Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 23 Tháng Mười, 2014, 10:00:54 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tàu ngầm - Chiến hạm của Liên Xô và Nga (phần 2)  (Đọc 118569 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14583


Чёрный Орёл


« Trả lời #240 vào lúc: 10 Tháng Hai, 2012, 04:15:33 PM »


Tháng 3 năm 1956, đã hoàn toàn thiết kế lại đề án tàu ngầm để trình lên Ủy ban kiểm tra cấp Nhà nước của Hải quân do sự chuẩn bị không kịp các đề án hệ thống kiểm soát tên lửa đạn đạo và chính tên lửa. N.Isanin đã đề xuất bắt đầu đóng tàu ngầm ban đầu với các tên lửa R-11FM. Với mục tiêu rút gọn khối lượng trang thiết bị sau đó của các tàu ngầm với tổ hợp vũ khí tên lửa mới, ông đã lên kế hoạch đồng nhất một cách tối đa toàn bộ các phần tử tổ hợp tên lửa – thiết bị phóng, hệ thống tính toán – giải quyết “Dolomit”, đòng thời hệ thống kiểm soát khởi động và bay của tên lửa. Sự thiết kế thiết bị phóng diễn ra ở Phòng thiết kế Trung ương số 34 thuộc Bộ Công nghiệp Quốc phòng. Khi thiết kế đề án tàu và thiết bị phóng, đặc biệt chú ý vào sự đảm bảo độ tin cậy và an toàn khi bảo vệ tên lửa, đồng thời sự phóng của chúng trong các điều kiện khai thác sử dụng lâu dài tàu ngầm với tên lửa trên thành.

Trên cơ sở Đề án 629 đã lấy đề từ đề án tàu ngầm lớn hoạt động trên đại dương thuộc Đề án 611, nhưng tăng cường số lượng khoang từ 7 lên 8. Dự kiến, sư đồng nhất hoàn toàn theo thiết bị ngư lôi, thiết bị năng lượng chính và các khí tài kỹ thuật cơ bản khác. Nhưng trong cùng thời gian đó, với mục tiêu giảm trung tâm trọng lực của khoang tên lửa và đảm bảo tính vững chắc có lợi của tàu ngầm khi sự nổi của thân trong của khoang tên lửa lần đầu tiên chế tạo trong hình dáng “số 8” – trong hình dạng 2 đường giao nhau của bệ chống hình trụ: đường kính trên 5,8 mét, dưới 4,8 mét (giải pháp này, các công trình sư Liên Xô đã mượn của người Đức – vào cuối cuộc chiến tranh đã đóng các tàu ngầm với thiết kế thân trong này, sau đó, được mang về Liên Xô như là chiến lợi phẩm). Biện pháp này đã xuất hiện vấn đề, gọi là sự chia phần, kéo dài thêm 1/3 chiều dài tàu và vượt ra đường cơ bản 2,55 mét ở dưới. Vách ngăn dài, cao, rộng của khoang và thiết bị nâng cột trụ (PMU) rào quanh bộ phận trên của hầm tên lửa (3 hầm trong 1 hàng). Khoang trong được chia thành 2 tầng: phía trên là các trạm chỉ huy và dẫn đường, ở dưới bố trí thiết bị nâng cuộn cáp của kính tiềm vọng “Lira” và PZN-3. Mặc dù tăng các kích thước cơ bản và lượng choán nước, chất lượng chuyển động của tàu ngầm Đề án 629 theo so sánh với Đề án 611 giảm không nhiều. Tron thiết kế tên lửa mới của tàu ngầm đã áp dụng một số kỹ thuật mới, chi tiết, lắp các chân vịt tiếng ồn nhỏ 5 cánh. Với mục đích kiểm tra độ an toàn của tên lửa, trong các vụ nổ của bom chìm trên các tầm xa khác nhau từ tàu ngầm, xưởng số 402, năm 1959 theo bản vẽ của Phòng thiết kế trung ương số 18 đã chế tạo khoang ngoài trời của tàu ngầm Đề án 629 và tàu đảm bảo các thí nghiệm (trên cơ sở tàu quét mìn Đề án 254).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14583


Чёрный Орёл


« Trả lời #241 vào lúc: 10 Tháng Hai, 2012, 04:24:17 PM »


Ngoài vũ khí tên lửa, tàu ngầm Đề án 629 trang bị 6 thiết bị ngư lôi, không có ngư lôi dự bị - 4 ở mũi và 2 ở mạn. Độ sâu tiếp nhận vũ khí ngư lôi là 80 mét. Trữ lượng không khí cao áp được bổ sung bằng máy nén khí – diesel DK-2.

Thiết bị năng lượng chính được chế tạo dưới dạng 3 trục, đồng dạng hoàn toàn với tàu ngầm Đề án 611. Nó gòm có 3 động cơ diesel kiểu 37D theo 2000 sức ngựa mỗi động cơ và 3 động cơ điện bánh lái: 2 PG-101 trên các trục bên, và 1 PG-102 ở giữa. Pin ắc quy 48SU gồm 4 cụm và 112 phân tử Tầm bơi xa tối đa trên tư thế nổi (với nhiên liệu dự trữ) là 23 5000 dặm với tốc độ 8 hải lý, trong chế độ bơi chiến đấu với tốc độ 7 hải lý – 10 800 dặm, trong tư thế ngầm – 290 dặm với tốc độ tuần tra 2,5 hải lý.

Thủy thủ đoàn tàu ngầm có 80 sỹ quan, hạ sĩ quan Hải quân và thủy thủ. Các điều kiện sinh hoạt thực tế không khác với các tàu ngầm ngư lôi thường trong thời gian đó. Thời gian hoạt đọng với trữ lượng thực phẩm: 70 ngày.

Cũng như đã nhắc đến, liên quan với sự kéo dài thiết kế tổ hợp D-2 với tên lửa R-13, 3 tàu đầu tiên được khởi công năm 1957 đã được bàn giao cho Hải quân tên lửa R-11FM, còn sự hiện đại hóa của chúng với các thiết bị khởi động tên lửa có cánh R-13 sau đó đã được tiến hành ở các xưởng đóng tàu. Ở phương Tây, các tàu ngầm tên lửa Đề án 629 nhận tên gọi lớp Golf.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14583


Чёрный Орёл


« Trả lời #242 vào lúc: 10 Tháng Hai, 2012, 08:22:49 PM »

Các biến thể


Cũng như Tổng công trình sư đã đề xuất, Tổng công trình sư Đề án 629 N.Isanin, song song với việc đóng loạt tàu, trang bị tên lửa R-11FM, đã tiến hành thí nghiệm tên lửa mới R-13, theo đó là 1 tàu ngầm trong Đề án. Từ tháng 11 năm 1959 đến tháng 8 năm 1960, từ thành tàu đầu tiên B-92 trong biên chế Hạm đội Phương Bắc đã thực hiện 11 lần phóng, trong số đó 11 lần thành công. Sau đó, 13 tháng 10 năm 1961, tên lửa cùng tổ hợp D-2 đã được tiếp nhận vào biên chế Hải quân Liên Xô. Ngay sau đó đã bắt đầu trang bị lại các tàu ngầm với tên lửa R-11FM bằng tên lửa mới R-13, mà nhờ sự cân nhắc bởi Tổng công trình sư, sự đồng nhất theo khí tài khởi động đã diễn ra thành công một cách nhanh chóng. Ở phương Tây, sự tái trang bị này gần như không được chú ý, ở đó không tính toán, rằng toàn bộ các tàu ngầm trong đề án này đã bắt đầu trang bị tên lửa R-13.

Tuy nhiên, trong sự nâng cấp này, điểm yếu cơ bản của các tàu ngầm tên lửa Liên Xô đầu tiên – sự khởi động nổi (tên lửa) – vẫn còn. Tên lửa R-13 có thể khởi động chỉ từ vị trí nổi, trong đó, thời gian chuẩn bị đến khi khởi động tên lửa đầu tiên sau khi nổi là 4 phút, giảm đáng kể giá trị chiến đấu của các tàu ngầm mới Đề án 629.

Trong quá trình đóng, các tàu ngầm Đề án 629, bắt đầu từ thân số hiệu xưởng 811, trên các tàu ngầm lắp tổ hợp khí tài thông tin vô tuyến và trinh sát vô tuyến mới, còn từ số hiệu 815 – đài tìm phương theo tiếng ồn mới MG-10.

Các thí nghiệm đầu tiên của tên lửa đạn đạo với tàu ngầm thí nghiệm Đề án V-611 đã chỉ ra khả năng thật của việc chế tạo tên lửa khởi động ngầm. Ví thế, 20 tháng 3 năm 1958 đã tiếp nhận mệnh lệnh của Nhà nước về việc chế tạo tên lửa mới, khởi động dưới nước với tầm bắn xa như R-13. Để tiến hành các thí nghiệm tên lửa mới trong biên chế tổ hợp đã quyết định kéo dài loạt tàu ngầm Đề án 629, được đóng ở xưởng số 402 tàu thứ 16 theo Đề án thay đổi 629-B để xử lý tổ hợp 2 tên lửa mới với sự khởi động ngầm: tên lửa với nhiên liệu động cơ lỏng (Tổng công trình sư V.P.Makeev) và nhiên liệu rắn (P.A.Tyurin).
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14583


Чёрный Орёл


« Trả lời #243 vào lúc: 10 Tháng Hai, 2012, 09:00:21 PM »


Năm 1960, dưới sự chỉ đạo của Ya.E.Evgrafov đã thiết kế Đề án kỹ thuật tàu ngầm B-629. Đồng thời, năm 1960, các chuyên gia thuộc Phòng thiết kế Trung ương số 34 đã thiết kế một cách theo nguyên tắc thiết bị khởi động để bảo quản lâu dài tên lửa đạn đạo trong các điều kiện khởi động của chúng trên tàu từ hầm ngập nước với bệ khởi động cố định (số hiệu SM-87), còn ở Viện nghiên cứu khoa học số 49, đã chế tạo các mẫu thí nghiệm các khí tài tính toán – giải quyết điều khiển các khí tàu thủy lực của tên lửa và xác định thời điểm khởi động “Izumrud” và thiết bị tự động tính toán tìm phương và xác định tầm xa tới mục tiêu “Stavropol”. Sau các lần phóng kiểm tra tên lửa vào cuối tháng 12 năm 1962, tàu ngầm Đề án 629-B nhận số hiệu chiến thuật K-142, đã được tiếp nhận vào biên chế Hải quân trong vai trò tàu thí nghiệm – chiến đấu, trong đó lắp tổ hợp D-4 với sự khởi động ngầm.

Lần phóng đầu tiên của tên lửa R-21 thuộc Phòng thí nghiệm Makeev từ vị trí ngầm là 24 tháng 12 năm 1962. Tổng cộng trong quá trình thí nghiệm đã thực hiện 27 lần phóng tên lửa. Chúng cho phép xử lý sự khởi động ngầm tin cậy và an toàn. Tổ hợp D-4 với tên lửa R-21 được tiếp nhận vào biên chế theo Mệnh lệnh của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô ngày 15 tháng 3 năm 1963. Theo cấp độ kỹ thuật của R-21 là bước tiến lớn, sự thật, chỉ là so với các tên lửa R-11FM và R-13. Còn thật ra, nó thua kém một cách rõ ràng so với các tên lửa đồng dạng của Mỹ. Tên lửa được thiết kế 1 tầng, với các thùng nhiên liệu mang theo và đầu đạn tách rời, tầm bắn của tên lửa – 1400km.

Năm 1959, đã thực hiện Đề án sơ bộ 629-D4, được xác định là các phần tử cơ sở một cách tiền đề của tàu ngầm khi lắp tổ hợp mới D-4 trên tàu. Đề án kỹ thuật này cũng được thiết kế chỉ sau sự chế tạo tàu ngầm thí nghiệm Đề án 629-B, khi thành phần khí tài của hệ thống tổ hợp được xác định ở mức cuối cùng về các tính năng kích thước khối lượng của tên lửa các phần tử khác.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14583


Чёрный Орёл


« Trả lời #244 vào lúc: 11 Tháng Hai, 2012, 12:47:40 PM »

Tháng 7 năm 1962 đã tiếp nhận quyết định nâng cấp tàu ngầm với mục tiêu lắp tổ hợp tên lửa D-4 với các tên lửa R-21. Năm 1963, Ủy ban thuộc Hải quân đã giới thiệu Đề án 629-A, thiết kế dưới sự chỉ đạo của Tổng công trình sư V.V.Borisov.  Khi thiết kế đề án này đã xuất phát từ sự cần thiết rút gọn tối đa khối lượng toàn bộ công việc. Sự thay đổi cơ bản hướng vào khoang thứ 4 và không gian giữa hai thành tàu ở khu vực khoang này. Các hầm mới cho tên lửa đạn đạo R-21 được lắp. Trong đường rãnh hình tròn của khoang thứ 4 lắp các thùng tải trọng dằn, sử dụng để hỗ trợ tàu trong độ sâu ở thời điểm khởi động tên lửa. Các tên lửa được lắp trong các hầm ở trạng thái được nạp nhiên liệu, nơi chúng có thể ở đó trong 3 tháng. Trong khoảng thời hạn đó, cần thiết tháo chúng để kiểm tra tình trạng kỹ thuật. Việc bắn được thực hiện ở độ sâu 50 mét, khi sóng biển cấp 5 và tốc độ tàu ngầm 4 hải lý. Thời gian giữa các lần khởi động của 2 tên lửa đầu tiên gần 5 phút. Để đảm bảo sự bắn tên lửa sử dụng khí tài tính toán – giải quyết của tàu “Stavropol-1” và “Izumrud-1” – tính toán các góc dẫn bắn các khí tái con quay mang theo của tên lửa một cách tương đối mặt phẳng bắn và mặt phẳng ngang. Đề án đồng thời dự kiến lắp tổ hợp đạo hàng hiện đại “Sigma-629-A” với ống nhòm ngầm đạo hàng thiên văn “Segment-8” để xử lý góc vòng và xác định tốc độ của tàu ngầm, xác định tự động nhiệm vụ hiện tại về các tọa độ địa lý và xử lý nhiệm vụ hiện tại về các góc bên và độ lắc sống tàu. Pin ắc quy 46-SU được thay thế bằng pin năng suất cao hơn 48-SM, đồng thời, trong Đề án cũng áp dụng hàng loạt sự đổi mới khác.

Trong thời gian thí nghiệm cấp Nhà nước của tàu ngầm Đề án 629 đầu tiên – K-88 – đã tiến hành phóng 2 tên lửa R-21 từ các hầm giữa và mạn tàu và sau khi thực hiện đầy đủ chương trình thí nghiệm vận động cấp xưởng, tàu ngầm được tiếp nhận bởi Ủy ban nghiệm thu Nhà nước vào biên chế Hải quân. Sau đó, theo Đề án 629-A trong giai đoạn từ 1966 đến 1972 đã trang bị lại thêm 13 tàu ngầm (tổng cộng, 8 – xưởng “Zvedochka” và 6 ở xưởng mang tên Đoàn viên thanh niên cộng sản Lenin, trong đó, có 1 theo Đề án 629-B). Sau đó, chúng được phân lớp lại từ loại lớn thành tàu ngầm tuần dương với sự sở hữu số hiệu chiến thuật với tiền tố “K”. Ở phương Tây, các tàu ngầm hiện đại hóa nhận tên gọi lớp Golf-II.

Trong thời gian phục vụ, các tàu ngầm Đề án 629-A được trang bị khí tài ăng ten lai kiểu “Paravan”, hang-ga để trong đó bố trí thượng tầng trong phần cuối mạn tàu, nhưng trên một số tàu ngầm, bộ phận tương tự được lắp ở mũ chụp – là sự kéo vách ngăn mui và hầm tên lửa.

Trong số các tàu còn lại của Đề án này – 1 tàu ngầm – B-118 – năm 1974 đã trang bị lại theo Đề án 601 với sự kéo dài thân và thượng tầng 20 mét cùng sự bố trí 6 hầm để thí nghiệm các tên lửa đạn đạo 4K75 (R-29 tổ hợp D-9), nhận tên gọi lớp Golf-III từ phương Tây. Thêm một tàu ngầm nữa – K-102 – năm 1973 đã trang bị lại theo Đề án 605 (lớp Golf-IV) thành phương tiện mang tên lửa đạn đạo 4K18 (SS-NX-13) để tiêu diệt các mục tiêu cơ động trên biển – chế tạo trên cơ sở R-27. Năm 1974-75, tàu ngầm K-153 đã trải qua nâng cấp ở Severodvinsk theo Đề án 619 (lớp Golf V) thành tàu thí nghiệm để thí nghiệm tên lửa nhiên liệu rắn. Các thí nghiệm này cho phép xử lý sự khởi động ở tư thế ngầm và nổi từ hầm “khô” dưới áp suất của ắc quy thuốc nổ. Trên 3 tàu ngầm, các tê lửa được tháo, thay vào đó là vách ngăn mui bố trí ăn ten để sử dụng trong vai trò tàu ngầm – máy chuyển phát, đồng thời thông tin liên lạc và kiểm soát (điều khiển). Đề án nhận số hiệu 629-R, còn ở phương Tây, chúng có “tên riêng” là Biến thể lớp Golf-I (Modified Golf-I class). Ngoài ra, các tàu này còn được giữ trong biên chế lâu hơn các tàu cùng lớp trong biên chế đến đầu những năm 1990. Có thêm các thông tin không được kiểm chứng về vấn đề, răng 2 tàu ngầm được trang bị lại với mục đích trinh sát (1 ở Hạm đội Thái Bình Dương, 1 ở Hạm đội Phương Bắc, gợi nhớ lại các Đề án 629-KS và 629-KO), còn 1 tàu – K-113 – tàu rải mìn (Hạm đội Thái Bình Dương, nhắc lại các Đề án 629-N, 629-I và 629-E). Ngoài ra, có Đề án 629-M không được thực hiện – tàu ngầm với thiết bị nguyên tử bổ sung.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14583


Чёрный Орёл


« Trả lời #245 vào lúc: 11 Tháng Hai, 2012, 01:18:47 PM »

Chương trình đóng tàu


Việc đóng các tàu ngầm tên lửa được bắt đầu từ năm 1957 tại Severodvinsk (xưởng số 402) và Komsomol-na-Amur (xưởng số 199). Tàu đầu tiên là K-96, khởi công 14 tháng 10 năm 1957 và hạ thủy 16 tháng 9 năm 1958. Năm 1959 đã hạ thủy 6 tàu đầu tiên trong lớp (4 ở phía bắc, 2 ở Viễn Đông). Gần năm 1960, Hải quân được bàn giao thêm 7 tàu (5 ở phía bắc, 2 ở Viễn Đông), còn năm 1961, thêm 6 tàu (tương ứng 5 – 1) và cuối cùng, năm 1962 ở Vladivostoc đã gia nhập biên chế 2 tàu ngầm cuối cùng – tổng cộng 22 tàu. Ngoài ra, năm 1962, ở Severodvinsk đã đóng 1 tàu thí nghiệm Đề án 629-B, còn sau khi hoàn thành toàn bộ loạt ở Komsomol-na-Amur đã đóng thêm 2 tàu Đề án 629 cho Trung Quốc (số hiệu xưởng 138 và 139) – tổng cộng có 25 tàu ngầm tên lửa đã được đóng.

Sau khi đóng các tàu ngầm bàn giao cho Trung Quốc hoàn thành, sau đó chuyển lại cho Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, ở đó, với sự hỗ trợ của các chuyên gia Liên Xô chúng được đóng chỉnh sửa lại một lần nữa và đưa vào biên chế. Sự thật là ở thời điểm ban giao tàu ngầm cho Trung Quốc, quan hệ giữa 2 nước đã có chiều hướng xấu đi và để đảm bảo bí mật, lãnh đạo Liên Xô đã quyết định bàn giao cho Trung Quốc tàu ngầm không có tên lửa. Bởi thế, chúng được sử dụng trong vai trò chính là huấn luyện kỹ thuật cho thủy thủ đoàn. Còn việc xử lý các nhiệm vụ chiến đấu, tập trận hay ra khởi trong vai trò tàu mang tên lửa trực chiến là không thể. Sau đó, một trong số các tàu ngầm Đề án 629 của Trung Quốc bị đắm do tai nạn.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14583


Чёрный Орёл


« Trả lời #246 vào lúc: 11 Tháng Hai, 2012, 01:31:36 PM »

Tình hình đến năm  2008


Sau khi gia nhập biên chế 15 tàu ngầm Đề án 629 đã vào biên chế Hạm đội Phương Bắc và 7 – Hạm đội Thái Bình Dương. Lúc đầu, các tàu ngầm này được phân thành lớp tàu ngầm lớn, nhưng từ 16 tháng 6 năm 1960, chúng được phân loại lại thành tàu ngầm tuần dương với sự tiếp nhận tiền tố “K” làm số hiệu chiến thuật. Từ 20 tháng 5 năm 1966, toàn bộ các tàu ngầm Đề án 629 quay lại phân lớp tàu ngầm lớn.

Trong số 22 tàu, từ năm 1963, 14 được trang bị lại theo Đề án 629-A, nhận vũ khí trang bị tên lửa đạn đạo khởi động ngầm R-21 (đồng thời chúng được chuyển thành phân lớp tàu ngầm tuần dương), 3 – theo Đề án 629-R – tàu ngầm – chuyển phát, 2 tàu sau khi trang bị lại nhận vũ khí thuộc tổ hợp tên lửa thí nghiệm, còn 1 tàu được lắp tên lửa đạn đạo cho tàu ngầm R-39. Năm 1976, 6 tàu ngầm Đề án 629 và Đề án 629-A đã được bố trí ở Baltic, còn lại – Thái Bình Dương, ở đó chúng nằm trong biên chế chiến đấu đến cuối những năm 1980. Theo Hiệp ước về cắt giảm vũ khí chiến lược START-1, từ cuối những năm 1980, trong một bộ phận các tàu ngầm này, vũ khí tên lửa được tháo, còn chúng bị loại khỏi biên chế, hoặc là trang bị lại thành các tàu ngầm ngư lôi hoặc thí nghiệm. Như vậy, 3 tàu ngầm đã bị loại vào cuối những năm 1970 và 1 – năm 1988.

Ngày 20 tháng 10 năm 1961, từ tàu ngầm K-102 đã thực hiện lần phóng duy nhất trên thế giới tên lửa R-13 trong phiên bản đầu đạn nhiệt hạch hàng megaton.

Các tàu ngầm cuối cùng trong lớp (Đề án 629-R) bị loại khỏi biên chế Hải quân Liên Xô vào năm 1989-1990. Tàu phục vụ lâu nhất là K-113, được cải tạo lại vào đầu năm 1990 thành đài bơi PZS-95.

Một tàu ngầm (K-129) tháng 2 năm 1968 bị đắm cùng với thủy thủ đoàn ở Thái Bình Dương gần quần đảo Hawai trong thời gian trực chiến (nguyên nhân do va chạm với tàu ngầm Mỹ “Swordfish”). Trong tháng 11 năm 1974, nó đã được trục vớt từng phần bởi người Mỹ với sự hỗ trợ của tàu đa năng “Glomar Explorer”. 
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14583


Чёрный Орёл


« Trả lời #247 vào lúc: 11 Tháng Hai, 2012, 08:26:43 PM »

Tóm tắt lịch sử phục vụ


+ B-92, từ 16 tháng 6 năm 1990 là K-96, từ 25 tháng 7 năm 1977 là B-96 (số hiệu xưởng 801); khởi công 14 tháng 10 năm 1957 ở xưởng số 402 (hiện nay là xí nghiệp lắp ráp xe máy phương Bắc) ở thành phố Molotovka (hiện nay là Severodvinsk); 24 tháng 12 năm 1957 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như tàu ngầm nguyên tử lớn; hạ thủy 16 tháng 9 năm 1985; 29 tháng 12 năm 1959 ghi nhập biên chế; 5 tháng 2 năm 1960 gia nhập Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 16 tháng 6 năm 1960 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; trong giai đoạn từ tháng 11 năm 1959 đến tháng 8 năm 1960 đã thực hiện 13 lần phóng tên lửa đạn đạo cho tàu ngầm R-13, trong số đó 11 lần thành công; 20 tháng 5 năm 1960 một lần nữa trở thành phân lớp tàu ngầm lớn; trong giai đoạn từ 29 tháng 11 năm 1967 đến 19 tháng 12 năm 1969 nâng cấp theo Đề án 629-A; mùa thu năm 1967 đã hoàn thành cuộc hành quân xuyên Hạm đội từ biển Trắng tới Baltic theo hệ thống nước nội bộ; 14 tháng 10 năm 1976 ghi tên vào Hạm đội Cờ đỏ Baltic; 25 tháng 8 đến 24 tháng 10 năm 1979 và 15 tháng 4 đến 24 tháng 10 năm 1979 đã thực hiện nhiệm vụ trực chiến ở biển Baltic; 19 tháng 9 năm 1987 bị loại khỏi biên chế chiến đấu và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1987 giải thể; năm 1994 để ở cảng Liepai trong tình trạng nửa đắm khi các đơn vị quân Nga rút khỏi Lativa, sau đó được trục vớt và bán cho công ty tư nhân của Đức để tháo kim loại.

+ B-40, từ 16 tháng 6 năm 1960 là K-72, từ 25 tháng 7 năm 1977 là B-372 (số hiệu xưởng 802); khởi công 16 tháng 12 năm 1957 ở xưởng số 402 tại Severodvinsk; 2 tháng 8 năm 1958 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như tàu ngầm lớn; hạ thủy 12 tháng 4 năm 1959; 30 tháng 11 năm 1959 gia nhập biên chế; 21 tháng 1 năm 1960 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 16 tháng 6 năm 1960 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; 20 tháng 5 năm 1966 một lần nữa trở thành phân lớp tàu ngầm nguyên tử lớn; trong giai đoạn từ 26 tháng 12 năm 1969 đến 25 tháng 12 năm 1972 nâng câp ở xưởng “Zvedochka” ở Severodvinsk theo Đề án 629-A; 1 tháng 9 đến 9 tháng 11 năm 1974 đã thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu ở phía Tây Đại Tây Dương; mùa thu năm 1976 đã hoàn thành cuộc hành quân xuyên Hạm đội từ biển Trắng tới Baltic theo hệ thống nước ngầm; 26 tháng 11 năm 1976 đã thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu ở Baltic; 30 tháng 5 năm 1989 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ; 1 tháng 11 năm 1989 giải thể; năm 1984 đang ở cảng Liepai trong trạng thái nửa đắm khi các đơn vị quân Nga rút khỏi Latvia, sau đó được trục vớt và bán cho công ty tư nhân của Đức để tháo dỡ lấy kim loại.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14583


Чёрный Орёл


« Trả lời #248 vào lúc: 11 Tháng Hai, 2012, 08:51:13 PM »


+ B-41, từ 16 tháng 6 năm 1990 là K-79, từ 25 tháng 7 năm 1977 là B-79 (số hiệu xưởng 803); khởi công 17 tháng 2 năm 1958 ở xưởng số 402 ở Severodvinsk; hạ thủy 16 tháng 6 năm 1959; 2 tháng 8 năm 1985 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như tàu ngầm lớn; 25 tháng 11 năm 1959 gia nhập biên chế; 20 tháng 1 năm 1960 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 16 tháng 6 năm 1960 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; trong giai đoạn từ năm 1960 đến 1962 đã thực hiện 2 cuộc hành quân dài ngày tới Bắc Đại Tây Dương tới khu vực các quần đảo Kanar và tới bờ biển Mỹ tới khu vực các quần đảo New-Founden, đồng thời tham gia các cuộc tập trận của Hạm đội Phương Bắc “Meteor” tới Đại Tây Dương trong tháng 7-8 năm 1960 và tập trận “Vòng cực” ở Bắc Đại Tây Dương mùa hè năm 1961; tháng 8 năm 1960 đã thực hiện việc bắn tên lửa từ đất mũi Mũi Thánh theo trận địa “Chizh” (tên lửa đạn đạo rơi trúng mục tiêu); tháng 12 năm 1961 đến 1962 đã trải qua trung tu và nâng cấp; tháng 10-11 năm 1962 đã trải qua các thí nghiệm neo đậu, vận động và bàn giao ở bãi tập trên biển Trắng; năm 1964 đã thực hiện cuộc hành quân dài 29 ngày tới quần đảo Shpitsbergen và tới biển Greenland; 20 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu ngầm lớn; trong giai đoạn từ 8 tháng 8 năm 1967 đến 30 tháng 12 năm 1968 được nâng cấp ở xưởng “Zvedochka”ở Severodvinsk theo Đề án 629-A; 25 tháng 9 đến 3 tháng 12 năm 1969 và 25 tháng 10 năm 1970 đến 2 tháng 1 năm 1971 và 14 tháng 8 đến 29 tháng 10 năm 1973 đã thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu ở Tây Đại Tây Dương; 6 tháng 6 năm 1974 đến 6 tháng 5 năm 1976 đã trải qua đại tu ở xưởng số 35 tại Murmansk; mùa thu năm 1976 đã hoàn thành cuộc di chuyển xuyên Hạm đội theo hệ thống nước nội bộ tới Baltic từ biển Trắng; 26 tháng 11 năm 1976 ghi tên vào Hạm đội Baltic; 2 tháng 9 đến 28 tháng 10 năm 1977, 5 tháng 4 đến 3 tháng 6 năm 1978, 6 tháng 4 đến 4 tháng 6 năm 1979, 11 tháng 2 đến 21 tháng 3 năm 1980 và 7 tháng 3 đến 5 tháng 5 năm 1981 đã thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu trên biển Baltic; 30 tháng 5 năm 1989 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ; 1 tháng 11 năm 1989 giải thể; năm 1994 ở trong tình trạng nửa đóng ở vịnh Liepai khi quân Nga rút khỏi Latvia, sau đó được trục vớt và bán cho công ty tư nhân của Đức để tháo dỡ lấy kim loại.

+ B-42, từ 16 tháng 6 năm 1990 là K-83, từ 25 tháng 7 năm 1977 là B-83, từ 3 tháng 8 năm 1979 là BS-83 (số hiệu xưởng 804); khởi công 26 tháng 4 năm 1958 ở xưởng số 402 tại Severodvinsk; 12 tháng 2 năm 1959 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như tàu ngầm lớn; hạ thủy 23 tháng 7 năm 1959; 29 tháng 11 năm 1959 gia nhập biên chế; 21 tháng 1 năm 1960 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 16 tháng 6 năm 1960 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; năm 1962, trong thời gian khủng hoảng Caribe, tàu được trang bị để thực hiện nhiệm vụ chiến đấu chống Mỹ và ra khơi, nhưng sau đó nhận mệnh lệnh quay về căn cứ liên quan đến việc chấm dứt khủng hoảng; năm 1964 đã hoàn thành cuộc hành quân xuyên Hạm đội tới Viễn Đông và gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; 20 tháng 5 năm 1966 trở thành phân lớp tàu ngầm lớn; trong giai đoạn từ 1 tháng 1 năm 1977 đến 25 tháng 6 năm 1979 nâng cấp ở xưởng Viễn Đông tại Vladivostoc theo Đề án 629-R; năm 1980 trải qua sửa chữa và đóng hiệu chỉnh ở xưởng số 30 tại cảng Chazhm; 17 tháng 7 năm 1988 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác, sau đó được kéo tới cảng Trud ở lãnh thổ Nga và tháo dỡ lấy kim loại.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14583


Чёрный Орёл


« Trả lời #249 vào lúc: 11 Tháng Hai, 2012, 09:15:17 PM »


+ B-121, từ 16 tháng 6 năm 1960 là K-102 (số hiệu xưởng 805); khởi công 28 tháng 5 năm 1958 ở xưởng số 402 tại Severodvinsk; 17 tháng 2 năm 1969 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như tàu ngầm lớn; hạ thủy 19 tháng 9 năm 1959; 25 tháng 12 năm 1959 gia nhập biên chế; 21 tháng 1 năm 1960 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; 16 tháng 6 năm 1960 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; 20 tháng 10 năm 1961 đã thực hiện việc phóng tên lửa đạn đạo R-13 trong phiên bản đầu đạn nhiệt hạch cấp megaton; trong giai đoạn từ 5 tháng 11 năm 1968 đến 9 tháng 12 năm 1970 đã trải qua nâng cấp và trang bị lại ở Severodvinsk theo Đề án 605; năm 1971-1972 đã tiến hành trang bị lại bằng các hệ thống mới; tháng 12 năm 1972-15 tháng 8 năm 1975 đã trải qua các thí nghiệm tên lửa đạn đạo R-27K; 3 tháng 7 năm 1980 bị loại khỏi biên chế Hải quân và tháo dỡ; 31 tháng 12 năm 1981 giải tán và sau đó ở căn cứ “Glavvtorchermeta” ở vịnh Kolsk để tháo dỡ.

+ B-125, từ 16 tháng 6 năm 1960 là K-107, từ 28 tháng 12 năm 1973 là B-107, từ 3 tháng 8 năm 1978 là BS-107 (số hiệu xưởng 806); khởi công 12 tháng 11 năm 1958 ở xưởng số 402 tại Severodvinsk; 27 tháng 3nawm 1959 ghi tên vào danh sách tàu Hải quân như tàu ngầm lớn; hạ thủy 23 tháng 4 năm 1960; 16 tháng 6 năm 1960 trở thành phân lớp tàu ngầm tuần dương; 17 tháng 8 năm 1960 gia nhập biên chế; 30 tháng 8 năm 1960 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Phương Bắc; tháng 9 năm 1961, đã thực hiện thành công việc bắn tên lửa đạn đạo cùng với K-118 và K-113; trong giai đoạn từ 4 tháng 3 đến 2 tháng 5 năm 1963, lần đầu tiên (đối với tàu ngầm Hạm đội Phương Bắc) đã ra khơi thuộc Đại Tây Dương, hoạt động dài ngày, thực hiện các thí nghiệm vận chuyển tên lửa đạn đạo R-13 trong các điều kiện bơi dài ngày, trong thời gian hành quân đã thực hiện 4 lần khởi động có điều kiện 1 và 2 tên lửa R-13 với sự nâng tên lửa thực tế trên bệ phóng; khi quay về, đã thực hiện việc khởi động 3 tên lửa theo 3 lần triển khai dưới góc lớn cho các mục tiêu để làm rõ các tính tăng của tổ hợp tên lửa; mùa hè – thu năm 1973 đã thực hiện cuộc hành quân xuyên Hạm đội từ vịnh Angel theo đường biển Bắc tới Viễn Đông; 26 tháng 10 năm 1973 gia nhập biên chế Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương; 28 tháng 12 năm 1973 trở thành phân lớp tàu ngầm – chuyển phát và trong giai đoạn từ 1 tháng 1 năm 1975 đến 30 tháng 12 năm 1977 trang bị lại ở xưởng Viễn Đông tại Vladivostoc theo Đề án 629-R; mùa thu năm 1978 đã hoàn thành cuộc hành quân xuyên Hạm đội ngược lại phía Bắc; 13 tháng 11 năm 1978 một lần nữa trở lại biên chế Hạm đội Phương Bắc; 24 tháng 6 năm 1991 bị loại khỏi biên chế Hải quân và bàn giao cho cơ sở khác để tháo dỡ; 1 tháng 10 năm 1991 bị giải tán và năm 1998 tháo thành kim loại ở xưởng số 10 tại vịnh Pala (cảng Viuzhnưi).
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM