Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 22 Tháng Mười Một, 2014, 01:52:27 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cách mạng tháng Tám 1945 - Toàn cảnh  (Đọc 70583 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6332

Lính của PTL


« vào lúc: 19 Tháng Tám, 2011, 06:51:17 AM »

Cách mạng tháng Tám 1945 - Toàn cảnh
Chủ biên: GS.TS Phan Ngọc Liên
Nhà xuất bản Từ điển bách khoa
Năm xuất bản: 2005
Số hóa: macbupda

GS. TS. PHAN NGỌC LIÊN
(Chủ biên)
PGS.TS NGUYỄN ĐÌNH LỄ
PGS. TS NGUYỄN NGỌC CƠ
PGS.TS NGUYỄN AM
Và các tác giả bài viết

Logged

Tôi là người thợ lò,<br />Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6332

Lính của PTL


« Trả lời #1 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2011, 06:52:47 AM »

LỜI MỞ ĐẦU

Cách mạng tháng Tám 1945 là một sự kiện lịch sử quan trọng của Việt Nam và thế giới; là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đầu tiên của Việt Nam, của Đông Nam Á, mở đầu thời kì các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc giành được độc lập tự do với những hình thức và mức độ khác nhau, chấm dứt chế độ thực dân.

Cách mạng tháng Tám 1945 không chỉ phát huy truyền thống đấu tranh anh hùng của dân tộc trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc, giành độc lập mà còn mở ra một kỉ nguyên mới trong lịch sử đất nước - kỉ nguyên độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội. Đây là kết quả trực tiếp cuộc đấu tranh của nhân dân ta theo con đường cứu nước mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn, Đảng ta đã khẳng định và lãnh đạo nhân dân kiên trì thực hiện.

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945 cũng đồng thời được tiếp tục thể hiện, bảo vệ, phát huy sâu rộng trong cuộc kháng chiến chống Pháp rồi kháng chiến chống Mĩ cứu nước (1945-1975), xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước thống nhất, góp phần không nhỏ vào công cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân chủ, hòa bình và tiến bộ trên thế giới.

Cách mạng tháng Tám 1945 gắn liền với công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với sự lãnh đạo của Đảng; nó sống mãi trong sự nghiệp của nhân dân Việt Nam vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nó cũng để lại một dấu son chói lọi trong lịch sử nhân loại từ giữa thế kỉ 20 về cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội.

Trong gần sáu mươi năm qua, kể từ sau tác phẩm
“Cách mạng tháng Tám” của Trường Chinh, giới nghiên cứu sử và các ngành khoa học xã hội, nhân văn khác trong nước (phần nào ở nước ngoài) đã đạt được nhiều thành tựu trong việc tìm hiểu sâu sắc, toàn diện sự kiện lịch sử vĩ đại này.

Trên cơ sở tiếp thu những kết quả nghiên cứu trước đây, chúng tôi tổ chức biên soạn cuốn “Cách mạng tháng Tám 1945 - Toàn cảnh” nhằm:

- Trình bày ngắn gọn một số vấn đề cơ bản về Cách mạng tháng Tám 1945, nêu một cách hệ thống những luận điểm, dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, về các vấn đề như từ việc xác định con đường cứu nước mới, đúng đến thắng lợi của cách mạng; Cách mạng tháng Tám 1945 đối với cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, thống nhất đất nước, với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt trong công cuộc đổi mới hiện nay. Chúng tôi sẽ không trình bày nhiều về những vấn đề mà giới sử học Việt Nam đã tìm hiểu sâu sắc và đạt được những kết quả tốt đẹp. Các vấn đề này sẽ được nhắc lại, khẳng định để làm cơ sở cho việc trình bày các khía cạnh mà chúng tôi đặt ra.

- Cách mạng tháng Tám 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã nổ ra gần như
đồng thời, đều khắp, sâu rộng trong hầu hết các tỉnh của cả nước. Điều này chứng tỏ đường lối đúng đắn của Đảng trong việc tổ chức, chuẩn bị lực lượng, hướng đến cuộc Tổng khởi nghĩa khi thời cơ đã đến. Nó cũng chứng minh sức mạnh của cả dân tộc được huy động, tập hợp dưới ngọn cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam (lúc bấy giờ là Đảng Cộng sản Đông Dương). Tình thế cách mạng đã chín muồi, thời cơ đã đến, cuộc cách mạng nổ ra trong khắp nước và giành thắng lợi to lớn.

Để làm sáng tỏ điều này, chúng tôi sẽ không trình bày lại toàn bộ diễn biến của Cách mạng tháng Tám 1945 trong cả nước, như nhiều công trình nghiên cứu khác đã làm, mà trình bày những điểm khái quát, riêng biệt, độc đáo trong sự bùng nổ và thắng lợi của Cách mạng tháng Tám ở các tỉnh, các địa phương. Qua đó, người đọc nhận thấy những nét chung, có tính quy luật của cuộc cách mạng diễn ra trong phạm vi cả nước, dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng.

Với mục tiêu như vậy, việc trình bày về Cách mạng tháng Tám ở các tỉnh (được sắp xếp theo khu vực địa lí - hành chính lúc bấy giờ) không nặng về diễn biến chi tiết, mà trên cơ sơ phác họa bức tranh của sự kiện ở địa phương nêu lên những nét lớn. Riêng Cách mạng tháng Tám ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn được trình bày chi tiết hơn - vì đó là những trung tâm chính trị - có vị trí, vai trò trong thắng lợi của cách mạng.

Cấu tạo sách gồm các phần:

● Cách mạng tháng Tám 1945 - Những vẫn đề cơ bản;

● Cách mạng tháng Tám 1945 - Toàn cảnh;

● Giáo dục tinh thần Cách mạng tháng Tám 1945 cho thế hệ trẻ.


Tham gia biên soạn sách này là các nhà nghiên cứu, cán bộ giảng dạy ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Phân viện Hà Nội thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, một số trường Đại học và Cao đẳng Sư phạm, cán bộ Sở Giáo dục - Đào tạo ở một số địa phương trong nước. Tuy số tác giả tham gia khá đông, song những người biên soạn chủ trì biên soạn vẫn bảo đảm sự thống nhất của sách.

Các tác giả bày tỏ lòng cảm ơn đối với các cơ quan nghiên cứu khoa học, đào tạo đã giúp đỡ chúng tôi nhiều ý kiến và tài liệu quý giá. Cảm ơn Nhà xuất bản Từ điển bách khoa đã tạo mọi điều kiện để cuốn sách được hoàn thành và xuất bản.

Chúng tôi xin được thứ lỗi về các thiếu sót trong sách và mong được bạn đọc góp ý để sửa chữa. Xin trân trọng cảm ơn.


PHAN NGỌC LIÊN
(Chủ biên)     
Logged

Tôi là người thợ lò,<br />Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6332

Lính của PTL


« Trả lời #2 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2011, 06:54:11 AM »

PHẦN THỨ NHẤT

CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 -
NHỮNG VẪN ĐỀ CƠ BẢN
(*)

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945 thể hiện và phát huy cao độ truyền thống dân tộc, cốt lõi là tinh thần yêu nước Việt Nam, đã tạo nên sức mạnh phi thường đánh bại mọi kẻ thù nhiều phương kéo đến.

Truyền thống ấy, được Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, đã tạo nên sức mạnh to lớn gấp bội lần của toàn dân, nên 15 năm sau khi Đảng ra đời, đã đưa đến thành công của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ đầu tiên trong lịch sử nước ta và khu vực Đông Nam Á.

Quá trình dẫn tới Cách mạng tháng Tám gắn liền với việc Nguyễn Ái Quốc xác định con đường cứu nước mới và sự lãnh đạo của Đảng. Vi vậy, thắng lợi của Cách mạng tháng Tám cũng mở ra một thời kì mới trong lịch sử dân tộc, góp phần vào sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới. Để làm sáng tỏ điều này, ở đây chúng tôi tập trung trình bày mấy vấn đề cơ bản sau:

- Từ xác định con đường cứu nước đúng đến thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945.

- Những sự chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa khi thời cơ đến.

- Ý nghĩa lịch sử và tầm vóc của Cách mạng tháng Tám 1945.

Trên cơ sở một số sự kiện cơ bản về diễn biến của cuộc Tổng khởi nghĩa trong cả nước, phần này sẽ giúp bạn đọc nắm được những điểm nổi bật, quan trọng của Cách mạng tháng Tám 1945.


*
*   *

I. TỪ XÁC ĐỊNH CON ĐƯỜNG CỨU NƯỚC ĐÚNG ĐẾN THẮNG LỢI CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945

Phát huy truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm, ngay từ khi thực dân Pháp thực hiện âm mưu đánh chiếm Việt Nam, nhân dân ta đã vùng dậy đấu tranh, bảo vệ Tổ quốc. Triều đình nhà Nguyễn có trách nhiệm trong việc làm mất nước, đã đầu hàng, làm tay sai cho thực dân Pháp. Nhân dân ta vẫn kiên trì, anh dũng đấu tranh chống xâm lược, giải phóng dân tộc. Phong trào Cần Vương, rồi phong trào yêu nước chống Pháp thế kỉ 20 lần lượt thất bại, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta rơi vào khủng hoảng.

Trong điều kiện lịch sử này, sự xuất hiện của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh để tìm con đường cứu nước là hợp quy luật và sẽ đưa tới thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945.

1. Sự khủng hoảng của con đường cứu nước chống Pháp cuối thể kỉ 19 - đầu thế kỉ 20.

Việt Nam có hàng ngàn nghìn năm lịch sử. Trong quá trình dựng nước và giữ nước, nhân dân ta đã anh dũng, sáng tạo trong lao động sản xuất và bảo vệ Tổ quốc, đấu tranh giành độc lập dân tộc. Trên mặt trận chống ngoại xâm, các thế hệ người Việt Nam đã phải “đụng đầu” với kẻ thù từ nhiều phương đến. Đó là những đội quân đông, được vũ trang “đến tận răng”, do những tên tướng tài chỉ huy, mà “vó ngựa” của chúng đã dày xéo nhiều nước. Dù phải trải qua những thất bại nặng nề, phải sống dưới “đêm trường nộ lệ” hàng chục thế kỉ, hoặc qua một thời gian ngắn rất đau thương dưới ách đô hộ tàn bạo, cuối cùng, nhân dân Việt Nam đã chiến thắng. Kinh thành Thăng Long chỉ cho kẻ thù “ngủ trọ một vài đêm”, rồi phải tan tác bỏ chạy, nhân dân vui mừng đón đoàn quân chiến thắng trở về, như cảnh tưng bừng đón đội quân Quang Trung đại thắng sau khi Tôn Sĩ Nghị chạy trốn:

            “Ba quân đội ngũ chỉnh tề tiến
            Trăm họ chặt đường, vui tiếp nghênh,
            Mây tạnh mù tan trời lại sáng,
            Đầy thành già trẻ mặt như hoa.
            Chen vai khoác cánh cùng nhau nói,
            Kinh đô vẫn thuộc núi sông ta”.

(Ngô Ngọc Du)

Chiến thắng lừng lẫy trong công cuộc chống ngoại xâm trước hết là do sức mạnh của lòng yêu nước truyền thống của dân tộc Việt Nam. Dân tộc nào cũng có lòng yêu nước, song lòng yêu nước Việt Nam được hình thành và tôi luyện trong lao động sản xuất với bao điều kiện thiên nhiên nghiệt ngã; trong chiến đấu bảo vệ quê hương, đất nước tinh thần yêu nước tinh thần Việt Nam trở thành chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, đã biến thành lực lượng hùng mạnh để đánh bại bất cứ kẻ thù nào. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lượt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”(1).

Sức mạnh của lòng yêu nước Việt Nam khiến cho mọi kẻ thù từ bao đời nay phải khiếp sợ. Trần Phu, sứ thần nhà Nguyên (Trung Quốc) sang Việt Nam sau khi các đội quân xâm lược Nguyên - Mông thất bại vào thế kỉ 13, đã run sợ khi đến kinh thành Thăng Long, nhìn thấy quang cảnh:

            “Bóng lòe gươm sắt lòng thêm đắng,
            Tiếng dội trống đồng tóc đốm hoa”.



(*) Người viết: Phan Ngọc Liên, Nguyễn Đình Lễ, Nguyễn Ngọc Cơ, Nguyễn Am, Bùi Thị Thu Hà.
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 6, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.171.
« Sửa lần cuối: 19 Tháng Tám, 2011, 06:59:26 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tôi là người thợ lò,<br />Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6332

Lính của PTL


« Trả lời #3 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2011, 06:54:48 AM »

Thực dân Pháp với lực lượng mạnh của chủ nghĩa tư bản đã đánh bại đội quân phong kiến nhà Nguyễn nhanh chóng về quân sự, song rất run sợ trước sức kháng chiến bền bỉ của toàn dân Việt Nam. Một sĩ quan Pháp tham gia đàn áp cuộc chiến đấu của nghĩa quân ta chống Pháp đã phải thú nhận rằng Việt Nam là một dân tộc kiên cường, gắn bó với lịch sử, với những thể chế riêng của mình và thiết tha với nền độc lập của mình. Chúng ta không biết rằng Việt Nam chưa bao giờ khuất phục trước kẻ thù xâm lược. Tình trạng chúng ta rất đỗi khủng khiếp và chúng ta phải đương đầu với một dân tộc thống nhất, mà ý thức dân tộc của họ không hề bị suy yếu(1).

Đế quốc Mĩ hùng hổ đem quân xâm lược, tàn phá đất nước ta, muốn kéo “Miền Bắc trở về thời kì đồ đá”, song cuối cùng phải “cút” khỏi Miền Nam, chịu thất bại trước sức kháng chiến mạnh mẽ của nhân dân Việt Nam, được nhân loại tiến bộ, trong đó có nhân dân Mĩ ủng hộ. Hai mươi năm sau ngày quân Mĩ thất bại hoàn toàn ở Việt Nam, năm 1995, Mác Namara, nguyên Bộ trưởng Quốc phòng thời Tổng thống Kennơđy và Tổng thống Giônxơn, có dịp “Nhìn lại quá khứ”, thấm thía với “Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam”. Ông ta đã nêu ra 11 nguyên nhân chính gây ra thảm họa cho Mĩ ở Việt Nam, trong đó có một nguyên nhân quan trọng là Mĩ đã “… đánh giá thấp sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc thúc đẩy một dân tộc (trong trường hợp này là Bắc Việt Nam và Việt cộng) đấu tranh và hi sinh cho lí tưởng và các giá trị của nó, và cho đến nay, chúng ta vẫn tiếp tục đánh giá thấp chủ nghĩa dân tộc ở nhiều nơi trên thế giới”(2).

Trong suốt chiều nhiều thế kỉ, từ cuộc kháng chiến đầu tiên chống quân Tần (thế kỉ 3 tCn), qua các cuộc khởi nghĩa giải phóng dân tộc thời Bắc thuộc, rồi những cuộc kháng chiến chống quân Tống, Nguyên, Minh, Thanh từ phương Bắc, nhân dân ta được tập hợp lực lượng, được tổ chức, phát huy sức mạnh của mình. Đó là con đường cứu nước thể hiện trong một cuộc chiến tranh nhân dân “cả nước đánh giặc”, “trên dưới đồng lòng”; “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Vào giữa thế kỉ 19, trước sự xâm lược của thực dân Pháp, triều đình Huế không có khả năng và mong muốn dựa vào nhân dân để bảo vệ đất nước như các triều đại trước, vì mâu thuẫn sâu sắc với nông dân. Họ chỉ chống đỡ yếu ớt, rồi thỏa hiệp, nhân nhượng, đầu hàng, làm tay sai cho giặc. Vua quan nhà Nguyễn phải chịu trách nhiệm trong việc mất nước ta. Nhân dân ta vốn có truyền thống, kinh nghiệm đánh giặc ngoại xâm, nhưng triều đình Huế đã không huy động được sức mạnh đó của nhân dân ta trong việc chống Pháp, bảo vệ đất nước. Triều đình cũng từ chối những điều trần, canh tân đất nước của một số quan lại, sĩ phu thức thời, tiến bộ. Trong khi đó một số nước quanh ta như Xiêm (Thái Lan) và Nhật Bản lại biết tiến hành những cuộc cải cách, duy tân. Ở những nước này, do tiến hành cải cách toàn diện đất nước nên đã phát huy được sức mạnh nhất định của dân tộc. Do đó, ở những mức độ khác nhau, các nước này không rơi vào tình trạng thuộc địa, dù chỉ độc lập về hình thức như Xiêm. Riêng Nhật Bản đã nhanh chóng trở thành một nước tư bản rồi chuyển lên chủ nghĩa đế quốc, đi xâm lược các nước khác. Dĩ nhiên, đó không phải là con đường mà nhân dân Việt Nam mong muốn, chờ đợi; chúng ta chỉ có một nguyện vọng là giữ vững độc lập dân tộc, xây dựng xã hội ấm no, hạnh phúc.

Triều đình phong kiến nhà Nguyễn đầu hàng quân xâm lược Pháp. Trương Định, theo nguyện vọng của nhân dân, đã khước từ quan chức của triều đình ban cho để nhận nhiệm vụ của nhân dân giao làm “Bình Tây đại nguyên soái”. Nhiều sĩ phu yêu nước trong phong trào Cần Vương - thực chất là phong trào kháng chiến cứu nước, giải phóng dân tộc của nhân dân ta - đã nhận thức rõ muốn bảo vệ được Tổ quốc phải “đánh cả Triều lẫn Tây”. Con đường cứu nước của nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống xâm lược rồi đấu tranh giải phóng dân tộc chỉ có một mà thôi: đứng lên cầm vũ khí, hăng hái, anh dũng chống kẻ địch.

Cuộc đấu tranh vũ trang chống Pháp của nhân dân Việt Nam vào nửa cuối thể kỉ 19 thất bại với sự kết thúc của phong trào Cần Vương, song cuộc chiến đấu chống Pháp không hề tắt. Nhân dân lại tiếp tục đấu tranh, vì họ nhận thức rõ ràng, muốn giải quyết mâu thuẫn cơ bản giữa dân tộc ta và thực dân Pháp chỉ có quyết tâm đánh đuổi quân xâm lược, lật đổ nền thống trị của chúng. Tuy nhiên, con đường cứu nước theo ngọn cờ Cần Vương đã không còn hợp thời nữa, vì chế độ phong kiến đã trở nên lỗi thời. Việc “ủng hộ một ông vua” - dù là ông vua yêu nước - cũng không thể tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân chống Pháp.

Vào đầu thế kỉ 20, với chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, nhất là chính sách khai thác thuộc địa lần thứ hai, được thực hiện sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, xã hội Việt Nam dần dần có nhiều biến đổi sâu sắc. Các giai cấp trong xã hội phong kiến cũ vẫn tồn tại, dù có phân hóa, đồng thời xuất hiện những giai cấp, tầng lớp mới, như công nhân, tư sản dân tộc, tiểu tư sản trí thức. Sự chuyển biến sâu sắc về mặt kinh tế, xã hội tạo nên một tình thế mới trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Giai cấp phong kiến hoàn toàn không thể lãnh đạo cuộc đấu tranh chống Pháp, con đường phong kiến, thậm chí chỉ phục hồi, đề cao, ủng hộ một ông vua có tinh thần yêu nước, như Hàm Nghi trước đây cũng không còn thích hợp, vì nó không thể nào đưa đến thắng lợi như nhân dân mong muốn. Thực tế lịch sử đã qua, yêu cầu cuộc đấu tranh trước mắt và lâu dài, đã phủ định con đường cứu nước dưới ngọn cờ của phong kiến. Hơn nữa, sự tác động, ảnh hưởng của tình hình thế giới, với những biến đổi sâu sắc của nó từ đầu thế kỉ 20 càng khẳng định việc từ bỏ con đường cứu nước cũ và xác định con đường cứu nước mới là cần thiết.


(1) Ferdinand Bernad: Erreurs et danger, Paris, 1901, tr. 11.
(2) Robert S. McNamara: Nhìn lại quá khứ - Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 316.
Logged

Tôi là người thợ lò,<br />Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6332

Lính của PTL


« Trả lời #4 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2011, 06:55:46 AM »

Cách mạng tư sản đã thành công từ thế kỉ 16 với Cách mạng Hà Lan, trải qua Cách mạng tư sản Anh ở thế kỉ 17, Chiến tranh giành độc lập các thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ (1776) và đạt đến đỉnh cao với Cách mạng tư sản Pháp (1789). Tư tưởng dân tộc, dân chủ của cách mạng tư sản dần dần được truyền bá nhiều nơi trên thế giới, thúc đẩy cuộc đấu tranh cho độc lập và tự do tư sản. Đến giữa thế kỉ 19, với cuộc Cách mạng năm 1848 ở Pháp và ở nhiều nước Châu Âu, chủ nghĩa tư bản đã chiến thắng chế độ phong kiến trên phạm vi toàn thế giới, đồng thời cũng mở đầu cuộc đấu tranh gay gắt giữa hai lực lượng cơ bản của xã hội mới - giai cấp tư sản và giai cấp vô sản.

Ảnh hưởng của tư tưởng tư sản tiếp tục lan đi nhiêu nơi, làm bùng nổ nhiều cuộc cách mạng tư sản, dưới nhiều hình thức khác nhau. Đó là cuộc đấu tranh thống nhất Đức và Italia, mở đường cho chủ nghĩa tư bản thắng lợi và phát triển. Cuộc nội chiến ở Mĩ (1861-1865) hoàn thành sự thắng lợi của chế độ tư bản trên cả nước Mĩ, sau khi xóa bỏ chế độ nô lệ đồn điền ở phần phía Nam nước Mĩ. Cuộc “đảo chính cung đình”, tiếp theo cuộc Duy tân Minh Trị ở Nhật Bản (1868) cũng là một hình thức của cuộc cách mạng tư sản không triệt để. Cuộc cải cách nông nô ở Nga vào những năm 60 của thế kỉ 19 mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển ở nước Nga sa hoàng đang chìm ngập trong chế độ phong kiến - nông nô. Ở Trung Quốc, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kì, Ba Tư… cuộc đấu tranh chống phong kiến, đế quốc xâm lược phương Tây vào cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20 cũng liên tiếp diễn ra dưới ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản.

Như vậy, ảnh hưởng của cách mạng tư sản, tư tưởng dân chủ tư sản từ Âu, Mĩ đã lần lượt lan truyền khắp thế giới, trực tiếp tấn công vào chế độ phong kiến, làm cho nó suy yếu, đi đến sụp đổ hoặc trở thành “cái đuôi”, “cái bóng” phục vụ cho chính quyền của giai cấp tư sản.

Vào 30 năm cuối của thế kỉ 19, chủ nghĩa tư bản chuyển dần lên giai đoạn đế quốc chủ nghĩa và cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và tư sản cũng ngày càng gay gắt. Công xã Pari năm 1871 là cái mốc đánh dấu sự lớn mạnh và khả năng của giai cấp vô sản có thể lật đổ chế độ tư bản, xây dựng nhà nước vô sản. Từ giữa thế kỉ 19, đặc biệt là sau Công xã Pari 1871, giai cấp tư sản ở các nước tư bản đế quốc Âu, Mĩ không còn vai trò tiến bộ, tích cực đối với sự phát triển của lịch sử và đã trở thành chướng ngại vật lớn, chủ yếu đối với việc giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động đang rên xiết dưới ách thống trị của chủ nghĩa tư bản, đế quốc. Tư tưởng dân chủ tư sản đã bị con cháu của các cuộc cách mạng đầu tiên, nhất là cách mạng Pháp phản bội, bị hệ tư tưởng vô sản, chủ nghĩa Mác - Lênin đấu tranh, vạch trần các mặt phản động, yếu kém. Tuy nhiên, tư tưởng dân chủ tư sản vẫn còn có ý nghĩa nhất định đối với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhiều nước thuộc địa và phụ thuộc. Vào nửa đầu thế kỉ 19, tư tưởng dân chủ tư sản mới được truyền bá rộng rãi sang Châu Á, được giai cấp tư sản dân tộc tiếp nhận và thể hiện trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Vấn đề dân tộc và giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa và phụ thuộc trong một mức độ nhất định còn gắn liền với chủ nghĩa tư bản. Con đường cứu nước và giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của giai cấp tư sản dân tộc ở một số nước thuộc địa và phụ thuộc được hình thành theo con đường cách mạng tư sản.

Xu thế này không thể không tác động mạnh mẽ đến Việt Nam khi mà con đường cứu nước theo kiểu phong kiến đã tỏ ra hoàn toàn bất lực. Còn chăng chỉ là sự nuối tiếc một thời kì chiến thắng huy hoàng trong sự nghiệp chống ngoại xâm dưới các triều đại trước đây: “Thôi thánh hiền, thôi Tiên Phật, thôi hào kiệt, thôi anh hùng, ngàn năm cơ nghiệp nước về Đông”. Đúng lúc ấy, làn gió mới của tư tưởng dân chủ tư sản thổi mạnh vào Việt Nam. Tư tưởng dân chủ tư sản đến Việt Nam thông qua sách báo Trung Quốc. Các loại tân thư, tân báo của Trung Quốc, những tác phẩm của Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi như “Trung Đông chiến kỉ”, “Pháp - Phổ chiến tranh”, “Trung Quốc hồn”, “Mậu Tuất chính biến”, “Nhật Bản duy tân tam thập niên”… đem tới cho các sĩ phu yêu nước đang bế tắc con đường cứu nước những tư tưởng mới về nhân quyền, về tự do dân chủ… Thành tựu của công cuộc Duy tân Minh Trị và chiến thắng của Nhật bản trong chiến tranh Nga - Nhật (1904-1905) làm cho không ít nhà yêu nước Việt Nam hướng về Nhật, tìm thấy ở Nhật “đồng văn, đồng chủng” không chỉ là người giúp mình giải phóng đất nước mà còn vạch con đường để tiếp tục giầu mạnh.

Những điều kiện trong nước và tác động của nước ngoài làm xuất hiện trào lưu mới trong việc xác định con đường cứu nước khác con đường cứu nước phong kiến trước đó. Đầu thế kỉ 20, nhiều sĩ phu yêu nước không còn giương ngọn cờ quân chủ, dù là quân chủ lập hiến, mà hướng về cải cách dân chủ để “chấn hưng dân khí, khai thông dân trí, hậu dân sinh”, xác định thể chế cộng hòa theo nhận thức:

“Người của ta, nước của ta,
Dân là của nước, nước là của dân”
(1).

Việt Nam Quang phục Hội đã thể hiện tư tưởng con đường cứu nước mới trong tôn chỉ của mình là chủ trương: “Đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục nước Việt Nam, thành lập nước Cộng hòa dân quốc Việt Nam”.

Như vậy, vào đầu thế kỉ 20, những điều kiện khách quan và chủ quan đã cho phép xác định con đường cứu nước dân chủ tư sản để thay thế cho con đường cứu nước kiểu phong kiến cũ. Tuy nhiên, trên con đường cứu nước này cũng có nhiều màu sắc, khuynh hướng khác nhau.

Con đường cứu nước của Phan Bội Châu chủ yếu lấy phương thức bạo động vũ trang để giành độc lập. Tuy nhiên, cùng với việc bạo động vũ trang, Phan Bội Châu cũng coi trọng việc vận động duy tân đất nước, cải cách chính trị, kinh tế, văn hóa để tự cường dân tộc. Sự kết hợp này thể hiện nhiệm vụ cấp bách trước mắt là giành cho được độc lập, nhưng để có sức mạnh đấu tranh và nuôi dưỡng lâu dài sự tồn tại và phát triển của đất nước nhất thiết phải xây dựng thật vững mạnh trên mọi mặt. Sự chuyển biến trong nhận thức và thể hiện ở hành động thực tiễn về con đường cứu nước của Phan Bội Châu đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau với nhiều suy tư, trăn trở để ông dần dần từ bỏ con đường phong kiến, đi theo con đường cách mạng dân chủ tư sản. Giữa hai giai đoạn này có một thời gian quá độ trong chủ trương xây dựng nền quân chủ lập hiến. Song chủ trương quân chủ của Phan Bội Châu cũng gặp bế tắc, vì giai cấp phong kiến đã thực sự làm tay sai cho Pháp, tìm kiếm một ông vua yêu nước, kêu gọi các quan lại trong triều tham gia đánh Pháp là không dễ. Trong điều kiện như vậy, với lòng nồng nàn yêu nước, Phan Bội Châu chủ trương, thông qua mục đích, chương trình hành động của Duy tân Hội là “cốt sao khôi phục nước Việt Nam, lập ra chính thể độc lập, ngoài ra chưa có chủ trương gì khác”. Sự lúng túng, vướng mắc trong việc xác định phương hướng đấu tranh như vậy chứng tỏ Phan Bội Châu lúc bấy giờ chưa thoát khỏi tư tưởng quân chủ mà cũng chưa chín muồi tư tưởng dân chủ tư sản.


(1) Phan Bội Châu: Văn thơ Phan Bội Châu chọn lọc, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1967, tr. 61-62.
Logged

Tôi là người thợ lò,<br />Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6332

Lính của PTL


« Trả lời #5 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2011, 06:56:24 AM »

Tình trạng nhận thức này không thể kéo dài, vì yêu cầu đánh đổ thực dân Pháp và bọn tay sai phong kiến đòi hỏi phải xác lập ngay một chế độ chính trị, xã hôi tiến bộ hơn, phù hợp với nguyện vọng, quyền lợi của nhân dân. Thực hiện được đều này mới huy động được sức mạnh của nhân dân và như vậy mới đánh đuổi được thực dân, giành được độc lập. Cuối cùng, qua bao suy nghĩ, trăn trở của ban thân, được tác động bởi những cuộc tiếp kiến với các nhà dân chủ tư sản Nhật Bản, Trung Quốc, Phan Bội Châu đã dần dần khẳng định tư tưởng dân chủ cộng hòa. Sự chuyển biến nhận thức này ở Phan Bội Chau đã trải qua những cuộc đấu tranh, dằn vặt. Trong tác phẩm nổi tiếng Niên biểu, ông đã thú nhận: “Tôn Dật Tiên đã biết tôi qua Việt Nam vong quốc sử của tôi, biết tôi chưa gột rửa được đầu óc quân chủ nên ông thống thiết đả kích về hình thức giả dối của Đảng lập hiến”. Tư tưởng dân chủ trong con đường cứu nước của Phan Bội Châu thực sự được dứt bỏ từ sau Cách mạng Tân Hợi (1911), khi được thuyết phục bởi thắng lợi của cuộc cách mạng này. Việc từ bỏ tư tưởng quân chủ theo chủ nghĩa dân chủ và chủ trương xây dựng Việt Nam Cộng hòa dân quốc của Phan Bội Châu được thể hiện trong tôn chỉ Việt Nam Quang phục hội (1912).

Việc xác định con đường cứu nước theo tư tưởng dân chủ tư sản của Phan Bội Châu có nhiều điểm mới, tiến bộ hơn con đường cứu nước kiểu phong kiến trước kia. Phần nào nó phù hợp với yêu cầu mới của thời đại, đất nước. Một sự chuyển biến tích cực trong công cuộc đấu tranh cứu nước chống Pháp, giải phóng dân tộc. Song con đường cứu nước dân chủ tư sản của Phan Bội Châu cũng bộ lộ nhiều non yếu, nhược điểm; bởi vì, như đã nói tư tưởng dân chủ tư sản nói chung vào đầu thế kỉ 20 không còn là tư tưởng tiến bộ khi hệ tư tưởng cách mạng của giai cấp vô sản đã phát triển mạnh mẽ. Nó đã trở thành lạc hậu - dù có vẻ mới mẻ ở các nước thuộc địa và phụ thuộc - và bị bọn thực dân dùng để lừa gạt quần chúng nhân dân bị thống trị, bị áp bức với các khẩu hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái”. Tư tưởng này lại được nhận thức và thực hiện ở những nhà yêu nước vừa thoát khỏi ý thức hệ phong kiến, dựa trên tầng lớp xã hội mới không có tinh thần cách mạng triệt để - giai cấp tư sản dân tộc - nên càng không triệt để và bộc lộ nhiều yếu kém. Nhược điểm, yếu kém trong tư tưởng, chủ trương cứu nước của Phan Bội Châu thể hiện ở chỗ chưa hiểu rõ bản chất của nước Nhật Bản quân phiệt, đã trở thành một nước đế quốc chủ nghĩa cũng đi xâm chiếm thuộc địa và đô hộ nước khác. Vì vậy, Phan Bội Châu vẫn hi vọng vào sự giúp đỡ của Nhật để đánh Pháp. Phan Bội Châu tuy nhận thức được sức mạnh của nhân dân, có ý thức huy động lực lượng của nhân dân để đánh đuổi Pháp giành độc lập, song chưa thực sự thấy rõ vai trò quyết định của nhân dân lao động trong công cuộc cứu nước.

Con đường cứu nước của Phan Bội Châu tuy là bước tiến trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc từ cuối thế kỉ 19, song vì những hạn chế nêu trên nên khó tránh được tình trạng “trăm thất bại không một thành công”. Khi Phan Bội Châu nhận thấy sự non yếu của mình và hiểu được xu thế mới của thời đại thì đã muộn, vì ông đã bị bắt đưa về nước và bị giam lỏng ở Bến Ngự (Huế). Trong 15 năm sống “cảnh tù tự do”, Phan Bội Châu suy ngẫm con đường đã qua và hướng tới “chủ nghĩa xã hội” mà ông nhận thức được, đặt tất cả hi vọng về công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc vào Nguyễn Ái Quốc - con của người bạn đồng hương Nguyễn Sinh Sắc, tiêu biểu cho thế hệ mới đầy tài năng và tâm huyết.

Con đường cứu nước của Phan Chu Trinh cũng có những nét riêng nổi bật. Sinh đồng thời với Phan Bội Châu, cũng là nhà khoa bảng giàu lòng yêu nước, Phan Chu Trinh cũng mong đem “chút tài năng của mình để cứu dân, giúp nước”. Ông chịu ảnh hưởng tư tưởng dân chủ tư sản qua tân thư, lại sớm tiếp xúc với kĩ thuật phương Tây ngay trên đất nước mình và trong những năm sống ở Pháp. Ông cũng trải qua một thời gian ngắn làm quan nên nhận thấy những thối nát của quan trường, đã từ quan để hoạt động yêu nước. Tuy đều là những sĩ phu yêu nước, mang nặng tư tưởng quân chủ, song sự chuyển biến của Phan Chu Trinh từ tư tưởng phong kiến sang tư tưởng dân chủ tư sản nhanh hơn, không phải trải qua những đấu tranh, trăn trở trong bản thân như Phan Bội Châu.

Khác với Phan Bội Châu, con đường cứ nước của Phan Chu Trinh không phải con đường bạo động vũ trang, cầu ngoại viện, mà ông đã khẳng định rằng:

            “Bất bạo động, bạo động tắc tử,
            Bất vọng ngoại, vọng ngoại giả ngu”.


Sớm nhận thấy sự thối nát của chế độ quân chủ nên Phan Chu Trinh kiên quyết đánh đổ chế độ phong kiến, kịch liệt phê phán tư tưởng quân chủ, dù là quân chủ lập hiến. Ông dứt khoát cho rằng nếu không đánh đổ được chế độ quân chủ thì dù có giành được độc lập, dân chúng cũng không thoát khỏi sự thống trị của vua quan và không thể nào hưởng tự do, hạnh phúc. Song làm thế nào để giành được độc lập, đánh đổ được phong kiến. Ông chủ trương phải xây dựng dân quyền và dựa vào Pháp để vận động dân chủ.

Tư tưởng chính trị của Phan Chu Trinh thể hiện qua bức thư gửi Toàn quyền Bô (Beau). Ông đã chỉ trích chính quyền thực dân dung túng bọn phong kiến sâu mọt hại dân, đòi phải trừng trị chúng và tiến hành các biện pháp cải lương, như “kén chọn nhân tài”, “hưng lợi trừ hại”, “mở đường sinh nhai cho dân nghèo”, “rộng đường ăn nói cho thân sĩ” để cho “dân được yên nghiệp làm ăn…”(1).

Những yêu cầu của Phan Chu Trinh rõ ràng không thể thực hiện được trong chế độ nửa phong kiến, vì bọn thực dân Pháp phải duy trì nuôi dưỡng bọn vua quan làm tay sai để đàn áp, bóc lột nhân dân, củng cố sự thống trị của chúng.

Ngoài con đường cứu nước của Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh trình bày trên, cuộc đấu tranh vũ trang có tính chất tự phát của nông dân và các dân tộc ít người ở miền núi vẫn tiếp tục vào đầu thế kỉ 20, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Yên Thế, do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo (kết thúc năm 1913, sau gần 30 năm đấu tranh “hùng cứ một phương”).


(1) Phan Chu Trinh: Thư gửi Chính phủ Pháp, ngày 15.8.1906, “Tài liệu tham khảo lịch sử cách mạng cận đại Việt Nam”, tập 3, Nhà xuất bản Văn Sử Địa, Hà Nội, 1958, tr. 189.
Logged

Tôi là người thợ lò,<br />Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6332

Lính của PTL


« Trả lời #6 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2011, 06:57:27 AM »

Giai cấp tư sản dân tộc Việt Nam tuy mới hình thành cũng đấu tranh đồi quyền lợi, song do bản chất và mối quan hệ với thực dân, phong kiến nên chỉ chủ trương cải lương, thỉnh cầu Chính phủ Pháp ban cho quyền tự do dân chủ. Điều này thể hiện trong chủ trương hoạt động của “Đảng lập hiến”, mà Nguyễn Ái Quốc trong bài “Tình hình Đông Dương, tháng 11 và 12.1924” đã nhận xét: Họ bao giờ cũng núp sau cái mộc “lòng trung thành” khi phê bình công khai những khuyết điểm của chính phủ thuộc địa. Trong tất cả các bài báo, họ tuyên bố “vĩnh viễn gắn bó với mẫu quốc”…”(1).

Tầng lớp tiểu tư sản hoạt động khá mạnh mẽ để chống Pháp, cứu nước. Tổ chức chính trị đầu tiên của họ là Tâm tâm xã, với mục tiêu “quyết tâm hi sinh tất cả tư ý và quyền lợi cá nhân, đem hết sức mình tiến hành mọi việc để khôi phục quyền làm người của người Việt Nam”. Muốn vậy, phải “hợp sức mọi người, lấy ý kiến tập thể, dũng cảm tiến lên, để đem lại cho mọi người cái nhân quyền đã bị cướp mất và mưu cầu hạnh phúc cho quốc dân”(2). Về phương thức hoạt động, tổ chức này chủ trương làm bất cứ việc gì, kể cả việc trừng trị những tên thực dân đầu sỏ, nhằm thức tỉnh và tập hợp đông đảo nhân dân đứng lên đánh đuổi giặc Pháp.

Vào cuối những năm 20 thế kỉ 20, Việt Nam Quốc dân Đảng ra đời. Lúc đầu Đảng này chưa có đường lối chính trị rõ rệt, sau đó mới nêu: “chủ nghĩa của Đảng là xã hội dân chủ”. Mục đích của Đảng là: “Đoàn kết các lực lượng cả nam lẫn nữ để đẩy mạnh cách mạng dân tộc, xây dựng nền dân chủ trực tiếp và giúp đỡ các dân tộc bị áp bức”. Trước ngày khởi nghĩa, Đảng này xác định cụ thể hơn là tiến hành “cách mạng dân tộc, cách mạng chính trị, cách mạng xã hội nhằm đánh đuổi giặc Pháp, đánh đổ ngôi vua, thiết lập dân quyền, thi hành tự do dân chủ”(3). Việt Nam Quốc dân Đảng, đảng của giai cấp tư sản dân tộc, vốn nhỏ yếu lại không tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân nên không thể trở thành lực lượng lãnh đạo công cuộc đấu tranh chống Pháp cứu nước. Cuộc khởi nghĩa Yên Bái thất bại là đỉnh cao cuối cùng của phong trào đấu tranh của giai cấp tư sản. Tuy cuộc đấu tranh này có tác dụng cổ vũ lòng yêu nước của nhân dân ta, song nó cũng “biểu lộ tính chất hấp tấp tiểu tư sản, tính chất hăng hái nhất thời và đồng thời cũng biểu lộ tính chất không vững chắc, non yếu của phong trào tư sản”(4).

Một cách khách quan, chúng ta nhận thấy rằng phong trào yêu nước chống Pháp theo con đường dân chủ tư sản có bước phát triển rộng lớn hơn phong trào Cần Vương cuối thể kí 19. Nó lan rộng trong hầu khắp cả nước, từ nông thôn đến thành thị, thu hút được đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia, đấu tranh trên nhiều lĩnh vực - chống sưu thuế của nông dân, phong trào Duy tân, Đông Kinh nghĩa thục, khởi nghĩa binh lính ở Huế, một số tỉnh Miền Trung, ở Thái Nguyên… Ngoài ra, còn có phong trào nông dân tự phát mà tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Yên Thế, phong trào đấu tranh của đồng bào dân tộc ít người ở miền núi. Những sự kiện này chứng tỏ tinh thần yêu nước anh hùng của nhân dân Việt Nam. Song, cuối cùng vẫn thất bại. Vì sao?

Nhìn chung, từ đầu thế kỉ 20, khi ngọn cờ cứu nước theo kiểu phong kiến đã chấm dứt, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân chuyển sang con đường dân chủ tư sản. Việc chuyển biến này là do ảnh hưởng của những điều kiện chủ quan và khách quan trong, ngoài nước. Song giai cấp tư sản dân tộc vốn yếu, không có tinh thần cách mạng triệt để và xu hướng cách mạng thế giới cũng đã chuyển biến, nên con đường cứu nước dân chủ tư sản trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam cũng không thể đưa tới thắng lợi. Nhận xét về phong trào cứu nước đầu thế kỉ 20, Hồ Chí Minh đã nói rõ là: “Khâm phục các cụ Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu, nhưng không hoàn toàn tán thành cách làm của một người nào. Vì:

Cụ Phan Chu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương (…) đó là sai lầm, chẳng khác gì xin giặc rủ lòng thương.

Cụ Phan Bội Châu hi vọng Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp. Điều đó rất nguy hiểm, chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”.

Cụ Hoàng Hoa Thám còn thực tế hơn vì trực tiếp đấu tranh chống Pháp. Nhưng (…) cụ còn nặng cốt cách phong kiến”(5).

Con đường cứu nước theo kiểu dân chủ tư sản cũng như con đường cứu nước phong kiến trước đó, đã sớm tỏ ra bất lực, không thể đưa cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đến thắng lợi. Cuộc khủng hoảng về con đường cứu nước ngày càng trầm trọng, làm cho phong trào đấu tranh “dường như trong đêm tối không có đường ra”. Song đó là sự khủng hoảng của con đường cứu nước kiểu phong kiến rồi tư sản, chứ không phải sự khủng hoảng bế tắc của phong trào yêu nước đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta. Bởi vì, bên cạnh các phong trào đấu tranh chống Pháp do giai cấp tư sản, tiểu tư sản tổ chức, lãnh đạo, phong trào đấu tranh tự phát của nhân dân vẫn liên tiếp nổ ra, đặc biệt phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân đã phát triển mạnh mẽ từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (vào giữa những năm 20 thế kỉ 20, nhiều cuộc đấu tranh của công nhân đã liên tiếp nổ ra ở vùng mỏ Hồng Gai, Bắc Kạn, Tuyên Quang…, ở các đồn điền cao su lớn ở Nam Kỳ, ở các nhà máy tập trung nhiều công nhân tại Sài Gòn, Chợ Lớn, Nam Định, Hải Phòng, Hà Nội, Vinh - Bến Thủy…).

Phong trào đấu tranh yêu nước, phong trào công nhân và sự truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc có công lớn đã tạo nên những nhân tố kết hợp dẫn tới sự ra đời của đảng Cộng sản Việt Nam. Con đường cứu nước mới, do Nguyễn Ái Quốc lựa chọn, Đảng khẳng định và nhân dân tin theo, đã mở ra trang sử mới trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội.


(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 3, sđd, tr. 12.
(2) Theo Các tổ chức tiền thân của Đảng (Văn kiện), Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương xuất bản, Hà Nội, 1977, tr. 320.
(3) Xem Tài liệu tham khảo lịch sử cách mạng cận đại Việt Nam, tập 5, Ban Nghiên cứu Văn Sử Địa, Hà Nội, 1956, tr. 18, 81, 105.
(4) Lê Duẩn: Một vài đặc điểm của cách mạng Việt Nam, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1960, tr. 41.
(5) Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, in lần thứ hai, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1976, tr. 12-13.
Logged

Tôi là người thợ lò,<br />Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6332

Lính của PTL


« Trả lời #7 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2011, 06:58:47 AM »

2. Hồ Chí Minh và việc xác định con đường cứu nước mới

Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên trong bối cảnh lịch sử của đất nước và thế giới có nhiều biến động lớn. Nước ta đã bị thực dân Pháp hoàn thành việc bình định về quân sự và bắt đầu xây dựng chế độ cai trị thuộc địa. Phong trào đấu tranh yêu nước đổ ra liên tiếp song đều kết thúc thất bại. Điều này thể hiệu mâu thuẫn giữa sức sống dân tộc, tinh thần đấu tranh anh dũng của nhân dân với sự bất lực của giai cấp phong kiến rồi tư sản dân tộc trong việc tổ chức lãnh đạo phong trào cứu nước chống Pháp của nhân dân ta. Trên thế giới, chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang đế quốc chủ nghĩa. Hệ thống thuộc địa được xác lập ở hầu hết các nước ở Châu Á, Châu Phi và khu vực Mĩ Latinh. Phong trào giải phóng dân tộc và phong trào công nhân trên thế giới sôi sục và ngày càng liên kết chặt chẽ với nhau trong cuộc đấu tranh chống đế quốc.

Trong điều kiện lịch sử như vậy và yêu cầu giải quyết nhiệm vụ cơ bản của dân tộc là đấu tranh giành độc lập và thoát khỏi khủng hoảng về con đường cứu nước, sự xuất hiện của Hồ Chí Minh là một tất yếu về lịch sử, phù hợp với sự phát triển chung của dân tộc và nhân loại.

Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức tính chất và yêu cầu của đất nước và thời đại, nên tuy trân trọng truyền thống dân tộc, kính yêu các nhà yêu nước tiền bối, nhưng Người cũng nhận thấy không thể đi theo con đường cứu nước cũ, kiểu phong kiến hay tư sản. Vì vậy, người từ chối con đường Đông du của Phan Bội Châu(1) mà quyết định rời Tổ quốc sang Pháp ở phương Tây để tìm con đường cứu nước mới. Đây là điều chưa hề có trong lịch sử nước ta vì việc ra đi tìm con đường cứu nước thường được hướng về phương Đông. Trước đây, cha ông ta ra nước ngoài - sang Trung Quốc, Nhật Bản - chỉ để cầu viện, chuẩn bị lực lượng về nước đánh Pháp chứ chưa có người nào nhận thức việc tìm con đường cứu nước mới, đúng như Nguyễn Tất Thành đang mong muốn. Việc quyết định sang phương Tây của Người chưa phải đã xác định được con đường cứu nước mới ngay từ khi rời Tổ quốc, mà mới nảy sinh một ý định táo bạo khác với cách suy nghĩ, lựa chọn không thành công trước đây: “Nhân dân Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi lúc này thường tự hỏi nhau ai là người sẽ giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Nhật, người khác nghĩ là Anh, có người lại cho là Mĩ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”(2).

Hồ Chí Minh ra nước ngoài, sang phương Tây, xuất phát từ lòng yêu nước, muốn tìm con đường cứu nước khác trước, đưa lại hiệu quả hơn. Con đường ấy là gì, Người chưa biết nên phải đi tìm bằng công sức của mình.

Trải qua một cuộc hành trình trong khoảng 10 năm qua các nước tư bản, đế quốc, thuộc địa, phụ thuộc, Hồ Chí Minh nhận thấy ở đâu trên thế giới nhân dân lao động cũng khổ cực, mong muốn thoát khỏi sự áp bức bóc lột, được sống độc lập, tự do, hạnh phúc. Thực tiễn này đã dần dần hình thành ở Hồ Chí Minh ý thức về đoàn kết các dân tộc bị áp bức trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung. Thực tiễn cuộc hành trình qua các châu lục là một cơ sở quan trọng để Người tiếp nhận Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin. Luận cương “đến với Người như một ánh sáng kì diệu nâng cao về chất tất cả những hiểu biết và tình cảm cách mạng mà Người hằng nung nấu”(3).

Như vậy, Hồ Chí Minh từ việc tiếp thu truyền thống dân tộc - mà tinh thần yêu nước là cốt lõi, qua thực tiễn cuộc đấu tranh của nhân dân trong nước và nhiều nước thuộc địa đế quốc trên thế giới, đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Rồi từ đó, Người xác định con đường cứu nước đúng cho dân tộc. Con đường cứu nước mới này khác những con đường cứu nước trước đó, nhưng vẫn có sự tiếp thu những yếu tố tích cực trong những cuộc đấu tranh chống xâm lược của nhân dân Việt Nam, như lòng yêu nước, tinh thần dũng cảm hi sinh. Việc xác định con đường cứu nước mới không chỉ phù hợp với yêu cầu của dân tộc mà còn đáp ứng sự chuyển biến to lớn của thời đại, mở đầu bằng Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917. Đây là công lao to lớn đầu tiên của Hồ Chí Minh đối với dân tộc, bởi vì Người “đã gắn phong trào cách mạng Việt Nam với phong trào công nhân quốc tế, đưa nhân dân ta đi theo con đường mà chính Người đã trải qua từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin. Đó là con đường giải phóng duy nhất mà Cách mạng tháng Mười Nga đã mở ra cho nhân dân lao động và tất cả các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới”(4).

Con đường mà Hồ Chí Minh xác định và lựa chọn cho nhân dân ta phù hợp với những điều kiện chủ quan và khách quan trong nước và thế giới.

Trong nước, nhân dân lao động ngày càng phá sản, bần cùng vì ruộng đất bị chiếm đoạt, các ngành nghề thủ công truyền thống bị cạnh tranh, tiêu diệt, nạn sưu cao thuế nặng, ách bóc lột tàn tệ ngày càng tăng. Tình cảnh của nông dân được miêu tả dưới đây, thường xuyên diễn ra: “Hàng năm nhà thợ cày phải ăn đói đến 7-8 tháng, bần nông 5-6 tháng, một số trung nông thiếu 3-4 tháng. Trong những tháng ấy họ phải ăn cầm hơi, mỗi ngày một bữa, có khi hai ngày mới được một bữa cơm, còn ăn cháo, ăn ngô, ăn khoai, cùng lắm thì ăn rau má, gọi là có cái nhét cho đầy ruột”(5). Trong hoàn cảnh như vậy, nông dân Việt Nam “chỉ còn có chết hoặc vùng dậy mà thôi”(6).

Khi ra đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã dần dần nhận thức đầy đủ tình cảnh, nguyện vọng của nhân dân lao động thế giới. Người đã mở rộng tình yêu thương gia đình, đồng bào, Tổ quốc đến tình cảm thân thiết với những người cùng cảnh ngộ ở mọi nước để cùng nhau đấu tranh cho những mục tiêu giống nhau - độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc. Có thể xem rằng tình cảm này là một cơ sở đầu tiên, làm nảy sinh tinh thần, ý thức đoàn kết quốc tế để Hồ Chí Minh với tất cả những người lao động bị áp bức trên thế giới.


(1) Xem Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, sđd, tr. 13.
(2) Hồ Chí Minh trả lời nhà văn Mĩ Anna Luy Xtơrông, trích theo Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử, tập 1, Nhà xuất bản Thông tin lí luận, Hà Nội, 1992, tr. 47-48.
(3) Trường Chinh: Chủ tịch Hồ Chí Minh - Sự nghiệp vĩ đại, gương sáng đời đời. Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1980, tr. 11.
(4) Lê Duẩn: Dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1970, tr. 10.
(5) Qua Ninh và Văn Đình: Vấn đề dân cày, tr.42.
(6) André Violis: Indochine S.O.S Les Editeurs Français réunis, Paris, 1946, tr.97.
« Sửa lần cuối: 01 Tháng Một, 2012, 08:33:07 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tôi là người thợ lò,<br />Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6332

Lính của PTL


« Trả lời #8 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2011, 07:00:00 AM »

Hai sự kiện lớn có tác động đến việc quyết định lựa chọn con đường cứu nước của Hồ Chí Minh, sau khi đã “thâm nhập” vào thực tiễn cuộc sống của nhân dân lao động thế giới, đó là tiếng vang và ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga và Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin.

Khi trở lại Pháp (1917) sau chuyến đi dài ngày qua các châu lục, Hồ Chí Minh sống ở Pari - trung tâm chính trị sôi động bậc nhất của Châu Âu lúc bấy giờ. Tại đây, Người đã biết đến Cách mạng tháng Mười. Với sự nhạy cảm về chính trị, do mong muốn đấu tranh giải phóng dân tộc mình và nhận thấy nguyện vọng thiết tha được độc lập tự do của nhân dân lao động thế giới, Hồ Chí Minh đã dễ dàng tiếp nhận ảnh hưởng Cách mạng tháng Mười. Lúc bấy giờ, tuy “chưa hiểu hết tầm quan trọng lịch sử của Cách mạng tháng Mười, song Người vẫn nhận thấy đây là một biến cố to lớn có sức lôi cuốn kì diệu”(1). Tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa này đối với Người chính là cuộc đấu tranh chống bọn áp bức bóc lột và lòng yêu nước dũng cảm của những người Bônsêvich. Năm 1924, trong bài Lênin và các dân tộc thuộc địa, viết khi Lênin mất, Nguyễn Ái Quốc đã nêu rõ: “… Từ những người nông dân An Nam đến người dân săn bắn trong các rừng Đahômây, cũng đã thầm nghe nói rằng ở một góc trời xa xăm có một dân tộc đã đánh đuổi bọn chủ bóc lột họ và hiện đang tự quản lí đất nước mình mà không cần đến bọn chủ và bọn toàn quyền. Họ cũng đã nghe nói rằng nước đó gọi là nước Nga, rằng có những người dũng cảm, mà người dũng cảm nhất là Lênin. Chỉ như thế cũng đủ làm cho họ ngưỡng mộ sâu sắc và đầy nhiệt tình đối với nước đó và lãnh tụ của nước đó”(2).

Như vậy, xuất phát từ thực tế của đất nước mình vả của các nước thuộc địa, xuất phát từ nguyện vọng thiết tha giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thấy tính chất dân tộc trong Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 bên cạnh tính giai cấp trong cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống chủ nghĩa tư bản. Bất cứ cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa nào cũng đều có nhiệm vụ dân tộc và Cách mạng tháng Mười Nga càng thể hiện rõ đặc điểm này, vì nước Nga sa hoàng là “nhà tù của các dân tộc trong đế quốc Nga”. Vì vậy, nó có sức thu hút mạnh mẽ các dân tộc trong đấu tranh cho độc lập của mình.

Từ sự nhận thức “cảm tính tự nhiên”(3) ban đầu, Hồ Chí Minh đã giữ mãi ấn tượng sâu sắc về tác động mạnh mẽ của Cách mạng tháng Mười đối với Người trong việc quyết định lựa con đường cứu nước theo cách mạng vô sản. Con đường Cách mạng tháng Mười đã đáp ứng nguyện vọng, yêu cầu của Người và nhân dân Việt Nam, cũng như các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc. Tiếp nhận con đường Cách mạng tháng Mười trong công cuộc giải phóng dân tộc, Người cảm thấy “… tựa như người đi đường đang khát mà có nước uống, đang đói mà có cơm ăn”(4).

Từ thực tiễn cuộc hành trình tìm đường cứu nước qua các châu lục, ảnh hưởng sâu sắc, mạnh mẽ của Cách mạng tháng Mười Nga, Hồ Chí Minh đọc được Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương những vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin đăng toàn văn trên báo Luymanitê (“Nhân đạo”) trong hai số liền, ngày 16 và 17.7.1920. Nguyễn Ái Quốc chăm chú đọc nhiều lần văn kiện này. Sau này Người nhớ lại: “Trong Luận cương ấy có những chữ chính trị khó hiểu, nhưng cứ đọc đi đọc lại nhiều lần, cuối cùng tôi cũng hiểu được phần chính. Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên, ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta (chúng tôi nhấn mạnh - P.N.L).

Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”(5).

Điều gì làm cho Nguyễn Ái Quốc phấn khởi, vui mừng và quyết định đi theo con đường cách mạng vô sản mà Lênin chỉ dẫn? Việc tiếp nhận con đường cứu nước này hoàn toàn không phải là sự bồng bột, mà nó trải qua những suy nghĩ sâu lắng, trải qua thực tiễn đấu tranh và Luận cương những vấn đề dân tộc và thuộc địa đã khơi dậy và vạch con đường giải quyết đúng. Bởi vì Luận cương những vấn đề dân tộc và thuộc địa đã đề cập và chỉ rõ phương hướng, cách thức giải quyết nhiều vấn đề cấp bách của thời đại sau Cách mạng tháng Mười thắng lợi: sự cần thiết phải liên kết chặt chẽ phong trào cách mạng ở chính quốc với phong trào cách mạng ở thuộc địa để đấu tranh chống bọn tư bản thực dân và phong kiến, xác định những đặc điểm của phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc và nhiệm vụ của các Đảng Cộng sản phải giúp đỡ phong trào cách mạng ở nước này(6).

Từ lòng yêu nước, tình thương đồng bào đau khổ đến ý thức cứu nước, Hồ Chí Minh đã trải qua những hoạt động yêu nước và khẳng định con đường cứu nước đúng cho dân tộc. Tiếp đó, Người tham dự các cuộc mít tinh, hội nghị để đấu tranh cho việc Đảng Xã hội Pháp gia nhập Quốc tế Cộng sản, phản đối các nước đế quốc vũ trang can thiệp nước Nga Xô viết.

Đánh dấu bước chuyển biến quan trọng trong tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc là việc Người bỏ phiếu tán thành Đảng Xã hội Pháp gia nhập Quốc tế Cộng sản, với lý do rất đơn giản là “Đệ Tam Quốc tế rất chú ý đến vấn đề giải phóng thuộc địa… sẽ giúp các dân tộc bị áp bức giành lại tự do”. Bước ngoặt quan trọng tiếp theo là việc Nguyễn Ái Quốc tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, trở thành đảng viên cộng sản, người cộng sản đầu tiên của nước ta. Đến đây, quá trình đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã hoàn thành. Con đường đó được xác định là Con đường cách mạng vô sản trong đấu tranh giải phóng dân tộc.

Con đường cứu nước theo cách mạng vô sản, do Hồ Chí Minh xác định, không chỉ có ý nghĩa dân tộc mà còn có ý nghĩa quốc tế và thời đại. Dĩ nhiên, để đi đến thắng lợi trên con đường cứu nước này cần phải có sự nỗ lực chủ quan của của dân tộc, sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng của giai cấp vô sản. Việc xác định, kiên trì đi theo con đường cách mạng vô sản trong đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước theo chủ nghĩa xã hội còn là một cuộc đấu tranh gay gắt giữa con đường vô sản và con đường tư bản.

Việc xác định con đường cứu nước đúng và kiên trì thực hiện một cách dũng cảm, sáng tạo là điều kiện quyết định cho thành công của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội, mở đầu bằng thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945.


(1) T.Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1976, tr.10.
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 1, sđd, tr. 230.
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 12, sđd, tr. 470.
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 8, sđd, tr. 571.
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 10, sđd, tr. 127.
(6) Xem V. I. Lênin: Tuyển tập, quyển 2, phần 2, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1959, tr.426-429.
Logged

Tôi là người thợ lò,<br />Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6332

Lính của PTL


« Trả lời #9 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2011, 07:00:36 AM »

II. NHỮNG SỰ CHUẨN Bị CHO CUỘC TỔNG KHỞI NGHĨA GIÀNH CHÍNH QUYỀN KHI THỜI CƠ ĐẾN

Việc xác định con đường cứu nước đúng là cơ sở quan trọng để đưa cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc dần dần thoát khỏi sự khủng hoảng, đi tới thắng lợi. Tuy nhiên, đây mới là điều kiện đầu tiên rất quan trọng, song cần có sự chuẩn bị đầy đủ, đúng đắn mới có thể thành công.

Vì vậy, khi xác định con đường cứu nước theo cách mạng vô sản, Nguyễn Ái Quốc đã nêu rõ nội dung, phương hướng của nó mà nhân dân ta phải thực hiện. Cần phải nhắc một điều là từ cuối thế kỉ 19 đến 1945 (sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc), phong trào giải phóng dân tộc ở Châu Á, Châu Phí nói chung, Đông Nam Á nói riêng, đã dần chuyển sang con đường dân chủ tư sản. Giai cấp tư sản dân tộc ở một số nước như Ấn Độ, Inđônêxia, Philippin vẫn giữ được vai trò nhất định trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc theo con đường dân chủ tư sản. Điều này do điều kiện lịch sử cụ thể, tương quan lực lượng của các tầng lớp nhân dân trong nước; dù không phù hợp với xu thế phát triển mới của lịch sử thế giới từ sau Cách mạng tháng Mười Nga, nhưng nó cũng “có ý nghĩa như sự kiện đầu tiên” theo xu hướng mới - xu hướng dân chủ tư sản(1). Cuộc đấu tranh hay tạm thời hợp tác giữa các đảng tư sản và cộng sản thể hiện tương quan lực lượng của mỗi nước và quyết định con đường đấu tranh giải phóng dân tộc.

Ở Việt Nam, khi xác định con đường cứu nước mới, Nguyễn Ái Quốc đã căn cứ vào tình hình, yêu cầu, bài học, kinh nghiệm của cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta, kết hợp với xu thế phát triển chung của thế giới trong điều kiện mới, đã sáng suốt xác định con đường cứu nước duy nhất đúng cho dân tộc. Con đường đó là con đường “chỉ có giải phóng giai ấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới”(2).

Điều này có cơ sở thực tiến và lí luận vững chắc. Tuy nhiên, để con đường này trở thành hiện thực cần phải có những điều kiện nhất định. Những điều kiện này xuất phát từ nội dung con đường cứu nước mà Người đã xác định, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam, vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và bài học kinh nghiệm của Cách mạng tháng Mười Nga. Một điểm nổi bật được Nguyễn Ái Quốc luôn luôn chú trọng và nhấn mạnh là phải nhận thức đúng và phát huy “chủ nghĩa dân tộc” trong cách mạng giải phóng dân tộc để huy động sức mạnh đoàn kết của toàn dân đấu tranh cho độc lập theo con đường cách mạng vô sản. Cách mạng tháng Tám 1945 thắng lợi vì huy động được sức mạnh toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

1. Nội dung con đường cứu nước và giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh được thể hiện trong quá trình tiến đến Cách mạng tháng Tám 1945

Con đường cứu nước và giải phóng dân tộc mà Hồ Chí Minh xác định có những nội dung gì? Có nhiều vấn đề, ở đây chúng tôi nhấn mạnh một số điểm có bản được thể hiện trong việc chuẩn bị cho cuộc Cách mạng tháng Tám thành công sau này.

Trước hết là cuộc đấu tranh kiên quyết, triệt để, giải phóng dân tộc có thể có những con đường khác nhau để đi tới giải phóng, song chỉ có một con đường cách mạng vô sản mới thực sự giải thoát nhân dân ta khỏi sự áp bức, bóc lột. Trong quyển Đường cách mệnh, tập hợp những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại lớp huấn luyện cán bộ cách mạng Việt Nam ở Quảng Châu (Trung Quốc) trong những năm 1925-1977, Nguyễn Ái Quốc đã giới thiệu về các cuộc cách mạng tư sản Mĩ, Pháp và cách mạng xã hội chủ nghĩa thắng lợi ở Nga. Qua nghiên cứu các cuộc cách mạng nêu trên, Nguyễn Ái Quốc đã rút ra nhiều kết luận để khẳng định con đường cứu nước nào phải đi. Người khẳng định: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mĩ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kì thực trong thì nó tước lục (tức là tước đoạt) công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Cách mệnh đã bốn lần rồi (tức cách mạng tư sản Pháp từ 1789 đến 1848) mà nay công nông Pháp hãy còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức. Cách mệnh An Nam nên nhớ những điều ấy”(3). Đối với cách mạng Mĩ cũng như vậy: “Mĩ tuy rằng cách mệnh đã thành công hơn 150 năm nay (tính từ 1776 đến 1924), nhưng công nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần thứ hai.

Ấy là vì cách mệnh Mĩ là cách mệnh tư bản, mà cách mệnh tư bản là chưa phải cách mệnh đến nơi”(4).

Việc không chấp nhận công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng tư sản được xây dựng trên những cơ sở lịch sử xác thực, vững chắc, không chối cãi được. Điều này đã được nhân dân ta bằng hiểu biết và kinh nghiệm đã tiếp nhận một cách tự giác, vững chắc và thực hiện một cách triệt để, có hiệu quả theo lời chỉ dẫn của Nguyễn Ái Quốc: “Chúng ta đã hi sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cho cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hi sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”(5).


(1) Võ Dương Ninh: Nhìn lại nửa thế kỉ đấu tranh giành độc lập của Đông Nam Á, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2, 1992, tr.2.
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 1, sđd, tr. 416.
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 2, sđd, tr. 274.
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 2, sđd, tr. 270.
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 2, sđd, tr. 270.
« Sửa lần cuối: 19 Tháng Tám, 2011, 08:07:46 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tôi là người thợ lò,<br />Sinh ra trên đất mỏ
Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM