Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 17 Tháng Chín, 2014, 02:29:29 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)  (Đọc 27168 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6298


Lính của PTL


« vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2011, 06:29:17 AM »

Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)
Nhà xuất bản: Chính trị quốc gia
Năm xuất bàn: 2002
Số hóa: macbupda

Chỉ đạo nội dung:
BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ TỈNH BÌNH PHƯỚC

Tổ chức thực hiện:
BỘ CHỈ HUY QUÂN SỰ TỈNH BÌNH PHƯỚC

Biên soạn:
TS. Thượng tá HỒ SƠN ĐÀI (Chủ biên, Kết luận)
Cử nhân ĐOÀN TẤN DŨNG (Mở đầu, các Chương bảy, tám)
Thạc sĩ NGUYỄN THU VÂN (Các Chương một, hai, ba)
Đại tá TRẦN PHẤN CHẤN (Các Chương bốn, năm, sáu)

Tư liệu:
Thiếu tá TRƯƠNG VĂN GIÃ



Tượng đồng chiến thắng Phước Long
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6298


Lính của PTL


« Trả lời #1 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2011, 06:30:48 AM »

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Trong 30 năm kháng chiến đánh đuổi hai kẻ thù xâm lược lớn là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, quân và dân Bình Phước đã kế tiếp truyền thống yêu nước của các thế hệ trước, lập nên bao sự tích hào hùng mà mỗi thắng lợi trong đấu tranh và xây dựng đều gắn liền máu xương với những tên đất, tên người của quê hương yêu dấu. Dưới sự lãnh đạo của Đảng quang vinh và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, trực tiếp là Đảng bộ Bình Phước, quân và dân các dân tộc trên địa bàn này đã cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đứng lên làm Cách mạng Tháng Tám thành công năm 1945; và ngay sau đó bắt tay vào xây dựng và bảo vệ chính quyền non trẻ; cùng cả nước tiến hành hai cuộc kháng chiến oanh liệt, giải phóng Tổ quốc, giải phóng quê hương.

Để ghi lại những chặng đường vẻ vang của Đảng bộ, của quân và dân các dân tộc ở Bình Phước; tổng kết những bài học kinh nghiệm về sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ, biểu dương những tấm gương tiêu biểu của đồng bào và chiến sĩ trong chiến đấu và xây dựng (từ năm 1945 đến năm 1975); Nhà xuất bản Chính trị quốc gia giới thiệu cuốn sách: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975) do Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Binh Phước tổ chức biên soạn, dưới sự chỉ đạo nội dung của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Phước.

Cuốn sách là một tài liệu quý, góp phần giáo dục truyền thống cách mạng, nhất là đối với thế hệ trẻ, nâng cao lòng tự hào về quê hương đất nước, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, và chính quyền các cấp; tăng cường đoàn kết các dân tộc không ngừng phấn đấu vươn lên hoàn thành mọi nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới; góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Xin trận trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.

Tháng I năm 2002           
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6298


Lính của PTL


« Trả lời #2 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2011, 06:34:19 AM »

MỞ ĐẦU

ĐẤT VÀ NGƯỜI BÌNH PHƯỚC,
TRUYỀN THỐNG ĐẤU TRANH CHỐNG XÂM LƯỢC
TỪ GIỮA THẾ KỶ XIX ĐẾN CÁCH MẠNG THÁNG TÁM

I. BÌNH PHƯỚC - VÙNG ĐẤT VÀ CON NGƯỜI

Tỉnh Bình Phước nằm trong khu vực miền Đông Nam Bộ, nối liền với nam Tây Nguyên và là phần cuối của dãy Trường Sơn, đông giáp tỉnh Lâm Đồng và Đồng Nai, tây giáp tỉnh Tây Ninh và Campuchia. Tỉnh có đường biên giới dài 240 kilômét, nằm trên 12 xã của huyện Lộc Ninh và huyện Phước Long.

Bình Phước là vùng trung du miền núi phía bắc của tỉnh Sông Bé cũ, gồm 5 huyện, 1 thị xã: Bình Long, Phước Long, Đồng Phú, Bù Đăng và thị xã Đồng Xoài với tổng diện tích tự nhiên 6.853,93km2.

Dưới triều nhà Nguyễn, Bình Phước là vùng đất thuộc trấn Biên Hòa. Đến giữa thế kỷ thứ XIX, sau khi thực dân Pháp đánh chiếm và đặt nền cai trị tại sáu tỉnh Nam Kỳ, chúng chia Nam Kỳ thành bốn khu vực hành chính lớn: Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long và Bát Xắc. Bình Phước thuộc khu vực Sài Gòn, trong đó vùng đất phía đông thuộc tiểu khu Biên Hòa, vùng đất phía Tây Nam và phía Nam thuộc tiểu khu Thủ Dầu Một. Năm 1889, thực dân Pháp đổi các tiểu khu thành tỉnh thì Bình Phước thuộc địa phận phía bắc tỉnh Biên Hòa và tỉnh Thủ Dầu Một. Sau năm 1954, do ý đồ cai trị của thực dân Pháp, Bình Phước lại bị chia cắt, sáp nhập nhiều lần. Đến cuối năm 1972, Trung ương Cục miền Nam quyết định thành lập tỉnh Bình Phước bao gồm 2 tỉnh Bình Long và Phước Long. Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kết thúc thắng lợi, do yêu cầu phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội và an ninh, quốc phòng, ngày 02 tháng 07 năm 1976, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Quyết định sáp nhập các tỉnh Thủ Dầu Một, Bình Phước và 3 xã An Bình, Bình An, Đông Hòa (thuộc huyện Thủ Đức) thành tỉnh Sông Bé. Ngày 1 tháng 1 năm 1997 tỉnh Bình Phước được tái lập bao gồm 5 huyện phía bắc thuộc tỉnh Song Bé cũ, tỉnh lỵ đặt tại Đồng Xoài. Ngày 1 tháng 9 năm 1999, Chính phủ ban hành Nghị định 90/1999/NĐ-CP về việc thành lập thị xã Đồng Xoài. Ngày 1 tháng 1 năm 2000, thị xã Đồng Xoài chính thức đi vào hoạt động.

*
*   *

Bình Phước là địa bàn chuyển tiếp từ cao nguyên xuống đồng bằng. Trong chiến tranh giải phóng, Bình Phước là cửa ngõ, bàn đạp tiến công Sài Gòn từ phía Bắc, là đoạn cuối đường mòn Hồ Chí Minh - nơi trực tiếp tiếp nhận sức người, sức của từ hậu phương lớn đối với chiến trường Nam Bộ. Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, Bình Phước là nơi án ngữ bảo vệ thành phố Hồ Chí Minh. Từ những nét đặc thù về địa lý đã khẳng định Bình Phước là một địa bàn chiến lược quan trọng về quân sự, kinh tế và văn hóa - xã hội trong suốt cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.

Về địa lý, do chịu sự tác động của những biến thiên về địa chất, Bình Phước mang dáng dấp cao nguyên có diện tích khoảng 1100 héc ta chủ yếu là rừng tự nhiên; quanh sườn núi có nhiều hang động, dòng sông Bé ẩn hiện lượn quanh tạo nên những thác nước hùng vĩ, thơ mộng như Thác Mẹ, Thác Mơ… Ngay sát thị trấn Thác Mơ (huyện Phước Long) nổi lên núi Bà Rá cao 723 mét, là một trong ba ngọn núi cao nhất miền Đông Nam Bộ. Trong đấu tranh cách mạng, núi Bà Rá chiếm vị trí quân sự quan trọng đối với vùng và khu vực. Thời Mỹ - ngụy, nơi đây địch xây dựng một trung tâm truyền tin và bố trí lực lượng khá đông, có lúc gần 1 tiểu đoàn với hỏa lực mạnh. Dưới chân núi chúng dựng trại giam để cầm giữ những chiến sĩ cách mạng. Trong chiến tranh chống Mỹ, lợi dụng địa thế hiểm trở núi cao, rừng rậm, hang động và thác ghềnh, các chiến sĩ cách mạng đã dựa vào đây để chống lại nhiều cuộc càn quét của quân thù. Núi Bà Rá trở thành một trong những căn cứ địa của Bình Phước.

Do khí hậu nhiệt đới ẩm và đất đai màu mỡ nên rừng ở Bình Phước bạt ngàn, với nhiều loại gỗ quý như gỗ đỏ, cẩm lai, giáng hương, tếch, vên vên, bằng lăng, sao, dầu… Rừng ở Bình Phước có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, điều hòa dòng chảy của các con sông lớn như sông Bé, sông Sài Gòn, sông Đồng Nai. Trong hai cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, rừng ở Bình Phước có giá trị lớn về quân sự. “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”. Những cánh rừng bạt ngàn đã cung cấp lương thực, thực phẩm, thuốc men cho bộ đội và đồng bào những lúc khó khăn để đánh giặc. Đất rừng còn là nơi lý tưởng cho chiến tranh du kích phát triển. Rừng trên địa hình trung bình là địa bàn hoạt động, tác chiến thuận lợi của bộ đội chủ lực.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6298


Lính của PTL


« Trả lời #3 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2011, 06:37:16 AM »

Một đặc điểm riêng ở nơi đây là những di tích lịch sử. Căn cứ đầu tiên của Trung ương Cục miền Nam; Thủ phủ của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Lộc Ninh, nơi thường xuyên đón tiếp các phái đoàn Ba Lan, Hunggari, Inđônêxia, Canađa trong Ủy ban quốc tế kiểm soát việc thi hành Hiệp định Pari; Căn cứ của Quân ủy và Bộ chỉ huy Miền đặt tại Tà Thiết xã Lộc Thành (Lộc Ninh), mà ngày 14-1-1975 đã nhận được điện của đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn với nội dung: “Đồng ý chiến dịch giải phóng Sài Gòn lấy tên là Chiến dịch Hồ Chí Minh”; Sân bay Phước Long, nơi Nguyễn Thành Trung(1), sau khi ném hai quả bom trúng dinh Độc lập, sào huyệt cuối cùng của Tổng thống Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu đã cho máy bay hạ cánh an toàn.

Với hệ thống sông suối tương đối nhiều, mật độ 0,7-0,8km/km2, Bình Phước có ba con sông lớn: Sông Bé, sông Sài Gòn và sông Đồng Nai. Sông Bé dài 360 kilômét, là phụ lưu của hệ thống sông Đồng Nai, bắt nguồn từ vùng đồi núi tỉnh Đắc lắc chảy uốn khúc theo chiều dài của tỉnh. Lòng sông hẹp, có nhiều thác như Thác Mơ, Thác Mẹ…, mùa mưa nước chảy mạnh, mùa khô nước cạn. Sông Bé rất thuận lợi cho bộ đội hành quân sang sông vào mùa khô nhưng rất khó khăn cho bộ đội vào mùa mưa. Sông Đồng Nai bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên (Lâm Đồng) dài 635 kilômét, nhưng chỉ chảy vào lãnh thổ Bình Phước đoạn Bù Đăng. Sông Đồng Nai có giá trị cung cấp thủy sản và nguồn nước cho một bộ phận dân cư ở Phước Long. Sông Sài Gòn dài 250 kilômét, bắt nguồn từ vùng đồi cao nguyên Lộc Ninh. Ở thượng lưu, sông hẹp và uốn khúc quanh co. Sông Thị Tính là phụ lưu của sông Sài Gòn bắt nguồn từ đồi Cam Xe, huyện Bình Long chảy qua Bến Cát rồi đổ vào sông Sài Gòn. Ngoài các con sông trên, trong tỉnh còn có suối Cần Lê, suối Cam (Bình Long), suối Nước Trong, suối Gia, suối Rạt, sông Mã Đà (Đồng Phú) nước chảy quanh năm tạo điều kiện cho phát triển nông nghiệp và góp phần cung cấp nước sinh hoạt cho bộ đội và nhân dân.

Bình Phước ở vị trí tiếp giáp giữa đồng bằng và cao nguyên, địa hình thấp dần từ Đông Bắc, (giáp Tây Nguyên) xuống Tây Nam (tức là xuống các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, biên giới Campuchia). Độ dốc địa hình phụ thuộc cấu tạo địa chất. Trên nền đất phù sa cổ và bazan thường có địa hình bằng phẳng hơn trên nền đá trầm tích; nhưng nói chung độ dốc địa hình toàn vùng thấp, thuận lợi cho việc trống trọt và chăn nuôi. Tỉnh Bình Phước có 7 nhóm đất(2) trong đó đất đỏ vàng và đất đỏ bazan chiếm diện tích lớn, thích hợp với cây công nghiệp dài ngày như cao su, cà phê, hồ tiêu, điều. Trong lòng đất có các loại khoáng sản chính có giá trị kinh tế như đá vôi ở Tà Thiết (Lộc Ninh), với trữ lượng khoảng 360 triệu tấn, chất lượng đảm bảo để sản xuất I măng; đá xây dựng trữ lượng trên 1 tỷ mét khối, một số nhỏ có chất lượng tốt có thể làm đá ốplát như ở Núi Cẩm (Lộc Hưng - Lộc Ninh), Bà Rá (Phước Long). Ngoài ra vùng quặng Bôxít nối dài từ Gia Nghĩa (Đắc Lắc) xuống tới núi Bà Rá, trữ lượng trên 1 tỷ tấn.

Nằm giữa các tỉnh đồng bằng và Tây Nguyên giáp với Campuchia là các trục đường giao thông có ý nghĩa chiến lược về quân sự và kinh tế như quốc lộ 14 có chiều dài đi ngang qua tỉnh là 110 kilômét, quốc lộ 13 - con đường chiến lược cực kỳ quan trọng nối thành phố Hồ Chí Minh với cửa khẩu Hoa Lư (Lộc Ninh) với 75 kilômét qua tỉnh, đi Campuchia đến biên giới Thái Lan. Thời Mỹ - ngụy, địch triệt để khai thác con đường này để hành quân cơ động lực lượng đánh phá vùng căn cứ của ta, bảo vệ sào huyệt của chúng ở Sài Gòn. Nhưng với cuộc chiến tranh nhân dân thần kỳ của quân dân Bình Phước, đường 13 trở thành “con đường không vui” đối với thực dân Pháp và “con đường đầy máu và nước mắt” đối với quân Mỹ, ngụy. Đường ĐT641 là trục đường quan trọng nối Đồng Phú và xẻ dọc Phước Long với chiều dài là 120 kilômét thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa, phục vụ tốt cho quân sự. Các địa bàn dân cư trong tỉnh đều có những trục đường ngắn nối liền với ba trục đường nêu trên.

Trong thời kỳ xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp xây dựng đoạn đường sắt Sài Gòn - Lộc Ninh dài 141 kilômét, nhằm vận chuyển hàng hóa phục vụ cho công cuộc khai thác tài nguyên vơ vét cao su. Con đường này đã bị phá hủy trong kháng chiến chống Pháp.

Bình Phước nằm trong vùng mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới cận xích đạo gió mùa, có hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, chiếm 85-90% lượng mưa cả năm. Hầu như không có bão, đôi lúc cũng xảy ra cơn lốc. Gió đông chuyển dần sang tây nam, tốc độ bình quân 3,2m/s. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau, lượng mưa chỉ chiếm 10-15% tổng lượng mưa cả năm, tháng có ít mưa nhất là tháng 2, tháng 3. Gió đông chuyển dần sang đông bắc, tốc độ bình quân 3,5m/s. Nhiệt độ bình quân thấp nhất 21,5-22oC. Nhiệt độ bình quân cao nhất 31,7-32,2oC. Sự thay đổi nhiệt độ qua các tháng không lớn song sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm khá lớn, khoảng 7-9oC nhất là vào các tháng mùa khô. Bình Phước nằm trong vùng dồi dào nắng, tổng số giờ nắng trong năm trung bình từ 2400-2500 giờ. Lượng mưa hàng năm biến động từ 2045-2325mm. Độ ẩm trung bình năm từ 80,8-81,4%. Khí hậu Bình Phước có nhiều thuận lợi cơ bản là vùng đất mưa nắng thuận hòa. Nếu nắm vững đặc điểm và quy luật diễn biến của nó, các lực lượng vũ trang sẽ tạo được nhiều thuận lợi trong hoạt động, tác chiến và dự đoán trước, khắc phục được khó khăn do thời tiết, khí hậu gây ra.


(1) Anh hùng quân đội (T.G).
(2) Đất xám, đất đen, đất phù sa, đất phèn, đất đỏ vàng, đất dốc tụ, đất xói mòn trơ sỏi đá (T.G).
« Sửa lần cuối: 28 Tháng Sáu, 2011, 06:46:06 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6298


Lính của PTL


« Trả lời #4 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2011, 06:39:41 AM »

*
*   *

Về dân cư, Bình Phước có nhiều đặc điểm so với các tỉnh Nam Bộ với nhiều dân tộc anh em sinh sống rải rác theo từng buôn sóc. Chủ nhân đầu tiên của vùng đất này là dân cư thuộc các dân tộc ít người Stiêng, Châu Ro, Châu Mạ, Mơnông… Họ sống du canh, du cư và phương thức sinh sống chủ yếu là săn bắt, hái lượm, làm nương, tỉa lúa với năng suất rất thấp. Sang đầu thế kỷ thứ XVII, vùng đất này có thêm những cư dân mới. Bao gồm những người vì không chịu nổi sự áp bức bóc lột của chế độ phong kiến Trịnh Nguyễn, cũng như cảnh sống cơ cực, lầm than nên phải rời bỏ quê hương vào đây lập nghiệp, lại có những người “mắc tội chống lại triều đình” mà phải bị lưu đày đến đây, có những người vì trốn sưu thuế, binh dịch tìm chốn nương thân. Thời gian này cũng có một số người Hoa bắt đầu nhập cư vào Bình Phước.

Đến thế kỷ XIX, người Kinh từ các nơi lên khai hoang vùng đất Bình Phước. Sự giao lưu về mặt kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các dân tộc càng được đẩy mạnh.

Phải nói rằng, ngay từ khi xâm lược nước ta, thực dân Pháp nhận thấy ngay những điều kiện khí hậu nhiệt đới và chất đất đỏ, đất xám của miền Đông Nam Bộ (chủ yếu trên địa bàn Sông Bé cũ) thích hợp với cây cao su. Chúng đã trồng thử nghiệm thành công và từ đó lập một số công ty để chuẩn bị khai thác đồn điền cao su trên vùng đất này. Cùng với sự ra đời của ngành khai thác cao su, đội ngũ công nhân cũng bắt đầu xuất hiện. Lúc đầu do quy mô khai thác còn nhỏ bé, các chủ tư bản đồn điền tuyển người địa phương - nông dân Kinh và người các dân tộc vào làm. Về sau, do yêu cầu phát triển của sản xuất cao su, số dân địa phương không đủ cung cấp cho các đồn điền, buộc chúng phải ra miền Bắc, miền Trung “mộ phu” hay chúng gọi là “chiêu mộ công nhân giao kèo”. Trước năm 1929, chủ yếu là “mộ những thanh niên trai trẻ chưa lập gia đình, sau năm 1929 chủ yếu là “mộ” các hộ gia đình để “cột chặt” nguồn nhân lực lâu dài cho các đồn điền.

Đến thời Mỹ - ngụy, việc bố trí dân cư và tổ chức xã hội được chúng coi là vấn đề chiến lược nhằm tạo một cơ sở chính trị hạ tầng phục vụ cho việc bảo vệ ngụy quyền và làm bàn đạp bao vây căn cứ kháng chiến của ta.

Về tín ngưỡng, Bình Phước có nhiều tôn giáo nhưng chỉ có đạo Phật, đạo Thiên Chúa, đạo Tin Lành là có tín đồ tương đối đông.

Đạo Phật được truyền vào Bình Phước từ cuối thế kỷ XVI, khi những người Kinh đầu tiên từ phía Bắc đến làm ăn sinh sống ở vùng đất này. Từ đó, đạo Phật phát triển. Đến nay có gần 60.000 người theo đạo Phật. Đa số những người này đều có lòng yêu nước, thương dân, tham gia kháng chiến, góp phần vào công cuộc giải phóng dân tộc.

Đạo Thiên Chúa vào Bình Phước khoảng đầu thế kỷ XVII, lúc các nhà truyền đạo phương Tây theo các nhà buôn nước ngoài đến vùng đất này. Khi thực dân Pháp đặt ách thống trị trong cả nước thì đạo Thiên Chúa phát triển khá nhanh. Dưới thời Mỹ - ngụy, trên 20 nghìn giáo dân từ các tỉnh miền Bắc bị địch dụ dỗ đưa vào định cư ở những vùng chiến lược ở Bình Phước, với những âm mưu thâm độc. Hiện nay số tín đồ Thiên Chúa giáo trong tỉnh có khoảng 58 nghìn người, Tin Lành khoảng 40 nghìn người. Đa số đồng bào theo đạo Thiên Chúa, Tin Lành đều là những người lao động chân chính, họ có tinh thần yêu nước, nhiều người có công giúp đỡ cách mạng trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm.

Đạo Cao Đài được truyền vào Bình Phước từ năm 1926 với ba hệ phái là Tòa thánh Tây Ninh, Chơn Lý Mỹ Tho và Chính Đạo Bến Tre. Tín đồ Cao Đại hiện nay có khoảng 1.800 người. Đa số những người theo đạo Cao Đài đều làm ăn lương thiện, đóng góp công sức xây dựng Tổ quốc.

Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, kẻ địch luôn tìm mọi cách để lợi dụng chia rẽ dân tộc, chia rẽ giữa những người có đạo và không có đạo, gây mâu thuẫn giữa đạo này và đạo khác; nhưng trước chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước về đoàn kết dân tộc, tự do tín ngưỡng, tuyệt đại bộ phận những người có đạo đều nêu cao tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc, hướng về cách mạng, cùng toàn dân góp phần giải phóng dân tộc.

Cũng như một số tỉnh ở Tây Nguyên, Bình Phước là nơi quần tự dân cư từ khắp các tỉnh thành trong cả nước với 28 thành phần dân tộc, họ về đây cùng với đồng bào các dân tộc S’tiêng, M’nông… ra sức xây dựng, bảo vệ mảnh đất này. Có thể nói Bình Phước là hình ảnh thu nhỏ những sắc thái của đại gia đình các dân tộc Việt Nam, với bản sắc văn hóa riêng của mỗi miền mà đặc trưng là nền văn hóa truyền thống lâu đời của cư dân bản địa mà tiêu biểu là dân tộc S’tiêng.

Tóm lại, Bình Phước là quê hương đồng bào các dân tộc S’tiêng, M’nông và là nơi quy tụ dân cư của các miền đất nước đến đây làm ăn, sinh sống. Họ là những người lao động nghèo khổ, bị vua quan phong kiến, thực dân, đế quốc đàn áp, bóc lột. Do vậy, họ không phân biệt là những người từ nơi này hay nơi khác đến mà cùng đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau để tồn tại và phát triển. Họ nêu cao tinh thần thượng võ, không sợ khó khăn gian khổ đấu tranh bất khuất trước mọi kẻ thù; Sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp giải phóng quê hương, dân tộc và độc lập của Tổ quốc, vì tự do, ấm no, hạnh phúc của con người.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6298


Lính của PTL


« Trả lời #5 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2011, 06:43:38 AM »

II. TRUYỀN THỐNG ĐẤU TRANH CHỐNG XÂM LƯỢC

Cuối thế kỷ XVIII, chế độ phong kiến đổ nát, hỗn loạn. Nông dân nổi dậy đấu tranh chống thù trong, giặc ngoài. Từ khi vị lãnh tụ của phong trào nông dân - Vua Quang Trung - mất đột ngột, quân Tây Sơn tuy bị yếu dần nhưng vẫn kháng cự anh dũng. Mãi đến gần 10 năm sau, Nguyễn Ánh mới đàn áp nổi phong trào Tây Sơn, phục hồi chế độ phong kiến phản động. Chính tập đoàn phong kiến họ Nguyễn đã tạo cơ hội cho chủ nghĩa thực dân Pháp xâm lược Việt Nam. Bị sa lầy ở mặt trận Đà Nẵng, Pháp phải thay đổi kế hoạch xâm lược. Dựa vào ưu thế cơ động của hành quân, chúng quyết định đem quân vào đánh Gia Định vì vùng này có nhiều sông ngòi, tàu bè đi lại thuận tiện, lại là vựa lúa, hậu cần rất tốt cho quân đội viễn chinh. Hơn nữa, đánh Lục tỉnh sẽ cắt nguồn tiếp tế lúa gạo của triều đình Huế. Sau khi chiếm được thành Gia Định, ngày 19 tháng 2 năm 1861, một đoàn tàu chiến Pháp theo sông Sài Gòn tiến công vào huyện Bình An và Tân Uyên. Giặc Pháp đi đến đâu cũng vấp phải sự kháng cự mạnh mẽ của nhân dân Thủ Dầu Một kiên cường.

Sau khi đánh chiếm Bình An và Tân Uyên, Pháp bắt đầu thiết lập bộ máy cai trị ở đây. Từ đó, chúng luôn tìm mọi cách mở rộng phạm vi chiếm đóng như Bù Đốp, Hớn Quản, Bà Rá… nơi cư trú của đồng bào dân tộc ít người như S’tiêng, Châu Mạ, Châu Ro, M’nông, Tà Mun… Nhưng mãi đến năm 1892, chúng mới thiết lập được bộ máy cai trị ở Chơn Thành gồm 6 tổng và 50 buôn làng. Từ năm 1899 về sau, chúng tổ chức nhiều cuộc hành quân vùng lưu vực Sông Bé, sông Bà Rá để đàn áp, bắt dân đưa về làm lao dịch. Chúng dùng nhiều thủ đoạn lừa mị kết hợp với biện pháp vũ lực để cướp đất của đồng bào các dân tộc, buộc họ phải rời bỏ buôn làng, đi vào rừng sâu kiếm sống. Thâm độc hơn nữa là gây chia rẽ giữa người Kinh và đồng bào các dân tộc thiểu số. Chúng xỏa bỏ chế độ tù trưởng và dựng lên bọn tay sai thuộc tầng lớp có uy quyền nhất ở các làng tổng. Việc làm đó của chúng nhằm nhiều mục tiêu, mà mục tiêu chủ yếu là lấy đất để lập đồn điền cao su và khai thác tài nguyên theo chính sách khai thác thuộc địa và xây dựng căn cứ chiến lược Tây Nguyên do Toàn quyền Đông Dương đề ra.

Ngay khi đặt chân lên đất Nam Kỳ, thực dân Pháp đã nhận thấy ngay những điều kiện khí hậu nhiệt đới và chất đất đỏ, xám của miền Đông Nam Bộ nên chúng gấp rút lập vườn ươm thử nghiệm. Sau khi trồng thử nghiệm thành công, bọn tư bản Pháp thành lập nhiều công ty để khai thác đồn điền cao su(1).

Quá trình hình thành và phát triển các đồn điền cao su của thực dân Pháp gắn liền với việc cướp đoạt đất đai, nương rẫy của đồng bào các dân tộc và bóc lột thậm tệ đối với công nhân. Từ áp bức và bóc lột cùng cực của chủ đồn điền và lũ tay sai, đã buộc người công nhân cao su đoàn kết với các dân tộc S’tiêng, M’nông, Châu Mạ, Châu Ro… đứng lên chống lại để bảo vệ quyền sống của mình. Cụ thể là ở Hớn Quản, Lộc Ninh, dưới sự lãnh đạo của ông Điểu Dố (người S’tiêng) đã nổi dậy đánh đuổi quân Pháp xâm chiếm buôn rẫy, tiêu diệt nhiều quân địch. Trước sức mạnh của kẻ thù, nghĩa quân của ông phải rút về Long Nguyên (Bến Cát), kiên cường chống giặc và ông đã anh dũng hy sinh.

Một thủ lĩnh khác, ông Rít Đinh đã tập hợp được các thủ lĩnh của người Stiêng, Mơ Nông kết hợp với phong trào đấu tranh của công nhân cao su, chiến đấu chống sự đàn áp dã man của thực dân Pháp và bọn chủ các đồn điền đối với đồng bào các dân tộc và công nhân cao su. Hưởng ứng phong trào chống Pháp của Nơ Trang Lơng, ông Rít Đinh, chủ làng Stiêng ở sóc Bukơn, cùng ông R’ôngleng chủ làng M’nông ở thượng nguồn sông Đak Lung, sóc Buluk amprak tập hợp đội quân thường có từ 150-170 người, có lúc tăng đến 500 người. Rít Đing và nghĩa quân của ông đã phục kích, giết chết tên Gatidơ (Gatille), đại úy quận trưởng Bù Đốp và một số lính Pháp đi với hắn, trong lúc y đang chỉ huy làm con đường số 14. Bởi vì lúc thi công đường này, dân chúng quanh vùng bị đẩy vào tình cảnh khốn khổ, nhiều người khỏe mạnh bị bắt đi làm phu, nhà cửa bị tàn phá, phải bỏ nương rẫy. Sau đó, tên Morie về thay làm quận trường, hắn tiếp tục đàn áp, khủng bố dã man hơn, gây nên sự căm thù trong nhân dân. Trước tình thế đó, hai anh em Điển Môn và Điển Mốt người sóc Bù Xum vận động được khoảng 200 người ở các vùng lân cận giết chết tên Morie trong một trận phục kích ngày 25 tháng 10 năm 1933. Từ đó, phong trào vũ trang nổi dậy chống Pháp của đồng bào các dân tộc ở Bình Phước không lúc nào ngừng. Thủ lĩnh này bị Pháp bắt hoặc hy sinh đã có thủ lĩnh khác thay thế, tiếp tục cuộc chiến đấu, lớp nghĩa quân này bị tan đã có lớp nghĩa quân khác lên thay chiến đấu chống giặc.

Đồng thời với cuộc khởi nghĩa chống lại tên Morie, nhân dân Bình Phước đã tạo ra phong trào đấu tranh vũ trang nhằm tiêu diệt đồn Bukol do tên Gécbê (Gerber) làm đồn trưởng. Đồng này là nơi xuất phát của ngụy quân đi càn quét, gây tội ác đối với đồng bào các buôn làng ở Lộc Ninh, Hớn Quản, biên giới Việt Nam - Campuchia.

Cuộc tiến công nổ ra ngày 2 tháng 1 năm 1934. Trước khi nổ súng tấn công, những người chỉ huy đã tổ chức cho dân làng chặt hàng trăm cây to ngả xuống cản đường, không cho giặc từ Bù Na lên tiếp viện. Với lực lượng khoảng 300 người, phần nhiều được trang bị bằng vũ khí tự tạo như cung tên thẩm thuốc độc, tầm vông vạt nhọn, giáo mác, xà gạt và một số ít súng săn, súng trận, lựu đạn, những người khởi nghĩa đã bao vây đồn, chặn đánh quân tiếp viện. Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt và nghĩa quân đã thu được những thắng lợi lớn.

Sau trận này các thủ lĩnh nghĩa quân ở Bù Đốp, Bà Rá và các vùng lân cận đã liên hệ với nhau khá chặt chẽ. Dựa vào địa thế hiểm trở của rừng núi, họ phát triển mạnh phong trào rào đường vào sóc, đào cắm chông, làm bẫy đá ở dốc cao… Nghĩa quân gần như làm chủ cả khu vực, địch tấn công nhiều lần nhưng đều bị thất bại. Cuộc chiến đấu kéo dài mãi đến năm 1935, mới tạm ngưng, khi ông Nơ Trang Lơng, thủ lĩnh nghĩa quân ở Tây Nguyên bị giặc Pháp bắt.

Trong giai đoạn này, mặc dù các cuộc nổi dậy vũ trang của đồng bào các dân tộc đều không thành công nhưng qua đó đã thể hiện truyền thống bất khuất, đoàn kết chống giặc của nhân dân, khởi dậy tinh thần yêu nước và ý chí chống ngoại xâm. Các cuộc nổi dậy của đồng bào các dân tộc ở Bình Phước có ảnh hưởng đến những cuộc đấu tranh của thợ thủ công các lò gốm ở Tân Uyên, Lái Thiêu, Bến Cát… đã làm cho bọn thống trị thực dân và tay sai của chúng vô cùng lo ngại.


(1) Gồm :
- Công ty đồn điền đất đỏ (Planstions des terres rouges) thành lập 1910, do một viên toàn quyền Pháp làm chủ. Đối tượng khai thác là các đồn điền Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Bà Rịa.
- Công ty cao su Viễn Đông (Société de Coutchoues d’Extrême - Orient) tên thường gọi là Công ty CEXO, thành lập 1910, do một tên tư bản người Pháp làm chủ. Đối ttượng khai thác là ở Đông Dương.
- Công ty cao su đất đỏ được lập ra với những đồn điền lớn như Quản Lợi, Xa Cam, Xa Trạch…
- Công ty Mitsơlanh trong thời gian từ 1917 đến 1935 đã xây dựng được hai đồn điền lớn là Dầu Tiếng và Phú Riềng sau phát triển thêm đồn điền Thuận Lợi.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6298


Lính của PTL


« Trả lời #6 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2011, 06:44:50 AM »

*
*   *

Ở vùng miền Đông đất đỏ nói chung và ở Bình Phước nói riêng, thực dân pháp đặc biệt chú ý vùng đất màu mỡ này để thành lập đồn điền cao su nhằm khai thác tài nguyên. Mỗi đồn điền cao su là một địa ngục trần gian. Cùng với sự ra đời của ngành khai thác cao su, đội ngũ công nhân cao su cũng bắt đầu xuất hiện. Công nhân đồn điền cao su có sự thay đổi cùng với sự tiến triển của việc khai thác cao su. Lúc đầu, bọn tư bản đồn điền tuyển người địa phương - nông dân người Kinh và người các dân tộc vào làm. Sau đó do yêu cầu phát triển của sản xuất cao su, số dân địa phương không đủ cung cấp cho các đồn điền, buộc chúng phải ra miền Bắc, miền Trung chiêu mộ “nhân công giao kèo”. Đời sống của công nhân vô cùng cơ cực, họ bị cưỡng bức lao động quá sức chịu đựng của con người. Những câu da dao của công nhân cao su miền Đông Nam Bộ còn lưu truyền mãi đã thể hiện phần nào cuộc sống của họ:

      Ai về đất đỏ miền Đông
      Mà nghe lao động đồn điền thở than
      Than rằng: cực lắm trời ơi!
      Dân phu phải sống cuộc đời tối tăm
      Cá hôi, gạo mục quanh năm.
      Vẫn chưa đầy bụng, đói nằm rừng cây.
      Trời cao, cao mấy tầng mây,
      Trời cao có thấu nỗi này cho chăng?


Vì không chịu nổi sự áp bức bóc lột của bọn chủ tư bản, phong trào đấu tranh của công nhân ngày càng phát triển mạnh, trước hết là để bảo vệ quyền sống của mình, dần dần mang sắc thái chính trị của cuộc đấu tranh chống kẻ thù giai cấp và kẻ thù dân tộc.

Từ những năm 1925, 1926 ở Bình Phước, các phong trào đấu tranh được soi sáng bởi một đường lối cách mạng tiên tiến. Con đường cách mạng vô sản do Nguyễn Ái Quốc người chiến sĩ quốc tế lỗi lạc, nhà yêu nước vĩ đại, tiếp thu và truyền bá vào Việt Nam.

Tháng 6 năm 1924, tổ chức “Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên” được thành lập tại Quảng Châu, Trung Quốc. Đây là một tổ chức tiền thân chuẩn bị cho sự ra đời của một Đảng Mácxít - Lêninnít ở Việt Nam. Từ đó nhiều hội viên được huấn luyện về đường lối phương pháp cách mạng, được cử làm việc trong các nhà máy, đồn điền của thực dân. Nhiệm vụ của các đồng chí này là tuyên truyền vận động và xây dựng tổ chức chác mạng đồng thời cũng để tự rèn luyện lập trường giai cấp công nhân. Một trong những hội viên tiêu biểu của phong trào này là đồng chí Nguyễn Văn Vĩnh (tức Nguyễn Xuân Cừ) được cử đi “vô sản hóa” ở đồn điền cao su Phú Riêng..

Tháng 4 năm 1928, chi bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đồn điền cao su Phú Riềng được thành lập gồm 5 hội viên do đồng chí Nguyễn Xuân Cừ làm Bí thư. Các hội viên này đã tích cực vận động đông đảo quần chúng lao động bước vào một thời kỳ đấu tranh có sự lãnh đạo của tổ chức chác mạng. Từ đó, phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh phát triển mạnh mẽ hơn, nhất là phong trào đấu tranh của công nhân các đồn điền cao su.

Tháng 10 năm 1929, trên cơ sở tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, chị bộ Đông Dương Cộng sản Đảng đồn điền cao su Phú Riềng được thành lập tại làng 3. Chi bộ gồm 6 đảng viên là: Nguyễn Văn Vĩnh (tức Nguyễn Văn Cừ), Trần Tử Bình, Phạm Thư Hồng, Tạ, Hòa và Doanh. Nguyễn Văn Vĩnh được cử làm Bí thư. Đây là chi bộ cổng sản đầu tiên của tỉnh Thủ Dầu Một, đồng thời cũng là chi bộ cộng sản đầu tiên của ngành cao su Việt Nam. Cũng trong tháng 10 năm 1929 Xứ ủy Đông Dương Cộng sản Đảng đã “cắm” xong một tổ chức “đỏ” ở Phú Riềng, hình thành bộ khung tổ chức Đảng ở 3 nơi; Ba Son - Phú Riềng - Vĩnh Kim.

Ngày 30 tháng 1 năm 1930, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của chi bộ Đảng Phú Riềng, lần đầu tiên công hội đỏ tổ chức một cuộc biểu tình thị uy lớn kết hợp với bãi công gồm 500 công nhân đưa yêu sách đòi thực hiện đúng giao kèo giữa chủ thợ, cấm đánh đập, cấm cúp lương vô lý, miễn sưu thuế, trả lương cho nữ công nhân nghỉ đẻ, bồi thường tai nạn lao động, được trị bệnh và cung cấp đủ lương khi ốm đau. Cuộc đấu tranh diễn ra từ ngày 30 tháng 1 năm 1930 đến ngày 6 tháng 2 năm 1930, công nhân tước được 7 khẩu súng, bắt được 5 lính giải tới chủ sở làm con tin, buộc tên Soumagnac phải ký vào biên bản, ghi nhận đầy đủ những yêu cầu của nghiệp đoàn công nhân cao su Phú Riềng. Sau cuộc đấu tranh này, nhiều đảng viên kể cả Bí thư chi bộ, cán bộ nghiệp đoàn và thư ký nghiệp đoàn đã sa vào tay giặc, số còn lại rất ít nhưng họ vẫn giữ vững ý chí đấu tranh bất khuất, và tiếp tục vận động được hàng ngàn công nhân tham gia biểu tình đưa các yêu sách đòi ngày làm việc 8 giờ, tăng lương, bỏ đánh đập, thả những người bị bắt… Họ còn có ý định kéo xuống Biên Hòa gặp tỉnh trưởng, nhưng bọn chủ điều lính từ quận Bà Rá đến đàn áp.

Cuộc tổng bãi công và khởi nghĩa ở Phú Riềng từ đấy trở thành sự kiện trung tâm bình luận của báo chí ở Nam kỳ. Tờ Phụ nữ Tân Văn, liên tiếp đưa 5 tin về sự kiện này với những lời bình luận rất có lợi cho phong trào đấu tranh của công nhân. Sự kiện này cũng đã có tác động mạnh mẽ đến phong trào cách mạng ở Bình Phước nói riêng và cả nước nói chung. “Phú Riềng đỏ” xuất hiện từ thắng lợi của cuộc đấu tranh này. Và tiếng vọng của “Phú Riềng đỏ” còn là tiếng pháo đón mừng hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc triệu tập được tổ chức ở Cửu Long (Trung Quốc) đánh dấu sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đây là một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về lãnh đạo và bế tắc về đường lối của cách mạng Việt Nam.

Các chi bộ của ba tổ chức cộng sản trước đó chuyển thành chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam trong đó có chi bộ Phú Riềng.

Từ “Phú Riềng đỏ”, phong trào đấu tranh lan nhanh như một phản ứng dây chuyền.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6298


Lính của PTL


« Trả lời #7 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2011, 06:47:54 AM »

Ở đồn điền cao su Dầu Tiếng, sau khi xảy ra sự kiện “Phú Riềng”, công nhân cùng nhau hạ quyết tâm đấu đòi quyền lợi như ở Phú Riềng. Trong lúc không khí đấu tranh ở đây đang sôi sục thì bọn chủ công ty đã điều Xumanhắc từ Phú Riềng về Dầu Tiếng. Sự việc này đã gây nên một làn sóng phẫn nộ trong công nhân. Ngày 10-2-1930 hàng trăm công nhân các làng trong đồn điền bỏ việc và người cầm dao, người vác cuộc kéo về chợ Dầu Tiếng vừa đi vừa hô lớn:

- Xumanhắc cút ngay!

- Không được cho công nhân ăn gạo lức, gạo ẩm, cá thối!

- Không được đánh đập công nhân!

Xumanhắc cuống cuồng cầu cứu lính mã tà; nhưng những người biểu tình vẫn tiến thẳng không chút sợ hãi, bọn lính mã tà nổ súng làm chết hai người nhưng đoàn biểu tình vẫn tiếp tục ào ạt xông lên đấu tranh. Cuộc đấu tranh của công nhân Dầu Tiếng bước đầu thành công là hệ quả tất yếu của sự bóc lột tàn tệ của chủ đồn điền đối với công nhân lao động.

Sau cuộc đấu tranh của công nghiệp đồn điền cao su Dầu Tiếng ngày 1 tháng 5 năm 1930, công nhân nhà máy đèn Chợ Quán (Sài Gòn), phu làm đường Catina (Catinat) và Etspanhơ (Espagne) (Sài Gòn), công nhân hãng dầu Nhà Bè… tiếp tục đấu tranh đòi thi hành ngày làm việc 8 giờ.

Cuộc tổng biểu dương lực lượng của đông đảo công nhân vào ngày 1 tháng 5 năm 1930 cho thấy là từ sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng, phong trào công nhân đã có những bước tiến vững chắc - đấu tranh có tổ chức với ý thức tự giác để chống lại kẻ thù của giai cấp và dân tộc. Trong nửa cuối năm 1930 và năm 1931, anh chị em công nhân cao su trong các đồn điền Quản Lợi, Xa Cam, Xa Trạch, Lộc Ninh, Đa Kia… lần lượt nổi dậy đấu tranh trực diện với chủ đồn điền, buộc chúng phải giải quyết yêu sách của công nhân. Các cuộc đấu tranh sôi nổi ấy tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ liên tục của phong trào đấu tranh của công nhân cao su nói riêng và của nhân dân Bình Phước nói chung trong những năm sau.

Tháng 4 năm 1936, Chính phủ Mặt trận bình dân lên cầm quyền ở Pháp. Phong trào bãi công của công nhân “chính quốc” bùng nổ đã có tác dụng thúc đẩy phong trào đấu tranh của công nhân ở nước ta.

Tháng 7 năm 1936, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương quyết định thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất chống đế quốc, trên cơ sở liên minh công nông và thu hút cả sự ủng hộ của tư sản bản xứ để phát động cao trào đấu tranh dân chủ và cải cách xã hội; trước mắt là đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa và tay sai đòi tự do, cơm áo, hòa bình. Đây là sự vận dụng sáng tạo kết hợp giữa đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp của Đảng ta vào hoàn cảnh cụ thể ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến.

Về hình thức tổ chức và phương pháp đấu tranh, Đảng chủ trương triệt để lợi dụng khả năng hợp pháp và nửa hợp pháp kết hợp những hoạt động hợp pháp và nữa hợp pháp với những hoạt động không hợp pháp để tuyên truyền, tổ chức quần chúng; đồng thời củng cố và phát triển, tổ chức Đảng và tổ chức Mặt trận dân chủ tiếp tục đẩy mạnh phong trào đấu tranh của quần chúng.

Hội nghị lần thứ Nhất của Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần này có ý nghĩa vô cùng quan trọng, mở ra cho cách mạng Đông Dương một thời kỳ phát triển mới. Xứ ủy Nam Kỳ lúc này do đồng chí Võ Văn Tần làm Bí thư đã tiếp thu Nghị quyết tháng 7 năm 1936 và các Nghị quyết tiếp theo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng triển khai cho các tỉnh thực hiện.

Lúc này, tổ chức Đảng ở Bình Phước chỉ đạo các chi bộ đảng tận dụng mọi hình thức công khai, hợp pháp, nửa hợp pháp để tập hợp quần chúng đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ, đòi tự do, cơm áo, hòa bình.

Vào những năm 1936-1939, công nhân cao su Bình Phước vẫn phải sống và làm việc trong những điều kiện hết sức khắc nghiệt và tồi tệ, ngày lao động bị kéo dài, đồng lương chết đói lại bị ức hiếp đánh đập, và bệnh tật…; mặc dù, sau khi lên cầm quyền, Chính phủ Mặt trận nhân dân Pháp có ban hành một số sắc lệnh mang tính chất tiến bộ nhưng vẫn trong phạm vi chế độ dân chủ tư sản.

Với những điều kiện chính trị mới trên thế giới và trong nước đã có tác động đến phong trào công nhân cao su nói chung và Bình Phước nói riêng.

Trên thế giới, trước sự bành trướng của chủ nghĩa phát xít và nguy cơ của một cuộc chiến tranh với quy mô thế giới mà bọn phátxít đang rao riết chuẩn bị, Quốc tế Cộng sản đã họp Đại hội lần thứ VII tại Mátxcơva từ ngày 25 tháng 7 đến ngày 25 tháng 8 năm 1935, quyết định nhiệm vụ trước mắt của nhân dân thế giới là phải thống nhất hàng ngũ, lập mặt trận dân chủ rộng rãi để chống phát xít.

Chỉ thị Quốc tế Cộng sản vạch rõ cho các Đảng Cộng sản là phải xây dựng mặt trận đấu tranh chống bọn phátxít hiếu chiến.

Tại Pháp, tuy các tổ chức phátxít hoạt động mạnh, nhưng mặt trận nhân dân Pháp do Đảng Cộng sản Pháp làm nòng cốt đưa đưa ra chương tình tranh cử: “đòi giải tán các tổ chức phátxít; ân xá tù chính trị, chống thất nghiệp; cải cách chế độ thuế khóa; quốc hữu hóa công nghiệp quân sự; thiết lập một Ủy ban điều tra tình hình chính trị, kinh tế và tinh thần ở các nước thuộc địa Pháp, nhất là các nước ở bắc châu Phi và Đông Dương”. Cuộc tổng tuyển cử đã giành được thắng lợi và trước áp lực mạnh mẽ của phong trào công nhân và lao động Pháp, chính phủ Pháp đã thi hành một số biện pháp tiến bộ như tăng lương, tuần làm việc 40 giờ, nghỉ phép năm có lương… Đối với các thuộc địa, chính phủ Mặt trận nhân dân Pháp cũng đã thông qua quyết định quan trọng: Thả tù chính trị, lập Ủy ban điều tra tình hình thuộc địa; thi hành một số cải cách xã hội cho người lao động.

Thắng lợi của phong trào công nhân thế giới trước hết là của Mặt trận nhân dân Pháp, làm cho bọn thực dân Pháp ở Đông Dương không dám thẳng tay đàn áp phong trào quần chúng như trước.

Cùng với những thuận lợi của tình hình thế giới, tình hình trong nước cũng có thêm nhiều nhân tố mới, trong đó nổi bật nhất là đường lối đấu tranh mới của Đảng Cộng sản Đông Dương.

Những điều kiện thuận lợi đó đã góp phần cho quân dân Bình Phước tiếp tục đấu tranh giành thắng lợi.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6298


Lính của PTL


« Trả lời #8 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2011, 06:50:00 AM »

III. CAO TRÀO KHÁNG NHẬT CỨU NƯỚC -
TỔNG KHỞI NGHĨA THÁNG TÁM GIÀNH THẮNG LỢI

Ngày 1 tháng 9 năm 1939, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ. Chính phủ phản động Pháp bị lôi cuốn vào vòng chiến, liền cho thi hành một loạt biện pháp ngăn chặn cách mạng ở Pháp và các thuộc địa. Ở Việt Nam, thực dân Pháp lập ngay chế độ quân nhân phátxít tàn bạo và tiến hành đại khủng bố. Chúng ban bố lệnh tổng động viên, tăng cường vơ vét sức người, sức của để phục vụ cho chiến tranh đế quốc. Ngày 28 tháng 9 năm 1939, Phủ toàn quyền Đông Dương ra lệnh giải tán và tịch thu tài sản của các tổ chức ái hữu, nghiệp đoàn và bắt đầu cuộc khủng bố ác liệt đàn áp các lực lượng cách mạng. Thời kì vận động dân chủ hoạt động hộp pháp, nửa hợp pháp chấm dứt. Cách mạng Việt Nam chuyển sang một thời kỳ mới.

Trước tình hình đó, đầu tháng 11 năm 1939 Đảng ta triệu tập Hội nghị Trung ương lần thứ sáu. Hội nghị gồm có các đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn, Phan Đăng Lưu…. họp ở Bà Điểm (Hóc Môn - Gia Định) quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng, nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc, tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, quyết định thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương, chuẩn bị những điều kiện để tiến tới tổng khởi nghĩa, hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc. Từ ngày 6 đến ngày 9-11-1940, Hội nghị Trung ương lần thứ bảy họp tại Đình Bảng (Bắc Ninh) có đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt tham dự. Hội nghị tiếp tục khẳng định chủ trương chuyển hướng chiến lược đúng đắn của Hội nghị tháng 11 năm trước (1939), xác định kẻ thù chính của cách mạng lúc này là phátxít Pháp và Nhật; khẳng định Đảng phải chuẩn bị để lãnh đạo nhân dân vũ trang khởi nghĩa giành chính quyền…

Mặc dù địch khủng bố ác liệt, phong trào quần chúng vẫn giữ vững và phát triển. Nhiều cuộc đấu tranh đã diễn ra ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam. Ngày 27 tháng 9 năm 1940, khởi nghĩa Bắc Sơn bùng nổ, đập tan chính quyền địch ở địa phương. Đội du kích Bắc Sơn ra đời. Ngày 23 tháng 11 năm 1940, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra, nhân dân ở hầu khắp các tỉnh miền Nam đứng lên với ý chí đấu tranh mạnh mẽ, phá tan hệ thống chính quyền địch ở nhiều nơi, lập chính quyền cách mạng, trừng trị bọn Việt gian, tịch thu ruộng đất của bọn địa chủ chia cho nông dân nghèo, thực hiện các quyền tự do, dân chủ. Lần đầu tiên, cờ đỏ sao vàng xuất hiện tại một số vùng quê Nam Bộ.

Tuy cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ đã bị thất bại vì kế hoạch bị lộ nhưng qua đó đã nêu một tấm gương ngời sáng về tinh thần kiên cường, bất khuất của nhân dân ta. Từ trong thực tế đấu tranh, quần chúng nhân dân tin tưởng, gắn bó với Đảng nhận thức sâu sắc rằng: muốn có độc lập, phải đoàn kết đấu tranh, muốn đấu tranh thành công thì không có con đường nào khác là phải dùng bạo lực cách mạng để trấn áp bạo lực phản cách mạng.

Đầu năm 1941, đồng chí Nguyễn Ái Quốc về nước. Từ ngày 10 đến 19 tháng 5 năm 1941 tại Pắc Bó - Cao Bằng, Người chủ trì Hội nghị lần thứ tám của Trung ương Đảng. Hội nghị quyết định giương cao hơn nữa ngọn cờ giải phóng dân tộc, phát huy tinh thần yêu nước của các giai cấp và các tầng lớp nhân dân, tạo ra sức mạnh tổng hợp nhằm đánh đổ Nhật - Pháp và bè lũ tay sai, giành độc lập cho dân tộc. Để thực hiện các nhiệm vụ cấp bách, Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh), chuẩn bị lực lượng, lập căn cứ địa chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Ngày 19 tháng 5 năm 1941, Mặt trận Việt Minh ra đời. Việt Minh tiêu biểu cho sự đoàn kết thống nhất, phát huy truyền thống kiên cường, bất khuất của dân tộc, thành lập nhiều tổ chức quần chúng như: công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ… để vận động nhân dân tham gia chống giặc.

Ngày 6-6-1941, đồng chí Nguyễn Ái Quốc gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước: “Giờ đây công cuộc giải phóng dân tộc là cao hơn tất cả! Chúng ta phải đoàn kết lại, đánh đổ Pháp, Nhật và bè lũ tay sai của chúng, để cứu dân ta khỏi vòng nước sôi lửa bỏng!”.

Hội nghị Trung ương Tám, diễn ra vào lúc tình hình thế giới và trong nước đã có những đột biến gây tác động mạnh vào phong trào cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân ta.

Cuối năm 1942, cuộc chiến tranh thế giới có nhiều chuyển biến thuận lợi cho quân đồng minh. Quân đội Xô viết giành nhiều thắng lợi và đang tiến hành phản công trên khắp các mặt trận. Ở Đông Dương phát xít Nhật ngày càng lấn Pháp, nằm quyền kiểm soát hầu hết các đầu mối quân sự, kinh tế quan trọng.

Bọn thực dân Pháp ở thuộc địa phân hóa thành hai phái: Phái Pêtanh (Pétain) đầu hàng phát xít Đức và phái Đờ Gôn (De Gaul) kháng chiến chống phát xít Đức.

Những chuyển biến trên đã có tác động đến tình hình cách mạng Việt Nam. Riêng phong trào cách mạng trong tỉnh có sự chuyển biến mới. Tại trại Côlông, các đồng chí tổ chức hội “người cùng quê” để làm công tác binh vận, liên lạc với người nhà để nhận sách báo và tin tức đấu tranh ở các tỉnh. Nhà tù Bá Rá, nơi giam giữ gần 400 quần chúng yêu nước và những người cộng sản, trong đó phần lớn bị bắt vì tham gia khởi nghĩa Nam Kỳ đã bí mật thông báo tin tức cho nhau. Tại đồn điền Lộc Ninh, vào những ngày cuối năm 1942, hàng trăm công nhân các làng 4, 9, 10 đã biểu tình thị uy đòi chủ sở phải giảm giờ làm việc, thực hiện những điều mà toàn quyền Đông Dương đã ký trước đây, không được cúp lương công nhân. Thực dân Pháp và chủ sở chẳng những không đáp ứng yêu cầu chính đáng của công nhân mà con nổ súng đàn áp làm gần 10 người chết và bị thương, bắt đi một số công nhân, hành động này càng làm thêm sôi sục lòng căm thù của 2 vạn công nhân cao su đang sống ở 11 làng. Lúc này đồng chí Lê Đức Anh đang hoạt động hợp pháp ở Lộc Ninh, lập ra nhóm “công nhân nòng cốt” để củng cố và phát triển phong trào đấu tranh sắp tới.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6298


Lính của PTL


« Trả lời #9 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2011, 06:52:11 AM »

Ở Thủ Dầu Một, Tỉnh ủy lâm thời được thành lập vào tháng 4 năm 1943 ở làng 1 đồn điền cao su Dầu Tiếng do đồng chí Văn Công Khai làm Bí thư(1). Cuối năm 1943, tinh thần nghị quyết Tám của Trung ương Đảng ta được các đồng chí ở Xứ ủy Nam Kỳ và Thành ủy Sài Gòn truyền đạt đến các cán bộ chủ chốt của tỉnh. Từ đó, ngọn lửa cách mạng lại bùng lên trong toàn tỉnh, cơ sở và hệ thống chi bộ Đảng nhanh chóng được phục hồi tuy vẫn còn trong tình thế vận động bí mật.

Các tổ chức quần chúng nửa công khai, nửa hợp pháp trong công nhân, thợ thủ công, các tầng lớp công chức, tiểu chủ được tái lập. Gánh hát cải lương do đồng chí Văn Công Khai sáng lập đi biểu diễn nhiều nơi đã thu hút mạnh mẽ tình cảm và sự hưởng ứng của đông đảo quần chúng vào phong trào đấu tranh cách mạng. Mặt trận Việt Minh trong tỉnh đã có cơ sở vững chắc trong quần chúng. Phong trào đánh Pháp, đuổi Nhật dâng cao và ngày càng lan rộng trong toàn tỉnh. Bên cạnh các tổ chức chính trị được xây dựng và phát triển ngày càng mạnh, lực lượng vũ trang cách mạng bước đầu được nhen nhóm, hình thành.

Đầu năm 1944, Tỉnh ủy lâm thời họp lần thứ hai, quán triệt thêm một bước Nghị quyết Trung ương lần thứ Tám của Đảng, đẩy mạnh phong trào cách mạng lên một bước, nhất là ở các đồn điền cao su và vùng đồng bào dân tộc.

Tháng 2 năm 1944 chi bộ Lộc Ninh được thành lập gồm 3 đảng viên do đồng chí Lê Đức Anh làm Bí thư. Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, Điều lệ Việt Minh đã được phổ biến sâu rộng trong công nhân và nhân dân vùng này. Ngoài ra chi bộ còn thành lập nhóm trung kiên gồm các ông Mé, ông Kỳ Thinh, ông Kiêm, ông Ba Đèn, ông Cai Loại và ông Hai Đinh (con ông Ba Đèn) làm nòng cốt vận động phong trào Việt Minh, tạo cơ sở cho các Hội cứu quốc ra đời.

Ở đồn điền cao su Lộc Ninh, khoảng đầu năm 1944 hơn 300 công nhân bãi công đòi tăng lương, giảm giờ làm, không được cúp lượng… Lần này, anh em công nhân đã lập ra một đội tự vệ được trang bị dao găm, gậy gộc và nhiều phương tiện khác giấu trong người để bảo vệ đoàn biểu tình khi bị địch đàn áp. Lúc bấy giờ chủ sở đã bố trí sẵn vài chục tên lính canh gác trước cổng. Khi người đại diện công nhân tay cầm băng kiến nghị vừa bước ra khỏi đoàn biểu tình thì bọn lính xông vào đánh tới tấp. Xô xát đã diễn ra nhưng đại diện công nhân vẫn xông tới nhà để gặp chủ sở, song tên này hoảng sợ đã bỏ trốn.

Bên ngoài, bọn lính tiếp tục đánh công nhân, lập tức anh em trong đội bảo vệ bao vây đánh tên chỉ huy một trận nhừ tử. Bọn lính lại bắn xối xả vào anh chị em công nhân làm hai người chết, nhiều người bị thương. Lực lượng thanh niên tự vệ đồng loạt xông vào đánh nhau với bọn lính, mấy tên lính bị đâm chết, một số bị thương, số còn lại bỏ chạy. Cuộc đấu tranh tiếp tục, anh em phân công nhau đưa các đồng đội hy sinh và bị thương về làng, số còn lại tràn tới bao vây nhà tên chủ cánh Đơ Lalăng, đập phá cửa cổng. Cuối cùng tên chủ cánh buộc lòng phải nhượng bộ, chịu tiếp đại diện công nhân và nhận sẽ giải quyết các yêu sách, đồng thời buộc phải chuyển số lính ác ôn đi nơi khác.

Ở đồn điền cao su Quản Lợi, công nhân tiến hành “làm reo” chống lại bọn cai sếp gian ác như tên Cao Phong…

Những cuộc đấu tranh của công nhân đã tạo đào cho sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng sau này.

Giữa năm 1944, đồng chí Văn Công Khai, Bí thư Tỉnh ủy trực tiếp đứng ra củng cố, tổ chức Mặt trận Việt minh của tỉnh và các địa phương theo phương châm: nơi nào đã phục hồi cơ sở Đảng thì tổ chức các Hội cứu quốc (Hội công nhân cứu quốc, Hội nông dân cứu quốc, Hội thanh niên cứu quốc, Hội phụ nữ cứu quốc) sau đó phát triển ra các nơi khác.

Đến đầu năm 1945, các Hội cứu quốc lần lượt ra đời ở nhiều nơi trong tỉnh Thủ Dầu Một trong đó có Quản Lợi, Lộc Ninh… (thuộc quận Hớn Quản). Sau khi được thành lập, hội viên các Hội cứu quốc tích cực vận động đồng bào tham gia Hội để đấu tranh chống Pháp, Nhật, chuẩn bị giành chính quyền. Về phía địch, thực dân Pháp và phátxít Nhật tăng cường đánh phá ta bằng nhiều biện pháp, vừa tung ra những luận điệu tuyên truyền, xuyên tác vừa tiến hành các cuộc đàn áp phong trào yêu nước. Hành động của chúng đã gây ra một số tác hại cho phong trào: một bộ phận nhỏ trong nhân dân có tư tưởng bi quan thất vọng, tâm lý sợ địch và thiếu tin tưởng vào chính sách của Việt Minh.

Trên thế giới từ năm 1944 đến đầu năm 1945, tại chiến trường Châu Âu, quân đội Xôviết đã giành được thắng lợi. Giờ tận số của phát xít Đức đã điểm.

Ngày 7 tháng 6 năm 1944, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị sửa soạn khởi nghĩa. Ngày 10 tháng 8 năm 1944, Trung ương Đảng ra Lời kêu gọi sắm vũ khí đuổi thù chung nhằm thúc đẩy cuộc khởi nghĩa vũ trang tiến lên mạnh mẽ hơn. Tháng 10-1944 Hồ Chủ Trịch kêu gọi đồng bào, các đảng phái và các đoàn thể chuẩn bị Đại hội đại biểu quốc dân. Trong khi cuộc khởi nghĩa ở Cao - Bắc - Lạng sắp bùng nổ, Hồ Chủ tịch ra lệnh đình chỉ việc phát động khởi nghĩa, và chỉ thị “Phải tìm hình thức vũ trang đấu tranh linh hoạt hơn, chính trị trọng hơn quân sự, để đẩy mạnh phong trào đi tới và củng cố cơ sở chính trị”. Người chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Bản chỉ thị rất ngắn gọn, xúc tích, bao gồm nhiều vấn đề cơ bản trong đường lối quân sự cách mạng vô sản Việt Nam như: kháng chiến toàn dân, động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, nguyên tắc xây dựng lực lượng vũ trang, nguyên tắc tác chiến và chiến thuật du kích… Bản chỉ thị đó có tính chất như một cương lĩnh quân sự vắn tắt của Đảng ta.

Ngày 22 tháng 12 năm 1944, “Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân” gồm 34 người, do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy. Vừa thành lập, Đội đã mưu trí, dũng cảm diệt 2 đồn địch.


(1) Tỉnh ủy lâm thời gồm các đồng chí: Văn Công Khai, Nguyễn Văn Thi, Nguyễn Văn Trung, Vũ Văn Hiển (T.G).
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM