Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 20 Tháng Tám, 2014, 07:38:56 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Vạn Lý Trường Chinh - Nguyễn Vạn Lý  (Đọc 13410 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
TuongLinh
Thành viên
*
Bài viết: 874



« Trả lời #40 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2011, 09:30:54 PM »

Trương Quốc Ðào trước kia là chính ủy của đệ tứ quân đoàn, gồm phần lớn quân đội của các tỉnh Hồ Bắc, Hà Nam và An Huy, vì thế chiến khu của Trương Quốc Ðào được gọi tắt là Hồ-Hà-An. Chiến khu này nằm giữa Vũ Hán và Nam Kinh. Năm 1931, khi Ủy ban Trung ương cộng đảng Trung hoa bắt buộc phải rời bỏ Thượng Hải, cộng quân có thể lựa chọn chiến khu Hồ-Hà-An làm căn cứ chính, vì chiến khu này rộng lớn và gần con sông Dương Tử, tương đối gần Thượng Hải, Vũ Hán và Nam Kinh là những vùng kỹ nghệ lớn và có đường xe lửa, hơn là chạy về chiến khu sô viết Giang Tây nằm 400 dậm về phía nam. Các lãnh tụ của chiến khu Hồ-Hà-An cũng trung thành với Ủy ban Trung ương hơn. Nhưng cũng chính vì lý do này, Ủy ban Trung ương thấy cần phải phái những tay cự phách trong Ủy ban Trung ương xuống căn cứ Giang Tây, để gia tăng sự kiềm chế Mao Trạch Ðông, một lãnh tụ được coi là cứng đầu, không phục tùng Ủy ban Trung ương.

Vào lúc mạnh nhất trong những tháng đầu năm 1932, căn cứ Hồ-Hà-An có tới 60 ngàn quân, một nhà bưu điện, một nhà đúc tiền, những nhà máy dệt và nông trường tập thể. Nhưng vị trí của căn cứ Hồ-Hà-An có vẻ bất lợi, vì quá gần các trung tâm kỹ nghệ và giao thông của Vũ Hán, nên chắc chắn sẽ bị quốc quân tấn công và bị bao vây kinh tế do kế hoạch của tướng Hans von Seeckt. Ðến cuối năm 1932, đệ tứ quân đoàn bắt buộc phải bỏ chiến khu Hồ-Hà-An, cũng giống như Ủy ban Trung ương phải bắt buộc rời bỏ căn cứ sô viết Giang Tây năm 1934 vậy. Hồ Hải Tùng được giao phó trọng trách ở lại điều khiển hậu quân, trong khi Trương Quốc Ðào dẫn lực lượng chính của đệ tứ quân đoàn tiến về phía tây, qua biên giới của tỉnh Hồ Bắc và Hà Nam, rồi vượt tới phía nam của Sơn Tây để tới một vùng đồi núi của Tứ Xuyên, tại đó vào mùa xuân 1933, một căn cứ sô viết mới được thiết lập với thủ đô là Ba Châu. Và chính Ba Châu là nơi cuộc Vạn Lý Trường Chinh đang nhắm tới.

Một điều may mắn cho Trương Quốc Ðào là lúc đó các sứ quân Tứ Xuyên còn mải đánh giết lẫn nhau, và nỗ lực của Quốc dân đảng thúc đẩy sự phòng thủ của các tỉnh chống lại lực lượng của Trương Quốc Ðào cũng bị suy giảm; hơn nữa lực lượng của tướng Hạ Long cũng đang hoạt động tại phía đông nam Tứ Xuyên. Các sứ quân của Tứ Xuyên gặp cảnh lưỡng đầu thọ địch. Chính vào lúc đó, hồng quân bắt buộc phải bỏ căn cứ Giang Tây và bắt đầu cuộc Vạn Lý Trường Chinh.

Ðể tiến về Quí Châu, hồng quân phải chọn con đường khó khăn nhất là vượt qua rặng núi Lão Sơn. Những thử thách khó khăn nhất của hồng quân là lúc phải vượt qua những đường núi nhỏ hẹp và nguy hiểm, những đường đèo hiểm trở, những cây cầu cheo leo hiểm nghèo và phải bơi qua những dòng nước lạnh buốt. Lúc vượt núi, tiền quân tiến rất chậm còn hậu quân thì nhích được một bước lại phải ngừng lại một lúc lâu. Hồng quân không tiến lên được mà cũng không thể ngồi xuống để nghỉ, vì đường núi nhiều chỗ quá nhỏ hẹp, chỉ đủ cho một người lách đi. Nhiều người mệt mỏi và buồn ngủ đến nỗi phải ôm núi để ngủ đứng.
Cuộc hành trình gian nan của hồng quân cứ tiếp tục trèo lên cao tám đậm rồi lại tụt xuống ba dậm. Có những lúc hồng quân đi qua những trận bão, gió mưa cuồng nộ quất mạnh vào người. Trong những hoàn cảnh đó, hồng quân không những không thể dừng lại được, mà tiếp tục thì đường trơn như bôi mỡ, rất nguy hiểm. Ðôi khi một đêm họ chỉ đi được một dậm, và trong lúc ướt đầm nước mưa mà vẫn phải cắm trại ngay ngoài khoảng trống.

Rặng Lão Sơn bắt đầu từ Quảng Tây và núi dốc đến nỗi khi trèo lên núi, người đi sau có thể trông thấy lòng bàn chân của người đi trước. Người ta phải đục vào đá làm những chỗ đặt chân cho dễ trèo. Mọi người phải vật lộn với núi đá để trèo lên được từng quãng ngắn, và trường hợp người bệnh và bị thương thì khốn khó vô cùng. Một buổi tối, nhóm tiền phương của hồng quân đụng phải một khối đá dựng đứng trước mặt, và không có cách gì dẫn ngựa qua được. Một số người và ngựa đã rơi xuống khe núi mất tăm. Hồng quân đành phải dừng lại, ngủ ngay tại chỗ, chờ sáng hôm sau sẽ tiếp tục.
Logged

Điều vĩ đại chính là điều giản dị - Sức mạnh chân chính nằm trong sự dịu dàng
TuongLinh
Thành viên
*
Bài viết: 874



« Trả lời #41 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2011, 09:31:25 PM »

Ngủ tại đường núi cũng không dễ dàng gì. Lối đi chỗ rộng nhất cũng chỉ khoảng hơn nửa thước. Ngay khi một người có thể nằm xuống được thì người đó cũng không thể nào xoay mình mà không bị lăn xuống núi. Chỗ nào cũng có những khối đá nhô ra, và trên đường thì phủ đầy những mảnh đá nhọn hoắt. Vì không còn cách nào khác, hồng quân phải đành gấp mền, đặt bên dưới và cố gắng nằm cuộn tròn trên đường đi. Phần lớn mệt đến nỗi ngủ thiếp đi. Ban đêm thỉnh thoảng những cơn gió lạnh buốt đánh thức họ dậy. Nhiều người quấn mền quanh mình, cuộn người lại cho ấm mà vẫn không thể nào ngủ được. Ðêm thì tối đen như mực, và bên trên là những ngôi sao lấp lánh trên bầu trời tối thẫm, trông giống những viên ngọc trên một tấm thảm nhung. Những vách đá đen sì chung quanh trông như những người khổng lồ đứng hăm dọa. Nhiều người có cảm tưởng như đang nằm dưới đáy một cái giếng thật sâu.

Khắp nơi chợt hiện lên những ánh lửa nhỏ bé; những người không ngủ được vì lạnh quá phải đốt lửa lên. Họ ngồi chụm lại với nhau và nói chuyên rì rầm. Dù họ nói rất nhỏ, nhưng trong cái sự im lặng ghê rợn này, những lời nói của họ nghe khá rõ. Tiếng nói của họ lúc gần lúc xa, lúc to lúc nhỏ, có lúc nghe như tiếng tằm ăn dâu, vẳng lại như tiếng than vãn của suối rừng, rồi lại giống như tiếng thì thầm rất xa của đại dương.

Sáng hôm sau, hồng quân bắt buộc phải vượt qua được khối đá chặn đường đêm trước. Người ta gọi khối đá đó là Lôi Công Thạch, một khối đá nhô ra khoảng 90 độ. Nhiều chỗ bước chân không rộng hơn một tấc, và không có chỗ vịn tay. Sau trận đánh sông Tây Giang, hồng quân có nhiều thương binh hơn trước. Nhiều người được chở bằng cáng. Nhưng khi tới khối Lôi Công Thạch thì dù bị thương nặng đến thế nào, họ cũng bắt buộc phải rời cáng, rồi họ sẽ bò qua hoặc bị đẩy qua khối đá, hoặc bị lôi qua bằng giây thừng. Nhiều người không qua nổi và rơi xuống khe núi. Ðối với hồng quân thì ngọn Lão Sơn là ngọn núi khó khăn nhất mà họ phải vượt qua.

Sau khi vượt qua rặng Lão Sơn, hồng quân bắt đầu tiến qua tỉnh Quí Châu ở phía đông để tiến tới Tứ Xuyên, vừa đi vừa giao chiến với quân của các sứ quân Quí Châu. Binh sĩ hồng quân vốn thuộc thành phần nông dân nghèo khó, nhưng chưa bao giờ họ được chứng kiến cảnh nghèo khó đến thế, sau khi vượt qua rặng Lão Sơn và tiến vào địa hạt Quí Châu. Khu vực này không có người Hán cư ngụ, mà chỉ có dân chúng thuộc bộ lạc Miêu tộc. Người Miêu nghèo đến nỗi đàn bà không dám bước ra khỏi lều vì không có quần áo mặc. Ðàn bà thường ngồi trần truồng bên cạnh bếp lửa đốt bằng rơm rạ. Người ta thấy những cô gái 17, 18 tuổi trần truồng làm việc ngoài đồng. Nhiều gia đình chỉ có được một chiếc quần cho ba hoặc bốn người đàn ông chia nhau mặc. Khi thấy hồng quân tới, người Miêu hoảng sợ, bỏ chạy vào lều hoặc trốn vào núi. Ðối với họ, quân đội có nghĩa là cướp của, hãm hiếp, giết người và đốt nhà.

Ðây là xứ của thuốc phiện. Hầu hết mọi người từ 15 tuổi trở lên đều hút thuốc phiện. Họ ngồi hút ngay ngoài cửa lều, đàn ông, đàn bà và trẻ con. Ðàn ông thanh niên thường đóng khố, nhưng đối với đàn bà thì một mảnh vải làm khố cũng là một thứ xa xỉ. Manh khố là tài sản đáng giá nhất của người dân; chính vì thế mỗi khi họ không trả được nợ cho địa chủ thì địa chủ thường xiết khố của họ. Trong lều của người Miêu thì thuốc phiện chất thành đống như phân bò phơi khô. Người nông dân không có trâu để cầy ruộng như trong khu vực người Hán. Người nông dân thường tự mình kéo chiếc cầy bằng gỗ, hoặc đôi khi họ dùng những con bò gầy trơ xương. Dân chúng tất cả đều nghèo như nhau và sống trong những túp lều bằng đất bùn và mái lợp rơm. Những nhà khá giả hơn thì có nhà cất bằng gỗ và mái lợp ngói. Thuốc phiện đã phá hoại mọi sinh khí của người dân và làm bạc nhược quân đội. Quân đội của sứ quân Quí Châu được mệnh danh là quân đội có hai súng: một khẩu súng thiệt và một cây tẩu thuốc phiện mang theo. Chính vì sự bạc nhược của quân đội Quí Châu mà các lãnh tụ cộng sản chọn lựa con đường đi qua Quí Châu.

Quí Châu nổi tiếng là một tỉnh đặc biệt có nhiều sự so sánh với số 3. Người ta thường nói tại Quí Châu, cứ ba dậm thì có một ngọn núi, cứ ba ngày thì thế nào cũng có mưa, và không ai có nhiều hơn ba quan tiền. Câu nói này rất đúng. Người dân không phải là nô lệ theo đúng nghĩa, nhưng trên thực tế thì số phận họ còn tệ hơn một người nô lệ. Họ không có đất tư hữu. Họ mang nợ địa chủ từ lúc mới sinh ra cho tới lúc chết. Họ không có cách gì trốn thoát được cảnh khốn cùng ấy. Họ sẵn sàng bán con nếu có ai bằng lòng mua. Họ bóp mũi trẻ sơ sinh gái cho chết đi hoặc dìm xuống nước cho ngạt thở mà chết. Ðôi khi trẻ sơ sinh trai cũng bị giết nếu không có thị trường cho chúng. Giá bán trẻ con thay đổi bất thường. Năm 1983, một người dân Quí Châu từ ngoại quốc trở về nơi sinh quán. Lúc lên 7 tuổi thì người này được cha mẹ bán cho một lái buôn trẻ con với giá 5 quan tiền. Người lái buôn xuất cảng cậu bé về Hương Cảng, và tại đó cậu bé khốn nạn này bị buôn đi bán lại bốn lần nữa. Cuối cùng cậu bé trốn thoát và tìm đường sang Hoa Kỳ, sinh sống tại đó cho đến năm 75 tuổi mới tìm đường quay về cố hương.
Logged

Điều vĩ đại chính là điều giản dị - Sức mạnh chân chính nằm trong sự dịu dàng
TuongLinh
Thành viên
*
Bài viết: 874



« Trả lời #42 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2011, 09:31:57 PM »

Mức tử xuất của trẻ sơ sinh tại Quí Châu là 50%. Chính vì tử xuất cao như thế nên khi sinh con, người ta không ăn mừng ngay, mà phải chờ ít nhất một tháng sau. Ðời sống một người trung bình chỉ có 30 năm. Sự nghèo khó ghê gớm đến nỗi không có sự khác biệt nhiều giữa địa chủ và người nông dân nghèo. Hầu hết dân chúng đều mù chữ. Chu Ðức giữ một cuốn nhật ký, và khi đi ngang qua Quí Châu, Chu Ðức đã ghi lại: "Thực phẩm của phần đông người Quí Châu là bắp và một chút rau cải. Nông dân nghèo quá không được ăn gạo. Nông dân tự gọi là những "người khô", những người bị hút đi hết mọi thứ... Tại đây có ba loại muối: muối trắng cho người giầu, muối vàng cho giới trung lưu và muối đen cho người nghèo... Khắp nơi người ta thấy những túp nhà mái dột, cửa làm bằng thân cây bắp hoặc bằng tre, chỉ có nhà giầu tại thành phố mới có mền đắp... Dân chúng bới tìm thóc dưới trại nuôi gà vịt cũ của địa chủ. Các nhà sư gọi thóc tìm được này là "lúa thiêng", một món lộc của Trời cho."

Kể từ sau sông Tây Giang, hồng quân thoát được áp lực nặng nề của quốc quân. Quân đội các sứ quân Quảng Ðông và Quảng Tây đã quay về sau khi biết chắc rằng cộng quân không tiến vào khu vực trách nhiệm của họ. Quân đội Quốc dân đảng dưới quyền của tướng Sử Du vẫn tiếp tục tiến quân song hành với hồng quân, nhưng cũng mỏi mệt và không muốn giao chiến nữa. Quân đội của Hồ Nam thì cũng bằng lòng với nhiệm vụ đột kích tập hậu lai rai.

Tuy nhiên tại khu vực người Miêu có một sự kiện kỳ lạ khó giải thích. Một hôm vào nửa đêm, người vệ sĩ của Chu Ân Lai chợt giật mình thức giấc khi nghe tiếng kêu "Lửa Cháy!" Hắn trông thấy ngọn lửa liếm qua đầu giường của hắn. Hắn vội vàng vùng dậy trợ giúp dẫn Chu Ân Lai chạy ra khỏi căn nhà đang cháy. Người ta đổ xô ra đường. Vụ hỏa hoạn có thể là do rủi ro bất cẩn. Ba người bị bắt và bị hành quyết ngay tại chỗ. Nhưng những vụ hỏa hoạn bí ẩn này cứ tiếp tục xảy ra hết đêm này tới đêm khác trong thị trấn của người Miêu, nơi hồng quân đang tạm trú. Người ta không biết được ai đã gây ra những vụ hỏa hoạn như thế. Hồng quân và quốc quân tuyên truyền đổ lỗi cho nhau hành động phá hoại này.

Ðến giữa tháng 12 thì hồng quân qua được biên giới Quí Châu và chiếm được Ðông Ðào. Ngày 14-12 hồng quân chiếm được thị trấn Lập Bình tại miền cực tây Hồ Nam, và dừng lại tại đó để cho Ủy ban Trung ương hội họp. Lập Bình là một thị trấn đông dân cư và trù mật. Chính tại đây sau một thời gian dài, lần đầu tiên hồng quân được ăn uống no đủ. Người ta không được biết nhiều về cuộc họp của Ủy ban Trung ương tại Lập Bình, nhưng ai cũng cảm thấy sự căng thẳng gia tăng giữa phe Bác Cổ - Lý Ðức và phe thân Mao Trạch Ðông. Mao lúc này đã có được một địa vị trong Ủy ban Trung ương. Các tướng tư lệnh hồng quân thảo luận với Mao thường hơn. Bộ ba Mao, Vương Gia Tường và Lạc Phủ đồng ý phải tổ chức một buổi đại hội để giải quyết quyền lãnh đạo quân đội. Hồng quân quyết định đi thẳng tới Tuân Nghĩa, một thị trấn nằm tại vùng cực bắc của Quí Châu, và cũng là thị trấn cuối cùng trước khi tiến vào vùng đồng bằng nổi tiếng là vựa lúa của Tứ Xuyên. Trong một buổi thuyết trình, Lâm Bưu cho biết: "Chính sách hiện tại của hồng quân là trước hết phải tiến thẳng tới phía bắc của Quí Châu, rồi bất ngờ đánh chiếm Tuân Nghĩa và Ðông Từ, để kết hợp quần chúng và thiết lập một căn cứ mới chống lại quân Nhật."

Ðể đánh lừa quân đoàn thiện chiến của sứ quân Hồ Uyển, một lực lượng hồng quân giả vờ tấn công Quế Dương, thủ phủ của Quí Châu. Lập tức Hồ Uyển dẫn toàn lực tới giải vây cho Quế Dương, trong lúc hồng quân tiến về hướng bắc, đè bẹp lực lượng yếu ớt của Hồ Chính Tân. Hồng quân vượt qua được sông Thanh Thủy và tới khu vực Thủy Viên, từ đó hồng quân có vẻ tiến về phía bắc để gia nhập với lực lượng của Hạ Long, cách xa khoảng 230 dậm. Nhưng hồng quân vẫn tiếp tục tiến về phía tây bắc để tới bến phà sông Ngô Giang. Nhiều người thắc mắc tại sao hồng quân không tiến thẳng mà lại chuyển hướng khi không cần thiết. Về sau chính Mao Trạch Ðông bị hạch hỏi tạo sao bỏ lỡ cơ hội tiến về phía bắc để nhập với lực lượng của Hạ Long.

Thực ra nếu hồng quân cứ tiếp tục theo kế hoạch cũ tiến về phía bắc qua Hồ Nam thì 30 ngàn quân cộng sản còn lại sẽ phải đương đầu với một lực lượng hùng hậu 250 ngàn quân Quốc dân đảng, trong đó 100 ngàn quân đang sẵn sàng chờ đợi hồng quân tại Hồ Nam. Nhờ đọc được mật mã của quốc quân, hồng quân biết rằng Tưởng Giới Thạch đang đặt một cái bẫy thứ hai nhằm tiêu diệt hồng quân nếu hồng quân đi qua Hồ Nam. Hồng quân đành phải chọn một con đường khác, dài hơn nhưng an toàn hơn. Tuy nhiên nếu tránh được súng đạn nguy hiểm của quốc quân thì hồng quân lại phải đương đầu với những khó khăn khác của thiên nhiên, núi cao sông rộng, sức người kiệt quệ, sự thiếu thốn thực phẩm và sự nghi kỵ của các bộ lạc thiểu số khi hồng quân chọn con đường mới.

Lỗ Bình Huy, chỉ huy hậu quân, mô tả tại sao lực lượng hùng mạnh của quốc quân bị lừa trong chiến dịch Quí Châu. "Khi chúng tôi bị bao vây ba mặt, chúng tôi phản công tại phía trước, và để một lực lượng anh dũng cầm chân địch quân trong lúc đại quân rút lui mau lẹ và đánh bọc hậu địch quân. Khi chúng tôi tiến sát phòng tuyến của hậu quân địch thì bên địch không có gì, chỉ để lại một lực lượng nhỏ. Dĩ nhiên chiến công này rất cần đến tinh thần hy sinh cao cả của đơn vị đã liều chết ở lại cầm chân địch quân."
Logged

Điều vĩ đại chính là điều giản dị - Sức mạnh chân chính nằm trong sự dịu dàng
TuongLinh
Thành viên
*
Bài viết: 874



« Trả lời #43 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2011, 09:32:26 PM »

Trong một trường hợp khác tại Quí Châu, khi quốc quân quá đông đảo thì viên tư lệnh hồng quân đặt một tiểu đoàn tại hai đỉnh núi và ra lệnh cho họ cứ đI vòng tròn cho địch quân tưởng hồng quân là một lực lượng đông đảo, và cũng để lôi cuốn sự chú ý của quốc quân vào một đối tượng không quan trọng trong khi lực lượng chính tấn công hậu quân của quốc quân. Lỗ Bình Huy kể lại: "Chúng tôi giữ vị trí đó trong hai ngày, đủ để cứu lực lượng chính của chúng tôi ở nơi khác trong khi quốc quân đánh điện khoe khoang đã cầm giữ được chúng tôi. Ðịa hình thì đầy núi và rừng rậm. Trong lúc hồng quân ngồi nghỉ ngơi ngoài khoảng đất trống thì phi cơ quan sát của quốc quân lại tưởng rằng chúng tôi đông đảo đến nỗi rừng cây không đủ chỗ cho chúng tôi ẩn nấp, mà phải đứng cả ra ngoài. Tất cả chiến dịch Quí Châu chỉ là nghi binh và đánh lừa quốc quân."

Cuộc tiến quân về hướng tây phải đi qua rặng núi Vũ Minh, một vùng đầy những thung lũng và núi bắt nguồn từ Vân Nam cho mãi tới tận phía tây Quí Châu và miền nam Tứ Xuyên. Hồng quân sẽ phải vượt qua Ngô Giang, con sông lớn nhất của Quí Châu. Vào ngày đầu năm 1935, hồng quân tới bờ đông nam sông Ngô Giang, và thấy một dòng sông rất rộng, ít nhất cũng rộng 250 thước và lòng sông đầy những mỏm đá nhọn. Núi đá mọc nhô ra từ hai bên bờ, che khuất cả mặt trời. Tại đây có một cái phà chở khách qua lại. Phà phải đi lách qua những khối đá nhọn và đi chếch về phía xuôi. Bên kia bờ sông có ba trung đoàn quốc quân canh giữ và hai chiếc phà phía bên bờ quốc quân đã bị đánh chìm. Quốc quân còn lập những pháo đài phòng thủ về phía bờ tây bắc, và lực lượng quốc quân đuổi theo hồng quân chỉ còn cách khoảng 20 dậm.
Ðệ nhị sư đoàn của đệ nhất quân đoàn cố gắng vượt qua sông ngay đêm đầu tiên. Hồng quân dùng những chiếc mảng tre và đóng một chiếc cầu, dự định sẽ kéo bắc ngang qua sông một khi đã chiếm được một vị trí làm đầu cầu bên kia sông. Phần lớn hồng quân không biết bơi, vì sinh trưởng ở nơi nội địa. Một số binh sĩ biết bơi được tuyển chọn trong trung đoàn 4. Nhóm người này sẽ bơi qua sông trong đêm tối để phá hủy hệ thống báo động của quốc quân. Tất cả cởi trần, đeo súng lục Mauser, và nhảy xuống dòng nước lạnh như băng giá ngay lúc trời vừa tối. Trong lúc đó hồng quân pháo kích mãnh liệt vào các vị trí quốc quân bên kia sông, nhằm đánh lạc hướng, để che chở cho toán quân bơi qua sông. Tuy nhiên dòng nước chảy xiết quá nên họ không thể kéo được giây thừng để đưa chiếc cầu sang bên kia bờ. Người ta phải dùng một chiếc mảng tre để kéo giây thừng qua, nhưng đến giữa dòng sông thì chiếc mảng bị quốc quân bắn chìm. Toán hồng quân bơi qua sông thấy rằng ở lại bên bờ cũng vô ích nên bơi trở lại bên này bờ, và một người chết vì lạnh quá.

Ngày hôm sau hồng quân tận lực đóng những chiếc mảng mới có hai tầng, dự định đến đêm sẽ xử dụng một lần nữa. Vào lúc trời tối, hai chiếc mảng khởi sự qua sông, và sẽ báo hiệu cho quân nhà biết bằng cách đốt lửa khi đã sang tới bờ bên kia. Chiếc mảng đầu tiên đi được gần một dậm rồi bị trôi dạt về. Chiếc mảng thứ hai do đại úy Mao Trấn Hòa điều khiển cùng với bốn binh sĩ võ trang bằng súng máy thì không thấy quay lại, và cũng không thấy nổi lửa báo hiệu. Chiếc mảng thứ ba cũng phải quay trở lại vì sóng đánh mạnh quá.

Sau hai đêm thất bại, viên tư lệnh hồng quân quyết định sẽ tiến qua sông vào ban ngày, và các mảng sẽ được cắm sào chống đỡ lại những nơi luồng nước chảy xiết. Ngay sau lúc hừng sáng, những chiếc mảng có binh sĩ vũ trang nhẹ bắt đầu vượt qua sông trong lúc đại bác pháo kích sang bên kia sông ồ ạt. Khi chỉ còn cách bờ bên kia 50 thước, các binh sĩ trên các mảng nghe thấy tiếng súng máy vang dội, nhưng súng máy không nhắm vào mảng của họ, mà nhắm vào địch quân trên bờ. Ðó chính là toán của Mao Trấn Hòa đã sang được bờ bên kia từ đêm hôm đầu tiên. Ðêm hôm trước nhóm của Mao Trấn Hòa sang được bờ bên kia, và khi trèo lên bờ sông, họ nhận thấy đang đứng vào ngay một vị trí của địch quân. Mao Trấn Hoà không dám nổi lửa báo hiệu vì sợ bị địch quân quét sạch. Mao Trấn Hòa và 4 binh sĩ nấp thật kỹ, chờ đến lúc trông thấy những mảng của hồng quân đang qua sông, liền dùng súng máy bảo vệ cho các mảng này vượt qua được khoảng đường còn lại.

Các đơn vị tăng cường của quốc quân tới đúng lúc đó, trong khi nhiều mảng khác của hồng quân cũng bắt đầu qua sông. Cuộc phản công của quốc quân dọc theo bờ sông gần như thành công thì bất chợt quốc quân nghe thấy hỏa lực bất ngờ từ phía sườn. Một đơn vị hồng quân đã trèo lên được một ghềnh đá thẳng dốc, đánh vào ngang sườn của quốc quân và làm đảo lộn thế quân bình vào đúng lúc nguy kịch nhất. Thế là quốc quân bỏ chạy, và đệ nhất quân đoàn vượt qua sông Ngô Giang bằng những chiếc thuyền đặc biệt làm bằng tre của bộ lạc Miêu tại địa phương. Bây giờ thì hồng quân có thể tiến tới Tuân Nghĩa để đặt kế hoạch vượt qua con sông Dương Tử hùng mạnh.

Hai trung đoàn 4 và 6 được lệnh gấp rút tiến quân để xuất kỳ bất ý đánh chiếm Tuân Nghĩa. Các trung đoàn trưởng họ Chu và họ Vương quyết định tiến quân bằng ngựa để giữ được yếu tố bất ngờ. Quân chính phủ tại Tuân Nghĩa có khoảng 3 ngàn người, trong khi đó trung đoàn 4 hồng quân chỉ có một ngàn quân. Trong một trận mưa lớn, trung đoàn 4 tấn công bất ngờ và bắt trọn được một tiểu đoàn quốc quân tại một làng cách Tuân Nghĩa 10 dậm. Không một quốc quân nào trốn thoát được để báo động cho Tuân Nghĩa. Hồng quân đã cắt đứt được đường giây liên lạc với quốc quân tại Tuân Nghĩa, và xử dụng những tù binh bắt được để lừa quốc quân tại Tuân Nghĩa. Trong tiểu đoàn quốc quân bị bắt, hồng quân chọn viên tiểu đoàn trưởng, một trung đội trưởng, và khoảng mười binh sĩ thuộc thành phần nghèo, và tra hỏi họ về cách phòng thủ tại Tuân Nghĩa.

Hồng quân bắt đầu hỏi họ tên, sinh quán và gia thế của họ. Các người lính quốc quân quá sợ hãi nên trả lời mọi câu hỏi của hồng quân một cách thành thực và nghiêm chỉnh. Ngay cả viên tiểu đoàn trưởng cũng mất cả vẻ hống hách, và trả lời mà không dám nhìn thẳng vào mặt viên sĩ quan địch quân. Hồng quân kêu gọi các tù binh đứng về phía họ để chống lại quốc quân tại Tuân Nghĩa. Có thể vì tham sống sợ chết, hoặc bị lừa dối nên phần lớn các tù binh đồng ý hợp tác với hồng quân. Viên tiểu đoàn trưởng trình bầy rất chi tiết về cách phòng thủ tại Tuân Nghĩa, rồi vẽ thành một bản đồ các vị trí đóng quân và quân số cùng hỏa lực tại mỗi vị trí.
Logged

Điều vĩ đại chính là điều giản dị - Sức mạnh chân chính nằm trong sự dịu dàng
TuongLinh
Thành viên
*
Bài viết: 874



« Trả lời #44 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2011, 09:33:01 PM »

Hồng quân dùng binh phục của các tù binh, mặc giả làm quốc quân, và tiến tới Tuân Nghĩa. Dĩ nhiên binh phục chỉ đủ dùng cho một tiểu đoàn, nên tiểu đoàn này đi trước, phần còn lại của trung đoàn 4 lặng lẽ tiến theo sau. Khoảng 9 giờ tối, hồng quân khởi sự lên đường dưới một trận mưa tầm tã. Trời tối đen và đường trơn trượt, và nhiều người bị té nhào nhiều lần. Bùn lầy đặc quánh đã giữ chặt lấy những đôi giầy rơm của hồng quân nên nhiều hồng quân đành phải tiếp tục tiến lên bằng chân không. Sau hai giờ tiến quân thì trận mưa dịu dần, và hồng quân trông thấy ánh lửa trước mặt. Họ biết họ đang tới gần thành Tuân Nghĩa, và ánh sáng đó là ngọn đèn treo trước cổng thành. Hồng quân lập tức chạy rần rộ tới cổng thành, làm như bị địch đuổi từ phía sau vậy.

Lập tức có tiếng la giận dữ từ trên cổng thành, "Ai đó?"

"Ðây là quân bạn", các tù binh la to cho đúng với thổ âm địa phương.

"Ðơn vị nào?"

Lần này chính viên tiểu đoàn trưởng bị bắt lên tiếng, đúng như hồng quân đã sắp xếp từ trước. Hắn nói to,
"Ðây là tiểu đoàn đóng tại ngoại vi thành phố. Hôm nay quân cướp cộng sản bao vây chúng tôi. Chúng tôi thất thủ phải rời khỏi làng. Ông tiểu đoàn trưởng bị tử trận. Chúng tôi là đại đôi 1, và tôi chỉ huy phần còn lại của tiểu đoàn. Ðịch quân đang đuổi theo chúng tôi. Xin mở cổng cho chúng tôi vào."

Có tiếng hỏi, "Cho biết tên tiểu đoàn trưởng của tiểu đoàn."

Viên tiểu đoàn trưởng trả lời. Bên trong hoàn toàn im lặng. Hiển nhiên các binh sĩ trong cổng thành không ngờ việc này xảy ra nên lúng túng không biết nên hành động thế nào. Bên ngoài người ta nghe thấy tiếng bên trong thì thào bàn bạc với nhau. Dĩ nhiên hồng quân không muốn bên trong có nhiều thì giờ để suy nghĩ cẩn thận, vì thế hồng quân bên ngoài la thật to, "Mở cổng mau lên, mau lên! Quân cướp đỏ đuổi tới đây bây giờ!"

Bên trên có tiếng người quát xuống, "Không được la!" Có lẽ đó là một sĩ quan, và người ta nghe thấy hắn càu nhàu khi bị đánh thức dậy. Bên ngoài làm bộ như vâng lệnh viên sĩ quan nên im ngay. Bất chợt đèn bấm chiếu từ cổng thành xuống để quan sát nhận diên đám quân bên ngoài. Dĩ nhiên binh sĩ trên cổng thành nhìn xuống và tưởng hồng quân là quân bạn, vì hồng quân bên ngoài mặc quần áo Quốc dân đảng. Rồi có tiếng nói vọng xuống, "Ðược rồi, chờ một lát và đừng có cuống lên. Chúng tôi sẽ mở cổng."

Bên ngoài hồng quân chuẩn bị sẵn sàng, cắm lưỡi lê vào súng và sẵn sàng tấn công khi cổng thành mở. Họ nghe rõ tiếng lách cách của ổ khoá và cổng thành được mở ra. Một binh sĩ bên trong lên tiếng hỏi, "Quân cướp cộng sản đã qua sông Ngô Giang rồi à? Chúng tiến mau quá nhỉ?"

Hồng quân tiến ào vào và la to trả lời, "Họ nhanh như vậy đấy, và bây giờ họ đang tiến vào thành Tuân
Nghĩa đây! Các anh hãy nghe đây: Chúng tôi là quân đội Công Nông Trung Hoa!" Rồi hồng quân chĩa súng vào đầu các binh sĩ quốc quân. Binh sĩ quốc quân hoảng sợ buông súng đầu hàng. Thế là không phải bắn một phát súng, hồng quân chiếm được Tuân Nghĩa và ồ ạt tiến vào thành. Hồng quân lập tức cắt đường dây liên lạc và tước vũ khí của toán quân canh giữ cổng thành. Kèn thúc quân vang lên và hồng quân mau lẹ tràn khắp thành phố. Tiếng kèn tiến quân hòa lẫn với tiếng súng máy gây ra một cảnh hoảng hốt hỗn độn cho quân dân trong thành. Quốc quân hoàn toàn bị bất ngờ. Nhiều người còn đang ngủ, chỉ kịp choàng dậy, chưa kịp mặc quần áo đã bị kiềm chế rồi. Một số lớn thấy tình thế tuyệt vọng liền bỏ trốn qua cổng thành phía bắc.

Sau khi chiếm được Tuân Nghĩa, hồng quân ở vào thế thượng phong tại Tứ Xuyên. Với Trương Quốc Ðào ở mặt bắc, Mao và Chu Ðức ở mặt nam, và Hạ Long ở giữa, hồng quân ở vào thế có thể đe dọa bao vây Tứ Xuyên. Ðây là lần đầu tiên trong nhiều năm, hồng quân tạm đạt được một thế mạnh, dù chỉ là trong một thời gian ngắn. Các lãnh tụ cộng sản cảm thấy đủ an toàn để nghỉ ngơi tại Tuân Nghĩa một thời gian, trước khi tiếp tục cuộc Trường Hành. Các lãnh tụ cao cấp chiếm một căn nhà đẹp nhất và tiện nghi nhất thành phố của họ Bạch, một thương gia rất giầu. Khi nghe tin hồng quân tới gần, thương gia họ Bạch đã bỏ trốn. Chu Ân Lai và bà vợ Ðặng Dĩnh Siêu chiếm một phòng rất đẹp ở lầu hai. Ðặng Dửnh Siêu vẫn đang bị bệnh lao phổi hành hạ và vẫn ho ra máu, nhưng tại Tuân Nghĩa, Ðặng Dĩnh Siêu được hưởng những giây phút êm đềm với chồng. Chu Ðức và Khang Khắc Thanh cũng chiếm một phòng tại đây.

Mao Trạch Ðông cư ngụ trong nhà một sứ quân khác. Cùng cư ngụ tại đây với Mao còn có Vương Gia Tường và Lạc Phủ. Hạ Tử Trân ở trong một trường trung học với đoàn dưỡng nhân. Lý Ðức và Bác Cổ không ở chung với phe thân Mao, và sống riêng biệt trong một căn nhà tầm thường. Bộ ba Mao, Vương Gia Tường và Lạc Phủ cho rằng đây đúng là thời điểm đẹp nhất để mở một cuộc đại hội của Ủy ban Trung ương, và đặt lại vấn đề lãnh đạo đảng và quân đội. Các quỷ kế của Mao bắt đầu ngay từ lúc cuộc Trường Chinh khởi đầu nay đang có kết quả tốt đẹp, nhất là nhờ vào những thất bại nặng nề của hồng quân trong thời gian vừa qua. Mao thấy cần phải thực hiện một cuộc truất phế Lý Ðức và Bác Cổ ngay lập tức. Chưa bao giờ giấc mơ của Mao trở thành lãnh tụ tối cao của cộng đảng Trung Hoa lại hứa hẹn thành đạt như tại Tuân Nghĩa. Ðại hội Tuân Nghĩa đã mở đường và xác nhận quyền lực tột đỉnh của Mao trong nước Trung Hoa cộng sản.
Logged

Điều vĩ đại chính là điều giản dị - Sức mạnh chân chính nằm trong sự dịu dàng
TuongLinh
Thành viên
*
Bài viết: 874



« Trả lời #45 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2011, 09:33:44 PM »

Ðại Hội Tuân Nghĩa

Khi hồng quân chiếm được Tuân Nghĩa vào đầu tháng giêng năm 1935, việc đầu tiên của hồng quân là củng cố các vị trí quân sự. Các quân đoàn đệ nhất và đệ tam bảo vệ khu vực quanh Tuân Nghĩa, với nỗ lực sửa soạn thiết lập một khu vực sô viết mới. Sau đó các lãnh tụ đảng và quân đội có thể ngồi lại để thẩm định hoàn cảnh và chính sách của họ, mà không sợ áp lực của quốc quân. Chu Ðức đã có dịp nói chuyện trước một cuộc biểu tình lớn ngày 15-1. Hồng quân dừng lại trong thành phố mười hai ngày để nghỉ ngơi, bồi dưỡng và tuyển mộ thêm quân.

Bộ Chính Trị của Ủy ban Trung ương đã bắt buộc phải triệu tập một cuộc đại hội mở rộng, và trong đại hội này, quyền lãnh đạo đảng và quân đội của Bác Cổ bị chống đối một cách quyết liệt. Nhóm của Bác Cổ cảm thấy sự chống đối bất lợi nên bác bỏ ý kiến triệu tập đại hội, với lý do không đủ nhân viên Bộ Chính Trị, và không cần thiết. Nhưng phe Bác Cổ bị thiểu số nên đại hội vẫn tiến hành, và trở thành một cuộc họp quan trọng nhất trong lịch sử cộng đảng Trung Hoa. Chính đại hội Tuân Nghĩa đã thay đổi hẳn chính sách của đảng, và sắp xếp lại bộ máy lãnh đạo có lợi cho tương lai chính trị của Mao Trạch Ðông. Sau đại hội Tuân Nghĩa, Mao Trạch Ðông đã trở thành một nhân vật uy thế nhất, và đã dẫn cộng đảng đến thành công mười lăm năm sau.

Quyết nghị của đại hội Tuân Nghĩa được chấp thuận ngày 8-1-1935 là một tài liệu quan trọng nhất trong cuộc Vạn Lý Trường Chinh. Toàn bộ quyết định này được in trong tập Tác Phẩm Chọn Lọc của Mao Trạch Ðông trong khu vực kháng chiến năm 1948, dưới quyền chỉ huy của một số cấp lãnh đạo trung thành với Mao như Bành Ðức Hoài, Lưu Bá Thừa và Ðặng Tiểu Bình. Tuy nhiên ấn bản này không được lưu hành rộng rãi lắm, và được biết rất ít tại nước ngoài. Tài liệu này cũng không được in lại trong những ấn bản Tác Phẩm Chọn Lọc khác của Mao.

Năm 1957, tài liệu về các quyết nghị Tuân Nghĩa lại xuất hiện trong cuốn Lịch Sử Của Cuộc Cách Mạng Trung Hoa, một cuốn sách do Ðại học Nhân dân Bắc Kinh xuất bản, nhưng không được một học giả ngoại quốc nào để ý đến. Phải mãi đến năm 1969, sự bí mật của Quyết Nghị tại Tuân Nghĩa mới được sáng tỏ. Năm đó trên tờ China Quarterly xuất bản tại Luân Ðôn, một học giả Trung Hoa đã trình bày toàn bộ bản Quyết Nghị này, và giúp người ta hiểu rõ được đại hội Tuân Nghĩa mấy chục năm về trước.

Quyết Nghị được chấp thuận tại đại hội Tuân Nghĩa của Bộ Chính Trị ngày 8-1-1935 có tựa đề là "Tóm Lược Chiến Dịch Bao Vây Trừng Phạt Của Ðịch Quân Lần Thứ Năm". Tài liệu được mở đầu bằng nhận xét: "Sau khi nghe bài tường trình của đồng chí XX về cuộc bao vây lần thứ năm và bản báo cáo bổ túc của đồng chí XXX, toàn thể hội nghị của Bộ Chính Trị cho rằng bản tường trình của đồng chí XX không đúng sự thực."

Vị học giả Trung hoa giải thích "đồng chí XX" chính là Bác Cổ, người lãnh đạo tối cao của đảng lúc đại hội khai mạc, và với tư cách Chủ tịch Ủy ban Quân sự thì đương nhiên là người được nói đầu tiên trước đại hội. Còn "đồng chí XXX" thì vị học giả đoán là Vương Gia Tường, phó Chủ tịch Ủy ban Quân sự, nhưng người ta cho rằng "đồng chí XXX" chính là Chu Ân Lai.

Mười bốn quyết nghị của Mao Trạch Ðông được Bộ Chính Trị chấp thuận toàn bộ, đã được in lại đầy đủ trên tờ China Quarterly. Các quyết nghị này có mục đích lên án chính sách của Bác Cổ và Lý Ðức được Bộ Chính Trị thi hành lúc đó. Bác Cổ bị kết án về những tội như đã đưa cộng sản đến thất bại trước chiến dịch bao vây lần thứ năm của Quốc dân đảng, đã đánh giá quá thấp tinh thần của hồng quân, và đánh giá quá cao sức mạnh của địch quân. Dưới đây là phần tóm tắt các quyết nghị của Mao Trạch Ðông.

"Vào giai đoạn này của cuộc nội chiến Trung hoa, khi mà chúng ta chưa có được sự hỗ trợ bằng những cuộc nổi dậy của giai cấp vô sản thành thị và cuộc nổi loạn của các đơn vị quốc quân, khi mà những khu vực sô viết của chúng ta chỉ là một phần hết sức nhỏ bé của Trung hoa, khi mà chúng ta chưa có phi cơ, pháo binh và các vũ khí tối tân khác, khi mà chúng ta vẫn chiến đấu sâu trong nội địa, và khi mà địch quân vẫn tấn công chúng ta, thì chiến lược của chúng ta là phải đánh những trận quyết định để phòng thủ. Chúng ta không nên giao chiến với địch quân trong những trận đánh quyết định mà chúng ta không tin chắc sẽ chiến thắng, bởi vì chúng ta chưa khám phá ra và cũng chưa tạo ra được nhược điểm của địch quân. Chúng ta chỉ nên xử dụng các lực lượng thứ yếu của chúng ta, chẳng hạn như các đơn vị du kích, quần chúng vũ trang, các tiểu đoàn và trung đoàn độc lập, và một phần của lực lượng chính quy của hồng quân, để gây hoang mang hoặc nhử mồi địch quân.

"Chúng ta phải ngăn chặn địch quân với một chiến thuật lưu động, trong lúc lực lượng chính của ta phải rút lui tới một khoảng cách thích ứng, hoặc chuyển lực lượng ấy đánh vào sườn hoặc hậu quân của địch. Lực lượng chính quy phải bí mật tập trung và chờ đợi cơ hội thuận lợi để tấn công địch. Khi chiến đấu tại nội địa, sự rút lui và ẩn nấp của hồng quân có thể làm địch quân mệt mỏi hoặc cảm thấy tự kiêu và thờ ơ, và từ đó dụ địch quân mắc phải những lỗi lầm và lộ ra nhược điểm.
Logged

Điều vĩ đại chính là điều giản dị - Sức mạnh chân chính nằm trong sự dịu dàng
TuongLinh
Thành viên
*
Bài viết: 874



« Trả lời #46 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2011, 09:34:18 PM »

"Chúng ta phải chờ đợi đến khi địch quân tiến tới một vị trí thích hợp trước khi bao vây và tiêu diệt địch, có nghĩa là ta phải dụ cho địch quân tiến sâu vào khu vực của chúng ta. Ðể chiến thắng, chúng ta không quản ngại bỏ một phần khu vực sô viết của chúng ta, và ngay cả rút lui tạm thời lực lượng chính yếu ra khỏi khu vực sô viết."

Khẩu hiệu nổi tiếng của Bác Cổ "Không để mất một tấc đất của khu vực sô viết" đã là một khẩu hiệu chính trị đúng. Nhưng nếu đem khẩu hiệu đó áp dụng một cách máy móc vào các chiến dịch hành quân thì là "một lỗi lầm hoàn toàn". Chính sách của Bác Cổ "phòng vệ thuần túy" có nghĩa là đặt lực lượng hồng quân chống lại sự tấn công của quốc quân từ mọi phía, có nghĩa là hồng quân sẽ không đủ mạnh để kháng cự tại bất cứ địa điểm nào, và giúp địch quân tiêu diệt hồng quân từng đơn vị một. Mao nêu ra những trận đánh thất bại tại Hán Khẩu, Thiên Ninh và Vạn Phong như những thí dụ điển hình của lỗi lầm này. Một lỗi lầm khác là không áp dụng chiến pháp lưu động, một sở trường đặc biệt của hồng quân.

Quyết nghị 9 của Mao kêu gọi: "Cần phải nhận thức rằng cuộc nội chiến tại Trung Hoa không phải là một cuộc chiến ngắn hạn, mà là một cuộc chiến trường kỳ". Khi gặp thời cơ tốt đẹp, như trong bốn đợt bao vây đầu tiên và ngay cả đợt bao vây lần thứ năm cho tới trận đánh Quảng Xương, hồng quân cần phải nắm thế công. Nhưng khi trận chiến bắt đầu bất lợi, như trong giai đoạn cuối của đợt bao vây lần thứ năm, thì "chúng ta phải tạm thời rút lui để bảo toàn sức mạnh của chúng ta."

Sự huấn luyện và bồi dưỡng của hồng quân cũng bị sao nhãng, và sự tổn thất nhân sự phải giữ ở mức tối thiểu. "Chúng ta phải biết rằng chỉ khi nào chúng ta bảo toàn được nhân sự của chúng ta thì chúng ta mới giữ được các căn cứ sô viết. Các căn cứ sô viết không thể tồn tại mà không có một lực lượng hồng quân mạnh. Với một hồng quân mạnh, các khu vực sô viết tạm thời có thể mất đi nhưng cuối cùng sẽ chiếm lại được. Hơn nữa, chúng ta chỉ có thể xây dựng được các căn cứ sô viết mới bằng sức mạnh của hồng quân."
Một trong những lời buộc tội không được chính xác trong Quyết Nghị Tuân Nghĩa là sự công kích quyền lãnh đạo của Bác Cổ, và phản ứng vụng về trong vụ Lộ quân 19 của tướng Thái Ðình Khải nổi loạn tại Phúc Kiến chống lại Tưởng Giới Thạch. Mao vẫn coi việc khai thác các sư đoàn quốc quân là quan trọng nhất trong cuộc bao vây lần thứ năm. Bác Cổ và các cộng sự bị lên án đã thất bại không khai thác được cuộc đình chiến với các lực lượng phản loạn tại Phúc Kiến. Một cơ hội bằng vàng đã để lỡ mất. Tuy nhiên sự buộc tội này có vẻ quá đáng. Người ta cho rằng chưa chắc Mao đã giải quyết tốt đẹp hơn, nếu xét về yêu sách chính trị của chính phủ Phúc Kiến muốn lập một mặt trận thống nhất giữa Quốc dân đảng và cộng sản để chống lại Nhật Bản. Chính lúc đó Mao đã bầy tỏ ý kiến dè dặt về việc hợp tác với quân phản loạn Phúc Kiến.

Theo quyết nghị 11 thì một khi cuộc bao vây lần thứ năm của quốc quân bắt đầu tỏ ra thành công thì hồng quân đáng lẽ phải tính đến vấn đề rút lui ngay, ngay từ tháng năm, chứ không phải là đợi đến tháng tám. Sự chậm trễ này đã dẫn tới hoang mang và những tổn thất không cần thiết, khi cuối cùng bắt buộc phải di tản. Lý Ðức đã đặc biệt bị chỉ trích như sau: "Theo ý đồng chí Lý Ðức, sự phá vỡ vòng vây quả thực là một cuộc chạy trốn kinh hoàng, một cuộc hành quân dọn từng nhà, chứ không phải là một cuộc hành quân chiến đấu quả cảm." Không có một cuộc thuyết trình đầy đủ cho đảng viên và sĩ quan khiến cho tinh thần binh sĩ lung lay. Rồi Mao lý luận: "Nếu đã có những quyết định quân sự sáng suốt hơn thì đã cứu vãn được khu vực sô viết trung ương, và có thể chiến thắng được cuộc bao vây lần thứ năm của quốc quân, thành lập được một căn cứ tại Hồ Nam và sức mạnh của hồng quân đã được bảo tồn." Người ta nhận thấy những lời buộc tội của Mao Trạch Ðông là quá đáng, nhưng Bác Cổ và Lý Ðức không được các tư lệnh hồng quân hỗ trợ, vì chính họ là những cấp chỉ huy quân sự đã bị quốc quân đánh cho thảm bại, nên thấy cần phải đổ hết lỗi lầm cho Lý Ðức và Bác Cổ để chạy tội của mình.

Hai thí dụ điển hình về những quyết định quân sự thiếu linh động được kể ra trong Quyết Nghị 11 là: khi hồng quân tới được biên giới Hồ Nam - Quí Châu thì được lệnh một cách máy móc phải tiến quân tới các khu vực dưới quyền kiểm soát của Hạ Long và Trương Quốc Ðào; và khi tới sông Ngô Giang thì hồng quân được lệnh phải tiêu diệt những toán quân nhỏ của quân đội tỉnh Quí Châu và các toán cướp, thay vì phản công lại toán quân của Tưởng Giới Thạch đang đuổi theo tại biên giới Quí Châu và Tứ Xuyên.

Tất cả những lỗi lầm này được gọi là "cơ hội chủ nghĩa", và Lý Ðức bị buộc tội có khuynh hướng độc tài. Lý Ðức bị kết án đã độc quyền tất cả công việc của Ủy ban Quân sự, và do đó quyền lãnh đạo tập thể đã trở thành trò hề. Các quan điểm khác nhau của các ủy viên khác trong Bộ Chính Trị đã bị bác bỏ và áp chế. Toàn thể các lãnh tụ đảng đã dùng phần lớn sinh lực vào việc tuyển mộ và tiếp tế, và để mặc cho bộ ba Lý Ðức, Bác Cổ và Chu Ân Lai toàn quyền về chính sách và chiến thuật.

Bác Cổ là người lãnh đủ sự tấn công tàn sát của Mao Trạch Ðông. Ðối với Mao thì Bác Cổ là kẻ tử thù cần phải loại bỏ để Mao lên thay chức vụ của Bác Cổ. Bác Cổ bị nêu đích danh đã bỏ qua không sửa chữa những lỗi lầm của Chu Ân Lai trong việc điều khiển chiến tranh, đã thất bại không chấp nhận lỗi lầm của mình, và đã từ chối không chấp nhận sự phê bình của đại đa số trong đạI hội. Chu Ân Lai khôn ngoan trở cờ đi theo nhóm thân Mao, nhưng Bác Cổ từ chối không nhượng bộ. Trong suốt cuộc tranh chấp trong cộng đảng Trung hoa sau đó, Chu Ân Lai là người luôn luôn ngả theo phái mạnh để bảo vệ được chỗ đứng của mình.
Logged

Điều vĩ đại chính là điều giản dị - Sức mạnh chân chính nằm trong sự dịu dàng
TuongLinh
Thành viên
*
Bài viết: 874



« Trả lời #47 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2011, 09:34:51 PM »

Theo ý Mao thì bước kế tiếp là sửa chữa những lỗi lầm này, và thiết lập một căn cứ sô viết mới tại vùng đất mênh mông của Vân Nam, Quí Châu và Tứ Xuyên, để đền bù lại những khu vực sô viết đã mất. Ðại hội chấp nhận rằng sự mất khu vực sô viết trung ương chỉ là một bước thụt lùi trong toàn bộ công cuộc cách mạng. Ðoạn cuối của Quyết Nghị Tuân Nghĩa tóm lược tất cả sự chán nản chua chát của hồng quân lúc đó, cũng như sự can đảm của Mao đã một mình đứng ra cứu vãn tình thế: "Ðại hội mở rộng của Bộ Chính Trị đã nêu ra những lỗi lầm về sự lãnh đạo quân sự của đảng trong quá khứ chỉ là một phần lỗi lầm của một nhóm trong đảng, và cũng không đủ tạo ra sự bi quan và tuyệt vọng. Ðảng đã can đảm trình bày những lỗi lầm của mình. Ðảng đã tự giáo dục qua những lỗi lầm ấy và học hỏi cách hướng dẫn cuộc chiến tranh cách mạng hữu hiệu hơn đến chiến thắng. Sau sự trình bày những thất bại, đảng thay vì yếu đi thì thực ra đã trở nên mạnh hơn."

Mao Trạch Ðông Nắm Quyền Lãnh Ðạo

Mao Trạch Ðông ở trong tình trạng thất sủng từ trước khi bắt đầu rời bỏ Giang Tây, nhưng dần dần đã khuyến dụ được phần lớn các cộng sự bỏ phiếu cho mình trong đại hội Tuân Nghĩa, là một sự kiện đặc biệt của cuộc Vạn Lý Trường Chinh, và cũng là thành công lớn nhất trong cuộc đời chính trị của Mao. Người ta không có hồ sơ hoặc những cuốn hồi ký của những người tham dự đại hội Tuân Nghĩa để soi sáng cho sự thay đổi lòng trung thành của họ, và ngày nay người ta phải đi tìm hiểu biến cố đó như thể là một sự việc thuộc thời tiền sử. Hầu hết các diễn giả đều trình bày quan điểm của mình mà không có bản viết trước, và cũng không có thư ký ghi chép những diễn biến của đại hội.

Dĩ nhiên lúc đó Bộ Chính Trị không có mặt đầy đủ tại Tuân Nghĩa. Vương Minh, người thủ lãnh của Bộ Chính Trị thì ở Mạc tư khoa. Lưu Thiếu Kỳ thì đang hoạt động kháng chiến trong khu vực Quốc dân đảng. Vào lúc cuộc Trường Chinh bắt đầu thì Lưu Thiếu Kỳ bắt đầu lẻn vào Thượng Hải và giả danh là Châu Khang Minh, đóng vai một giáo sư sử học từ Vân Nam. Còn một số nhân viên Bộ Chính Trị nữa đang hoạt động tại các nơi khác. Tại đại hội Tuân Nghĩa lúc đó chỉ có tám ủy viên trong Bộ Chính Trị, và gồm có: Trương Văn Thiên (tức Lạc Phủ), Chu Ân Lai, Chu Ðức, Lương Bộ Tài, Mao Trạch Ðông, Bác Cổ, Vương Gia Tường và Ngô Lương Bình.

Phần lớn tám ủy viên này đều coi mình thuộc nhóm Quốc tế thân Nga, trung thành với Vương Minh, như Trương Văn Thiên, Lương Bộ Tài, Bác Cổ, Vương Gia Tường và Ngô Lương Bình. Hơn nữa Chu Ân Lai và Chu Ðức cũng ủng hộ nhóm Quốc Tế. Do đó Mao Trạch Ðông là tiếng nói phản đối duy nhất trong Bộ Chính Trị. Tuy nhiên đại hội Tuân Nghĩa không phải chỉ có tám ủy viên Bộ Chính Trị mà thôi. Mao đòi hỏi các tư lệnh hồng quân được tham dự, do đó số người tham dự lên tới từ 34 tới 40 người. Dầu sao lúc đó người cộng sản Trung Hoa nhận thấy họ sẽ phải trải qua một cuộc chiến tranh trường kỳ, nên vai trò của các cấp chỉ huy quân sự được đề cao, và vấn đề quân sự sẽ là ưu tư lớn nhất của Bộ Chính Trị. Chính vì thế Bộ Chính Trị cần nghe những người biết rõ tình hình quân sự và tinh thần của binh sĩ.

Những nhân vật quân sự hàng đầu trong cuộc đại hội gồm có Lưu Bá Thừa, Lâm Bưu, Bành Ðức Hoài, Dương Thượng Côn, Diệp Kiếm Anh và Lý Ðức. Những người khác cũng được tham dự có thể là Ðặng Tiểu Bình (chủ bút tờ Sao Ðỏ), Ðặng Phát (chỉ huy ngành an ninh), Ðặng Thái Viên, chính ủy của đệ tam quân đoàn, Trần Vân, Hồ Kế Chuân (chính ủy đệ tứ quân đoàn) Lỗ Mai, Lý Phú Xuân, Vương Thiếu Bảo và Ðổng Tất Vũ. Lương Bộ Tài không có mặt trong đại hội vì được cử đi công tác trong vùng Quốc dân đảng.
Như vậy Mao đã thắng bước đầu tại đại hội bằng cách thành công đòi hỏi cho các tướng tham dự đại hội. Mao không thể đạt được đa số nếu không có sự hậu thuẫn của các phát ngôn viên quân sự như Bành Ðức Hoài và Lâm Bưu. (Sau này cả Bành Ðức Hoài và Lâm Bưu đều chết vì tay Mao). Năm 1965-66, Mao lại xử dụng sự hậu thuẫn của quân đội một lần nữa để đánh bại những phe chống đối trong đảng. Tuy nhiên năm 1935, việc cho các tướng tham dự đại hội là chính đáng, vì lúc đó vấn đề chính của đảng là vấn đề quân sự: làm thế nào chạy thoát được lực lượng hùng mạnh của Tưởng Giới Thạch.

Chiến thắng của Mao tại Tuân Nghĩa là một chiến thắng quân sự hơn là chính trị, và quyền lãnh đạo đảng của Mao đã được củng cố chặt chẽ trong dịp này. Mao quả thực đã được sự ủng hộ của giới quân sự hơn là của giới chính trị trong đảng. Nhưng theo một nguồn tin của đảng cộng sản Nhật Bản thì Mao chỉ đạt được quyền lãnh đạo quân sự tại đại hội Tuân Nghĩa mà thôi. Vị học giả Trung hoa đã nêu ra những nghi vấn sau đây:

1. Tại đại hội Tuân Nghĩa, Mao không được bầu vào chức chủ tịch của Ủy Ban Trung Ương, bởi vì chức vụ đó mãi đến năm 1945 mới được đặt ra. Có lẽ lúc đó Mao chỉ được bầu vào chức chủ tịch Bộ Chính Trị.

2. Sự thách đố Mao Trạch Ðông của Trương Quốc Ðào trong đại hội của Bộ Chính Trị tại Lương Hà Khẩu có nghĩa là Mao không có quyền áp chế Trương. Trương Quốc Ðào xác nhận rằng tại Tuân Nghĩa, Mao chỉ được bầu làm chủ tịch chính phủ chứ không phải là lãnh tụ đảng. Sau đại hội Tuân Nghĩa, Trương Quốc Ðào trở thành đối thủ quan trọng nhất của Mao trong cộng đảng Trung Hoa.
Logged

Điều vĩ đại chính là điều giản dị - Sức mạnh chân chính nằm trong sự dịu dàng
TuongLinh
Thành viên
*
Bài viết: 874



« Trả lời #48 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2011, 09:35:21 PM »

3. Thắng lợi của Mao tại Tuân Nghĩa là kết quả hấp tấp của hai ngày cố gắng hàn gắn sự bất đồng trong Bộ Chính Trị, trước sự săn đuổi nguy hiểm của Quốc dân đảng. Lúc đó những người tham dự đại hội chỉ quan tâm đến vấn đề khó khăn quân sự. Các người tham dự đại hội có thể nghĩ rằng bộ máy đảng sẽ xác nhận một sự lãnh đạo mới khi những cuộc khủng hoảng quân sự đã được giải quyết. Nhưng sau đó, tại Diên An, Mao tung ra hết nỗ lực củng cố lợi điểm tạm thời của đại hội Tuân Nghĩa thành vĩnh viễn. Theo đài phát thanh Mạc tư khoa năm 1968 thì tại đại hội Tuân Nghĩa, Mao Trạch Ðông chỉ trở thành một ủy viên trong bộ máy lãnh đạo trung ương, chứ không đạt được một địa vị tối cao trong đảng. Mãi sau này Mao mới thành công đạt được địa vị lãnh tụ tối cao.

Làm thế nào Mao đã đạt được sự hỗ trợ của phe quân sự tại Tuân Nghĩa? Trong giai đoạn đầu của cuộc Trường Chinh có hai phe quân sự: một phe thuộc nhóm quốc tế huấn luyện tại Nga sô, và một phe được huấn luyện tại trường Hoàng Phố. Tuy nhiên khi phải bỏ Giang Tây và chịu những tổn thất lớn lao trên đường chạy trốn thì cả hai phe đều mất tinh thần, và uy thế bị suy giảm.

Thoạt đầu phe Quốc tế có hai lợi điểm: họ được tổ chức cộng sản quốc tế hậu thuẫn và hiểu biết nhiều về lý thuyết Mác xít. Tuy nhiên trong cuộc Vạn Lý Trường Chinh, khi mà các bạn bè quốc tế bất lực không thể trợ giúp được, và khi họ mắc phải những lỗi lầm quân sự thì Mao có thể đạp đổ được uy tín của họ, và chế nhạo nhóm Quốc tế chỉ là những người đi sao chép lại, theo đuổi sự hướng dẫn sai lầm của ngoại quốc mà không tìm kiếm được con đường riêng cho Trung Hoa. Nhưng thất bại nặng nề nhất của nhóm Quốc tế là họ không hề có một kinh nghiệm quân sự nào cả. Chính Bác Cổ chưa bao giờ tham gia một trận đánh trước khi tới lãnh đạo chiến khu Giang Tây. Họ cũng còn trẻ quá, dưới ba mươi tuổi, trong khi Mao đã trên bốn mươi. Khi hồng quân phải rút lui về các vùng quê hẻo lánh thì nhóm Quốc tế chỉ quen biết đời sống thành thị bỗng trở nên lạc lõng vô dụng. Sự đoàn kết trong nhóm Quốc tế cũng lỏng lẻo, và Mao đã lôi cuốn được một số đứng về phe mình, như Lạc Phủ và Vương Gia Tường.

Phe hồng quân gốc trường quân sự Hoàng Phố thường trung thành với Chu Ân Lai, vì Chu trước kia là giám đốc chính trị của trường. Diệp Kiếm Anh là một trong số những người thần phục Chu Ân Lai. Nhưng một sản phẩm nổi tiếng nhất của Hoàng Phố là Lâm Bưu thì liên kết với Mao Trạch Ðông. Ðúng ra nhóm Hoàng Phố không có sự đoàn kết bằng nhóm Quốc tế. Sự trung thành của nhóm cựu khóa sinh Hoàng Phố với Chu Ân Lai có thể bị soi mòn vì Chu Ðức là lãnh tụ quân sự, chứ không phải là Chu Ân Lai. Ngay cả thái độ của Chu Ân Lai tại đại hội Tuân Nghĩa cũng mập mờ, và đó là đặc tính của Chu Ân Lai mỗi khi gặp nguy hiểm.
Nhóm đàn em của Mao thì không nổi tiếng bằng các đàn em của Bác Cổ và Chu Ân Lai. Những đàn em của Mao gồm có Mao Trạch Dân, Lý Phú Xuân, Thái Xướng, Hứa Tế Ly là những nhân vật không quan trọng của chi bộ Hồ Nam. Mao cũng được sự ủng hộ của Ðặng Tiểu Bình và Lâm Bưu. Chu Ðức từng cộng tác chặt chẽ với Mao hơn bất cứ ai trong hồng quân, nhưng trong nhiều buổi họp quan trọng, Chu Ðức thường bỏ phiếu chống lại Mao.

Nhiều đảng viên và sĩ quan cao cấp khác đứng ngoài mọi cuộc tranh chấp phe nhóm và không đứng hẳn vào phe Bác Cổ, Chu Ân Lai hoặc Mao. Ðó là những sĩ quan đứng tuổi, không học trường Hoàng Phố và bất mãn trước quyền lãnh đạo quân sự của Lý Ðức, như Chu Ðức, Bành Ðức Hoài, Lưu Bá Thừa. Ngay trong cuộc tranh chấp tại Tuân Nghĩa, Bành Ðức Hoài và Lưu Bá Thừa giữ thái độ trung lập. Nhóm này không quan tâm nhiều đến ý thức hệ do Bác Cổ hoặc Mao giảng dậy. Họ chỉ là những quân nhân thuần túy, quan tâm tới những bất công xã hội hơn là các lý thuyết cộng sản. Nhóm lãnh tụ này có vẻ ủng hộ Mao tại đại hội Tuân Nghĩa, vì Mao hứa hẹn một đường lối quân sự thực tế hơn trong những tháng thử thách sắp tới, chứ không phải họ tán đồng quan điểm chính trị của Mao, hoặc thất vọng vì quan điểm chính trị của Chu Ân Lai và Bác Cổ.

Chẳng hạn Lưu Bá Thừa, cũng còn được gọi là Lưu Tử Nhãn (chết một mắt) hoặc Ðộc Nhãn Long, là tướng cộng sản đầu tiên được huấn luyện quân sự chu đáo trong ba năm tại Viện Quân Sự Hồng quân Nga tại Mạc tư khoa. Lưu Bá Thừa đã giúp Chu Ðức trong cuộc nổi dậy tại Nam Xương, và được Chu Ân Lai nâng đỡ trong thời kỳ sau đó, nhưng Lưu Bá Thừa cũng cảm thấy một mối ràng buộc với nhóm lãnh tụ thân Nga của Bác Cổ. Là một chiến thuật gia dũng cảm trong bộ tham mưu của Chu Ðức, địa vị của Lưu Bá Thừa cũng ngang hàng với Lâm Bưu và Bành Ðức Hoài. Tuy nhiên lúc nào Lưu Bá Thừa cũng giữ thái độ trung lập trong các cuộc tranh luận chính trị.

Sự cân bằng của phe cộng sản trong giai đoạn đầu của cuộc Trường Chinh có vẻ rất tế nhị, và chỉ cần một vài lãnh tụ cao cấp đổi ý cũng đủ nghiêng cán cân về phía Mao. Tuy nhiên quyền lực mới của Mao sau đại hội Tuân Nghĩa cũng không vững chắc như nhiều người tưởng. Lúc đó Mao chỉ được coi như được giao phó trọng trách hướng dẫn hồng quân và đảng trong cuộc Vạn Lý Trường Chinh mà thôi. Mao đã lợi dụng cơ hội hoàn cảnh quân sự khó khăn của hồng quân để lôi kéo được ngay cả những đối thủ hợp tác với mình, và dần dần thành công lôi cuốn họ đứng hẳn về phe mình.
Logged

Điều vĩ đại chính là điều giản dị - Sức mạnh chân chính nằm trong sự dịu dàng
TuongLinh
Thành viên
*
Bài viết: 874



« Trả lời #49 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2011, 09:35:52 PM »

Sự thay đổi lãnh đạo xảy ra tại Tuân Nghĩa có ba khía cạnh chính: Thứ nhất, Mao đại diện cho sự vươn lên của phe cộng sản trong nước sau mười bốn năm dưới quyền điều khiển của phe được huấn luyện tại Nga sô. Mao tượng trưng cho những người cộng sản Trung Hoa chưa từng được xuất ngoại, hoặc những người tương đối không thay đổi sau những chuyến xuất ngoại, những người coi chủ nghĩa cộng sản chỉ là một giải pháp cấp kỳ cho những vấn đề Trung Hoa. Chiến thắng của Mao tại Tuân Nghĩa là chiến thắng của giới sô viết nông thôn chống lại các đảng viên thành thị, của một người sống suốt đời với nông dân và các giai cấp thấp trong xã hội. Mao đã khôn ngoan không tấn công Chu Ân Lai và do đó tách được Chu Ân Lai ra khỏi Lý Ðức. Người ta tin rằng đã có sự ngầm thỏa hiệp giữa Mao và Chu Ân Lai tại Tuân Nghĩa.

Thứ hai, Mao chiến thắng là nhờ sự trung thành của một nhóm tư lệnh hồng quân, và thông cảm được hoàn cảnh khó khăn của họ. Những người đào ngũ từ lúc rời bỏ Giang Tây là những thành phần tân tuyển của Chu Ân Lai, chứ không phải là thành phần nòng cốt của quân đội đã theo Mao và Chu Ðức từ Tỉnh Cương Sơn.

Cuối cùng, Mao quả thực là một kiểu mẫu lãnh đạo cần thiết cho phe cộng sản vào năm 1935, một cung cách lãnh đạo có thể lôi cuốn được cả tâm và trí quần chúng. Mao từng tỏ khả năng là người có thể lãnh đạo khi mà hoàn cảnh có vẻ tuyệt vọng, vì Mao biết bí quyết kêu gọi được bản năng sâu kín nhất của quần chúng và khích động được ý chí của họ để chiến đấu, chịu gian khổ và đương đầu với nghịch cảnh. Mao là một nhà cách mạng có khả năng chiến đấu và đã dẫn đảng cộng sản đến chiến thắng, nhưng Mao không phải là một nhà cai trị giỏi. Nước Trung hoa thời bình dưới quyền lãnh đạo của Mao đã đi từ lỗi lầm này đến lỗi lầm khác, và thụt lùi trong khi thế giới chung quanh tiến những bước vượt bực.

Mao đã thành công lôi cuốn được sự yêu mến và trung thành của quân đội và nông dân. Tại chiến khu Diên An sau cuộc Trường Chinh, sự thần tượng Mao của quân đội và quần chúng đã lên tới cực điểm. Vì ăn ớt thường xuyên, nên Mao có bệnh táo bón kinh niên, và thường chỉ đi cầu một tuần một lần. Mỗi khi Mao đi cầu được thì binh sĩ vui mừng như một tin thắng trận, và truyền nhau mẩu tin: "Chủ tịch đã đại tiện được rồi!" Mao có khả năng trình bầy những vấn đề phức tạp một cách rất dễ hiểu cho giới nông dân ít giáo dục. Khi nói chuyện với quần chúng, Mao dùng những từ ngữ rất bình dân mà mọi người có thể hiểu. Ñt khi Mao nói lâu mà không dùng những thành ngữ bình dân quen thuộc đối với quần chúng. Chính vì thế quần chúng cảm thấy rất gần gũi Mao. Kỹ thuật chinh phục đối phương của Mao là không bao giờ tấn công đối thủ ào ạt. Mao thường tấn công chỗ này chỗ kia, bẻ gẫy lý luận của đối phương từng điểm một, cho tới lúc đối thủ hoàn toàn bị bao vây và tan rã trước phát súng ân huệ cuối cùng. Tuy thế Mao có tâm hồn bình dị của người nông dân. Có lần được nghe kể về một cuốn phim của vua hề Charlot, Mao đã cười đến chảy cả nước mắt.

Theo một nguồn tin thì trong đại hội Tuân Nghĩa, Mao là người đầu tiên trình bày những lỗi lầm về chính trị và quân sự của Bộ Chính Trị trong những tháng trước đó. Chu Ðức nói kế tiếp, chỉ trích cả Bộ Chính Trị và Lý Ðức. Rồi Bác Cổ đứng lên bênh vực quan điểm của mình, lược trình hoạt động của phe cộng sản từ năm 1931, và nhấn mạnh đảng cộng sản đã thất bại không hiểu được ý nghĩa của việc xây dựng một mặt trận thống nhất chống đế quốc. Bác Cổ ám chỉ sự thiển cận của Mao trong phong trào nông dân. Theo Bác Cổ thì chính sách hiện tại của Bộ Chính Trị là đúng, nhưng đã có những sai lầm khi thi hành. Do đó thất bại là do người thừa hành chứ không phải lỗi của Bộ Chính Trị.

Chu Ân Lai là diễn giả thứ tư, xác nhận những lỗi lầm của Bộ Chính Trị và chính mình. Sự nhận lỗi của Chu Ân Lai được cử tọa hoan nghênh. Cuối cùng Chu Ân Lai xin từ chức khỏi Ủy ban Quân sự, và đề nghị Mao Trạch Ðông lãnh đạo hồng quân. Bác Cổ và phe Quốc tế đành phải chấp nhận đề nghị của Chu Ân Lai. Kết quả là Mao được bầu làm chủ tịch Ủy ban Quân sự Cách mạng, và Ủy ban này được tổ chức lại. Tham mưu trưởng Diệp Kiếm Anh, người thuộc phe Chu Ân Lai, bị Lưu Bá Thừa thay thế. Ðặng Phát, chỉ huy ngành an ninh, bị loại ra khỏi Ủy ban. Quyền hạn hành quân của Lý Ðức bị bãi bỏ và thuộc quyền của Ủy ban Quân sự. Chu Ðức vẫn tiếp tục giữ chức tư lệnh tối cao, và Vương Gia Tường vẫn giữ chức chính ủy. Chu Ân Lai chỉ còn là một thành viên của Ủy ban.

Bộ Chính Trị cũng được sắp xếp lại. Mao trở thành chủ tịch (chức vụ này trước đó không có) và Lạc Phủ (bí danh của Trương Văn Thiên) thay thế Bác Cổ trong chức Tổng thư ký. Lạc Phủ là một trong số 28 đảng viên thân Nga, nay trung thành với Mao, mặc dầu năm 1932 Lạc Phủ là người đề nghị trục xuất Mao ra khỏi đảng. Nhưng tại đại hội Tuân Nghĩa, Lạc Phủ đã đóng một vai trò hữu ích cho Mao.

Thực ra phe thân Nga nghĩ rằng sẽ có cơ hội quật khởi trở lại với sự hậu thuẫn của Nga, một khi vượt qua được những khó khăn quân sự hiện tại. Bác Cổ là người tính tình rất bướng bỉnh, và cũng vì là thủ lãnh của nhóm thân Nga nên Bác Cổ bắt buộc phải ra đi. Còn những người khác thì nghĩ rằng nên tạm nhượng bộ chiến thắng của Mao tại Tuân Nghĩa để chờ cơ hội. Ñt nhất họ cũng để cho Mao và Chu Ðức cơ hội thử thách quyền lãnh đạo, và có lẽ họ cũng hy vọng rằng Mao sẽ thất bại.
Logged

Điều vĩ đại chính là điều giản dị - Sức mạnh chân chính nằm trong sự dịu dàng
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM