Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 22 Tháng Mười, 2018, 06:45:21 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Xe Thiết giáp & Pháo tự hành  (Đọc 169886 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
tuvidao2011
Thành viên
*
Bài viết: 104



« Trả lời #380 vào lúc: 16 Tháng Bảy, 2011, 09:16:08 PM »

Bác Huy Phúc cho hỏi về thằng cu MT-LBu cái nào, em thấy con này có vẻ lội nước ngon + sức chở quân lớn đấy (em nói thật là em vẫn muốn có hẳn "Vietnam Marine Corps" như Mẽo để hù mấy thằng hàng xóm cho sướng  Cheesy, và nếu có hẳn "VNMRC" thì em rất muốn có thằng cu MT-LBu để trang bị cho quân đổ bộ  Tongue)

Không biết con này có được bọn thủy quân lục chiến Nga dùng làm xe đổ bộ không? em thấy con này được dùng làm khung gầm cho pháo, radar , tên lửa các loại thì nhiều lắm
 em thấy con này với con AAV 7 của USMRC cũng không khác nhau mấy nhỉ?

Logged

Cứ ăn chơi cho hết đời trai trẻ
Rồi về già lặng lẽ đạp xích lô.
Hà Lan Nhi
Thành viên
*
Bài viết: 21


USSR


« Trả lời #381 vào lúc: 16 Tháng Bảy, 2011, 11:50:02 PM »

Caesar (Pháp)


Được nghiên cứu và chế tạo bởi Hãng GIAT Industries và LOHR Industries (Pháp), lựu pháo tự hành “Caesar” có khả năng ứng dụng tác chiến trong mọi điều kiện địa hình, thời gian và thời tiết.

“Caesar” được thiết kế, chế tạo từ những năm 90 của thế kỷ trước cho lực lượng phản ứng nhanh.

Sau vài lần thử nghiệm vào năm 1998, quân đội Pháp đã nhận thấy loại lựu pháo này hoàn toàn đáp ứng được tất cả các yêu cầu đặt ra về các thông số đặc tính kỹ-chiến thuật.

“Caesar” là pháo tự hành loại "lộ thiên", được đặt trên xe vận tải chuyên dụng 6 bánh  “Mercedes-Benz” LJ250L với động cơ 176 KW và hộp truyền động 8 số, khoang lái được thiết kế giành cho 6 người, hộp phóng có thể mang theo 18 quả đạn pháo và đạn tạc.

Loại lựu pháo này có thể kích nổ được cả bãi mìn chống tăng nhờ đạn chùm OMI có trang bị đầu nổ từ tính và hệ thống tự tiêu diệt, đồng thời có thể sử dụng đồng thời nhiều loại đầu đạn khác nhau: đạn tự tách cỡ 155 mm, đạn nổ phá mảnh, đạn xuyên thép, đạn chùm, đạn hơi cay, đạn chiếu sáng và đạn huấn luyện.

Với khả năng sử dụng đồng thời nhiều loại đạn khác nhau, lựu pháo “Caesar” có thể tiêu diệt nhiều loại mục tiêu đa dạng, thậm chí là ngay cả các loại xe tăng, xe bọc thép hiện đại được trang bị lớp thép bảo vệ chắc chắn.

Bên cạnh đó, lựu pháo “Caesar” còn được trang bị hệ thống điều khiển pháo tích hợp với máy tính CS2002G trên xe, hệ thống dẫn đường, hệ thống thay đổi tốc độ bắn ban đầu của đạn pháo, thiết bị quan sát, bộ cảm biến và cả thiết bị đo xa.

Nó có thể được ứng dụng tác chiến trên nhiều khu vực địa hình, khí hậu khác nhau và có thể được triển khai tác chiến nhanh ở cự ly xa nhờ máy bay vận tải hàng không chuyên dụng C-130 “Hercules” hoặc bằng đường biển.

Một số đặc tính kỹ, chiến thuật của lựu pháo “Caesar”: trọng lượng tác chiến 18,5 tấn, chiều dài xe 10 m, cao 2,5 m, rộng 2,64 m, phạm vi hoạt động tối đa 600 km, tốc độ hoạt động trên đường bằng 90 km/h, trên đường đất 50 km/h, tầm bắn xa từ 9-12 km (tùy thuộc loại đạn sử dụng), tốc độ bắn nhanh 3 phát/15 giây, tốc độ bắn trung bình 6 phát/phút, thời gian chuẩn bị tác chiến không quá 1 phút.

http://vtc.vn/528-254733/kham-pha/vu-khi/suc-manh-cua-luu-phao-tu-hanh-caesar.htm
Logged

Miền Đông gian lao mà anh dũng
Bộ đội Cụ Hồ
Thành viên
*
Bài viết: 158



« Trả lời #382 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2011, 10:29:50 AM »

DÒNG XE BRADLEY

(Bài viết được lấy từ website vndefence.ìno)


Thông số



Lịch sử phát triển

Nguồn gốc của M2/M3 Bradley bắt đầu từ giữa những năm 1960, khi Liên Xô cho ra đời loại xe chiến đấu bộ binh(IFV) BMP-1(1967) trang bị giáp chống đạn súng máy hạng nặng từ phía trước, trang bị pháo áp lực thấp 73mm và tên lửa chống tăng AT-3. Hai năm sau, quân đội Đức giới thiệu IFV Marder có giáp nặng hơn và trang bị pháo tự động 20mm. Cả hai loại xe này đều rất mới và đều vượt trội hoàn toàn so với các loại APC trên thế giới.
Khái niệm IFV được hình thành. Một loại xe có thể chiến đấu trong điều kiện phóng xạ-hoá chất-vi sinh vật, cung cấp hoả lực mạnh để chiến đấu cạnh xe tăng chủ lực(MBT) và có khả năng chở lính. Mặc dù có giá thành cao(giá 1 APC thường bằng khoảng 1/7 MBT trong khi 1 IFV có giá bằng 1/2 MBT), chở lính kém(APC chở 10-11 lính, BMP-1 chỉ chở 8 và Marder chở 6 lính) và tốn kém hậu cần hơn APC, IFV vẫn cho thấy sự cần thiết của mình trong chiến tranh hiện đại.
Tháng 3/1964, quân đội Mĩ bắt đầu chấp nhận bỏ thầu dự án phát triển MICV-65(Mechanized Infantry Combat Vehicle-1965/Xe chiến đấu cho bộ binh cơ giới-1965). Người thắng cuộc là Pacific Car and Foundry với mẫu thiết kế được đặt tên XM701, vốn được dựa trên nhiều thành phần của pháo tự hành M109 và M110 mà hãng sản xuất vào lúc đó. Kiểm tra XM701 kết thúc vào năm 1966 nhưng không đưa vào sản xuất. Quân đội kết luận là loại xe này quá nặng(26-27t), quá chậm so với các xe tăng thế hệ tiếp theo như MBT-70. Nhưng đó không phải là vấn để chính, cuộc chiến tốn kém ở Việt Nam đã khiến quân đội Mĩ kiệt quệ tài chính cho các chương trình vũ khí mới.
Sau đó, tập đoàn FMC, nhà sản xuất dòng xe M113 nổi tiếng và là người thua cuộc trong cuộc đấu thầu MICV-65, đã nhận ra tương lai của các loại xe thiết giáp chở quân. Sử dụng nguồn vốn của mình, tập đoàn FMC đã thiết kế lại M113 thành XM765 AIFV(Armored IFV/Xe chiến đấu bộ binh bọc giáp) và cố gắng gây chú ý cho quân đội. Trong năm 1969-1970, văn phòng lãng đạo chương trình MICV-65 đã xem xét lựa chọn XM675 cũng như lựa chọn trang bị Marder của Đức. XM765 sau đó bị từ chối. Vào thời điểm đó, xe tăng chủ lực M1 Abram đang được phát triển và quân đội Mĩ muốn loại MICV mới phải chạy đủ nhanh để bắt kịp. Ngoài ra, quân đội cũng đòi hỏi giáp bảo vệ tốt hơn trong khi XM675 chỉ có giáp tốt hơn một chút so với M113.
Tháng 11/1972, quân đội Mĩ trao hợp đồng yêu cầu FMC phát triển một loại xe mới tương tự XM675 AIFV nhưng nhanh hơn và có giáp tốt hơn. Và loại xe mới này mang tên XM723 MICV.
XM723 có các trang bị: tháp pháo 1 người mang pháo 20mm và lỗ châu mai cho 9 binh sĩ. Giáp của xe là tổ hợp nhôm/thép được tập đoàn FMC phát triển, có trọng lượng tương đối nhẹ nhưng có khả năng chống đạn lên tới 14,5mm. Chiếc xe mới có thể đạt tốc độ 72 km/h. Tuy nhiên, việc phát triển XM723 gặp một số rắc rối vì thay đổi trong trang bị pháo 20mm.
Nhưng rắc rối hơn nữa chính là chương trình chế tạo loại xe thiết giáp trinh sát, chương trình ARSV(Armored Reconnaissance Scout Vehicle). Loại xe XM800 bánh xích của FMC được thiết kế để thay thế thiết giáp M114 và xe tăng M551 Sheridan. Nhưng những chi phí leo thang của chiến tranh Việt Nam, kèm theo hàng loạt chương trình chế tạo vũ khí mới như tăng, trực thăng, phòng không… đã khiến XM800 bị huỷ bỏ vào tháng 11/1974. Đầu năm 1975, ý tưởng gộp chung ARSV vào MICV xuất hiện. TRADOC kết luận rằng phiên bản trinh sát của MICV cần có khả năng chống tăng và tháp pháo 2 người.
Quân đội Mĩ cũng bắt đầu nghe lén và nghe được một số tranh cải trong quân đội Liên Xô về chi phí cao của BMP, cũng như lo ngại BMP không phù hợp cho chiến tranh phi hạt nhân so với chiến tranh hạt nhân Những tranh cải này khiến Mĩ phải xem xét lại chương trình MICV cũng như nên chọn XM723 hay các xe của nước ngoài, các yếu tố cơ bản của MICV có phù hợp và làm thế nào để nhập MICV và ARSV thành một loại?
Chọn lựa Marder của Đức sớm bị loại vì sự thiếu hụt giáp, hoả lực và di động cũng như có giá thành quá cao. Các loại xe khác như AMX-10 của Pháp và BMP-1 bị Israel tịch thu từ Syria cũng được ngâm cứu.
Tháng 11/1976, người ta kết luận MICV là phù hợp cũng như việc nhập ARSV với MICV. Họ đồng ý với các quan điểm cần phải có tháp pháo 2 người và tên lửa chống tăng TOW.
Sản phẩm con của XM723 được đặt tên là XM2 IFV cho yêu cầu của MICV và XM3 CFV cho yêu cầu ARSV. Vấn đề về hệ thống truyền động của XM723 dẫn đến chương trình phát triển cạnh tranh với sự đồng ý của General Electric vào tháng 6/1977. Quyết định chọn tháp pháo 2 người gây ra nhiều tranh cải vì nó cắt vào khoang chở lính làm giảm số lính theo xe từ 9 xuống 6. Nhưng nó cũng có những lợi thế. Trang bị tháp pháo 2 người cho phép xa trưởng có vị trí tốt hơn để quan sát và chỉ huy. Cơ cấu phóng đôi tên lửa TOW sau đó làm hài lòng các đơn vị bộ binh nhận M2 vào năm 1982.
Năm 1978, 8 nguyên mẫu đầu tiên được giao để kiểm tra, và chúng đã trải qua các kiểm tra mà không gặp vấn đề lớn nào. Tháng 1/1980, bộ trưởng quốc phòng đã duyệt việc sản xuất. Theo đánh dấu phân loại, chúng trở thành M2 IFV và M3 CFV. Mặc dù được lên kế hoạch mang tên hai vị tướng Mĩ nổi tiếng trong đệ nhị thế chiến là Omar Bradley và Jacob Devers, sau đó người ta quyết định chỉ gọi theo tên tướng Bradley vì sự tương đồng lớn giữa hai loại xe. Để gọi chung cho M2 IFV và M3 CFV, quân Mĩ dùng cụm từ Bradley Fighting Vehicle(BFV).
75 chiếc M2 và 25 chiếc M3 được cung cấp tài chính vào năm 1980. Năm 1981, hơn 400 chiếc Bradley được giao tiền và sau đó là 600 chiếc mỗi năm cho đến 1984, tăng lên 680 vào 1985. Chiếc Bradley đầu tiên được giao vào tháng 5/1981. Đến năm 1982, số lượng Bradley sản xuất đã đủ để trang bị cho các đơn vị bộ binh cơ giới, với Trung(hoặc lữ) đoàn 41 của Sư đoàn thiết giáp số 2 đóng tại Fort Hood là đơn vị đầu tiên. Năm 1983, chiếc Bradley đầu tiên được đưa đến châu Âu, nằm trong trang bị của Sư đoàn bộ binh(cơ giới) số 3.
Mặc dù Bradley vượt qua các kiểm tra dễ dàng, nó vẫn bị giới truyền thông tấn công vào giai đoạn 1983-1984. Lí do phản đối chính là việc sử dụng giáp nhôm khiến làm tăng tác dụng của đạn nổ lỏm. Lí do này rõ ràng vô lí vì đã có nhiều quốc gia kể cả Mĩ sử dụng xe bọc giáp nhôm và không hề gặp chuyện này. M2 Bradley được dán nhãn “bẫy chết” và “lò hoả thiêu” trên các báo và tạp chí và các chỉ huy cấp cao bị dũa vì tính an toàn của binh sĩ. Sự thật là Bradley được bọc giáp dữ dội hơn bất cứ loại xe chở lính nào khác bị lờ đi. Cũng như không có bất cứ người phản đối nào đề cập đến một loại xe bọc giáp hạng nặng hơn với giá cao hơn. Giới lãng đạo quân đội cấp cao đã đặt ưu tiên vào chương trình Bradley và giới truyền thông đã thất bại trong việc thọc gậy bánh xe. Thể hiện của Bradley trong Bão Táp Sa Mạt sau đó đã hoàn toàn đấm mõm giới phê bình.

Miêu tả

M2 Infantry Fighting Vehicle


Bố trí động cơ trên Bradley cũng tương tự như BMP và Marder, động cơ cùng với hệ thống truyền động được đặt ở bên phải(nếu nhìn từ phía sau xe) phía trước thân xe. Thiết kế này giúp tăng khả năng sống sót cho tổ lái khi xe bị trúng đạn từ các hướng khoảng 2-3h và giáp không cản được đạn. Ngồi bên cạnh động cơ về bên trái là lái xe. Lái xe có một hệ thống lái thuỷ tỉnh khá đơn giản để sử dụng. Phía sau khoang động cơ và lái xe là khoang tháp pháo nằm chếch về bên phải chứa xạ thủ ở bên trái và xa trưởng ở bên phải. Xa trưởng có các kính quan sát 360 độ. Ngoài ra, anh ta cũng có một hách lên xuống đặt biệt có thể nâng lên trên và giữ lại, cho phép xa trưởng quan sát bên ngoài mà không cần phải dùng kính quan sát trong khi vẫn được bảo vệ từ phía trên khỏi đạn nổ trên không. Phần còn lại của xe được dùng để chở lính. Khác với nhiều loại IFV khác, do tháp pháo đặt chếch về bên phải nên có một khoảng trống ở giữa khoang tháp pháo và thành bên trái xe. Khoảng trống này được dùng làm chổ ngồi cho hai binh sĩ ngồi quay mặt vào nhau và có hai lổ châu mai để dùng. Phía sau xe là một khoang lớn chứa 4 binh sĩ. 2 người ngồi bên phải sau khoang tháp pháo, quay mặt ra bên phải để dùng hai lỗ châu mai, 2 binh sĩ khác được ngồi quay mặt ra phía sau để dùng hai lỗ châu mai. Phần khoang sau cũng được dùng để chứa đạn 25mm và 4 tên lửa TOW. Phía trên khoang này có một hách mở lên cho phép nạp tên lửa TOW từ bên trong xe. Hách này được thiết kế để mở một phần để bảo vể toàn bộ phần phía trên của những người đang nạp tên lửa và hạn chế đáng kể mức độ lộ diện của họ. Để vào hay ra khỏi xe, binh sĩ có thể đi qua cửa sập hoặc cánh cửa nhỏ gắn vào cửa sập còn hách nạp tên lửa phía trên không được thiết kế để ra vào xe.

Một chiếc Bradley đang nạp tên lửa qua hách khoang sau.


M3 Calvary Fighting Vehicle


Có thiết kế tương tự như M2, tuy nhiên xe chỉ chở theo hai lính trinh sát ngồi ở khoang sau, quay mặt ra phía cửa. Cùng với đó là thay đổi hệ thống sưởi từ 6 người của M2 còn 2 người của M3. Khoảng trống còn lại trên xe dùng để chứa thêm nhiều đạn dược. Có một số ý kiến đề nghị dùng khoảng trống của M3 để chứa một xe mô tô trinh sát nhưng không được đồng ý vì nguy cơ cháy của động cơ xăng xe mô tô.

M2 và M3 gần như không có khác biệt nào từ bên ngoài ngoại trừ việc M2 có các lỗ châu mai trong khi M3 không có.

Bố trí chổ ngồi trên M2 và M3 Bradley.


Bảo vệ

Bardley dùng một tổ hợp thép và nhôm để làm giáp. Cấu trúc thân xe cơ bản là các tấm nhôm mác 5083, một hợp kim chứa kẽm và magiê. Vài phần của mặt nghiêng bên hông xe dùng nhôm mác 7039 có khả năng chống đạn cao hơn. Giáp nhôm mác 5xxx có khả năng chống chịu bằng 60% thép. Nghĩa là 100mm nhôm 5xxx sẽ chống đạn tương đương với 60mm RHA, nhưng bù lại, trọng lượng của lớp nhôm này chỉ bằng 33mm RHA(1/3 so với thép). Giáp nhôm mác 7xxx có khả năng chống đạn cao hơn, tuy nhiên dễ bị xói mòn và nứt hơn so với nhôm 5xxx. Nhược điểm của giáp nhôm đó là mắc gấp đôi thép. Phần mặt đứng bên hông xe có các cặp tấm thép cán có độ cứng cao dày 25mm đặt cách nhau 2,54cm và cách 8,9cm từ giáp nhôm của thân xe. Cấu trúc này gọi là giáp rỗng(spaced armor) cho phép tăng khả năng chống đạn hoá năng.

Các xe Bradley đời A0, A1 có khả năng chống đạn 14,5mm 360 độ quanh xe.
Các xe đời A2, A3 có thêm các tấm thép gia cố bên ngoài và lớp lót chống miểng bằng kevlar ở bên trong cho phép chống đạn 30mm APDS của BMP-2. Các xe đời mới này cũng có lớp ngoài được thiết kế để mang giáp ERA bao gồm 96 miếng. Bố trí đạn trong xe cũng được thiết kế lại để giảm khả năng phát nổ. Các thiết kế mới bao gồm khả năng bảo vệ làm tăng 20%(~7,3 tấn) trọng lượng xe và loại bỏ các lỗ châu mai.

Các phiên bản Bradley đầu không có bảo vệ NBC nên binh sĩ và tổ lái trên xe phải mang các bộ đồ NBC. Sang đời A1, các xe Bradley có bộ lọc khí và dẫn không khí sạch đến cho toàn bộ tổ lái và hành khác của M3, hoặc chỉ của tổ lái M2 qua mặt nạ M24/M25. Lí do không có thiết bị lọc khí cho tổ lính trên M2 là vì họ có thể phải ra ngoài xe để chiến đấu. Vậy nên trang bị các bộ đồ NBC cho hành khách vẫn thích hợp hơn. Các xe đời A3 có hệ thống lọc khí cho mọi thành viên trên xe và có thêm hệ thống dập lửa tự động bằng khí halon. Hệ thống phòng thủ tích cực MCD chống ATGM cũng có thể được trang bị cho các xe Bradley.

Ngoài ra, do bố trí hành khách rời rạt trên xe thay vì tập trung một chổ cũng khiến giảm thiểu thương vong cho binh sĩ. Các khi tài bên ngoài xe như thiết bị nhắm bắn tích hợp(ISU), bộ phóng tên lửa đôi đều có giáp bào vệ khi không sử dụng.

Mỗi chiếc Bradley đều có 2 bộ phóng lựu đạn khói 4 ống ở hai bên tháp pháo, cũng như có khả năng tạo khói từ động cơ.

Tháng 9/1008, BAE System đã nhận được hợp đồng trang bị các bộ giáp chống IED cho 433 chiếc M2/M3 Bradley. Việc giao hàng diễn ra từ tháng 12/2008 đến 3/2009.

« Sửa lần cuối: 17 Tháng Bảy, 2011, 10:36:54 AM gửi bởi Bộ đội Cụ Hồ » Logged
maxttien
Thành viên
*
Bài viết: 211



« Trả lời #383 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2011, 09:01:08 PM »

bây giờ đã có rada đối pháo, phát hiện vị trí pháo binh thông qua quỹ đạo đạn pháo thế thì giảm thanh bằng thừa.
« Sửa lần cuối: 25 Tháng Bảy, 2011, 08:54:14 AM gửi bởi daibangden » Logged
leprovn
Thành viên
*
Bài viết: 54


« Trả lời #384 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2011, 09:31:02 PM »

bây giờ đã có rada đối pháo, phát hiện vị trí pháo binh thông qua quỹ đạo đạn pháo thế thì giảm thanh bằng thừa
Thế nếu đạn pháo bay lượn theo quỹ đạo phức tạp thì sao nhỉ.
Logged
molnya
Thành viên
*
Bài viết: 84


« Trả lời #385 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2011, 11:28:48 PM »

bây giờ đã có rada đối pháo, phát hiện vị trí pháo binh thông qua quỹ đạo đạn pháo thế thì giảm thanh bằng thừa
Xử lý qua đo lường âm thanh nhanh và đơn giản hơn nhiều, với lại nếu có nhiều phương pháp xác định song song thì hay hơn chỉ có một phương pháp duy nhất. Ngoài ra đo âm thanh có khi còn đặt được trên máy bay, pháo bắn ra, chưa chạy kịp đã bị máy bay nó đến dập cho tới tấp rồi.

Cái này mới chỉ nghiên cứu, ra được pháo giảm thanh còn lâu. Nhưng nếu ra được thì hay phết đấy.
Logged
thuhuongtn
Thành viên
*
Bài viết: 107

Yêu vợ


« Trả lời #386 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2011, 11:30:33 PM »

Đây chỉ là nghiên cứu chế tạo và thực hành ứng dụng. Bạn nghĩ sao mà bảo đạn pháo không bay theo quỹ đạo. Đây không phải là tên lửa hành trình nhá.
Ps: em có ý kiến nên gộp chuyển chủ đề này vào chủ đề "xe thiết giáp và pháo tự hành"  
 chào thân ái và quyết thắng
Logged

Ai có thông tin phần mộ liệt sĩ Nguyễn Văn Việt xin liên hệ sđt: 01629041743 gia đình xin cảm ơn!
maxttien
Thành viên
*
Bài viết: 211



« Trả lời #387 vào lúc: 25 Tháng Bảy, 2011, 08:32:18 AM »


Thế nếu đạn pháo bay lượn theo quỹ đạo phức tạp thì sao nhỉ.
đĐạn pháo chứ có phải tên lửa đâu bạn ơi.
-----------------------------------------------------------
Tôn trọng ngữ pháp tiếng Việt!
Nhắc lần cuối!
« Sửa lần cuối: 25 Tháng Bảy, 2011, 05:00:10 PM gửi bởi maxttien » Logged
Bộ đội Cụ Hồ
Thành viên
*
Bài viết: 158



« Trả lời #388 vào lúc: 29 Tháng Bảy, 2011, 10:39:06 PM »

(Tiếp theo của bài Dòng xe Bradley)

Hỏa lực

Vũ khí chính của Bradley là pháo tự động kiểu chaingun(tức là loại súng dùng nguồn năng lượng từ bên ngoài để vận hành) M242 Bushmaster. M242 có hệ thống nạp đạn đôi cho thay đổi loại đạn cần dùng một cách nhanh chóng. Pháo có hai tốc độ bắn: tốc độ cao 200rpm(phát/phút) và tốc độ thấp 100rpm. Mỗi loạt bắn thường là 4-6 phát vì nếu giữ lâu hơn sẽ ảnh hưởng đến độ chính xác.


Vũ khí chống tăng của xe là hai tên lửa TOW. Từ đời A1 trở đi các xe Bradley mang tên lửa TOW II. Các tên lửa TOW có tầm bắn 3750m và có khả năng xuyên phá gần như mọi loại tăng, thiết giáp cùng thời với tên lửa. Thời gian nạp lại tên lửa cho 2 ống phóng kéo dài khoảng 5 phút.
Vũ khí phụ của xe là một súng máy M240C(Coaxial) đồng trục với pháo tự động.
Ngoài ra, các xe M2A0, M2A1 còn có 6 lỗ châu mai, M2A2 chỉ có hai lỗ châu mai nằm ở cửa sập, M2A3 và M3 không có. Để dùng các lỗ châu mai, binh sĩ phải dùng một phiên bản đặc biệt của súng trường M16A1 là M231. Phiên bản súng này có ốp lát được thiết kế khít với lỗ châu mai ngăn không cho các tác nhân NBC tràn vào trong xe, báng súng đơn giản có thể đẩy vào, súng chỉ có thể bắn chế độ tự động. Sử dụng loại lỗ châu mai này có nhiều điểm yếu ngay cả những loại trên BMP hay Marder. Thứ nhất đó là binh sĩ phải nhắm bắn thông qua một kính quan sát khác, vì thể việc bắn chính xác là không thể. Người bắn phải dùng các loại đạn vạch đường, bắn canh theo đường đạn của loạt trước. Vì thế nên binh sĩ chỉ có thể bắn áp chế. Thứ hai, các lỗ châu mai này tao ra các điểm yếu trên giáp xe và mỗi điểm yếu này lại tương ứng với một binh sĩ. Nếu một quả bom nổ bên cạnh xe, binh sĩ trong xe có thể mất một phần mắt mũi miệng dù xe vẫn nguyên vẹn. Ngoài ra, do xe không có hệ thống chống NBC bằng tăng áp nên binh sĩ trên Bradley phải dùng loại súng riêng cho các lỗ châu mai và điều này thật sự rối rắm vì binh sĩ thường phải mang thêm một khẩu súng trường tiêu chuẩn khác để dùng ngoài xe. Vì thế các lỗ châu mai này dần được loại bỏ khỏi Bradley.



Thể hiện trong chiến đấu

Bradley đã đóng một vai trò quan trọng của quân đội Mĩ trong chiến dịch Bão Táp Sa Mạt. Có khoảng 2200 chiếc được bố trí ở Ảrập Sauđi trước tháng 2/1991 khi cuộc chiến trên bộ bắt đầu. Tỉ lệ bao gồm 19% đời A0, 33% A1 và 48% A2.
Lực lượng Bradley gặp phải một số thiếu hụt lớn loại đạn xuyên giáp APFSDS-DU M919 hiện đại. Đạn M919 chỉ mới được sản xuất với qui mô thấp ban đầu vào năm 1990 nhưng đã được đẩy nhanh tiến độ khi chiến tranh diễn ra. Ở một số đơn vị, xạ thủ được huấn luyện để tiết kiệm đạn bằng cách bắn 1 viên đo tầm, theo sau là không quá 3 viên để tiêu diệt địch. Nhưng sau đó, việc thiếu hụt đạn được cho thấy không phải là một vấn đề lớn vì các xạ thủ Bradley chỉ cần trung bình 6 phát để hạ một xe thiết giáp địch.
Những tính năng của Bradley được đánh giá cao trong cuộc chiến. Khả năng di động cao cho phép Bradley theo kịp xe tăng M1A1 Abram trong chiến dịch tấn công thần tốc 100 giờ đồng hồ quét sạch quân Iraq khỏi Kuwait của liên quân. Thiết bị quan sát hồng ngoại của Bradley có thể hoạt động được trong những điều kiện thời tiết xấu như bão cát. Nhiều thành viên tổ lái còn cho rằng thiết bị quan sát của Bradley tốt hơn cả loại của M1A1 Abram và nói rằng họ có thể phát hiện mục tiêu ở tầm xa hơn các xe tăng. Mức độ sẳn sàng của Bradley luôn đạt từ 90% trở lên.
Hoả lực của xe được báo cáo là “sát thương hơn mọi mong đợi”. Mặc dù hầu hết các xạ thủ Bradley đã được dạy dùng tên lửa TOW để chống tăng, họ nhanh chóng phát hiện ra các loại xe tăng cũ như Type 59 của Trung Quốc có thể bị hạ bởi pháo 25mm, nhất là khi dùng đạn DU bắn từ bên hông.
Vào khoảng 11:00h ngày G +3, Task Force 4-7th của Sư đoàn thiết giáp số 1 đã bắt gặp một dãy phòng thủ của Iraq ở “Medina Ridge” được giữ bởi các đơn vị hỗn hợp của vệ binh cộng hoà Iraq. Chiếc M2A2 của master gunner đại đội, thượng sĩ Charled Peters, phát hiện nhiều phương tiện Iraq trên một dảy đất nghiêng bên dưới vị trí của mình. Peters tiêu diệt 1 chiếc BMP với 3 viên đạn 25mm AP sau đó chuyển sang đạn HE để diệt các lính bộ binh Iraq đang chạy vào các con hào gần đó. Peters sau đó chuyển lại đạn AP và tiêu diệt một chiếc BMP khác và nó phát nổ trong một quả cầu lửa. Peters sau đó bắn tiếp vào một phương tiện khác nhưng nó không nổ. Khi đám khói bụi tan dần, lí do xuất hiện: đó là một chiếc T-72M và nó bắt đầu nã đạn vào đại đội. Peters nhanh chóng kích hoạt tên lửa TOW, nhưng nó có vẻ như vô tận cho đến khi cơ cấu phóng đã vào vị trí khai hoả. Nhưng may thay, khả năng bắn pháo của Iraq quá kém và Peters phóng một quả tên lửa TOW-2 và tiêu diệt chiếc T-72 trong một quả cầu lửa. Sau đó, Peters chuyển lại sang pháo 25mm và phá huỷ chiếc BMP thứ 3. Cuộc giao chiến chỉ diễn ra trong hơn một phút.
Pháo 25mm là loại vũ khí chính được dùng bởi Bradley, đặc biệt là khi bắn các xe thiết giáp nhẹ và bộ binh. Ví dụ như trong Sư đoàn thiết giáp số 3, 10.214 viên đạn 25mm đã được bắn trong cuộc chiến, so với chỉ có 101 tên lửa TOW. Vũ khí duy nhất không được dùng phổ biến là súng máy 7,62mm đồng trục, vốn kẹt đạn liên tiếp. Tên lửa TOW được đánh giá khá tốt, tuy nhiên vẫn có nhiều phàn nàn vì độ tin cây của cơ cấu phóng, tốc độ nâng cơ cấu chậm, cũng như xe không có thiết bị tìm tầm nên xạ thủ đôi khi không biết được mục tiêu có nằm trong tầm bắn hay không.
Trước khi chiến tranh nổ ra, quân đội Mĩ đã phát hiện quân đội Iraq đang phát triển một hệ thống làm nhiễu tên lửa ATGM và trang bị trên các xe tăng tốt nhất của họ như T-72M. Tuy nhiên, trong suốt cuộc chiến chỉ có hai trường hợp có thể đã làm cho tên lửa TOW bị dụ bởi hệ thống này, và trong một trường hợp, sự gây nhiễu khiến cho một tên lửa TOW bị đổi hướng sang một xe tăng khác và tiêu diệt nó thay vì mục tiêu đã định. Thiết bị gây nhiễu này có vẻ như được một quốc gia ngoại quốc cung cấp, có khả năng là Trung Quốc.
Trong cuộc chiến, chỉ có 20 chiếc Bradley bị tiêu diệt, 17 trong số đó là do bị hoả lực bạn bắn nhầm. hầu hết các vụ bắn nhầm là do pháo 120mm của xe tăng Abram. Điển hình như trong “Cuộc chiến Norfolk” ngày 27 tháng 2/1991, thực hiện bởi Sư đoàn thiết giáp số 2, các đơn vị Mĩ đã bị lẫn vào các đơn vị Iraq do điều kiện quan sát kém và sự hỗn loạn của cuộc chiến. 3 chiếc Bradley của Đại đội Bravo, Tiểu đoàn số 1, Trung(hoặc Lữ) đoàn số 41 bộ binh đã bị trúng đạn 120mm, phá huỷ cả 3 chiếc bradley, giết chết 4 binh sĩ và làm bị thương 18 người khác.
3 chiếc Bradley:
Chiếc Bumper B-21: bị trúng 2 viên đạn 120mm DU, giết chết 3 binh sĩ và làm bị thương ít nhất 3 người khác trong số 10 người có mặt trên xe.
Chiếc Bumper B-26: bị trúng một phát đạn 120mm DU vào sườn trái và viên đạn thoát ra ở sườn sau bên phải, giết chết 1 trong số 9 binh sĩ trên xe.
Chiếc Bumper B-33: một phát đạn 120mm DU bắn vào sườn trái và đi ra qua sườn phải xe, làm bị thương 3 trong số 9 người trên xe.
Từ đại đội Delta cũng của tiểu đoàn 1:
Chiếc Bumper D-21: bị trúng 3 viên đạn 120mm DU vào sườn, giết chết lái xe và làm 3 người trên xe bị thương.
Chiếc Bumper D-26: bị trúng 2 viên đạn DU sau khi chúng xuyên qua D-21, làm bị thương lái xe.


Thể hiện của Bradley được đánh giá cao hơn nhiều so với lũ “Bmp”, tức các loại BMP của Liên Xô được dùng bởi lực lượng vệ binh cộng hoà. Giống như các xe tăng T-72, BMP cũng có nguy cơ phát nổ cao do đạn trong xe cháy. Đây là kết quả của việc tập trung đạn vào tháp pháo, thiếu các khoang phân cách và các yếu tố bảo vệ khác.

Một chiếc Bradley đang chở các tù binh chiến tranh Iraq.


Các đời, phiên bản

A0(1982): - Hệ thống TOW cơ bản
- Động cơ 500hp
- Thiết bị quan sát tích hợp(ISU)
- Thiết bị quan sát hồng ngoại ngày/đêm
- Khả năng bơi với màng bơi
- Chuyên chở bằng C-141
- Giáp chống đạn 14,5mm

A1(1986)
- Hệ thống tên lửa TOW II
- Hệ thống lọc khí chống NBC
- Hệ thống dập lửa

A2(1988)
- Động cơ 600hp
- Giáp chống đạn 30mm APDS
- Khả năng mang ERA
- Thiết kế lại nơi chứa đạn
- Lớp lót chống miểng
- Chuyên chở bằng C-17
- Bỏ 4 trong số 6 lỗ châu mai
Năm 1992, toàn bộ số xe A1 đều được chuyển sang A2, các xe A0 không được chuyển đổi vì chi phí cao.

A2 ODS, ODSE
Là nâng cấp dữa trên những kinh nghiệm thu thập được từ chiến dịch Bão Táp Sa Mạt(Operation Dessert Strom/ODS).
- Hệ thống tìm tầm bằng laser an toàn cho mắt
- Hệ thống định vị chiến thuật(TACNAV) bao gồm thiết bị nhận GPS nhẹ chính xác(PLGR) và la bàn điện tử(DCS)
- Thiết bị phản ứng chống tên lửa(MCD)
- Các nâng cấp trong xe:
+ Băng ghế ngồi thay cho từng ghế riêng biệt
+ Chỗ cho 7 hành khách
+ Bếp nấu thực phẩm ăn liền
+ Cửa khoang động cơ vận hành bằng điện
+ Chỗ chứa đồ cá nhân bên ngoài xe
+ 3 thùng đạn “nóng” 50 viên 25mm
- Thiết bị quan sát hồng ngoại cho lái xe
- Hệ thống chỉ huy chiến trường điện tử FBCB2

A3(2000)
- Thiết bị quan sát độc lập cho xa trưởng(CIV) và hệ thống con phát hiện mục tiêu cho Bradley(IBAS) dùng công nghệ quan sát trực diện hồng ngoại(FLIR) thế hệ 2
- Nâng cấp hệ thống điều khiển tháp pháo, ổn định vũ khí
- nâng cấp màn hình chiến thuật cho xa trưởng(CTD) và màn hình cho trưởng nhóm lính(SLD) để tăng cường đề phòng tình huống.
- Hệ thống kiểm soát năng lượng điện.
- Nâng cấp FCS
- Nâng cấp thông tin liên lạc, chỉ huy, điều khiển(IC3)
- Nâng cấp hệ thống định vị
- Khả năng tự kiểm tra tình trạng xe(BIT)
- Nâng cấp bảo vệ:
+ Nâng cấp giáp titan cho nóc xe
+ Khả năng mang ERA
+ Hệ thống chữa cháy bằng khí halon
- Không có lỗ châu mai
- Không có khả năng bơi

Các phiên bản:

COMVAT(Combat Vehicle Arnament Technology)
 Được phát triển vào đầu những năm 1980 như một phản ứng cho sự phát triển BMP-2 và các loại BMP khác. COMVAT trang bị một tháp pháo mới và vũ khí được tập đoàn FMC và công ty Ares phát triển dựa trên pháo 35mm, McDonnell Douglas cũng đề nghị dùng phiên bản 30mm của pháo M242 Bushmaster, có tên gọi bushmaster 2. Chương trình này có mục đích tăng cường tầm bắn và sức xuyên phá của hệ thống vũ khí của Bradley, vốn được thiết kế để có thể dễ dàng nâng cỡ nòng lên 30-45mm. Tuy nhiên, chương trình này gần như đã bị huỷ bỏ vì cho rằng ngay cả BMP-3 cũng không có đủ giáp để chống lại loại đạn 25mm hiện có của Mĩ.

ADATS
Phiên bản phòng không với tên lửa MIM-146 ADATS của Martin Marietta/Oerlikon. Tuy nhiên, cùng với sự sụp đổ của Liên Xô, chương trình đã bị huỷ bỏ vào năm 1992.

Bradley Stinger Fighting Vehicle(BSFV)
Năm 1992, sau khi các hệ thống phòng không 20mm M163 Vulcan đã được cho về vườn, cũng như sự huỷ bỏ của ADATS, quân đội Mĩ quyết định dùng các loại xe M2A2 Bradley để làm hệ thồng phòng không tầm ngắn cho các đơn vị cơ giới. Xe được thiết kế lại bên trong để mang một tổ phòng không vác vai 5 người cùng 6 tên lửa Stinger. BSFV chỉ đơn thuần là một loại xe được thiết kế để vận chuyển đội phòng không vác vai và đội này phải ra ngoài xe để sử dụng tên lửa.

M6 Linabacker
Là phiên bản nâng cấp của BSFV, chiếc BFSV-E này thay thế cơ cấu phóng TOW đôi bằng cơ cấu phóng Stinger 4 ống.

M7 Bradley Fire Support Team(FIST)
Trong chiến dịch Bão Táp Sa Mạt năm 1991, các đơn vị pháo binh Mĩ nhận ra rằng các xe quan sát tiền tuyến dùng cho mục đích chỉ dẫn pháo binh của mình, loại M981 FIST dựa trên thân xe M113 quá chậm để theo kịp các đơn vị thiết giáp mới. Sư đoàn kị binh số 1 đã có sáng kiến lấy các thiết bị từ các xe FIST và gắn lên Bradley, loại mà họ gọi Bradley FS(Fire Support). Dựa theo kinh nghiệm này, chương trình trang bị các thiết bị hổ trợ hoả lực đặc chủng bao gồm thiết bị chủi điểm laser dành cho phương tiện trên bộ cho Bradley được thực hiện. Thiết bị chỉ điểm laser sẽ được đặt vào một khoang bọc giáp thế chỗ cho cơ cấu phóng TOW.

Stingray
Tháng 9/1982, quân đội Mĩ trao cho martin Marietta hợp đồng phát triển hệ thống phản ứng quang điện AN/VLQ-7 Stingray. Chương trình nhắm đến mục tiêu phát triển một hệ thống vũ khí laser mang trên xe, năng lượng trung bình có khả năng làm rối loạn các kính quan sát trên các loại xe đối phương, phá huỷ các cảm biến quang điện và làm mờ đục các vòm kính của buồng lái máy bay trực thăng hay phản lực. Hệ thống được đặt lên tháp pháo 1 chiếc bradley để thử nghiệm. Stingray hoạt động bằng cách phát ra một luồng laser năng lượng thấp quét xung quanh chiến trường. Một khi chiếu vào bề mặt kính quan sát như thiết bị nhắm của xe tăng, luồng laser phản chiếu lại cho phép các cảm biến Stingray đánh giá vị trí của đối phương. Stingray sau đó chuyển sang chế độ làm nhiễu và dùng một tia laser năng lượng trung bình để tấn công cảm biến vừa được phát hiện. Stingray vẫn là một khái niệm gây tranh cãi khi mà công luận khiếp sợ ý tưởng về loại vũ khí có thể gây mù cho binh sĩ địch. 2 chiếc bradley Stingray được bố trí trong chiến dịch Bão táp Sa Mạt nhưng không được sử dụng. Ngoài ra còn có một phiên bản nhẹ hơn, được gọi là Outrider, đặt trên các xe HMMWV cho các hoạt động của lính thuỷ đánh bộ Mĩ.

LOSAT
LOSAT(Line Of Sight Anti Tank) là một hệ thống tên lửa chống tăng dẫn đường bằng laser có tốc độ siêu cao đặt trên một thân xe Bradley hoán cải. Nó được phát triển để thay thế các xe M901 Improved TOW. Với sự kết thúc của chiến tranh lạnh, quân đội Mĩ đã yêu cầu huỷ LOSAT để cắt giảm chi phí vào tháng 10/1993. Tuy nhiên, chương trình vẫn được cấp vốn ở mức độ thấp và tiếp tục phát triển.
 
ETAS(Elevated Target Acquisition System)
ETAS là một dự án phát triển một một pod cảm biến, đặt trên một cái cột có thể kéo dài ra hay thu ngắn lại. Nếu gắn hệ thống này vào một chiếc M3, nó có thể nấp sau vật cản, địa hình, được bảo vệ hoàn toàn khỏi hoả lực trực tiếp của địch, trong khi nâng pod cảm biến lên cao để có thể quan sát xung quanh. Tuy nhiên, chương trình có vẻ như đã bị lãng quên.

M987 FVS(Fighting Vehicle System)
Là thân xe Bradley cơ bản được kéo dài để trở thành một phương tiện vận chuỵển cỡ lớn bọc giáp.

M270 MLRS
Là loại pháo phản lực có thân xe dựa trên M987.  

AMEV(Armored Medical Evacuation Vehicle)
Phiên bản xe cứu thương bọc giáp.  
« Sửa lần cuối: 29 Tháng Bảy, 2011, 10:52:23 PM gửi bởi Bộ đội Cụ Hồ » Logged
Bộ đội Cụ Hồ
Thành viên
*
Bài viết: 158



« Trả lời #389 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2011, 12:22:00 AM »

M270

(vndefence.com.vn)



Nhà sản xuất: Lockheed Martin
Năm đưa vào trang bị: 1983
Tên khác: SPLL-Self-Propelled Loader/Launcher-Cơ cấu nạp/phóng tự hành

THÔNG SỐ


- Tổ lái: 3 người(chỉ huy section, xạ thủ, lái xe)
- Chiều dài: 6,9 m
- Chiều ngang: 2,97 m
- Chiều cao: 2,6 m
- Trọng lượng tối đa: 24.950 kg
- Trọng lượng tối thiểu: 19.573 kg
- Động cơ: 500 hp
- Tốc độ tối đa: 64 km/h
Tầm hoạt động: 483 km
- Đi lên dốc: 31 độ
- Đi ngang dốc 22 độ
- Độ sâu lội; 1,1 m
- Vượt dốc đứng: 1 m

LỊCH SỬ


Mọi chuyện bắt đầu với chương trình GSRS(General Support Rocket System/ ~Hệ thống rocket hổ trợ nhiều mục đích) của Quân đội Mĩ vào giữa thập niên 1970. Năm 1976, hợp đồng nghiên cứu xác định khái niệm được đưa cho nhiều công ty và đến 1977, Vought và Boeing là hai nhà thầu được lựa chọn để đấu thầu việc phát triển. Tháng 12 năm 1979, chương trình GSRS đươc đổi tên thành MLRS(Multiple Rocket Launch System/ Hệ thống phóng nhiều rocket). Tháng 5 năm 1980, Vought được thông báo là nhà thầu chính cho việc phát triển dự án xa hơn và sản xuất cơ cấu phóng và rocket MLRS. Đến năm 1983, MLRS đã được đưa vào hoạt động trong Quân đội Mĩ.

MIÊU TẢ


I- Dàn phóng

M270 là một xe thiết giáp hạng nhẹ bánh xích, có tính di động địa hình cao với một module cơ cấu phóng-nạp(LLM) đặt trên thân sau xe. Trước xe là cabin khoang lái kèm chỉ huy có chổ cho 3 người. Đồ dùng cá nhân được chứa trong một khoang ở giữa LLM và khoang lái.



M270 có hai cấu hình chính. Mĩ có một hệ thống phóng cho phép phóng cả rocket lẫn tên lửa, trong khi hệ thống của các quốc gia khác chỉ có thể phóng rocket. Sự khác biệt giữa hai hệ thống là PIM(Payload Interface Module/ Module giao diện cho đạn(đạn ở đây nên hiểu là rocket hoặc tên lửa)) và SRP/PDS(Stabilization Reference Package/Position Determining System-Gói ổn định/Hệ thống xác định vị trí) mới và SPAPS(Software Special Application Packages/Gói ứng dụng phần mềm đặc biệt).

Thân xe của hệ thống M270 là loại M993, một phiên bản dài hơn của dòng xe Bradley với khoảng 80% các bộ phận chung. Cabin của xe được chế tạo từ các tấm giáp nhôm cung cấp khả năng chống đạn cho tổ lái. Nó cũng được trang bị thiết bị lọc khí M13A1 chống NBC và được tăng áp để tránh các luồng khí độc từ đuôi rocket và tên lửa xả ra.

Phía sau xe là module cơ cấu phóng/nạp(Launcher-Loader Module/LLM) M269 bao gồm hai phần: phần cơ khí và phần điện tử. Các phần này hoạt động cùng với nhau để thực hiện các chức năng bắn hoặc không bắn.

Phần cơ khí của LLM : Phần này bao gồm gầm, tháp pháo và các thành phần của hộp chứa. Phần gầm là nơi đặt LLM lên trên. Cả phần tháp pháo và gầm là nơi chứa các bộ phận điện tử và thuỷ lực của hệ thống lái cơ cấu phóng(Launcher Drive System/LDS) điều khiển việc xoay và nâng LLM. Các thành phần của hộp chứa thực hiện hai công việc quan trọng. Thứ nhất, cấu trúc hộp chứa sắp hàng, giữ và bảo vệ cho các pod phóng. Thứ hai, các thành phần cần trục và tời của hộp chứa cung cấp khả năng tự nạp vào hoặc lấy ra các pod phóng.

Phần điện tử của LLM : Phần này bao gồm ba hệ thống con: nguồn năng lượng chính, hệ thống liên lạc, và hệ thống điều khiển hoả lực(Fire Control System/FCS).

Nguồn điện chính: Là nguồn cung cấp năng lượng cho mọi trang bị của dàn phóng(dàn phóng ở đây nghĩa là toàn bộ xe M270). Phần này dùng các ắc qui chì axit tiêu chuẩn quân đội để cung cấp nguồn điện 24 V. Nó cũng đảm nhận việc phân phối điện qua các công tắc.

- Hệ thống liên lạc: bao gồm 12 radio FM bảo mật và một thiết bị kiểm soát lựa chọn điều khiển kiểu liên lạc(Communication Mode Selector Control/CMSC) của hệ thống radio liên lạc địa/không một kênh(SINCGARS) AN/VRC-92A có khả năng liên lạc bảo mật(COMSEC/Communication Security) ngầm. CMSC sẽ phát hiện một tín hiệu đi tới, phân tích xem nó là tín hiệu điện tử hay lời nói và tự động đưa vào radio FM bảo mật ở đúng kiểu rồi giải mã. CMSC có thể không cần thiết nếu sử dụng SINCGARS có COMSEC ngầm. Mỗi thành viên tổ lái đều có một mũ dành cho tổ lái xe chiến đấu(Combat vehicle Crewman/CVC) nối với hệ thống liên lạc nội bộ AN/VIC-1.

- FCS: Có chức giám sát, phối hợp và kiểm soát tất cả các thiết bị điện sử dụng trong quá trình phóng. FCS bao gồm bảng điều khiển hoả lực(Fire Control Panel/FCP), bộ linh kiện điện tử(Electronics Unit/EU), bộ điều khiển hoả lực(Fire Control Unit/FCU), thiết bị điều khiển cần trục(Boom Controller/BC), các thiết bị kiểm tra ngắn/không điện áp(Short/No-Voltage Testers/SNVT), SRP/PDS, PIM, bộ nạp chương trình chương trình(Program Load Unit/PLU) và thiết bị xử lí thông tin liên lạc(Communication Processor/CMP).

+ Bảng điều khiển hoả lực(FCP): Được đặt chính giữa cabin, ngay trước ghế ngồi của xạ thủ, có một bàn phím để nhập các thông tin về chiến dịch và menu lựa chọn các thông điệp. Bảng điều khiển còn có các màn hình hiển thị kí tự và số bằng ngôn ngữ đơn giản. Bên cạnh các phím là các đèn báo của hệ thống tự kiểm tra cho các LRU(Line Replaceable Unit). Điều này cho phép nhanh chóng phát hiện v�li cáh li các sai sót của FCS.

+ Bộ linh kiện điện tử(EU): Bộ linh kiện điện tử chứa các chương trình máy tính và các linh kiện điện tử xử lí thông tin có chức năng nhận, tính toán và đưa ra các thông số của nhiệm vụ. EU cũng chứa tất cả các file về vũ khí và dữ liệu chiến dịch cho các chương trình phóng và tính toán đạn đạo trong bộ nhớ “bong bóng”(vĩnh viễn, không bị mất). Tuy nhiên, chỉ có các chương trình về đạn(đạn ở đây là rocket hoặc tên lửa) được đưa vào RAM của EU mới có thể được FCS dùng để tính toán dữ liệu phóng và các nhiệm vụ khác. EU tự động nhận diện loại đạn và copy các file vũ khí cần thiết từ “bong bóng” vào RAM. Nếu chương trình phù hợp không được đưa vào, tổ lái có thể dùng PLU để đưa các dữ liệu về đạn vào EU.

+ Bộ điều khiển hoả lực(FCU): FCU chứa các mạch điện tử chuyển các tín hiệu đầu ra của EU thành các tín hiệu điều khiển cho các thành phần khác của dàn phóng. Nó cũng có thể chuyển các thông tin đầu vào của các thành phần khác thành tín hiệu mà EU có thể dùng.
 
+ Thiết bị điều khiển cần trục(BC): BC cho phép điều khiển từ xa việc nạp đạn vào, ra và giữ yên bị trí LLM để bảo trì.

+ Các thiết bị kiểm tra ngắn/không điện áp(SNVT): SNVT là một thiết bị kiểm tra built-in được dùng trong quá trình nạp đạn. Nó được dùng để kiểm tra những sợi cáp trung tâm FCS W19 nếu bị mất sức điện động hay có tình điện. SNVT đảm bảo các dây cáp an toàn để nối vào các pod chứa đạn.

+ Gói ổn định/Hệ thống xác định vị trí(SRP/PDS): SRP/PDS bao gồm hai hệ thống con tích hợp với nhau nhưng được để ở hai khoang riêng biệt. SRP dùng la bàn hồi chuyển chạy điện, cung cấp hướng, độ nâng và độ nghiêng của dàn phóng. PDS dùng hai máy ghi ở hai bánh truyền động và dữ liệu về phương hướng của SRP để xác định vị trí.
 
+ Module giao diện cho đạn(PIM): PIM cung cấp năng lượng và giao diện cho việc liên lạc giữa pod phóng và EU. Các thông tin đầu vào ban đầu của chương trình đạn của EU đòi hỏi phải dùng đến PLU và PIM.

+ Bộ nạp chương trình chương trình(PLU): PLU là một thiết bị điện tử dùng để lập chương trình bộ nhớ của EU. PLU mang một băng cassette chứa các dữ liệu về chương trình hoạt động. PLU nối với EU thông qua cáp kết nối W31P2 của PIM. Khi FCS được bật lên, PLU sẽ download các dữ liệu từ cassette vào bộ nhớ của EU. Mỗi băng cassette có 4 MB bộ nhớ. PLU được dùng để dăng nhập các chương trình về đạn cần thiết trong băng cassette. PLU cầm tay được trang bị cho các trung đội khai hoả để lập chương trình hoặc thay đổi các chương trình của EU. PLU cần ít nhất từ 22-25 phút để chuyển toàn bộ dữ liệu của băng cassette.
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Mười, 2011, 12:29:59 AM gửi bởi Bộ đội Cụ Hồ » Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM