện.

Ngày 19.8, khoảng 500 đến 600 người ở Hòa Đức - thị xã Hà Đông, Phú Xuyên theo sự huy động của Xứ ủy đã tham gia giành chính quyền ở Hà Nội. Sau khi trở về, lực lượng cách mạng ở Hoài Đức được chỉ đạo chiếm phủ đường và hôm sau thành lập Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời huyện. Ngày 20.8, khởi nghĩa nổi ra ở Đan Phượng dưới sự chỉ đạo của Xứ ủy, ngày 21.8, quần chúng trong huyện vũ trang biểu tình chiếm huyện lị, thành lập chính quyền cách mạng.
« Sửa lần cuối: 27 Tháng Tám, 2011, 08:06:10 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6307


Lính của PTL


« Trả lời #54 vào lúc: 27 Tháng Tám, 2011, 07:58:06 AM »

Ở Phú Xuyên, tình hình diễn biến khá phức tạp. Mở một vài cơ sở có cán bộ lãnh đạo đã giành chính quyền ở xã, hoặc tham gia khởi nghĩa ở Hà Nội, Duy Tiên. Nhưng các cơ sở cách mạng ở Phú Xuyên phần lớn do các tỉnh khác phát triển; hơn nữa cơ sở lại vừa được xây dựng nên không chủ động tổ chức giành chính quyền huyện trong khi Tỉnh ủy chưa có kế hoạch khởi nghĩa ở Phú Xuyên. Ngày 24.8, một nhóm cứu quốc ở Bạch Mai sau khi tham gia giành chính quyền ở Thường Tin đã tiến xuống Phú Xuyên, kết hợp với tổ chức cứu quốc ở phố Giao Chính tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền, thành lập Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời huyện. Lực lượng Đại Việt ở Phú Xuyên gây sức ép với cách mạng đòi tham gia chính quyền.

Ở thị xã Hà Đông, tình hình cũng khá phức tạp. Sau ngày 9.3.1945, lực lượng cách mạng phát triển tương đối nhanh nhưng theo nhiều mối khác nhau nên hình thành nhiều lực lượng. Ở nội thị, một bộ phận do Đảng Dân chủ phát triển; bộ phận mạnh nhất, giữ vai trò chủ yếu ở thị xã lại là thanh niên học sinh do cán bộ của Thành ủy chỉ đạo. Phong trào ở một số làng xung quanh thị xã lại do Tỉnh ủy hoặc do Xứ ủy chỉ đạo. Cho đến những ngày tháng Tám sôi sục cách mạng, Tỉnh ủy vẫn chưa trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng ở thị xã. Ngày 18.8, một số cán bộ của Thành ủy Hà Nội dự định tổ chức một cuộc vũ trang tuyên truyền tại thị xã, nhưng khi tiến hành đã biến thành cuộc vũ trang đột nhập trại Bảo an binh. Trong khi đó, một bộ phận khác đã vận động nhân dân các phố biểu tình, biểu dương lực lượng, đồng thời các đồng chí trong Ban Xứ ủy đã trực tiếp gặp chỉ huy Nhật và tỉnh trưởng yêu cầu không can thiệp vào cuộc khởi nghĩa của nhân dân. Nhưng Quản Dưỡng, một tên tay sai Nhật vẫn ngoan cố liên hệ với quân Nhật và lực lượng Đại Việt ngấm ngầm chống lại cách mạng. Ngày 19.8, Xứ ủy, Ban Tỉnh ủy đã triệu tập hội nghị để bàn kế hoạch khởi nghĩa ở thị xã. Chiều 20.8.1945, hàng nghìn quần chúng vũ trang biểu tình từ các huyện Hoài Đức, Thanh Oai, Thanh Trì, bắc Ứng Hòa đổ về thị xã. Quản Dưỡng hạ lệnh binh lính xả súng vào quần chúng làm 47 người chết, 30 người bị thương và gần 100 người bị bắt. Trong khi đó, lính Nhật đã triển khai án ngữ ở những vị trí trọng yếu trong tỉnh. Trước tình hình đó, ban chỉ huy quyết định rút lui và cử cán bộ ra Hà Nội đề nghị Tổng bộ Việt Minh hỗ trợ. Ngày 21.8, Tổng bộ Việt Minh đã đưa tỉnh trưởng Hà Đông về thị xã, ra lệnh cho Quản Dưỡng chấm dứt mọi hoạt động chống đối, đồng thời ban lãnh đạo tỉnh huy động một lực lượng lớn quần chúng từ Mỹ Đức, Ứng Hòa, Thanh Trì về thị xã hỗ trợ. Ngày 23.8, lực lượng khởi nghĩa đã bao vây tước vũ khí ở trại Bảo an, chiếm các công sở. Ngày 25.8, nhân dân thị xã và một số địa phương mít tinh chào mừng Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh.

Ở Thanh Oai, các xã đã tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền. Trước khí thế của quần chúng, huyện trưởng giao nộp ấn triện và bỏ trốn. Chính quyền bù nhìn huyện tan rã nhưng đến 27.8 Tỉnh ủy mới đưa cán bộ về thành lập chính quyền cách mạng. Ngày 27.8, đánh dấu mốc chấm dứt cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở tỉnh Hà Đông. Tuy nhiên, còn có một sự kiện cuối cùng nổ ra vào ngày 28.8.1945, ở Phú Xuyên và Thường Tín, lực lượng lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền không phải là của Tỉnh ủy. Sau khi khởi nghĩa giành chính quyền, chính quyền cách mạng lâm thời hai huyện không liên lạc, không chịu sự chỉ đạo thống nhất của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh (trấn áp nữ cán bộ của tỉnh phân công về hoạt động ở Thường Tín, không cử đại diện lên họp theo yêu cầu của tỉnh; chính quyền lâm thời Phú Xuyên dùng con dấu của huyện trưởng cũ đóng vào cờ và vào bản công nhân danh sách của Ủy ban lâm thời xã…). Ngày 28.8, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời Hà Đông huy động lực lượng giành lại chính quyền ở Thường Tín, Phú Xuyên.

*

Từ cuộc vận động Cách mạng tháng Tám 1945 ở Hà Đông, có thể rút ra nhận xét sau:

- Hà Đông là một trong những tỉnh phát động khởi nghĩa sớm ở cơ sở. Các cuộc khởi nghĩa ở huyện xã diễn ra nhanh gọn, ít đổ máu (trừ thị xã Hà Đông). Sở dĩ có kết quả như vậy vì Hà Đông có phong trào cách mạng mạnh và lại có quá trình tích cực chuẩn bị lực lượng từ 1939, đặc biệt từ 1941 theo tinh thần nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 của Đảng. Mặt khác, Hà Đông là An toàn khu của Xứ ủy, của Trung ương Đảng, lại được Xứ ủy trực tiếp chỉ đạo khởi nghĩa theo tinh thần chỉ thị 12.3.1945.

- Lực lượng khởi nghĩa ở Hà Đông cơ bản là quần chúng cách mạng, kết hợp với lực lượng bán vũ trang cách mạng đã đè bẹp sự phản kháng của kẻ thù.

- Quá trình giành chính quyền ở Hà Đông diễn ra theo cả hai chiều. Đảng bộ Hà Đông chú trọng giành chính quyền ở cấp huyện, tỉnh đồng thời chú trọng giành chính quyền cấp cơ sở. Cuộc khởi nghĩa đầu tiên nổ ra ở làng xã có cơ sở cách mạng mạnh, sau đó làm bàn đạp tiến lên giành chính quyền ở huyện, tỉnh rồi tiếp tục giành chính quyền ở những địa phương còn lại.

- Khởi nghĩa ở Hà Đông có mối liên hệ chặt chẽ với Hà Nội, biểu hiện ở việc Hà Đông hỗ trợ lực lượng giành chính quyền ở Hà Nội và có một bộ phận cán bộ của Thành ủy Hà Nội tham gia chỉ đạo phong trào cách mạng ở Hà Đông. Khởi nghĩa ở Hà Đông còn có mối liên hệ chặt chẽ giữa các vùng trong tỉnh. Các lực lượng cách mạng trong vùng hỗ trợ lẫn nhau giành chính quyền.

Cùng với cả nước, Cách mạng tháng Tám ở Hà Đông thành công đã đưa lịch sử Hà Đông sang trang mới. Từ đây, nhân dân Hà Đông đã vươn lên địa vị làm chủ đất nước và cùng nhân dân cả nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng đấu tranh bảo vệ thành của Cách mạng tháng Tám, chống giặc ngoại xâm và xây dựng quê hương đất nước ngày càng giàu mạnh.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6307


Lính của PTL


« Trả lời #55 vào lúc: 27 Tháng Tám, 2011, 08:00:41 AM »

Xã Tam Hưng - Hà Đông(*)

Để minh họa cho hình thức đấu tranh giành chính quyền cách mạng trong Cách mạng tháng Tám 1945 ở Hà Đông, đồng thời cũng để làm rõ tính đa dạng của các cuộc khởi nghĩa giành chính quyền, chúng tôi tập trung trình bày diễn biến của cuộc khởi nghĩa ở một xã tiêu biểu của Hà Đông - xã Tam Hưng.

Xã Tam Hưng hiện nay nằm ở phía bắc huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Phía bắc giáp Bình Minh, phía đông giáp Mỹ Hưng và Thanh Thùy, phía tây giáp Thanh Cao và phía Nam giáp Thanh Văn, Thanh Mai, Kim Bài. Xã Tam Hưng gồm 8 thôn: Tê Quả, Đại Định, Lê Dương, Bối Khê, Phúc Khê, Hưng Giáo, Bùi Xá và Văn Khê. Đến trước Cách mạng tháng Tám 1945, cả 8 thôn có 4000 người, với 800 hộ.

Trong thời kì thuộc Pháp, Tam Hưng cũng giống như các vùng quê khác phải chịu hậu quả nặng nề của các chương trình khai thác thuộc địa. Ách thống trị về chính trị, bòn rút về kinh tế, áp bức về văn hóa… với mức độ dã man, tàn bạo của thực dân Pháp thôi thúc người dân Tam Hưng sớm đứng lên đấu tranh bảo vệ nhân phẩm của mình trong cuộc đấu tranh khôi phục quyền của dân tộc.

Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3.2.1930), trong những năm 1930-1931, cuộc đấu tranh của nông dân xã Tam Hưng đòi địa chủ giảm tô khi mất mùa, khất nợ khi giáp hạt… diễn ra tại một số xã thôn khá quyết liệt, nhất là ở Đại Định và Bối Khê. Đến cuộc vận động dân chủ 1936-1939, một số thanh niên Bối Khê, Đại Định, Hưng Giáo ra Hà Đông, Hà Nội làm ăn, như Nguyễn Văn Ve, Lê Cương Đồng… đã tiếp cận được các tờ báo của Đảng, chịu ảnh hưởng của phong trào dân chủ, tham gia các hội ái hữu và khi về quê hương đã mang những thông tin thời sự mà mình biết truyền bá trong họ hàng, xóm làng.

Mặc dù trong thời kì 1930-1993, trên địa bàn Tam Hưng chưa hình thành nên các tổ chức yêu nước, nhưng bằng nhiều con đường khác nhau, một bộ phận nhân dân các thôn Bối Khê, Hưng Giáo đã được tiếp cận ở mức độ nhất định ánh sáng cách mạng của Đảng, nhất là chủ trương đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, chống chiến tranh, chống phát xít, chống phản động thuộc địa. Ảnh hưởng của Đảng uy chưa hình thành được các tổ chức cách mạng và tạo ra được phong trào quần chúng, nhưng có ý nghĩa làm thức tỉnh tinh thần yêu nước, gây mầm cho sự thâm nhập và phát triển sâu rộng của cách mạng ở thời kì sau.

Sau khi được thành lập (tháng 5.1941), Mặt trận Việt Minh đã nhanh chóng phát triển ở Hà Đông, trong đó có xã Tam Hưng. Sau một thời gian tạm thời ngưng liên lạc với Bối Khê, đến cuối năm 1941, đồng chí Ve chắp mối trở lại với các cơ sở đã gây dựng, tích cực đào tạo, bồi dưỡng một số quần chúng tích cực để làm giao thông, liên lạc cho cách mạng, trong số đó có chị Nguyễn Thị Huân và anh Nguyễn Văn Hệ. Nhiều tài liệu của Mặt trận Việt Minh được chuyển đến Tam Hưng, tuyên truyền, giác ngộ quần chúng tin theo cách mạng.

Tháng 3.1944, Mặt trận Việt Minh thôn Bối Khê được thành lập, với các cốt cán tích cực ban đầu là: Trần Vĩnh Dụ, Kiều Diên An, Kiều Văn Ký, Phạm Văn Lãm, Đào Văn khảm và Nguyễn Văn Ý… dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Ve. Đây là sự kiện quan trọng phản ánh bước phát triển mới của phong trào cách mạng không chỉ của Bối Khê, mà ảnh hưởng tới cả tiểu vùng, nhất là các thôn phụ cận. Để che mắt địch, Việt Minh thôn Bối Khê chủ trương lập “đội bóng đá” bao gồm những thanh niên giàu nhiệt huyết, có sức khỏe, mỗi thôn có 2-3 người tham gia. Đây là nòng cốt cho việc phát triển lực lượng thanh niên cứu nước sau này. Khi lực lượng đã được mở rộng, các cốt cán ở Bối Khê chủ trương đẩy cuộc đấu tranh lên một nấc thang cao hơn, nhằm phát huy ảnh hưởng sâu rộng trong dân. Từ chủ trương đó, hoạt động rải truyền đơn, dán áp phích tố cáo tội ác của Nhật - Pháp, kêu gọi nhân dân ủng hộ Việt Minh được tiến hành vào phiên chợ Hôm, chợ Rùa(1) hoặc lễ hội.

Trong khi phong trào ở Bối Khê vận động, phát triển trên cơ sở nhân tố đầu tiên được giáo dục, bồi dưỡng từ cơ sở Vạn Phúc, thì cũng bằng những con đường khác nhau Mặt trận Việt Minh đã đến với các thôn Hưng Giáo, Đại Định, Tê Quả.

Ở Hưng Giáo, nhóm “Hương Quốc” được hình thành tự phát, gồm những trí thức giàu nhiệt huyết yêu nước, mà nòng cốt là Lê Kim Cúc, Lê Kim Ngô và Lê Kim Gia. Hình thức hoạt động chủ yếu của nhóm này là sưu tầm sách báo tiến bộ và tổ chức đọc, bình luận giúp mọi người nhận thức rõ hơn về thời cuộc và con đường cứu nước. Mặc đù hoạt động của nhóm này chỉ mang tính tự phát, nhưng sau đó dần đi theo quỹ đạo của Mặt trận Việt Minh. Các hội viên của nhóm “Hương Quốc” sau này đều trở thành cốt cán của “Thanh niên cứu quốc”, có vai trò quan trọng trong quá trình gây dựng cơ sở cách mạng và lãnh đạo phong trào quần chúng trên địa bàn Hưng Giáo.

Ở Đại Định cũng hình thành một nhóm yêu nước do Tạ Đình Đề đứng đầu. Tạ Đình Đề vốn được Việt Minh phái sang liên lạc với Đồng minh để hợp tác chống Nhật, nhưng khi trở về bị mất liên lạc với tổ chức, nên tạm thời dạt về quê ẩn náu và tìm cách bắt mối liên lạc với tổ chức. Về Đại Định, ông đã tập hợp các thanh niên yêu nước như Tô Dũng, Tạ Đình Hân, Tạ Văn Duy, Phạm Duy Phượng thành lập “hội kín” và phối hợp hành động. Địa điểm liên lạc, hội họp thường diễn ra ở nhà Tạ Đình Tuy và Tạ Đình Thái. “Hội kín” một mặt gây dựng cơ sở, tiến hành các hoạt động khích lệ tinh thần yêu nước của nhân dân; mặt khác, tích cực chắp mối liên lạc để nhận chỉ thị và tài liệu tuyên truyền của Việt Minh.

Ở Tê Quả có Tạ Đình Hùng, giáo viên dạy học ở Bình Đà, được tuyên truyền, giác ngộ về Mặt trận Việt Minh. Khi được thử thách, tin tưởng, ông được tổ chức Việt Minh ở Bình Đà giao tài liệu về tuyên truyền ở Tê Quả và gây dựng cơ sở cách mạng. Tuy vậy, đến cuối năm 1942, tổ chức Đảng ở Bình Đà bị vỡ nên hoạt động của Tạ Đình Hùng gặp khó khăn, mất mối liên lạc, không có tài liệu, trong khi chưa tìm được các mối liên lạc khác. Đầu năm 1943, khi phong trào Việt Minh phát triển rộng khắp thì các cơ sở này mới tiếp tục hoạt động trở lại và được sự chỉ đạo thống nhất của Việt Minh tổng Bình Đà.

Như vậy, tín đến trước khi Nhật đảo chính Pháp, tại Tam Hưng đã hình thành nhiều thôn cách mạng, mỗi nhóm lại có cách thức hoạt động và tiếp cận với phong trào yêu nước theo một con đường khác nhau. Ban đầu, các nhóm này hầu như không có liên hệ với nhau trong tổ chức và hoạt động, chủ yếu tồn tại trên cơ sở thôn, dòng họ, lứa tuổi… nhưng đều có một điểm chung là đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với đường lối của Việt Minh. Chính vì vậy, mặc dù ở Tam Hưng chưa thành lập được Chi bộ Đảng, nhưng những hoạt động tích cực của các nhóm thanh niên yêu nước đã có tác động khích lệ quần chúng, tạo môi trường, điều kiện cho sự thâm nhập của Việt Minh và tạo cơ sở cho việc xây dựng đội ngũ cốt cán tại chỗ. Họ đã tập hợp được một bộ phận quần chúng tích cực, truyền bá những hiểu biết ban đầu về chính chính sách của Mặt trận Việt Minh. Đây được coi là những bước chuẩn bị tích cực cho giai đoạn cách mạng sục sôi sau này.


(*) Người viết: TS. Nguyễn Ngọc Hà, Phân viện Hà Nội, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
(1) Thuộc xã Thanh Thùy, huyện Thanh Oai ngày nay.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6307


Lính của PTL


« Trả lời #56 vào lúc: 27 Tháng Tám, 2011, 08:03:28 AM »

Sau khi Nhật đảo chính Pháp, tiếp nhận Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” và phát động Cao trào kháng Nhật cứu nước trên phạm vị toàn quốc, trong 2 ngày 18 và 19.3.1945, Tỉnh ủy Hà Đông đã họp tại Tảo Khê (Ứng Hòa) có sự tham gia của đồng chí Nguyễn Văn Lộc - Xứ ủy viên, phụ trách Hà Đông, Sơn Tây. Hội nghị đã bàn kế hoạch thực hiện Chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng, đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng tinh thần của Chỉ thị tới đảng viên và quần chúng, làm cho mọi người nhận rõ kẻ tù, trên cơ sở đó phát động mạnh mẽ cao trào kháng Nhật để tập hợp và tập dượt lực lượng, đón thời cơ phát động quần chúng nổi dậy khởi nghĩa giành chính quyền. Tại Hội nghị, Tỉnh ủy đã phân công đồng chí Mai Vi phụ trách phía bắc huyện Thanh Oai và một phần huyện Thường Tín.

Sau khi kết thúc Hội nghị, đồng chí Mai Vi trở về Đại Định, Bối Khê để củng cố phát triển cơ sở. Ngay lập tức đồng chí Mai Vi đã tập hợp lực lượng, gây dựng phong trào và chọn nhà ông Trần Vĩnh Dụ làm địa điểm nuôi dấu, liên lạc. Mỗi nơi đều hình thành một tổ “Trung Kiên” làm hạt nhân lãnh đạo phong trào. Phương châm đặt lả lúc này là gấp rút xây dựng lực lượng tự vệ, phát triển mạnh các cơ sở quần chúng sang các thôn phong trào còn yếu, giáo dục và định hướng tư tưởng cho các nhóm yêu nước hình thành tự phát, nắm chắc lực lượng Thanh niên Phan Anh, không để cho Nhật lợi dụng. Bằng nhiều nỗ lực, lực lượng chính trị của quần chúng ở Tam Hưng ngày càng phát triển. Nếu như năm 1944 mới có cơ sở ở Bối Khê, Đại Định, Hưng Giáo, Tê Quả, thì đến giữa năm 1945 đã lan sang các thôn còn lại; quần chúng nhân dân được tập hợp trong các tổ chức cứu quốc (Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Nhi đồng cứu quốc).

Ngoài Bối Khê, nơi sớm hình thành phong trào nên có số lượng hội viên đông nhất, với 30 người, các thôn còn lại cũng đều có từ 10-20 hội viên cứu quốc.

Sau một thời gian ngắn về chỉ đạo phong trào, đồng chí Mai Vi bị ốm nặng, đồng chí Phạm Văn Kính, Bí thư Tỉnh ủy, là người thay thế trực tiếp chỉ đạo khu vực bắc Thanh Oai. Phong trào cách mạng ngày càng phát triển, bộ máy tay sai của Nhật ở các thôn xã hoang mang, dao động, nhiều tên phải chùn tay không dám khủng bố hoặc nằm yên nghe ngóng. Tuy vậy, một số nơi vẫn còn những tên ngoan cố tiếp tay cho phát xít Nhật đàn áp phong trào. Vì vậy, vấn đề lập “Tự vệ cứu quốc” được đặt ra cấp bách. Tại các thôn như Đại Định, Bối Khê, Hưng Giáo, Lê Dương, Tê Quả… lực lượng tự vệ được xây dựng, nòng cốt là hội viên “Thanh niên cứu quốc”, với trang bị vũ khí tự tạo là chủ yếu như giáo mác, mã tấu, gậy gộc… Hoạt động chủ yếu của Tự vệ cứu quốc là bảo vệ cán bộ và hỗ trợ cho Việt Minh đẩy mạnh tuyên truyền vũ trang nhằm gây tác động mạnh đối với nhân dân, đồng thời trấn áp những tên cường hào nguy hiểm. Một số cường hào ngoan cố thúc ép nhân dân nộp thuế cho Nhật đã bị tự vệ cảnh cáo, răn đe. Sự ra đời của Thanh niên Cứu quốc và Tự vệ cứu quốc đã có tác dụng không chỉ bảo vệ lực lượng cách mạng, mà còn phân hóa Thanh niên Phan Anh và tê liệt vai trò của Bảo an đoàn. Thậm chí ở Đại Định hoạt động của nhóm Tạ Đình Đề đã làm chuyển biến nhóm “Hương Quốc”:, từ cỗ theo Thanh niên Phan Anh trở thành Thanh niên cứu quốc.

Từ giữa năm 1945, nạn đói trở nên gay gắt. Hầu hết các gia đình trong xã Tam Hưng đều ở vào cảnh đói. Người chết đói ở khắp nơi, từ đầu đường đến góc chợ, nhiều nhất là ở chợ Bối Khê. Cả xã có 284 người bị chết đói(1), một số gia đình còn bữa cơm, bữa cháo, 516 người bỏ làng ra đi không có ngày trở lại. Mặt trận Việt Minh các thôn đẩy mạnh tuyên truyền bóc trần bộ mặt giả nhân, giả nghĩa của phát xít Nhật và tay sai, làm cho nhân dân thấy rõ hơn chính sách tiến bộ của Mặt trận Việt Minh. Công tác tuyên truyền, cổ động với nhiều hình thức phong phú đã tác động tích cực đến thái độ của quần chúng nhân dân. Đồng thời, Mặt trận Việt Minh phát động cao trào “phá kho thóc Nhật để giải quyết nạn đói”.

Ở Bối Khê, lực lượng tự vệ đã lãnh đạo quần chúng nhân dân trong vùng cướp kho thóc Nhật, lấy được 700 kg chia cho những người nghèo. Ở Đại Định, Phạm Phương Lộc và Lê Huy Tẹo tổ chức quần chúng bắt giam lí trường, đánh Trần Đình Chi và phá một kho thóc lấy được 4 tấn chi cho nông dân. Mặt trận Việt Minh ở thôn Bối Khê còn thành công lực lượng kéo sang tịch thu kho thóc của tên cường hào thân Nhật tại thôn Gia Vĩnh(2). Tổ chức cứu quốc ở các thôn Cự Đà, Khúc Thủy cùng nhân dân Đại Định thu 8 cót thóc của địa chủ Nàn Sóc phân phát cho dân để cứu đói, đồng thời hợp lực cùng thanh niên yêu nước ở các thôn khác giết tên trương tuần khét tiếng gian ác ở ga Tía (Thường Tín). Phong trào phá kho thóc của Nhật để cứu đói cho dân có ý nghĩa quan trọng trong bồi dưỡng sức dân và tập dượt quần chúng đấu tranh, chuẩn bị tiền đề cho khởi nghĩa giành chính quyền khi thời cơ xuất hiện. Theo đà đang lên của cách mạng, các nhóm thanh niên yêu nước vừa tích cực vận động quần chúng, vừa tăng cường mua sắm vũ khí, rèn thêm giáo mác để phát triển lực lượng tự vệ, sử dụng các hình thức đấu tranh từ thấp đến cao làm lung lay chính quyền địch ở hương thôn. Thời cơ khởi nghĩa đang đến gần.

Chiều 15.8.1945, tuy chưa nhận được lệnh của Trung ương, Xứ ủy Bắc Kỳ họp Hội nghị khẩn cấp tại Vạn Phúc (Hà Đông) quyết định khởi nghĩa. Ngày 17.8, kế hoạch khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền được phổ biến rộng rãi tới các tầng lớp nhân dân 7 thôn trong xã. Tự vệ cứu quốc gấp rút chuẩn bị vũ khí, sẵn sàng chờ lệnh xông lên giành chính quyền.

Đêm 18.8.1945, Tự vệ cứu quốc bắt tên Đoàn Văn Dục, là mật thám của Nhật, thu được một súng trường. Sáng 19.8.1945, hàng nghìn quần chúng của 8 thôn trong xã, phối hợp với các thôn ở các xã lân cận, hàng ngũ chỉnh tề dài gần 3 km, dưới sự chỉ huy của Tạ Đình Đề, sau khi bắn ba phát súng hiệu, đoàn quân khởi nghĩa kéo lên Bình Đà. Hoảng sợ trước khí thế cách mạng của quần chúng, Tri huyện Lê Quang Nhạ bỏ huyện đường trốn chạy thoát thân. Toàn bộ huyện lị Thanh Oai về tay cách mạng. Cờ đỏ sao vàng và khẩu hiệu “Đả đảo Chính phủ Nam triều”, “Ủng hộ Mặt trận Việt Minh”, “Việt Nam độc lập muôn năm” rợp cả đất trời. Trong các ngày 20, 21 và 22.8, được sự chỉ đạo của cấp trên, Mặt trận Việt Minh các thôn trong xã tiếp tục lãnh đạo quần chúng đi cướp chính quyền ở nhiều nơi trong huyện như: Thanh Văn, Thanh Thùy, Mỹ Hưng, kể cả một số xã thuộc Phú Xuyên, Ứng Hòa, Thường Tín, tịch thu 1 kho thóc ở Rùa chi cho người nghèo.

Lực lượng khởi nghĩa các thôn đã tước triện bạ, sổ sách của chính quyền địch và tuyên bố thiết lập chính quyền cách mạng. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời các thôn gồm: Tạ Đình Hùng (Tê Quả), Lê Năng Lương (Hưng Giáo), Tổng Miết (Văn Khê), Phạm Duy Phương (Đại Định), Vương Đình Dốc (Lê Dương), Lê Thiện Thuật (Song Khê)(3)… Chính quyền cách mạng lâm thời tuyên bố xóa bỏ mọi chính sách của bọn thực dân, thực hiện 10 chính sách của Việt Minh, bắt tay vào cứu đói, ổn định cuộc sống nhân dân, đấu tranh chống bọn phản động, củng cố chính quyền cách mạng.

*

Như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, bằng lực lượng chính trị đông đảo của quần chúng, cùng sự hỗ trợ của lực lượng tự vệ, cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Tam Hưng đã giành thắng lợi hoàn toàn. Sau những ngày Cách mạng tháng Tám sôi nổi, các em nhỏ đêm đêm cất vang tiếng hát, thanh niên tình nguyện gia nhập tự vệ, các đoàn thể hội họp thâu đêm để bàn kế sách giữ vững chính quyền… mọi người cảm nhận được một cuộc đời mới đang đến. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám đã đi vào lịch sử quê hương như một mốc son chói lọi, khẳng định sức mạnh của quần chúng trong công cuộc đấu tranh giải phóng khỏi ách nô lệ, lầm than. Để có thắng lợi đó, phong trào cách mạng ở Tam Hưng cũng như ở Hà Đông và cả nước nói chung đã trải qua biết bao gian nan, thử thách. Nhưng cũng chính trong khó khăn đó, tinh thần cách mạng lại được tôi luyện vững bền hơn bao giờ hết, nó đã thắp sáng niềm tin cho cả tiến trình cách mạng mãnh liệt sau này.


(1) Bối Khê có 75 người, Đại Định có 20 người, Hưng Giáo 30 người, Lê Dương 50 người, số còn lại rải rác ở Tê Quả, Văn Khê, Bùi Xá.
(2) Thuộc xã Thanh Thùy, Thanh Oai, Hà Đông (nay là Hà Tây).
(3) Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, hai thôn Bối Khê và Phúc Khê sáp nhập thành một thôn có tên gọi là Song Khê.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6307


Lính của PTL


« Trả lời #57 vào lúc: 30 Tháng Tám, 2011, 05:23:07 PM »

HÀ NỘI(1)

Hà Nội nằm ở vị trí trung tâm Bắc Bộ, phía bắc giáp Thái Nguyên, phía đông giáp Bắc Giang, Bắc Ninh; phía tây giáp Vĩnh Phúc và Hà Tây; phía nam giáp Hà Tây và Hưng Yên.

Hà Nội là một vị trí chiến lược quan trọng hàng đầu trong hệ thống phòng thủ và cai trị của Pháp và sau này là của Nhật ở Đông Dương. Cả Pháp và Nhật đều đặt các công sở cai trị quan trọng về quân sự, dân sự ở Hà Nội cùng với việc duy trì chính quyền phong kiến Bắc Bộ và lực lượng tay sai ở Hà Nội.

Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra (1939), ở nước ta thực dân Pháp thực hiện chính sách tổng động viên thời chiến, phát xít hóa chế độ cai trị, thực hiện chính sách kinh tế chỉ huy. Tăng thuế được coi là biện pháp hàng đầu. Thực dân Pháp còn tiến hành trưng tập công nhân, trưng thu trưng mua lương thực thực phẩm, sung công nhà cửa và các phương tiện vận tải, kiểm soát các nguồn hàng hóa nhập khẩu, lạm phát giấy bạc, tăng giá hàng công nghiệp. Những tư sản, tiểu tư sản, thợ thủ công bị huy động vào việc tăng cường sản xuất hàng hóa. Công nhân bị tăng giờ làm việc lên 10 giờ, 12 giờ. Công chức bị giảm chế độ cấp phát lương thực và nhu yếu phẩm. Những quyền tự do dân chủ mà nhân dân ta có được trong thời kì đấu tranh dân chủ (1936-1939) bị xóa bỏ). Các tổ chức quần chúng, cơ quan báo chí bị giải tán. Thanh niên phải đi lính. Mạng lưới mật thám được tăng cường.

Tháng 9.1940, quân Pháp ở Lạng Sơn đầu hàng Nhật rồi mở cửa cho chúng vào nước ta và Đông Dương. Tháng 10.1940, quân đội Nhật và một phái đoàn ngoại giao Nhật đến Hà Nội. Lần lượt các tổ chức chính trị, quân sự, kinh tế của Nhật được thành lập ở Hà Nội.

Nhật vẫn duy trì và sử dụng bộ máy cai trị của Pháp và chính quyền phong kiến ở Bắc kỳ, dựa vào đó mà tạo ra cơ sở chính trị cho Nhật, đàn áp các hoạt động cách mạng. Các đảng phái thân Nhật được lập ra, chính quyền bù nhìn thân Nhật cũng được chuẩn bị về nhân sự. Những đảng phái thân Nhật được sáp nhập thành một mặt trận phản cách mạng có tên là Phục quốc đồng minh hội (1943), Đại Việt quốc gia liên minh sau đổi là Đại Việt quốc dân hội (sau 9.3.1945).

Chính sách cai trị của Pháp và Nhật đã làm cho đời sống của nhân dân Hà Nội thêm khó khăn. Hàng hóa của Nhật - Pháp ở Việt Nam khan kiếm, giá tiêu dùng tăng, việc kinh doanh của tư sản bị giảm sút, sản xuất bị ngừng trệ. Trong khi đó Pháp - Nhật ra sức thu hút thóc gạo, tích trữ đầu cơ, lạm phát tiền tệ. Diện tích trồng lúa giảm để thay thế trồng cây công nghiệp (đay, cà phê, lạc, thầu dầu). Hết thảy mọi tầng lớp nhân dân Hà Nội đều bị nạn đói, nạn thất nghiệp làm cho lao đao chật vật.

Ngày 29.9.1939, Đảng Cộng sản Đông Dương bị giải tán. Các trụ sở, cơ quan của Đảng ở Hà Nội bị khám xét bắt bớ nhiều đợt. Mặt trận dân chủ với nhiệm vụ vận động chống phát xít và phản động thuộc địa không được hoạt động nữa. Tháng 11.1939, Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế ra đời thay thế Mặt trận dân chủ trước kia. Mọi hoạt động của Đảng bộ Hà Nội phải chuyển sang điều kiện bí mật, từng bước xây dựng chỗ đứng chân ở ngoại thành. Những cán bộ đảng viên nào bị lộ phải hoạt động thoát li gia đình. Những tiểu tổ quần chúng bí mật hình thành.

Từ năm 1940, ở Hà Nội và các vùng lân cận có hai an toàn khu giành cho Ban Thường vụ Trung ương Đản và Xứ ủy Bắc Kỳ. Nó là vùng từ Bưởi đến Chèm, vùng Đan Phượng, Hoài Đức, Đông Anh và Từ Sơn (Bắc Ninh). An toàn khu thứ hai là vùng giáp Hà Nội thuộc các tỉnh Bắc Giang và Thái Nguyên. Xứ ủy Bắc Kỳ còn đặt cơ quan bí mật ở ngoại thành Hà Nội và Hà Đông, Bắc Ninh để tiện liên lạc phối hợp chỉ đạo với ban cán sự Thành ủy Hà Nội.

Cuộc đấu tranh của nhân dân Hà Nội lúc này tập trung vào các cuộc đấu tranh công khai có tính thiệt thực: đòi tăng lương, giảm giờ làm, chống đánh đập cúp phạt, đòi cải thiện chế độ làm việc, chống mộ phu tuyển lính, chống sa thải công nhân, đòi thả tù chính trị, chống bắt bớ các cuộc đình công.

Ở thành phố, các thành công Công hội, Thanh niên phản đế, Công nhân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc tổ chức các cuộc tuyên truyền vận động binh lính và các hoạt động bí mật - in sách báo, tài liệu bí mật. Việc treo cờ, truyền đơn, dán áp phích, biểu ngữ đều hướng vào những sự kiện trọng đại ở trong nước và quốc tế: tháng 5.1940 và tháng 10.1940, treo cờ ở Hòa xa Gia Lâm và Nhà ga Hà Nội kỉ niệm ngày Quốc tế Lao động; tháng 12.1940, chặn đường chuyến tàu tốc hành ở Văn Điển - Hà Nội để hưởng ứng Nam Kỳ khởi nghĩa; tháng 1/1941, rải truyền đơn kêu gọi hưởng ứng khởi nghĩa Bắc sơn, khởi nghĩa Nam Kỳ; đấu tranh chống Pháp - Nhật và “quân phiệt Xiêm La”, kêu gọi người Pháp đoàn kết với những người cách mạng Đông Dương lật đổ chính phủ phản động Pháp, phát xít Nhật; tháng 2, tháng 3.1941, rải truyền đơn kêu gọi tẩy chay lễ phát chẩn do giới thân Nhật tổ chức, phản đối phát xít Pháp dâng Đông Dương cho Pháp, nhượng đất cho Xiêm La.


(1) Người viết: ThS. Trần Thị Hòa, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6307


Lính của PTL


« Trả lời #58 vào lúc: 30 Tháng Tám, 2011, 05:26:40 PM »

Bước sang năm 1942, thực dân Pháp tăng cường khủng bố cách mạng. Đồng chí Nguyễn Khang(*) cùng một số cán bộ đảng viên khác bị bắt, các cơ sở cách mạng ở nội thành bị truy lùng, Ban cán sự Thành ủy nhiều lần bị phá, những phần tử phản động chui vào cơ sở Đảng để phá hoại từ bên trong. Đồng chí Hoàng Văn Thụ, ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng, được giao nhiệm vụ trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng ở Hà Nội. Nhiệm vụ ở Hà Nội trong thời kì này là duy trì các cơ sở cách mạng, xây dựng lực lượng, củng cố niềm tin và ý chí cách mạng trong quần chúng, cán bộ. Nhà bà Hai Vẽ (thôn Phú Gia, xã Cổ Nhuế) là nơi thường xuyên có cuộc gặp gỡ bí mật giữa cán bộ Thành ủy và đồng chí Hoàng Văn Thụ. Vùng ngoại thành được chú trọng để Thành ủy duy trì và phát triển lực lượng. Các tổ chức cứu quốc được hình thành tại các xã Nghĩa Độ, Bái Ân, Xuân Tảo, Cổ Nhuế, Phú Xá, Chèm, Vẽ, Thượng Cát. Số quần chúng cảm tình cách mạng tăng lên. Họ ủng hộ, giúp đỡ cách mạng về các mặt thuốc men, lương thực, tài chính, tiếp nhận sách báo truyền đơn của Mặt trận Việt Minh, che dấu nuôi nấng cán bộ cách mạng. Thanh niên, công nhân trong các chi bộ làm công tác binh vận đối với binh lính địch trong các đơn vị pháo binh, bộ binh, ban tham mưu, sở tuyển binh. Họ được giác ngộ cách mạng rồi được đưa vào các tổ chức “quân nhân cứu quốc”, tờ báo “Chiến đấu” là tiếng nói của tổ chức này.

Từ năm 1943, quân Đồng minh thắng thế, quân Nhật thua đau ở các chiến trường Châu Á - Thái Bình Dương. Máy bay Mĩ - Anh ném bom Hà Nội, Nhật không có phản ứng nào hữu hiệu. Nhiều trường học ở Hà Nội phải sơ tán, những gia đình tư sản rời khỏi thành phố, tránh bom Mĩ - Anh để lại những ngôi nhà sang trọng nhưng vắng chủ. Hệ thống đèn chiếu sáng đô thị che bớt ánh sáng.

Ở Hà Nội, binh lính và sĩ quan Nhật hung hăng tàn sát, cướp bóc nhân dân. Việc Nhật tăng cường thu thóc tạ và nạn đầu cơ tích trữ trong nhà giàu, tư sản làm cho nạn đói càng thêm trầm trọng. Tư tưởng sợ Nhật, thân Nhật trong nhân dân và các tổ chức thân Nhật bắt đầu giảm. Số quần chúng cảm tình cách mạng của Mặt trận Việt Minh đông dần thêm.

Từ ngày 25 đến 28.2.1943, Hội nghị Thường vụ Trung ương họp, khẳng định sự diệt vong không tránh khỏi cua lực lượng phát xít Nhật - Pháp, đề ra chủ trương mở rộng Mặt trận Việt Minh, chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Hội nghị quyết định:

- Đưa quần chúng ra đấu tranh công khai bằng các hình thức từ thấp đến cao.

- Thành lập các đội tự vệ, du kích của quần chúng.

- “Bônsêvích hóa” các tổ chức Đảng, thành lập các chi bộ xí nghiệp của công nhân.

- “Công nhân hóa quần chúng lao động bằng việc đưa họ vào làm trong các nhà máy, xí nghiệp: Nhà máy điện, Hỏa xa Gia Lâm, nhà máy sửa chữa ô tô, súng đạn…

Ngày 25.3.1943, tại làng Võng La, Hội nghị Thường vụ Trung ương triển khai “Đề cương văn hóa Việt Nam và điều lệ của Hội Văn hóa cứu quốc”. Nghị quyết vạch rõ xu thể phỉnh dân nô dịch của văn hóa Nhật - Pháp đang lan truyền trong dân chúng. Tổ văn hóa cứu quốc của Hà Nội được thành lập, ra báo “Cứu quốc”.

Những cuộc đấu tranh nữa vũ trang bắt đầu xuất hiện ở cả nông thôn và thành thị. Ở các thôn làng, nông dân đấu tranh chống thu thóc tạ, chống phá màu trồng đay, chống phá ngô trồng thầu dầu, chống Nhật quấy nhiễu, càn làng cướp chợ; diệt trừ Việt gian. Lực lượng tuyên truyền xung phong và tự vệ vũ trang yểm trợ tích cực cho các cuộc đấu tranh của nông dân các làng như Yên Thái, Nghĩa Đô, Bái Ân, Xuân Tảo, Cổ Nhuế, Phú Xá, Phú Gia, Đông Ngạc, Chèm, Thượng Cát. Mỗi xã đều có địa điểm liên lạc, chỗ ăn ở cho cán bộ Trung ương, Xứ ủy, Thành ủy. Các chi bộ ghép của Đảng được hình thành ở 36 làng thuộc Cầu Giấy và Dịch Vọng. Vùng này trở thành chỗ đứng chân làm bàn đạp cho cán bộ vào thành phố hoạt động.

Trong công nhân, hình thức đấu tranh đình công, bãi công kéo dài nhiều ngày, mở rộng phạm vi toàn ngành, phát triển rầm rộ ở nhiều nơi: tháng 1.1945 tại nhà in Viễn Đông (I.D.E.O); tháng 2 - nhà in Lê Văn Tân, nhà in Xuân Thu, nhà in báo “Tin mới”, nhà ngân hàng Đông Dương, công nhân xưởng STAI; tháng 4 - Hòa xa Gia Lâm; tháng 5 - xưởng Canô đường Hà Nội - Nam Định; tháng 6 - sân bay Gia Lâm; tháng 8 - hãng đóng giày Đại Nam, xưởng mộc Săngcô; tháng 9, 10 - nhà máy thuộc da Thụy Khê; tháng 12 - xưởng sửa chữa súng đạn trong thành. Đặc biệt, thợ mộc xưởng Săngcô đình công kéo dài 8, 9 ngày thành từng đợt; các chủ xưởng phải nhượng bộ theo yêu sách của công nhân: tăng lương và phụ cấp sinh hoạt, bán nhu yếu phẩm theo giá quy định của “hội đồng” thành phố.

Các tầng lớp khác cũng được cuốn hút vào không khí đấu tranh của công nhân và nông dân. Các tổ chức như Hội truyền bá học quốc ngữ, Hội hướng đạo, Đoàn rồng, Đoàn du lịch, các tổ chức thể thao, du lịch, địa lí cũng hướng về cách mạng. Thành viên của những tổ chức này là con em của tiểu chủ, tư sản, địa chủ, trí thức. Họ đã có cảm tình với Đoàn thanh niên cứu quốc của Hà Nội có tên là Đoàn thanh niên cứu quốc Hoàng Diệu và tờ báo “Hồn nước”.

Đảng Dân chủ Việt Nam ngay sau khi mới thành lập (6.1944) cũng gia nhập Mặt trận Việt Minh. Thành viên của Đảng Dân chủ là công chức, sinh viên, học sinh, con em tiểu tư sản, phú nông, địa chủ. Khi Ban cán sự thành tổ chức phát động một tuần lễ hưởng ứng cuộc đấu tranh vũ trang ở Thái Nguyên thì nhân dân Hà Nội hiểu rõ hơn Mặt trận Việt Minh. Tại 18 nơi trong thành phố có trưng bày sách báo cách mạng. Nhiều người tự tìm đến liên lạc với Việt Minh. Từ mồng 1 đến mồng 10 Tết, các biểu ngữ đều kêu gọi dân chúng tham gia khởi nghĩa xuất hiện nhiều nơi. Tại chùa Đồng Quang và chùa Đống Đa có biểu ngữ “đánh Pháp đuổi Nhật” tại đền Voi Phục có cờ đỏ sao vàng.


(*) Ủy viên Thường vụ Thành ủy Hà Nội.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6307


Lính của PTL


« Trả lời #59 vào lúc: 30 Tháng Tám, 2011, 05:27:51 PM »

Như vậy, cho đến đầu năm 1945 phong trào cách mạng ở Hà Nội đã có bước tiến triển rõ rệt. Lực lượng cách mạng đã đông đảo, lực lượng vũ trang đã vững vàng. Nhân dân đã trải qua những bước đấu tranh từ thấp đến cao, từ đấu tranh kinh tế đến đấu tranh chính trị và có vũ trang hỗ trợ. Mọi tầng lớp xã hội đã nhận thức con đường cứu nước ở Việt Minh là đúng đắn.

Tuy nhiên, vẫn còn một số đáng kể tư sản, đại địa chủ còn do cự chưa tin vào sự sụp đổ không tránh khỏi của Nhật. Họ bất lực trước sự cấu kết Nhật - Pháp, lo sợ bị ảnh hưởng quyền lợi kinh tế. Một số địa chủ tư sản vẫn hi vọng lập chính phủ mới thân Nhật hoặc đứng ra hoạt động chính trị công khai.

Nhưng sự có mặt cả Pháp và Nhật ở Hà Nội và Đông Dương như hiện tại thì không thể kéo dài thêm nữa. Tình hình này đưa cách mạng bước vào thời kì mới.

Đêm 9.3.1945, Nhật nổ súng lật đổ Pháp trên toàn cõi Đông Dương. Vào 8 giờ 25 phút tối cùng này, quân Nhật đánh vào các doanh trại Pháp ở Thành cũ, Đồn Thủy, trường bay Bạch Mai, nhà máy Diêm, Trại lính khố xanh. Quân Pháp chống cự yếu ớt rồi đầu hàng Nhật vào 4 giờ 15 phút chiều ngày 10.3.1945.

Toàn bộ hệ thống cai trị của Pháp được thay thế bằng người Nhật và tay sai Nhật. Các đảng phái tổ chức thân Nhật có từ trước được thể hoạt động công khai. Các tổ chức mới thân Nhật được thành lập: “Việt Nam thanh niên ái quốc hội”, “Phụng sự quốc gia”, “Việt Nam bảo vệ đoàn”.

Chiều ngày 14.3.1945, Nhật tổ chức mít tinh ở bờ hồ Hoàn Kiếm, tuyên truyền “công lao của người Nhật” đã đem lại “độc lập cho quốc gia Việt Nam”, giới thiệu “Đại Việt quốc gia cách mạng ủy viên hội”.

Ngày 16.4.1945, Chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập bao gồm những tri thức có học vị cao. Ngôi vua của Bảo Đại vẫn được giữ nguyên. Một mặt trận làm hậu thuẫn cho chính phủ này là “Tân Việt Nam hộ” được thành lập, bao gồm các tổ chức: “Thanh niên tiền tuyến”, “Thanh niên xã hộ”, “Phụ nữ nội”, “Nữ sinh hội”, “Tổng hội viên chức”. Thành viên các tổ chức này là địa chủ tư sản, trí thức, thanh niên, sinh viên, học sinh, bọn Tơrôtkit và các nhóm đảng phái thân Nhật.

Trong khi nắm lấy các cơ quan quan trọng ở Hà Nội, Nhật vẫn dùng lại một số người Pháp và kiểm soát chính quyền Trần Trọng Kim. Bên cạnh nội các Trần Trọng Kim có toàn quyền Nhật. Ở Phủ Khâm sai Bắc Kỳ có thêm một bàn làm việc của cố vấn Nhật. Mãi đến ngày 24.7.1945, Nhật mới giao cơ quan Đốc Lí cho một người Việt Nam.

Lúc này, nạn đói kéo dài từ cuối năm 1944 đến đây càng trầm trọng hơn. Khâm sai Bắc Kỳ không biết làm gì để cứu đói cho dân, nhưng vẫn phải lo thu vét thóc gạo nộp vào kho Nhật. Gạo ở miền Nam không chuyển ra Bắc vì phương tiện dùng cho việc chuyển quân của Nhật. Những phòng trà, nhà chứa, tiệm nảy ở thành phố thì tưng bừng nhộn nhịp, mà từng đoàn người gầy ốm từ các nơi kéo về các cửa ô thành phố thì chịu nằm chết đói đầy đường.

Việc Nhật đảo chính Pháp đã được Trung ương Đảng dự đoán từ trước. Ngày 12.3.1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Bản chị thị xác định kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương lúc này là phát xít Nhật. Khẩu hiệu “đánh đuổi Pháp - Nhật” được thay bằng khẩu hiệu “Đánh đuổi phát xít Nhật”, “thành lập chính quyền cách mạng của nhân dân Đông Dương”.

Trên cơ sở bản chỉ thị của Trung ương, Thành ủy Hà Nội chủ trương hướng phong trào cách mạng Hà Nội vào các nhiệm vụ cụ thể:

- Coi các tổ chức cứu quốc là lực lượng nòng cốt cho cuộc khởi nghĩa sắp tới, vận động công nhân tăn cường đấu tranh tại các xí nghiệp lớn, quan trọng, gấp rút tổ chức huấn luyện đào tạo cán bộ về quân sự và chính trị, tranh thủ quần chúng trong các tổ chức công khai hợp pháp, mở rộng hơn nữa Mặt trận Việt Minh.

- Gấp rút xây dựng, phát triển các đội tự vệ, tự vệ chiến đấu, các đội tuyên truyền xung phong, Đoàn thanh niên cứu quốc Hoàng Diệu, mở rộng việc bán “tín phiếu Việt Minh”, tổ chức quyên góp mua sắm vũ khí, lấy súng đạn của binh lính Pháp - Nhật, tổ chức sản xuất vũ khí thô sơ.

- Chống khủng bố trắng của phát xít Nhật, huấn luyện nguyên tắc hoạt động bí mật cho các đoàn viên cứu quốc, phát triển cơ sở Đảng trong lính bảo an, cảnh sát thành phố, công sở quan trọng của địch để nắm tình hình.

- Trừng trị phản động, vạch mặt phát xít Nhật, đảng phái thân Nhật và chính quyền thân Nhật.

Trung ương quyết định tăng cường cán bộ cho Hà Nội để phối hợp lãnh đạo cách mạng. Những cán bộ Đảng viên vượt ngục Hỏa Lò trong dịp Nhật làm đảo chính đã kịp thời được bổ sung vào các tổ chức.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM